Bài viết chủ yếu tập trung trình này, phân tích các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về nhãn hiệu âm thanh, đưa ra một số tranh chấp liên quan để làm rõ bản chất nhãn hiệu âm thanh, từ đó
Trang 1LÊ NHẬT HỒNG
BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH
THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Định hướng nghiên cứu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan danh dự Luận văn này là kết quả của quá trình tổng hợp và
nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiễn sĩ Nguyễn Xuân Quang Nội dung của Luận văn có tham khảo và sử dụng một số thông
tin từ các Bộ luật, Luật, nguồn sách, tạp chí, tài liệu, các trang thông tin điện tử, báo mạng được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Lê Nhật Hồng
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership)
2 WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (World Intellectual Property
Organization)
3 USPTO Cơ quan cấp bằng sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (United States
Patent and Trademark Office)
4 TTAB Hội đồng xét xử kháng cáo nhãn hiệu Hoa Kỳ (Trademark Trial
and Appeal Board)
5 Luật SHTT Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung bởi luật số
36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009, Luật số 2/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 và Luật số 07/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022
6 TMEP Sổ tay hướng dẫn nhãn hiệu về quy trình kiểm tra (Trademark
Manual of Examining Procedure)
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 8
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu 9
5 Các vấn đề dự kiến cần giải quyết 11
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÃN HIỆU ÂM THANH 12
1.1 Khái quát nhãn hiệu âm thanh 12
1.1.1 Lược sử phát triển của nhãn hiệu âm thanh 12
1.1.2 Định nghĩa nhãn hiệu âm thanh 16
1.2 Đặc điểm nhãn hiệu âm thanh 20
1.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh 23
1.4 Thách thức trong việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh 27
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU ÂM THANH 31
2.1 Là dấu hiệu âm thanh theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 31
2.2 Có khả năng phân biệt 37
2.1.1 Âm thanh có tính phân biệt cố hữu (inherently different or distinctive sound) 38
2.1.2 Âm thanh không có tính phân biệt cố hữu (inherently different of non-distinctive sound) 42
2.3 Không thuộc các trường hợp không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu 49
2.4 Được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền 52
Kết luận Chương 2 54
Trang 6CHƯƠNG 3 THỦ TỤC ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ
CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÃN HIỆU ÂM THANH 56
2.1 Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu âm thanh 56
2.2 Bảo vệ nhãn hiệu âm thanh 62
2.2.1 Các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu âm thanh 63
2.2.2 Đăng ký quốc tế về nhãn hiệu âm thanh 64
Kết luận chương 3 68
KẾT LUẬN CHUNG 70
Danh mục tài liệu tham khảo 73
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung là biểu hiện của một xã hội tiến bộ, phát triển, bởi các giá trị trí tuệ được đề cao, bảo vệ và thúc đẩy sự sáng tạo Các quốc gia trong đó có Việt Nam không ngừng có những nỗ lực trong việc ghi nhận, sửa đổi, bổ sung các điều khoản nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý về Luật Sở hữu trí tuệ Sự đóng góp của lĩnh vực sở hữu trí tuệ đến kinh tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng, bởi nó tạo cơ sở, động lực cho sự phát triển ấy Khi đời sống xã hội phát triển, con người ta lựa chọn cho mình những sản phẩm phù hợp với nhu cầu, khả năng và mục đích của mình thay vì chỉ đáp ứng vấn đề “đủ ăn, đủ mặc” như trước đây, các công ty, cơ sở sản xuất, kinh doanh lần lượt tạo dấu ấn cho riêng mình để gây ấn tượng với người tiêu dùng không chỉ bởi chất lượng mà còn bởi những yếu tố khác Nhãn hiệu ra đời như một cơ sở pháp lý, thực tiễn để giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng hoá, dịch vụ của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, đồng thời giúp cho các chủ thể tạo ra sản phẩm, dịch vụ này có cơ hội để tạo hiệu ứng, khẳng định được vị thế, nét đặc trưng của mình
Bởi chính sự phát triển và nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, những dấu hiệu đơn thuần như chữ viết, hình ảnh không đủ để doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể sử dụng để tạo điểm khác biệt và đặc trưng cho sản phẩm, dịch vụ của mình Sức sáng tạo của con người còn vượt xa hơn thông qua các hình thức khác mà người ta gọi là “phi truyền thống”1, chẳng hạn như dấu hiệu là mùi hương, mùi vị và cả âm thanh Thực tế cho thấy, hiệu ứng âm thanh ngày càng trở thành yếu tố hữu hiệu để tạo nên sự phân biệt của người tiêu dùng với hàng hoá, dịch
vụ, thậm chí là yếu tố thu hút khách hàng Tốc độ phát triển của khoa học và công nghệ đã dẫn đến việc truyền tải thông tin thuận lợi hơn Đây cũng chính là cơ hội nhưng đồng thời là thách thức cho các doanh nghiệp khi phải liên tục đổi mới, sáng tạo để người tiêu dùng ấn tượng, nhận diện thương hiệu của mình trên thị trường vô cùng đa dạng này Các dấu hiệu âm thanh được sử dụng kết hợp với hình ảnh, chữ
1 Olga Morgulova (2017), Non-traditional trademarks Registration of aural and olfactory signs as trademarks
in accordance with the latest amendments of the European Trademark Regulation 2015/2424 and Trademark Directive 2015/2436, Master Programme in Intellectual Property Law, Uppsala Universitet, p.10,11
Trang 8viết ngày càng phổ biến hơn, bởi nhìn chung nó tạo hiệu ứng hấp dẫn, kích thích khả năng phân biệt về thính giác của con người
Các Hiệp ước quốc tế ra đời đã có những sự chú trọng nhất định đối với việc ghi nhận rộng rãi nhãn hiệu phi truyền thống, trong đó, đặc biệt là nhãn hiệu âm thanh Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức
có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 14/01/2019 quy định “Không Bên nào được yêu cầu, như một điều kiện để được đăng ký, là dấu hiệu phải nhìn thấy được, cũng như không Bên nào được từ chối đăng ký một nhãn hiệu chỉ với lý do rằng dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu đó là âm thanh” Như vậy, việc thừa nhận hay nói cụ thể hơn là tạo khung pháp lý về nhãn hiệu âm thanh là yêu cầu mà Việt Nam phải thực hiện để tiệm cần với nền pháp lý quốc tế trong xu hướng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới vốn đặt sở hữu trí tuệ ở một vị trí quan trọng
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 (Luật số 07/2022/QH15) đã chính thức ghi nhận dấu hiệu âm thanh có thể được đăng ký bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu Tuy nhiên, nội dung các quy định chỉ mới dừng lại ở việc là pháp luật sở hữu trí tuệ có ghi nhận dấu hiệu âm thanh để bảo hộ mà chưa có một quy chế pháp lý nào đặc thù liên quan nội dung này về điều kiện bảo hộ cũng như quy trình đăng ký Khác với những dấu hiệu truyền thống khác mà người tiêu dùng có thể nhận thức được bằng thị giác, nhãn hiệu âm thanh đòi hỏi sự phân biệt về mặt tần suất, nhịp điệu, cấu tạo âm thanh bởi thính giác của con người Ngoài ra, việc đánh giá dấu hiệu
âm thanh cũng đòi hỏi có các đặc trưng nhất định Việc ghi nhận một cách chung chung, đơn giản vô hình chung đã tạo nên khó khăn cho công tác thẩm định hay trong quá trình sáng tạo và đăng ký dấu hiệu âm thanh làm nhãn hiệu của các doanh nghiệp Như vậy, quy định này cũng chưa thực sự mang lại hiệu quả trong khi việc thực thi Hiệp định CPTPP cần phải có sự thiện chí, xúc tiến đúng lộ trình Mặt khác, với nhu cầu của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập toàn cầu, tính cấp thiết của việc hiệu quả hoá hành lang pháp lý điều chỉnh nhãn hiệu âm thanh là vô cùng cấp bách
Từ những nội dung trên, tác giả lựa chọn đề tài “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật sở hữu trí tuệ” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Công trình sẽ khái quát
các vấn đề chung về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và thực tiễn các tranh chấp có liên quan đến nhãn hiệu âm thanh trên thế giới để từ đó có cái nhìn đa chiều, khách quan nhằm đưa ra những đề xuất
Trang 9mang tính xây dựng để hoàn thiện khung pháp lý của Luật Sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu
âm thanh về điều kiện bảo hộ cũng như quy trình đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến nội dung đề tài, tại Việt Nam vẫn chưa có một công trình ở cấp
độ luận văn Thạc sĩ nghiên cứu chuyên sâu về nhãn hiệu âm thanh ở khía cạnh pháp luật sở hữu trí tuệ có cập nhật Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, được thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2022 Tuy nhiên, có nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, Hội thảo khoa học có các đánh giá, bàn luận về nhãn hiệu âm thanh nói riêng hay nhãn hiệu phi truyền thống nói chung, các công trình nghiên cứu
về nhãn hiệu phi truyền thống khác Mỗi công trình nghiên cứu, đánh giá những khía cạnh nhất định xoay quanh điều kiện bảo hộ dấu hiệu là âm thanh, cơ chế thẩm định
nó Ở nước ngoài, nhiều công trình như sách, tạp chí khoa học chuyên ngành cũng có nghiên cứu và phân tích nội dung này, trong đó đề cập đến những vụ việc tranh chấp
cụ thể, phương hướng giải quyết và cơ chế để công nhận một dấu hiệu là nhãn hiệu
âm thanh Tuy nhiên, nhìn chung, vẫn chưa có một công trình nào tập trung phân tích một cách đầy đủ, chuyên sâu, có tính hệ thống ở cấp độ một luận văn Thạc sĩ Một số công trình giá trị, liên quan đến nội dung đề tài có thể kể đến mang giá trị tham khảo cao như sau:
Nhóm khoá luận, luận văn, luận án
Liên quan đến vấn đề nhãn hiệu nói chung và cơ chế bảo hộ một dấu hiệu dưới danh nghĩa nhãn hiệu, có thể kể đến công trình của tác giả Phan Ngọc Tâm (2011),
Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng – nghiên cứu so sánh pháp luật Liên minh châu Âu và Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Luận án cung cấp hệ thống kiến thức tham khảo quan trọng, nền tảng về nhãn hiệu,
về bản chất, đặc trưng của nhãn hiệu nói chung và một nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng Đây là tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả có cứ liệu xây dựng hoàn thiện phần những vấn đề chung về nhãn hiệu âm thanh của mình
Ngoài ra, ở cấp độ luận văn, còn có công trình tiếng nước ngoài của tác giả
Olga Morgulova (2017), Non-traditional trademarks Registration of aural and olfactory signs as trademarks in accordance with the latest amendments of the European Trademark Regulation 2015/2424 and Trademark Directive 2015/2436,
Master Programme in Intellectual Property Law, Uppsala Universitet Dù luận văn
Trang 10không nghiên cứu chuyên sâu về nhãn hiệu âm thanh, nhưng dựa vào các phân tích bản chất của loại nhãn hiệu phi truyền thống – trong đó có nhãn hiệu âm thanh, đặc biệt công trình làm nổi bật vấn đề pháp lý đáng quan tâm về nhãn hiệu âm thanh đó
là quy trình thẩm định và đăng ký Tác giả lấy bối cảnh của nền pháp lý của Liên minh châu Âu để làm rõ, đi sâu và phân tích khía cạnh này Giá trị tham khảo quan trọng của công trình nằm ở sự đánh giá, quan điểm, góc nhìn của tác giả về nền pháp luật sở hữu trí tuệ khá phát triển – châu Âu
Đề cập đến các kiến thức về nhãn hiệu nói chung, sách chuyên khảo của Trường
Đại học Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, NXB Hồng
Đức – Hội Luật gia Việt Nam đã trang bị nền tảng lý luận cho việc xây dựng các cơ
sở lý thuyết liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu, đến điều kiện để công nhận một dấu hiệu
là nhãn hiệu và cơ chế thẩm định cũng như bảo hộ nó Tác giả tập trung tham khảo
và vận dụng để tăng giá trị của phần nghiên cứu chung của chương 1 và chương 2 Liên quan đến các bình luận, đánh giá về nhãn hiệu nói chung không thể không
kể đến tài liệu tham khảo quan trọng của Trường Đại học Luật TP.HCM (2018), Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (tái bản lần thứ nhất, sửa đổi bổ sung),
NXB.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Sách cung cấp các bản án và bình luận của các chuyên gia về từng vụ việc tranh chấp sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, trong đó có tranh chấp về nhãn hiệu Mặc dù không có các bản án về tranh chấp nhãn hiệu âm thanh, nhưng giá trị tham khảo của bài viết nằm ở cách đánh giá, bình luận về các các điều kiện để một dấu hiệu được công nhận là một nhãn hiệu, khả năng phân biệt của
nó và góc nhìn của chuyên gia về yếu tố trên Qua đó, tác giả vận dụng làm cơ sở khoa học cho các nhận định của mình về dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật sở hữu trí tuệ
Bàn về bản chất của nhãn hiệu, có thể kể đến tác giả Gordon V Smith (1997),
Trademark Valuation, John Wiley & Sons, INC Sách là tổng hợp các nghiên cứu,
phân tích khoa học về bản chất của nhãn hiệu, để cho thấy giá trị của một nhãn hiệu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, với nền kinh tế thị trường vốn năng động, sáng tạo Giá trị tham khảo của sách nằm ở sự phân tích tổng thể, khách quan cả yếu tố pháp lý và kinh tế về bức tranh tổng thể nhãn hiệu, cho thấy được tầm quan trọng của việc phát triển nhãn hiệu, sáng tạo nó qua các hình thức khác nhau như hình ảnh, âm thanh, mùi hương,… Tác giả tham khảo các nội dung này làm cơ sở nền tảng xây dựng nên khung lý thuyết chung về nhãn hiệu âm thanh
Trang 11Liên quan đến hệ thống pháp luật một số quốc gia, tác giả chú trọng tài liệu của
Tobias Cohen Jehoram, Constant van Nispen, Tony Huydecoper (2010), European Trademark Law – Community Trademark Law and Harmonized National Trademark Law, Kluwer Law International, Wolters Kluer Law & Business Sách là khái quát và
các phân tích chuyên sâu về hệ thống pháp luật nhãn hiệu ở châu Âu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả làm rõ lịch sử phát triển của nhu cầu sử dụng các dấu hiệu từ truyền thống đến phi truyền thống để làm nhãn hiệu, tạo sự phân biệt của người tiêu dùng với hàng hoá, dịch vụ Tài liệu này là nguồn tham khảo quan trọng về hệ thống pháp luật châu Âu liên quan đến vấn đề nhãn hiệu, qua đó, tác giả có cứ liệu giá trị
để tổng hợp, phân tích kinh nghiệm pháp luật các quốc gia
Ngoài ra, tham khảo về bản chất của nhãn hiệu dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ không thể không kể đến sách tham khảo của tác giả Richard Stim (2020),
Patent, Copyright &Trademark – An Intellectual Property Desk Reference (16 th Edition), NoLo Law for all Sách cung cấp kiến thức cơ bản về nhãn hiệu dưới góc
độ pháp luật sở hữu trí tuệ Tầm quan trọng của nhãn hiệu trong xu thế của nền kinh
tế thị trường năng động đã thúc đẩy sự sáng tạo không ngừng của các chủ thể kinh tế, đòi hỏi họ phải có những sự đầu tư, tạo điểm nhấn, nét đặc trưng của hàng hoá, dịch
vụ do mình cung ứng trên thị trường, giúp người tiêu dùng phân biệt được các loại hàng hoá, dịch vụ Nhãn hiệu cũng là một trong số các công cụ hữu hiệu để đáp ứng điều đó Với mức độ phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, các dấu hiệu phi truyền thống ra đời như âm thanh, mùi hương, mùi vị trở nên phổ biến và thu hút người tiêu dùng hơn, tạo hiệu quả cạnh tranh hơn so với các dấu hiệu truyền thống Sách đã làm rõ được yếu tố này, đồng thời cho thấy nhu cầu cần thiết có cơ chế pháp
lý về sở hữu trí tuệ riêng cho các loại dấu hiệu đặc trưng này Tác giả sử dụng tài liệu
để làm cơ sở tham khảo cho phần khái quát chung của luận văn về nhãn hiệu âm thanh
Nhóm tạp chí
Nhiều bài viết cũng có những nghiên cứu, đánh giá, phân tích cụ thể về nhãn hiệu phi truyền thống nói chung, nhãn hiệu âm thanh nói riêng Các công trình đều là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, ở nhiều khía cạnh khác nhau để tác giả vận dụng phân tích chuyên sâu về nhãn hiệu âm thanh Có thể kể đến các bài viết có giá trị tham khảo lớn cho đề tài luận văn như sau:
Trang 12Nghiên cứu một cách cụ thể về nhãn hiệu âm thanh có thể kể đến tác giả Nguyễn Tùng Lâm (2017), “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật Hoa Kỳ - kinh nghiệm
cho Việt Nam”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 3/2017 Bài viết chủ yếu tập trung trình
này, phân tích các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về nhãn hiệu âm thanh, đưa ra một
số tranh chấp liên quan để làm rõ bản chất nhãn hiệu âm thanh, từ đó tác giả bài viết cũng kiến nghị những bổ sung, sửa đổi của pháp luật sở hữu trí tuệ nhằm thích ứng với xu hướng trong tương lai Bài viết này là tài liệu tham khảo giá trị cho tác giả trong quá trình nghiên cứu về bản chất nhãn hiệu âm thanh và pháp luật Hoa Kỳ về nội dung này
Bên cạnh đó, một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Hạnh (2021), “Bảo
hộ nhãn hiệu âm thanh - Kinh nghiệm quốc tế và những đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 9/2021 Bài viết thể hiện các phân tích cơ sở, tính cần thiết
của bảo hộ nhãn hiệu âm thanh nói riêng và bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống nói chung, tác giả cũng chỉ ra các loại âm thanh được bảo hộ, đồng thời phân tích điều kiện để một dấu hiệu âm thanh được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiêu, đưa ra các
đề xuất về mặt thẩm định, quy trình nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh Bài viết là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho tác giả khi xây dựng chương 1 những vấn đề chung về nhãn hiệu âm thanh, đồng thời tác giả cũng tham khảo một quan điểm mới về các điều kiện để đề xuất bảo hộ nhãn hiệu âm thanh khi mà Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022 chính thức có hiệu lực
Ngoài ra còn có bài viết của tác giả Đỗ Thị Đức (2016), “Một số vấn đề về đăng
ký nhãn hiệu âm thanh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 Bài viết tập trung bàn
về cơ sở để đánh giá nhãn hiệu âm thanh từ đó làm nền tảng cho việc thẩm định một dấu hiệu âm thanh trở thành nhãn hiệu Qua đó, tác giả bài viết cũng làm rõ quy trình
để đăng ký nhãn hiệu âm thanh, nó khác biệt và có nhiều điểm đặc thù so với quy trình thẩm định các dấu hiệu truyền thống khác Tác giả bài viết còn đầu tư nghiên cứu pháp luật một số quốc gia về quy trình đăng ký, từ đó đưa ra các gợi mở cho việc hoàn thiện khung pháp lý của Việt Nam nếu gia nhập các hiệp ước quốc tế trong tương lai Đây là tài liệu tham khảo quan trọng, hỗ trợ nguồn quan điểm cá nhân, phân tích về nhãn hiệu âm thanh, là cơ sở cho tác giả có các đánh giá khoa học về bản chất nhãn hiệu âm thanh, quy trình hợp lý để thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu
âm thanh
Trang 13Liên quan đến nhãn hiệu phi truyền thống nói chung, có thể kể đến bài viết
“Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống theo pháp luật Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Phước Quý Quang, Trần Ngọc Tuấn (2019), Tạp chí Nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế, số 7 Nghiên cứu là sự phân tích về các
quy định của pháp luật Hoa Kỳ về các tiêu chí, dấu hiệu để một nhãn hiệu được bảo
hộ, trong đó có các dấu hiệu phi truyền thống Đặc biệt, nghiên cứu có sự phân tích,
so sánh giữa pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ về các quy định liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu, từ đó đưa ra các kiến nghị về việc bảo vệ nhãn hiệu phi truyền thống, bao gồm: nhãn hiệu mùi hương, nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu màu, nhãn hiệu hình ảnh trên giao diện điện tử, dấu hiệu ba chiều trong pháp luật Việt Nam
Cùng đề tài còn có bài viết “Bảo hộ nhãn hiệu không truyền thống” của tác giả
Nam Hoa (2007), Tạp chí Khoa học pháp lý, số 27 (106) Bài viết tập trung làm rõ
vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh Theo đó, bài viết khái quát tình trạng bảo vệ nhãn hiệu âm thanh tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Mexico, Trung Quốc, Brazil, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam Từ đó, tác giả tổng hợp đưa ra các điều kiện để một nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ
Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo
Các bài viết tạp chí của tác giả nước ngoài tiêu biểu có thể kể đến như sau:
Các bài viết học thuật nước ngoài cũng đề cập và chú trọng các nghiên cứu với nhãn hiệu âm thanh nói riêng hay nhãn hiệu phi truyền thống nói chung, có thể kể đến một số bài viết như sau:
Liên quan đến nhãn hiệu phi truyền thống, tác giả nhận thấy bài viết của
Kenneth L Port (2011), On Nontraditional Trademarks, Northern Kentucky Law
Review mang lại giá trị tham khảo lớn Bài viết phân tích quá trình phát triển các nhãn hiệu phi truyền thống, trong đó, đặc biệt chú trọng tính quan trọng, phổ biến và hiệu ứng tích cực mà nhãn hiệu âm thanh mang lại Ngoài ra, dưới góc độ kinh tế, các nhãn hiệu phi truyền thống chứa đựng tiềm năng cho việc xây dựng và khẳng định thương hiệu Dưới góc độ pháp lý, tác giả bài viết đặc biệt chú trọng đến các quy định
để xác định một dấu hiệu phi truyền thống trở thành nhãn hiệu và quy trình thẩm định đơn đăng ký đảm bảo tính chính xác, hiệu quả nhất Qua đó, tác giả trang bị cơ sở lý luận về nhãn hiệu phi truyền thống nói chung và nhãn hiệu âm thanh nói riêng
Trang 14Ngoài ra, còn có bài viết của tác giả Lisa P Lukose (April-June 2015), traditional trademarks: a critique, Journal of the Indian Law Institute, Vol 57, No
Non-2 Dù đứng dưới góc độ chung nhất nghiên cứu về nhãn hiệu phi truyền thống, tuy nhiên, trong nội dung bài viết cũng tập trung đề cập đến nhãn hiệu âm thanh, bình luận mặt tích cực và hạn chế của loại nhãn hiệu này Qua đó, tác giả có những cái nhìn toàn diện hơn về nhãn hiệu âm thanh, đưa ra những phân tích khách quan, có cơ
sở và các kiến nghị thuyết phục hơn
Bên cạnh đó, bài viết của tác giả Martin Lindstrom (2005), Brand sense - Build Powerful Brands through Touch, Taste, Smell, Sight, and Sound, A Division of Simon
& Schuster, Inc cũng chứa đựng các nội dung mang giá trị tham khảo lớn Trong nội dung bài viết, tác giả đề cập đến tầm quan trọng của việc phải xây dựng uy tín, điểm đặc biệt thu hút người tiêu dùng của một thương hiệu dựa trên nhãn hiệu phi truyền thống, trong đó đặc biệt chú trọng nhãn hiệu âm thanh bởi tính hiệu quả và đặc sắc của nó Qua đó, tác giả có cơ sở để xác định được rằng, ghi nhận nhãn hiệu âm thanh chính là phù hợp với xu hướng của sự phát triển, giá trị của việc hoàn thiện khung pháp lý để quản lý cũng như tạo điều kiện cho nhãn hiệu âm thanh được phát triển
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở việc nghiên cứu các quy định của pháp luật, nhu cầu thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, đồng thời đánh giá các công trình có liên quan đến đề tài, nhận thấy các công trình chưa phân tích một cách thống nhất, chuyên sâu liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh Do đó, thực hiện luận văn này, tác giả tập trung làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, phân tích các vấn đề khái quát chung về việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, làm rõ khái niệm, bản chất của nhãn hiệu âm thanh, tính hợp quy luật của sự phát triển khi ghi nhận nhãn hiệu âm thanh vào hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ
Thứ hai, phân tích các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu âm thanh nói riêng, về điều kiện để một dấu hiệu trở thành nhãn hiệu và quy trình đăng ký cũng như cơ chế bảo hộ nó Ngoài ra, tác giả cũng so sánh, đối chiếu cũng như phân tích kinh nghiệm của pháp luật một số quốc gia có nền pháp lý sở hữu trí tuệ phát triển như Hoa Kỳ, Australia, Liên minh Châu
Âu để từ đó làm rõ hơn về việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
Trang 15Thứ ba, đề tài cũng dành sự tập trung cho việc nghiên cứu thực tiễn xét xử các tranh chấp về nhãn hiệu âm thanh ở một số quốc gia, làm kinh nghiệm cho Việt Nam trong giai đoạn đầu khi ghi nhận nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ bởi pháp luật sở hữu trí tuệ Đồng thời, phân tích quy định về thủ tục, trình tự đăng ký nhãn hiệu âm thanh
Dựa vào các nội dung trên, tác giả đưa ra các tổng hợp, xây dựng cơ chế mang tính đề xuất khung pháp lý về nhãn hiệu âm thanh làm tăng giá trị tham khảo của đề tài luận văn Thạc sĩ
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu
4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nhãn hiệu âm thanh là nội dung mà Hiệp định CPTPP yêu cầu Việt Nam – quốc gia thành viên không được từ chối việc bảo hộ trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ cũng có những sự ghi nhận nhất định, nhưng quy định vẫn còn sơ khai, chưa có khung pháp lý cụ thể
Do đó, luận văn tập nghiên cứu các khía cạnh pháp lý, bản chất của nhãn hiệu âm thanh với phạm vi cụ thể như sau:
Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về nhãn hiệu âm thanh nói
riêng và nhãn hiệu nói chung ở các văn bản quy phạm pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành và thực tiễn xét xử
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật Việt Nam và pháp
luật một số quốc gia có nền pháp lý sở hữu trí tuệ tiên tiến trên thế giới, có sự ghi nhận về nhãn hiệu âm thanh để có các đối chiếu, rút ra kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu, từ đó tác giả đưa ra các kiến nghị mang tính xây dựng, hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
Về thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam tức pháp
luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, bao gồm Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022 và các văn bản hướng dẫn có liên quan Đồng thời, khi nghiên cứu pháp luật nước ngoài, tác giả cũng tìm hiểu, phân tích pháp luật, vụ việc thực tiễn khi các dấu hiệu âm thanh được ghi nhận thành nhãn hiệu
Trang 164.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện công trình khoa học mang giá trị lý luận cao và giá trị thực tiễn, tác giả kết hợp nhiều phương pháp một cách đa dạng, ở mỗi chương có sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo, nền tảng, cụ thể bao gồm:
Một là, phương pháp phân tích Tác giả vận dụng xuyên suốt phương pháp này trong toàn bộ luận văn, từ việc làm rõ các khái niệm về nhãn hiệu âm thanh, bản chất pháp lý của đối tượng nghiên cứu, đồng thời, nó còn được sử dụng để đánh giá các quy phạm pháp luật, các vụ việc thực tiễn, phán quyết của Toà án liên quan đến giải quyết vấn đề pháp lý Từ phương pháp này, các lập luận của tác giả vững chắc hơn
và nội dung đề tài cũng được làm rõ và sâu sắc hơn
Hai là, phương pháp so sánh Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 1, phần làm rõ bản chất của nhãn hiệu âm thanh đặc trưng so với các nhãn hiệu truyền thống cũng như phi truyền thống khác, mặt khác nó được vận dụng chủ yếu khi nghiên cứu pháp luật nước ngoài, tác giả làm rõ những bối cảnh của các nền pháp luật từ đó cho thấy điểm tiến bộ, phù hợp và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành
Ba là, phương pháp hệ thống hoá lý thuyết, được sử dụng chủ yếu ở Chương
1 Thông qua việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài, nghiên cứu về các vấn đề khái quát chung liên quan đến nhãn hiệu âm thanh, tác giả đưa ra những đánh giá, sắp xếp một cách có hệ thống liên quan đến đối tượng của đề tài, từ đó, thể hiện được rõ nét bản chất của nhãn hiệu âm thanh, ý nghĩa khi bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trong giai đoạn hiện nay
Bốn là, phương pháp tổng hợp Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu ở phần kết luận và kiến nghị sửa đổi của Chương 2 Sau khi phân tích, đánh giá, bình luận, tác giả hệ thống và tổng hợp lại các vấn đề cốt lõi, giá trị, từ đó đưa ra các kiến nghị dựa trên nội dung đó để hoàn thiện các vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
Năm là, phương pháp case study, được sử dụng ở Chương 2 (phương pháp nghiên cứu vụ việc, bình luận án) Với phương pháp này, việc phân tích, tìm hiểu
Trang 17những vấn đề thực tiễn về nhãn hiệu âm thanh được thực hiện thông qua việc phân tích những bản án, chủ yếu là các vụ việc tranh chấp ở các quốc gia, tác giả đánh giá, bình luận về tính hợp lý của các phán quyết cũng như bản chất của các tranh chấp trên, từ đó, đưa ra góc nhìn và cho thấy được toàn cảnh thực tiễn xét xử về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, làm cơ sở cho các lập luận, kiến nghị có giá trị ứng dụng cao
5 Các vấn đề dự kiến cần giải quyết
Bố cục của đề cương chi tiết:
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÃN HIỆU ÂM THANH
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH
CHƯƠNG 3 THỦ TỤC ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÃN HIỆU ÂM THANH
Trang 18CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÃN HIỆU ÂM THANH
1.1 Khái quát nhãn hiệu âm thanh
1.1.1 Lược sử phát triển của nhãn hiệu âm thanh
Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế tri thức hiện đại, được
ghi nhận minh thị trong các văn bản pháp luật từ rất sớm, với minh chứng là đạo luật
Venice 14742 và ngày càng được đề cao, củng cố, khẳng định vị trí cho đến hiện nay
Đó là “quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghệ,
khoa học, văn học và nghệ thuật bao gồm quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế,
nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý, quyền tác giả, quyền liên quan” 3
Tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu góp phần mô tả đôi nét về
bản chất của nhãn hiệu âm thanh, cho thấy tính quy luật tất yếu của quá trình phát
triển của nhãn hiệu từ những dấu hiệu cơ bản nhìn thấy được mở rộng sang các đối
tượng phi truyền thống cảm nhận bằng tổng hoà các giác quan của con người
Là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp ngày càng
trở nên thiết yếu trong nền kinh tế bởi “cơ chế bảo hộ sở hữu công nghiệp được thiết
lập nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong quá trình kinh doanh, trước
hết là trong hoạt động sản xuất và thương mại” 4 Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm
nhiều đối tượng, chẳng hạn kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, chỉ dẫn địa lý, bí mật
kinh doanh, …5 trong đó nhãn hiệu được xem là “loại đối tượng” hỗ trợ kết nối giữa
doanh nghiệp và người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất Ý nghĩa của nhãn hiệu trong
nền kinh tế thị trường là vô cùng lớn Nhãn hiệu được xem là dấu hiệu dùng để phân
biệt các loại hàng hóa dịch vụ Do đó, trong thương mại, nhãn hiệu được sử dụng
giúp người tiêu dùng nhận biết, và đồng thời đây cũng là yếu tố giúp doanh nghiệp
tạo nên vị thế, không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thị trường
2 Đạo luật này ra đời năm 1474, trở thành văn bản pháp lý đầu tiên tạo cơ chế cho việc bảo hộ sáng chế tại
Italy
Xem thêm: Claudia Angélica Córdova González, Mónica Guadalupe Chávez Elorza (2021), “Review of the
International Patent System: From the Venice Statute to Free Trade Agreements”, Mexican Law Review, p.68
3 Trần Kiên (chủ biên) (2020), Sự xung đột giữa quyền con người và quyền sở hữu trí tuệ - Tiếp cận từ triết lý
pháp luật và thực tiễn pháp lý, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr 24
4
https://thanhtra.most.gov.vn/thanhtra/tin-tuc/4/265/quyen-so-huu-cong-nghiep-la-tai-san-cua-doanh-nghiep-quan-ly-va-bao-ho.aspx , ngày truy cập: 10/6/2022
5 Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT
Trang 19Pháp luật về nhãn hiệu phát triển suốt một chặng đường dài Cụm từ “thương hiệu” (brand) hay “nhãn hiệu” (trademark) đã tồn tại từ trong thế giới cổ đại Cách
đây hơn 3.000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng khắc chữ ký lên các tác phẩm nghệ thuật của họ trước khi gửi đến Iran Các nhà sản xuất từ Trung Quốc
đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của họ ở khu vực Địa Trung Hải hơn 2.000 năm trước, có thời điểm khoảng một nghìn dấu hiệu để phân biệt hàng hoá của các thương nhân kinh doanh đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng, bao gồm cả dấu hiệu có
tên là “Fortis”, dấu hiệu này sau đó đã trở nên nổi tiếng đến mức nó bị sao chép và
làm giả6 Như vậy, ngay từ thời trung cổ, việc các thương nhân sử dụng ký hiệu của riêng mình nhằm tạo cho người tiêu dùng nhận biết hàng hoá, dịch vụ do mình cung ứng đã xuất hiện, đây là nhu cầu tất yếu của chính các thương nhân và của chính người tiêu dùng Điều này cho thấy tính thiết của việc ghi nhận và cơ chế bảo hộ của pháp luật trước những hành vi cố tình làm giả, xâm phạm đến quyền của người sở hữu dấu hiệu đó Như Thẩm phán Clifford – Toà án Hoa Kỳ đã từng nói rằng các tòa
án ở tất cả các quốc gia văn minh trong nhiều thế kỷ đã dành sự bảo hộ cho nhãn hiệu thương mại, đối tượng của sự bảo hộ đó không chỉ để đảm bảo cho cá nhân thành quả của kỹ năng, ngành công nghiệp và doanh nghiệp của họ, mà còn để bảo vệ công chúng chống lại hành vi gian lận7 Do đó, vấn đề bảo hộ những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể được hệ thống pháp luật các quốc gia bắt đầu ghi nhận như một quy luật tất yếu
Lần đầu tiên việc bảo hộ nhãn hiệu được đề cập xuất phát từ vụ việc JG và Samford vào cuối thế kỷ XVI Theo đó, lập luận được đưa ra rằng việc sử dụng dấu hiệu gắn trên vải kém chất lượng mà dấu hiệu đó đã được sử dụng bởi một nhà sản xuất khác đã có danh tiếng lớn về vải của mình là hành vi không đúng8 Sau đó, những
vụ việc tranh chấp về tên gọi của dấu hiệu, về vấn đề sử dụng dấu hiệu, làm giả dấu hiệu của các thương nhân tại Anh diễn ra gay gắt, chẳng hạn vụ việc Knott và
6 47f0-83ac-7f70420b9a34-en.pdf , ngày truy cập: 18/6/2022
http://www.cambodiaip.gov.kh/DocResources/b7a2a188-1a2f-4e55-9286-8524d2c57411_007729c5-60a9-7 Case: Manhattan Med Co v Wood, 108 U.S 218, 223 (1883) Dịch từ nguyên văn: “His trade-mark is both
a sign of the quality of the article and an assurance to the public that it is the genuine product of his manufacture It thus often becomes of great value to him, and in its exclusive use the court will protect him against attempts of others to pass off their products upon the public as his This protection is afforded not only
as a matter of justice to him, but to prevent imposition upon the public”
8 J.H Baker & S.F.C Milsom (1986), Sources of English Legal History: Private Law to 1750, London:
Butterworths, p 615–618
Trang 20Morgan9, theo đó, Toà án đã ban hành lệnh cấm một công ty vận tải hành khách làm dịch vụ giả mạo Công Ty London Conveyance của nguyên đơn, sử dụng dấu hiệu gắn lên dịch vụ xâm phạm đến Công ty London Covayance Hay vụ việc giữa Perry
và Truefitt10, các bên tranh chấp dấu hiệu “Medicated Mexican Balm” với “Truefitt's Medicated Mexican Balm” Kết luận chỉ ra rằng, một người không được bán hàng
hóa của chính mình với lý do rằng chúng là hàng hóa của người khác; người đó không thể được phép thực hiện hành vi lừa dối như vậy Người bán không thể được phép sử dụng tên hay dấu hiệu nào khác mà họ có thể khiến người mua tin rằng hàng hóa mà
họ đang bán là sản phẩm của người khác Đây được xem là hành vi lừa dối11
Trước tính cấp thiết của thực tiễn nêu trên, lời kêu gọi công nhận nhãn hiệu thương mại như tài sản lần đầu tiên xuất hiện vào cuối những năm 1850 như một phần của chiến dịch tổng thể hơn về luật pháp nhằm tăng cường quyền của thương nhân chống lại hành vi vi phạm bản quyền12 Năm 1862, một Dự luật gọi là “Sheffield Bill”
đã được đưa vào Hạ viện đề xuất rằng nhãn hiệu thương mại được công nhận rõ ràng
là “tài sản” Khoản 9 quy định rằng nhãn hiệu thương mại đã đăng ký “sẽ được coi
là tài sản cá nhân của chủ sở hữu, và sẽ được chuyển giao theo các quy tắc thông thường của pháp luật ảnh hưởng đến tài sản cá nhân”13 Tuy nhiên, văn bản này dần
ít được quan tâm do người ta lo ngại về vấn đề chuyển giao quyền với nhãn hiệu sẽ làm mất đi tính chất chỉ dẫn nguồn gốc của nó14, song đây là văn bản tham khảo quan trọng trong các thảo luận về tính pháp lý của nhãn hiệu sau này
Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu được manh nha mở rộng trên phạm vi quốc tế vào những năm 1858 khi mà các thương nhân Anh đã tìm kiếm sự trợ giúp của chính phủ trong việc đạt được một số loại công nhận quốc tế về quyền của họ, theo đó mối quan tâm hàng đầu của các thương nhân là ngăn chặn việc sử dụng các nhãn hiệu thương mại của Anh ở nước ngoài, đặc biệt là ở Đức Một vụ việc điển hình kể đến là một thương nhân sản xuất thép Sheffield đệ trình lên Ngoại trưởng Bộ Ngoại giao, Bá
9 https://vlex.co.uk/vid/knott-v-morgan-803533217 , ngày truy cập: 19/6/2022
10 https://swarb.co.uk/perry-v-truefitt-ca-8-dec-1842/ , ngày truy cập: 19/6/2022
11 https://www.wipo.int/edocs/mdocs/sme/en/wipo_ip_bis_ge_03/wipo_ip_bis_ge_03_18-related1.pdf , ngày truy cập: 23/10/2022
12 A Ryland (1859), “The Fraudulent Imitation of Trade Marks”, Transactions of the National Association for the Promotion of Social Science 229, p 269
13 Bill No 17 (February 18, 1862), Parliamentary Papers, Bills (Public) Vol 5
14 Ludlow & Jenkyns (2015), A Treatise on the Law of Trade-Marks and Trade-Names 2, Leopold Classic
Library, p.127
Trang 21tước Malmesbury đã tuyên bố rằng “luật pháp của Anh coi trọng và bảo vệ nhãn hiệu (trade marks) là tài sản tư nhân”15 Kể từ đó, các Hiệp ước, đạo luật ở một số quốc gia ra đời ghi nhận nhãn hiệu như một đối tượng cơ bản của quyền công dân Chẳng hạn, Hiệp ước Áo ngày 16 tháng 12 năm 1865 đã tuyên bố rằng các bên của Hiệp định sẽ được hưởng như nhau sự bảo vệ đối với các quyền về tài sản trong nhãn hiệu thương mại và các nhãn hiệu phân biệt khác16, trong khi Hiệp ước Hoa Kỳ 1877 trao cho các đối tượng và công dân Hoa Kỳ các quyền tương tự như công dân Anh trong mọi thứ liên quan đến tài sản trong nhãn hiệu thương mại17
Ở Việt Nam, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng pháp luật sở hữu trí tuệ bắt đầu manh nha hình thành kể từ thời Pháp thuộc, đối với quyền tác giả được xác định hình thành muộn nhất dưới thời Hậu Lê18 Sắc lệnh chứa đựng các quy phạm về sở hữu trí tuệ áp dụng đầu tiên ở miền Nam năm 1864, sau đó phát triển cùng với tiến trình lịch
sử, đến Bộ luật dân sự năm 1995 (Phần thứ sáu) đã thể hiện sự ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng có hệ thống các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ, cho đến khi Luật Sở hữu trí tuệ đầu tiên năm 2005 ra đời đánh giá bước chuyển mình của nền pháp luật Việt Nam khi hội nhập và tiệm cận với nền văn minh của thế giới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Ban đầu, nhãn hiệu được tạo thành từ những dấu hiệu mang tính “truyền thống” như từ ngữ, biểu tượng, hoặc sự kết hợp của chúng để đảm nhận các chức
năng giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hoá, dịch vụ từ các nguồn cung ứng khác nhau, tuy nhiên, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, sự phủ sóng mạnh
mẽ của Internet và các thiết bị kết nối, công nghệ hiện đại, những dấu hiệu cấu thành nên nhãn hiệu trở nên đặc trưng hơn, phong phú và đa dạng hơn, để nhãn hiệu không còn chỉ được nhận biết bằng thị giác mà còn các giác quan khác như thính giác, vị
giác, khướu giác Do đó, thuật ngữ “nhãn hiệu phi truyền thống” (non-traditional hay
New types of marks) ra đời, trong đó, nhãn hiệu âm thanh được ghi nhận và bảo vệ
18 Trần Kiên (chủ biên) (2020), Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam dưới thời Pháp thuộc – Di sản lập pháp và án lệ,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.37
Trang 221.1.2 Định nghĩa nhãn hiệu âm thanh
Dưới góc độ từ ngữ, “nhãn hiệu” (trademark) có nghĩa là dấu hiệu được dùng
trong thương mại19 Tiếp cận từ phương diện bản chất của nhãn hiệu, nhiều tác giả đưa ra các khái niệm nhãn hiệu với những góc độ đánh giá khác nhau Ông Edward
Smith - chuyên gia Cơ quan sở hữu trí tuệ Vương quốc Anh (UKIPO) xác định “các nhãn hiệu thương mại truyền thống thường được coi là các nhãn hoặc các “dấu” gắn theo hàng hóa hoặc dịch vụ” 20 Theo Văn phòng bằng sáng chế và nhãn hiệu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (USPTO) thì một nhãn hiệu sẽ giúp người dùng xác định nguồn gốc của hàng hóa hoặc dịch vụ họ sử dụng, cung cấp sự bảo vệ hợp pháp cho thương hiệu của chủ thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ và giúp người dùng đề phòng hàng giả
và gian lận Đó là “bất kỳ từ, cụm từ, ký hiệu, thiết kế hoặc sự kết hợp của những thứ này để xác định hàng hóa hoặc dịch vụ của bạn Đó là cách khách hàng nhận ra bạn trên thị trường và phân biệt bạn với các đối thủ cạnh tranh”21 Như vậy, nhãn hiệu
là một dấu hiệu - biểu tượng, tên, từ, biểu tượng hoặc sự kết hợp của chúng - được nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp sử dụng để phân biệt một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Agreement on Trade – Related Aspects of IPR – TRIPS) cũng ghi nhận khái niệm
nhãn hiệu, theo đó “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá” Hiệp định còn nhấn mạnh, các bên không được từ
chối đăng ký nhãn hiệu nhìn thấy được, còn các dấu hiệu khác, đều có thể được đăng
ký miễn nó không trái với quy định của Công ước Paris 1967 Như vậy, phạm vi khái niệm nhãn hiệu trong Hiệp định TRIPS khá rộng, bao hàm bất kỳ một dấu hiệu nào,
19 https://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/trademark , ngày truy cập: 23/10/2022
20 thong.aspx, ngày truy cập: 19/4/2022
https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/16600/cuc-so-huu-tri-tue-dao-tao-ve-bao-ho-nhan-hieu-phi-truyen-21 “What is the trademark”, https://www.uspto.gov/trademarks/basics/what-trademark , ngày truy cập: 10/6/2022
Trang 23miễn rằng, nó đáp ứng được khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ, tức thực hiện được chức năng cơ bản của một nhãn hiệu
Tuy nhiên, đây là quy định chung của một văn bản ở cấp độ thoả thuận quốc
tế, mỗi quốc gia, giới hạn dấu hiệu được đăng ký được thể hiện bằng việc nhà lập pháp sử dụng phương pháp liệt kê từng dấu hiệu để bảo hộ dưới danh nghĩa một nhãn hiệu Chẳng hạn, pháp luật Hoa Kỳ - quốc gia có nền pháp luật về sở hữu trí tuệ lâu đời cũng ghi nhận khái niệm nhãn hiệu tại Điều 1127 Đạo Luật Lanham 1946
(Lanham Act), theo đó, “nhãn hiệu bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình
vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà được sử dụng trong thương mại và xin đăng ký theo quy định của đạo luật Lanham để xác định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng với hàng hóa được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc của hàng hóa đó”
Theo Luật Nhãn hiệu Canada (Trademarks Act) quy định nhãn hiệu là “một dấu hiệu hoặc sự kết hợp của các dấu hiệu được sử dụng hoặc đề xuất sẽ được sử dụng bởi một người với mục đích phân biệt hoặc để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của họ với những người khác, hoặc (b) nhãn hiệu chứng nhận (certification mark)”
Hay pháp luật Nhật Bản, nhãn hiệu là “những cái có thể cảm nhận được bởi mọi người, đó là bất kỳ đặc tính, hình vẽ, dấu hiệu hoặc hình dạng hoặc màu sắc ba chiều, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của chúng; âm thanh, hoặc bất cứ thứ gì khác được xác định bởi Nội các” 22
Ưu điểm của cách quy định này là nhằm hỗ trợ cơ quan quản lý kiểm soát được loại dấu hiệu được đăng ký để thẩm định một cách chính xác Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế với đa dạng các loại hàng hoá, dịch vụ, việc thẩm định tính phân biệt của nhãn hiệu của là một thử thách cho các cơ quan này Tuy nhiên, điều bất lợi của cách liệt kê là phạm vi dấu hiệu được bảo hộ hẹp, nên đôi khi, pháp luật cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy luật của thực tiễn, chẳng hạn, những dấu hiệu phi truyền thống ra đời như một quy luật tất yếu của sự phát triển đã cho thấy rằng, dấu hiệu như dấu âm thanh hay mùi hướng, chúng cần được pháp luật các quốc gia ghi nhận một cơ chế pháp lý để có thể tổn tại và được bảo hộ như các dấu hiệu truyền
thống khác trong một xã hội phát triển như hiện nay
22 https://wipolex-res.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/jp/jp180en.pdf , ngày truy cập: 19/7/2022
Trang 24Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩa
về nhãn hiệu tại khoản 16 Điều 4 Luật SHTT, nhãn hiệu “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” “Dấu hiệu” ở đây được hiểu là “hình dạng vốn có của hàng hóa hoặc do đặc tính kỹ thuật của hàng hóa bắt buộc phải có”23 Dựa vào cách tiếp cận khác nhau, người ta chia nhãn hiệu thành nhiều loại, xét về mặt lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu, nhãn hiệu bao gồm nhãn hiệu truyền thống (traditional trademarks) và nhãn hiệu phi truyền thống (non – traditional trademarks hay new types of trademarks)
Thuật ngữ “nhãn hiệu phi truyền thống” (New types of marks hay Non –
traditional trademark) đã được đề cập tại các Hội nghị của WIPO24 Song, định nghĩa
về nhãn hiệu phi truyền thống vẫn chưa được chính thức ghi nhận bởi một văn bản
có giá trị pháp lý nào Các loại nhãn hiệu phi truyền thống được nghiên cứu bao gồm
các loại hình tiêu biểu sau đây: nhãn hiệu ba chiều (Three-Dimensional Marks), nhãn hiệu màu sắc (Color Marks), nhãn hiệu hologram (Hologram mark), nhãn hiệu chuyển động hoặc đa phương tiện (Motion or Multimedia Marks), nhãn hiệu vị trí (Position Marks), nhãn hiệu cử chỉ (Gesture Marks), nhãn hiệu mùi hương (Olfactory marks), nhãn hiệu âm thanh (Sound marks), nhãn hiệu hương vị (Taste marks), nhãn hiệu nhận biết bằng xúc giác (Texture or feel marks)25
Như vậy, nhãn hiệu âm thanh được xem là một loại của nhãn hiệu phi truyền thống, là sản phẩm của khoa học công nghệ và được tạo điều kiện công nhận, bảo hộ trong một xã hội có nền kinh tế hội nhập, phát triển văn minh Vì là một dạng của nhãn hiệu, thế nên nhãn hiệu âm thanh trước hết là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác nhau Dấu hiệu này đặc biệt hơn so với các dấu hiệu truyền thống khác, bởi nó được tiếp thu và cảm nhận bằng thính giác của con người
Nhãn hiệu âm thanh bao gồm cơ chế liên quan đến việc nhận dạng, truyền tải thông tin bằng cách sử dụng âm thanh để xây dựng mối liên hệ cảm xúc giữa người
23 Khoản 6 Điều 73 Luật SHTT
24 “Standing committee on the law of trademarks, Industrial designs and Geographical indications”,
https://www.wipo.int/edocs/pubdocs/en/general/399/wipo_pub_399.pdf , ngày truy cập: 08/8/2022
25 Lê Nhật Hồng (2020), Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống theo quy định của Hiệp định CPTPP và hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM, tr.9-15
Trang 25phát và người nhận26 Nói cách khác, nhãn hiệu âm thanh là nhãn hiệu được kết nối với thiết kế âm thanh Tuy nhiên, thuật ngữ này không phải là mới, đặc điểm nhận dạng âm thanh đã có từ hơn năm mươi năm Big Ben (Tháp Elizabeth, tên cũ là Tháp đồng hồ của cung điện Westminster) - tháp đồng hồ vĩ đại ở Westminster, đã trở thành một địa danh khét tiếng của London Bất cứ khi nào tiếng chuông trầm của nó được
sử dụng trong các chương trình truyền hình hoặc loạt phim, nó chỉ cố gắng phát ra tín hiệu rằng câu chuyện xảy ra ở London, không phải ở nơi khác Từ xa xưa, các nhạc
cụ cụ thể thường được gắn với những ý nghĩa cụ thể
“Âm thanh” khác với “âm nhạc” “Âm thanh” (The sound) được hiểu một cách cơ bản rằng nó là bất kỳ “âm” nào phát ra và được cảm nhận bằng thính giác
của con người, đó là âm nói chung27, còn “âm nhạc” là âm thanh được biểu đạt bằng
nhịp điệu để truyền tải tư tưởng, tình cảm28 Như vậy, âm thanh có phạm vi biểu đạt rộng hơn và bao gồm cả âm nhạc, âm thanh không nhất thiết bao gồm các nhịp điệu
như âm nhạc mà có thể gồm bất kỳ “âm” nào mà con người cảm nhận được bằng
thính giác Dấu hiệu âm thanh vẫn có thể xác định và giúp phân biệt một sản phẩm hoặc dịch vụ thay vì phương tiện hình ảnh Trong vụ việc Vertex Grp LLC, 89 USPQ2d 1694, 1700 (TTAB 2009)29, các Thẩm phán đã xác định dấu âm bao gồm: (1) một loạt các âm hoặc nốt nhạc, có hoặc không có từ; và (2) từ ngữ kèm theo âm nhạc
Nghiên cứu về khái niệm nhãn hiệu âm thanh, tác giả Đỗ Thị Diện cho rằng
nhãn hiệu âm thanh “được xác định và phân biệt là một sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua âm thanh thay vì phương tiện trực quan”30 Theo WIPO, nhãn hiệu âm thanh
(sound marks) là nơi đại diện cho một giai điệu được thể hiện bằng hình ảnh các nốt
nhạc31 Tiếp cận từ bản chất của nhãn hiệu âm thanh, tác giả Bùi Thị Lệ Hằng đã xác định nhãn hiệu âm thanh có thể được hiểu là nhãn hiệu được tạo ra từ bất kỳ dấu hiệu
26 Bronner, K., & Hirt, R (2009), Audio Branding Brands, Sound and Communication, Baden-Baden: Nomos,
Edition Reinhard Fischer, p.35
27 Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam (1999), Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB
Văn hoá Thông tin, tr.63
28 Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam (1999), tldđ (27), tr.63
Viện Ngôn ngữ học (2019), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, tr.20
29 https://ttabvue.uspto.gov/ttabvue/ttabvue-76601697-EXA-10.pdf , ngày truy cập: 24/7/2022
30 Đỗ Thị Diện (2021), “Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong quy định của điều ước quốc tế, pháp luật Hoa
Kỳ và Việt Nam”, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210872 , ngày truy cập: 13/7/2022
31 https://www.wipo.int/export/sites/www/sct/en/comments/pdf/sct17/bg_1.pdf , ngày truy cập: 20/7/2022
Trang 26nào có thể nghe thấy được, dùng để phân biệt hàng hoá của các tổ chức, cá nhân khác nhau32
Các quan điểm về định nghĩa nhãn hiệu âm thanh dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng nhìn chung đều ghi nhận, nhãn hiệu âm thanh trước hết là nhãn hiệu và được đặc thù bởi dấu âm thanh của nó, được cảm nhận bằng thính giác của con người Định nghĩa mang tính pháp lý về nhãn hiệu âm thanh chưa được chính thức ghi nhận trong một văn bản quốc tế hay pháp luật các quốc gia, tuy nhiên, có nhiều học giả nghiên cứu về nội dung này Một cách tổng quát, hiểu về nhãn hiệu âm thanh phải xuất phát
từ bản chất của nó, tác giả cho rằng, từ những phân tích trên, có thể khái quát nhãn hiệu âm thanh là các dấu âm thanh nghe thấy được, dùng để phân biệt hàng hoá, dịch
vụ của các cá nhân, tổ chức khác nhau và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ Bởi, nếu dấu hiệu âm thanh thoả mãn các điều kiện mà chưa được đăng ký thì dấu hiệu đó cũng không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu, bởi cơ chế phát sinh quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu là cơ chế đăng ký chứ không tự động như đối với quyền tác giả
Một khi đạt được điều này, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ có các quyền khai thác đối với nhãn hiệu âm thanh Nếu một chủ thể khác xâm phạm, chủ sở hữu có thể yêu cầu khắc phục hợp pháp Pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung hay các quy phạm về nhãn hiệu nói riêng ra đời nhằm bảo vệ thiện chí của người kinh doanh và do đó, bảo
vệ người tiêu dùng khỏi bị lừa dối Bản chất kép này của nhãn hiệu luôn là cốt lõi của luật pháp nhãn hiệu
1.2 Đặc điểm nhãn hiệu âm thanh
Trước đây, các dấu hiệu âm thanh chưa được ghi nhận là một nhãn hiệu, nhưng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, cùng nhu cầu tiếp cận sản phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng, âm thanh trở thành dấu hiệu để giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hoá, dịch vụ từ các chủ thể khác nhau Năm 1950, nhãn hiệu âm
thanh “3 hồi chuông” của Đài NBC đã được chấp nhận bảo hộ và là nhãn hiệu âm
thanh đầu tiên trên thế giới Ba nốt Sol, Mi và Đô đã đánh dấu tên tuổi NBC: bất kể
ai nghe thấy cũng lập tức liên tưởng âm thanh đó là NBC Sự phát triển theo thời gian, đến nay, theo thống kê của Cơ quan Sở hữu trí tuệ châu Âu (EUIPO) thì tính đến
32 Bùi Thị Lệ Hằng (2021), Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Luận
văn Thạc sĩ Luật kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, tr.9
Trang 27tháng 9 năm 2021, đã có 321 nhãn hiệu âm thanh được đăng ký bảo hộ, chiếm tỷ lệ 0,02% trên tổng số các nhãn hiệu được đăng ký của châu lục này33 Thế nên, nhãn hiệu âm thanh không chỉ chứa đựng các đặc điểm chung cơ bản của một nhãn hiệu
truyền thống mà nó còn cho thấy được “dáng vẻ” của sự phát triển vượt bậc mà khoa
học công nghệ mang lại Tác giả có thể khái quát thành các nội dung sau đây
Thứ nhất, nhãn hiệu âm thanh là dấu hiệu giúp người tiêu dùng nhận diện được hàng hoá, dịch vụ của các nhà sản xuất, cung ứng khác nhau trên thị trường vốn đa dạng và phong phú Tương tự như các dấu hiệu truyền thống, nhãn hiệu âm thanh có thể đáp ứng được các chức năng cơ bản của một nhãn hiệu, cụ thể là chức năng phân biệt, chức năng xác định chất lượng, chức năng quảng cáo/đầu tư, chức năng biểu đạt34 Dựa vào hiệu ứng âm thanh, người tiêu dùng có thể nghe được, cảm nhận được
và liên tưởng đến hàng hoá, dịch vụ của một chủ thể kinh doanh nhất định, có thể nhận biết được nó đang biểu thị cho hàng hoá, dịch vụ của nhà cung ứng nào trên thị trường Đôi khi, chính dấu hiệu âm thanh lại trở thành yếu tố giúp cho doanh nghiệp tạo hiệu ứng tốt, tích cực với người tiêu dùng Đặc biệt, với các hiệu ứng âm thanh trong thời đại công nghệ 4.0, chức năng quảng cáo trở nên sinh động hơn, quảng bá nhãn hiệu đến khắp nơi trên thế giới Khác với các âm thanh khác, một khi âm thanh được đăng ký trở thành nhãn hiệu, đặc điểm lớn nhất của nó chính là tạo khả năng phân biệt, nhận diện hàng hoá, dịch vụ của người tiêu dùng Nghiên cứu của Pavlov
đã chỉ ra rằng, các dấu hiệu âm thanh có thể vượt trội hơn so với các dấu hiệu khác
“khi tác động lên trí não của con người vì thính giác là cơ quan được cảm nhận tự nhiên hơn là các giác quan khác thường có sự chủ động của con người”35
Thứ hai, nhãn hiệu âm thanh cũng là một tài sản vô hình Là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền đối với nhãn hiệu được gọi là quyền tài sản theo pháp luật dân sự36 Quyền đối với nhãn hiệu không hiện hữu bằng một loại vật chất cụ thể như một chiếc xe, một chiếc điện thoại, một cái máy tính, … nó có thể là một nhãn hiệu từ ngữ, màu sắc được thể hiện trên giấy, nhưng để trở thành một nhãn
33 tao/938-bao-ho-nhan-hieu-am-thanh-xu-the-tat-yeu-cua-the-gioi , ngày truy cập: 08/8/2022
http://thongke.cesti.gov.vn/an-pham-thong-ke/thong-tin-chuyen-de-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-34 Trần Kiên (chủ biên) (2020), tldđ (03), tr.133-134
35 Nguyễn Khánh Linh, “Thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và mùi ở các nước phát triển và gợi ý cho Việt Nam”, https://vjst.vn/vn/tin-tuc/2736/thuc-tien-bao-ho-nhan-hieu-am-thanh-va-mui-o-cac-nuoc-phat-trien-va- goi-y-cho-viet-nam.aspx , ngày truy cập: 07/8/2022
36 Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015
Trang 28hiệu, nó phải được đăng ký, được bảo hộ là một tài sản trí tuệ và trở thành loại tài sản
vô hình thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu đó Nhãn hiệu âm thanh cũng tương tự, tính
vô hình của âm thanh còn thể hiện khi nó chưa được đăng ký bảo hộ, bởi con người cảm nhận nó bằng thính giác hoặc được tiếp nhận gián tiếp thông qua các biểu đồ mô phỏng lại âm thanh đó, nếu âm thanh được đăng ký và được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu, nó trở thành tài sản vô hình của chủ sở hữu nó tương tự như các nhãn hiệu khác
Thứ ba, nhãn hiệu âm thanh chứa đựng dấu hiệu mà pháp luật ghi nhận để được đăng ký là nhãn hiệu Nhãn hiệu phải là những dấu hiệu chữ cái, từ ngữ, hình
vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó và đến nay, khi Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022 đã chính thức được thông qua, dấu hiệu âm thanh cũng có thể trở thành nhãn hiệu Mặc dù dấu hiệu âm thanh xuất hiện từ rất lâu, nhu cầu ghi nhận loại dấu hiệu này được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu cũng không phải là mới mẻ, tuy nhiên, chỉ khi pháp luật ghi nhận thì nó mới được bảo hộ là một nhãn hiệu Tương tự, Malaysia, khi trở thành thành viên của CPTPP, quốc gia này mới thêm dấu âm thanh trở thành dấu hiệu được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu theo đạo luật nhãn hiệu (Trademark Act of Malaysia 2019)37 Như vậy, dấu hiệu âm thanh mang tính pháp lý, bởi nó là một trong các dấu hiệu mà pháp luật quốc gia bảo hộ ghi nhận
Thứ tư, nhãn hiệu âm thanh có khả năng truyền đạt vượt xa khỏi ngôn ngữ
Âm thanh tác động lên thính giác của con người gây ra hoạt động ở cả hai bán cầu não và có thể ảnh hưởng đến cách con người phản ứng và cư xử38 Vì vậy, chính nhờ khả năng truyền đạt thông tin và tạo thuận lợi cho các quyết định mua hàng mà nhãn hiệu được bảo hộ hợp pháp, nâng cao khả năng khai thác thương mại và thúc đẩy sáng tạo của các chủ thể trong xã hội Nhãn hiệu âm thanh với đặc thù của mình còn góp phần tăng tính phong phú, khả năng truyền đạt phi biên giới cho tất cả mọi người, phù hợp với xu hướng của sự phát triển Điều này được thừa nhận một cách rõ ràng bởi các đạo luật hiện đại quy định sự bảo hộ hợp pháp cho nhãn hiệu âm thanh, với
điều kiện dấu hiệu đó là dấu hiệu “vốn có tính đặc biệt”, tức là có thể trực tiếp thực
hiện chức năng đã nêu của nhãn hiệu Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa những âm thanh độc đáo, khác biệt hoặc những âm thanh giống hoặc bắt chước những âm thanh
37 Điểm c mục 2 Điều 147 Luật Nhãn hiệu Malaysia 2019, content/uploads/2019/12/ACT-815-TRADEMARKS-ACT-201.pdf , ngày truy cập: 28/7/2022
https://www.myipo.gov.my/wp-38 Ruth Mortimer (2005), Sonic Branding: Branding the Perfect Pitch, Brand Strategy, p.24
Trang 29“thông thường” hoặc những âm thanh mà người nghe đã tiếp xúc trong những hoàn
cảnh khác nhau, những âm thanh này phải được chứng minh là có được sự khác biệt Điều này cho thấy, tính đa dạng của nhãn hiệu âm thanh, nó có thể là âm thanh tự nhiên được chắt lọc hoặc âm thanh do con người tạo ra Ví dụ về nhãn hiệu âm thanh
“thông thường” bao gồm hàng hóa tạo ra âm thanh trong quá trình hoạt động bình
thường của chúng (ví dụ: đồng hồ báo thức, thiết bị bao gồm báo động hoặc tín hiệu
âm thanh, điện thoại và thiết bị báo động an ninh cá nhân) Do đó, nhãn hiệu âm thanh cho hàng hóa tạo ra âm thanh trong quá trình hoạt động bình thường của chúng chỉ
có thể được đăng ký khi thể hiện tính đặc biệt39 Điều này phù hợp với lý thuyết lu
mờ nhãn hiệu (dilution by blurring) trong pháp luật nhãn hiệu một số nước, đặc biệt phát triển ở các nước châu Âu và Hoa Kỳ40 xác định rằng cần bảo vệ tính độc đáo của nhãn hiệu chứ không chỉ bảo hộ khả năng phân biệt của nó41
Bên cạnh đó, nhãn hiệu âm thanh được đăng ký và thẩm định một cách đặc thù Bởi cảm nhận bằng thính giác của con người, thế nên, quy trình thẩm định nhãn hiệu âm thanh không giống với các loại dấu hiệu khác, đòi hỏi có sự kết hợp với mô
tả thông qua các sơ đồ hoặc bản đồ hoạ các nốt âm Chính nội dung này, đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng cơ sở thẩm định hoàn thiện để sao cho ghi nhận đúng bản chất âm thanh là nhãn hiệu, đảm bảo chức năng của âm thanh là dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau trên thị trường Do đó, quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh cũng như quy trình đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh cũng được các quốc gia khá chú trọng và ngày càng hoàn thiện
1.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
Lịch sử pháp luật về nhãn hiệu nói chung đã cho thấy, việc ghi nhận bảo hộ nhãn hiệu dưới dạng là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật sở hữu trí tuệ là phù hợp với các yêu cầu của thực tiễn cũng như xu thế chung của sự phát triển Học thuyết về quyền tự nhiên của John Locke42 cũng như các lập luận liên
39 https://tmep.uspto.gov/RDMS/TMEP/Oct2012#/Oct2012/TMEP-1200d1e2927.html , ngày truy cập: 22/6/2022
40 Mathias Strasser (2011), “The Rational Basis of Trademark Protection Revisited: Putting the Dilution
Doctrine into Context”, Fordham Intellectual Propẻty, Media and Entertainment Law Journal, Volume 10,
Trang 30quan đến nguồn gốc hình thành pháp luật về nhãn hiệu cho thấy tầm quan trọng của việc định khung pháp lý bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu
Quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu cho thấy sự cần thiết trong việc bảo hộ nhãn hiệu dưới dạng quyền sở hữu trí tuệ Bảo hộ nhãn hiệu nói riêng hay bảo hộ nhãn hiệu âm thanh nói chung mang đến nhiều ý nghĩa lớn dối với người tiêu dùng, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh có nhãn hiệu, đồng thời, nó còn mang đến giá trị lớn cho nền kinh tế thị trường vốn đa dạng và yêu cầu về cạnh tranh cao
Thứ nhất, đối với chủ sở hữu nhãn hiệu Bản chất của nhãn hiệu chính là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể với nhau Do đó, chủ sở hữu dấu hiệu phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu dấu hiệu đáp ứng các yêu cầu mà pháp luật quy định, dấu hiệu sẽ được công nhận là nhãn hiệu Khi đó, pháp luật sẽ trao các quyền cho chủ sở hữu nhãn hiệu Về cơ bản, họ có toàn quyền đối với nhãn hiệu của mình, đặc biệt là ngăn chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự hoặc xâm phạm đến nhãn hiệu của mình Trong nền kinh tế thị trường, các loại hàng hoá, dịch vụ đa dạng, mỗi hàng hoá, dịch vụ lại có nhiều chủ thể cung ứng khác nhau, mỗi chủ thể có những nét đặc trưng, tạo hàng hoá và dịch
vụ mang chất lượng, đặc trưng của riêng mình Do đó, tính cạnh tranh được thể hiện
rất rõ rệt Khái niệm “thương hiệu” (brand) không được sử dụng trong pháp luật Việt Nam nhưng “xây dựng thương hiệu” là cụm từ thường được nhắc đến trong nền kinh
tế Các chủ thể cố gắng tạo uy tín, điểm đặc trưng cho hàng hoá, dịch vụ của mình khác biệt về chất lượng, mẫu mã, … để người tiêu dùng có thể lựa chọn nó, nhưng để người tiêu dùng phân biệt được chúng với các loại hàng hoá, dịch vụ cùng loại thì cần thiết phải có nhãn hiệu
Nhãn hiệu âm thanh ra đời như một nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển và
sự tiến bộ của khoa học công nghệ Thay vì phải đọc tên hoặc nhìn vào hàng hoá, dịch vụ để biết nó của nhà cung ứng nào thì người tiêu dùng chỉ cần nghe âm thanh
phát ra, chẳng hạn âm thanh “cha-ching” vang lên thì người tiêu dùng ở Hoa Kỳ có
thể nhận biết đó là của nhãn hiệu Rally’s Hamburgers kinh doanh lĩnh vực nhà hàng43 Nhờ dấu hiệu âm thanh, cách tiếp cận của các chủ thể kinh doanh đối với người tiêu dùng trở nên đa dạng hơn và thu hút hơn Qua đó, doanh nghiệp có thể nâng cao được
43 Số đăng ký: 1795371 bởi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Trang 31vị thế của mình trên thị trường cũng như đối với người tiêu dùng Thế nên, việc bảo
hộ nhãn hiệu nói chung hay bảo hộ nhãn hiệu âm thanh nói riêng có ý nghĩa lớn đối với chính các chủ sở hữu nhãn hiệu
Thứ hai, đối với người tiêu dùng Cũng xuất phát từ bản chất của nhãn hiệu là dấu hiệu giúp phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau trên thị trường, thế nên, nhờ có nhãn hiệu nói chung, người tiêu dùng có thể nhận biết, phân biệt hàng hoá, dịch vụ của từng chủ thể khác nhau, lựa chọn cho mình loại hàng hoá, dịch vụ phù hợp với mình Đồng thời, nhãn hiệu được bảo hộ bởi pháp luật sở hữu trí tuệ, thế nên, nó còn giúp người tiêu dùng tránh được tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng Các chủ thể kinh doanh sẽ chú trọng hơn đối với việc đảm bảo các nguồn
hàng hoá, dịch vụ của mình tính chất lượng để tránh đánh mất “vị thế” đối với người
việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam góp phần hỗ trợ, tạo “nền móng” cho
quá trình đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh quốc tế nếu các chủ thể lựa chọn dấu hiệu đặc trưng này làm nhãn hiệu
Điều này cho thấy, để tăng tính cạnh tranh và cơ hội khi tham gia thị trường quốc tế, vấn đề đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu cần thiết phải được đẩy mạnh và đầu tư Đối với nhãn hiệu âm thanh, trước khi Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022 ra đời, Việt Nam không ghi nhận các dấu hiệu không nhìn thấy được, cụ thể là âm thanh chưa được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, tuy nhiên, đến nay, khi gia nhập vào Hiệp định CPTPP, Việt Nam cần phải thực hiện các cam kết của mình, cũng như mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp trong nước phát huy khả năng
Trang 32sáng tạo, tăng tính cạnh tranh và đồng thời, tạo môi trường pháp lý năng động thu hút đầu tư quốc tế Song đây cũng chính là thách thức cho hệ thống thẩm định của cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam khi mà vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh còn mới
mẻ và cần thiết phải xây dựng khung pháp lý chắc chắn
Thứ tư, bảo hộ nhãn hiệu âm thanh góp phần thúc đẩy sự sáng tạo, nâng cao tính cạnh tranh của thị trường trong và ngoài nước Nhãn hiệu là tài sản trí tuệ được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ, bất kỳ chủ thể nào có hành vi xâm phạm đến đều phải gánh chịu các hệ quả pháp lý nhất định Điều này góp phần khuyến khích khả năng sáng tạo của các chủ thể trong xã hội, bản chất của nhãn hiệu là dấu hiệu phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau, do đó, các chủ thể không ngừng nỗ lực, sáng tạo để nhãn hiệu của mình trở nên dộc đáo, thu hút hơn đối với người tiêu dùng Đặc biệt với các dấu hiệu âm thanh, bản chất của nó là tăng khả năng truyền đạt, thế nên, việc ghi nhận nhãn hiệu âm thanh giúp cho chính các chủ sở hữu nhãn hiệu đa dạng loại hình sáng tạo, để khẳng định vị thế của mình đối với người tiêu dùng
Thứ năm, đối với quan hệ quốc tế Nhãn hiệu âm thanh chỉ mới được ghi nhận vào Luật SHTT Việt Nam vào ngày 16 tháng 6 năm 2022 khi được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Tuy nhiên, trên thế giới, nhãn hiệu
âm thanh không quá xa lạ, nhìn vào lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu, có thể thấy, âm thanh ra đời từ khá lâu và việc nó trở thành nhãn hiệu giúp phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau như một quy luật tất yếu Các quốc gia trên thế giới ghi nhận nó cùng một số nhãn hiệu phi truyền thống khác để bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu, phục vụ khai thác thương mại Mặt khác, bảo hộ nhãn hiệu mang tính lãnh thổ, thế nên, nếu các chủ nhãn hiệu phi truyền thống như âm thanh, mùi hương của các quốc gia khác muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam, nhưng pháp luật Việt Nam không bảo hộ nhãn hiệu của họ, nguy cơ nhãn hiệu bị xâm phạm hiện hữu thì vấn đề hợp tác đầu tư có thể bị hạn chế Ngoài ra, việc Việt Nam gia nhập các điều ước quốc tế, chẳng hạn như CPTPP, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là việc thực hiện cam kết quốc tế, đồng thời thể hiện thái độ thiện chí, tích cực trong quan
hệ quốc tế
Nhìn chung, bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là yêu cầu tất yếu đáp ứng thực tiễn
và phù hợp với xu thế chung của sự phát triển Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh góp phần thúc đẩy kinh tế trong và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng sáng tạo của các chủ thể trong nước và bảo vệ cho chính quyền, lợi ích chính đáng của
Trang 33doanh nghiệp và người tiêu dùng Vấn đề ghi nhận đã được thực hiện, tuy nhiên, bởi dấu hiệu âm thanh khá đặc thù, nên cần có quy trình thẩm định cũng như đưa ra các căn cứ bảo hộ phù hợp, đây là những thách thức cho nền pháp luật Việt Nam
1.4 Thách thức trong việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
Nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ với danh nghĩa là một đối tượng của quyền
sở hữu công nghiệp theo pháp luật sở hữu trí tuệ Theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu âm thanh có quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng, khai thác nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình, được quyền định đoạt và đồng thời, đây cũng là quyền quan trọng nhất là ngăn cấm người khác, được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nếu chủ thể khác xâm phạm đến quyền đối với nhãn hiệu âm thanh đã được đăng ký
Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh bao gồm việc ban hành các quy định pháp luật về điều kiện, phương thức bảo hộ một dấu hiệu âm thanh với danh nghĩa nhãn hiệu và bảo vệ nhãn hiệu âm thanh trước các hành vi xâm phạm bằng các biện pháp dân sự, hành chính hay hình sự Là một nhãn hiệu, nhưng khác với các nhãn hiệu khác, nhãn hiệu âm thanh khá đặc thù Thế nên, vấn đề thẩm định cũng như bảo hộ nó là thách thức lớn đối với các nhà làm luật và với các cơ quan có thẩm quyền quản lý
Đối với hoạt động thẩm định, nhãn hiệu âm thanh tiếp cận với người tiêu dùng thông qua giác quan là thính giác Hệ thống thẩm định nhãn hiệu hiện tại của Việt Nam chỉ mới tiếp cận với việc xem xét các dấu hiệu nhìn thấy được như chữ cái, chữ
số, hình vẽ, kể cả hình ba chiều, màu sắc, … Với nhãn hiệu âm thanh, loại dấu hiệu được nhận thức qua thính giác của con người với các cách cảm nhận khác nhau của mỗi chủ thể, do đó, thẩm định như thế nào để đảm bảo tính công tâm, khách quan và chính xác đòi hỏi yêu cầu về kỹ thuật cũng như cơ chế pháp lý chặt chẽ 44 Thực tiễn vấn đề thẩm định nhãn hiệu ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, khi mà tình trạng tồn đọng hồ sơ với nhãn hiệu nhìn thấy được vẫn tiếp diễn45 Âm thanh chứa đựng các tần số và âm khác nhau Kỹ thuật phân biệt các âm thanh đòi hỏi tính chuyên môn cao, đây chính là thách thức lớn cho các nhà lập pháp cũng như cơ quan sở hữu trí tuệ Do đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới về điều kiện
44 Nguyễn Tùng Lâm (2017), “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật Hoa Kỳ - Kinh nghiệm cho Việt
Nam”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 3, tr.55
45 “Đẩy nhanh tốc độ thẩm định đơn đăng ký sáng chế và nhãn hiệu”, tham-dinh-don-dang-ky-sang-che-va-nhan-hieu-post680297.html , ngày truy cập: 06/8/2022
Trang 34https://nhandan.vn/day-nhanh-toc-do-bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, các loại âm thanh loại trừ không được https://nhandan.vn/day-nhanh-toc-do-bảo hộ là rất cần thiết
Ngoài ra, thách thức trong hoạt động quản lý việc đăng ký, làm cơ sở cho quá trình thẩm định cũng như cách thức bảo vệ nhãn hiệu âm thanh khi có hành vi xâm phạm cũng được đặt ra Để thẩm định đầy đủ, chính xác, tránh các thủ tục hành chính phức tạp, gây cản trở cho người nộp đơn đòi hỏi sự quy định về hồ sơ đăng ký nhãn hiệu âm thanh cụ thể, rõ ràng Cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu âm thanh ở Việt Nam đều chưa có kinh nghiệm đối với hoạt động này, tuy nhiên, nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là có Hơn nữa, các chủ thể từ những quốc gia thành viên của các điều ước quốc tế có thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam Thế nên, vấn đề quy định quy trình đăng ký, quản
lý hồ sơ để thẩm định và bảo hộ nhãn hiệu âm thanh một cách kịp thời chính là thách thức đối với các cơ quan quản lý về sở hữu công nghiệp khi Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022 chính thức có hiệu lực đối với phần về nhãn hiệu âm thanh từ ngày
14 tháng 01 năm 2022
Mặc dù được ghi nhận bởi pháp luật Hoa Kỳ hay Liên minh Châu Âu, tuy nhiên, số lượng đơn đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là không nhiều Tính đến năm 2021, số lượng nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ ở Châu
Âu là 32146
46 EUIPO Statistics for European Union Trade Marks
Nguồn: EUIPO Statistics for European Union Trade Marks, web/secure/webdav/guest/document_library/contentPdfs/about_euipo/the_office/statistics-of-european- union-trade-marks_en.pdf
Trang 35https://euipo.europa.eu/tunnel-Đối với chính các chủ thể đăng ký, để tạo nên âm thanh có thể được bảo hộ nhãn hiệu, chủ thể này phải đối mặt với nhiều thách thức lớn Bởi họ phải đầu tư công sức, tài chính và thời gian sao cho âm thanh được đăng ký phải đáp ứng được các điều kiện khắt khe của một âm thanh được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu, đồng thời bảo vệ nó và tạo điểm nhấn đối với người tiêu dùng
Nhìn chung, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là yêu cầu tất yếu của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn và các cam kết quốc
tế mà Việt Nam là thành viên Đây là cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam cũng như các chủ thể kinh tế khác để đa dạng hoá cách thức tiếp cận với người tiêu dùng, tạo
ấn tượng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và tạo động lực sáng tạo trong xã hội Song, thách thức mà nó đem lại cũng không hề nhỏ, đòi hỏi pháp luật xây dựng một hệ thống quy định pháp luật chặt chẽ về điều kiện công nhận dấu hiệu âm thanh được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu, quy trình đăng ký, thẩm định nhãn hiệu âm thanh
và hoạt động chống lại hành vi xâm phạm nó
Trang 36Kết luận chương 1
Lịch sử phát triển của nhãn hiệu cho thấy rằng, nhãn hiệu ra đời là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế Với sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, các dấu hiệu âm thanh ra đời và trở thành dấu hiệu giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ Âm thanh dùng làm nhãn hiệu có đầy đủ các tính chất của một nhãn hiệu nói chung và phù hợp với xu thế hiện đại
Nhãn hiệu âm thanh được ghi nhận ở các quốc gia như Hoa Kỳ, các nước Châu
Âu, Australia, Trung Quốc, Singapore hay Malaysia, tuy nhiên, định nghĩa về nhãn hiệu âm thanh vẫn chưa được thống nhất trong một văn bản có giá trị pháp lý nào Dựa vào quá trình công nhận các nhãn hiệu âm thanh và các nghiên cứu pháp lý, tác
giả nhận thấy, nhãn hiệu âm thanh là “các dấu âm thanh nghe thấy được, dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác nhau và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ”
Là thành viên của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Việt Nam thực hiện cam kết của mình trong việc nội luật hoá vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022 đã chính thức ghi nhận dấu âm thanh có thể được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu Điều này phù hợp với xu thế chung của sự phát triển, đồng thời mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực sáng tạo, cạnh tranh với thị trường quốc tế Song, đây cũng chính
là thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào nền kinh
tế thế giới khi mà năng lực thẩm định và hệ thống pháp luật vẫn còn chưa được hoàn thiện
Mặc dù có nhiều thách thức, song ý nghĩa của việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
là vô cùng lớn đối với nền kinh tế trong xu thế hội nhập, với chính các chủ sở hữu nhãn hiệu âm thanh và với người tiêu dùng Hiểu về nhãn hiệu âm thanh, về đặc điểm cũng như giá trị, thách thức mà nó mang lại góp phần tạo động lực xây dựng hệ thống các quy định chặt chẽ về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trong nước và ứng xử trong các quan hệ quốc tế
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU ÂM THANH
Pháp luật SHTT Việt Nam hiện hành ghi nhận dấu hiệu âm thanh được bảo hộ
dưới danh nghĩa nhãn hiệu, tuy nhiên, không phải bất kỳ âm thanh nào cũng đều có
thể được đăng ký mà phải đáp ứng những điều kiện chung về hình thức cũng như nội
dung của âm thanh đó Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia có những sự ghi nhận
về vấn đề này
2.1 Là dấu hiệu âm thanh theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ
Hiện nay, Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật SHTT 2022 vừa được
Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 6 năm
2022 đã có sự ghi nhận mang tính bước ngoặt khi lần đầu tiên, pháp luật SHTT Việt
Nam ghi nhận một dấu hiệu âm thanh có thể trở thành nhãn hiệu Cụ thể khoản 33
Điều 2 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT quy định nhãn hiệu được
bảo hộ nếu đáp ứng được ngoài điều kiện về khả năng phân biệt thì dấu hiệu đó phải
là: “Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình
ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa”.
Trước đây, Luật SHTT năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019,
các dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu chỉ bao gồm những dấu hiệu
được xem là nhìn thấy được như hình ảnh, màu sắc, từ ngữ, chữ cái, hình vẽ, hình ba
chiều hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó Như vậy, “dấu hiệu âm thanh” được bổ
sung vào điều khoản như một sự ghi nhận loại nhãn hiệu được truyền tải đến công
chúng thông qua giác quan thính giác Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
SHTT 2022 yêu cầu dấn hiệu âm thanh đó thể hiện được “dưới dạng đồ hoạ”, tức
phải có sự mô phỏng ra bên ngoài bằng sơ đồ, mô hình hoá âm thanh đó
Việc ghi nhận của Luật SHTT đối với dấu hiệu âm thanh thể hiện sự nỗ lực
của Việt Nam trong thực hiện các cam kết quốc tế, đặc biệt là nội luật hoá nội dung
của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được
Quốc hội phê chuẩn vào ngày 12 tháng 11 năm 2018 Theo đó, Nghị quyết yêu cầu
lộ trình sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ liên quan nhãn hiệu âm
thanh, cụ thể, mục 2 phụ lục 03 quy định “Sửa đổi khoản 1 Điều 72 quy định nhãn
hiệu phải là dấu hiệu có thể nhìn thấy được hoặc/và nghe thấy được (âm thanh)” với
Trang 38thời gian trong vòng 02 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực tại Việt Nam Không chỉ thực hiện cam kết quốc tế, nội dung này còn thể hiện pháp luật Việt Nam dần tiệm cận với pháp luật các nước, phù hợp với quy luật chung của sự phát triển và tạo động lực cho nền kinh tế trong nước
Âm thanh ở đây khá đa dạng, pháp luật Việt Nam không liệt kê đó là các dạng
âm thanh gì, chỉ áp dụng tiêu chí chung là phải được thể hiện dưới dạng đồ hoạ Song, không phải dấu âm thanh nào cũng được coi là nhãn hiệu Ở một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu đã ghi nhận vấn đề này qua các vụ việc thực tiễn Âm thanh được công nhận là nhãn hiệu có thể là các âm thanh tự nhiên hoặc những âm thanh do con người tạo ra, nhưng phải đáp ứng các điều kiện tiếp theo về
khả năng phân biệt và tính phi chức năng Chính phủ Australia xác định rằng “Một nhãn hiệu âm thanh có thể là bất cứ điều gì được cảm nhận bằng thính giác Nó có thể là một sự phô trương phức tạp của dàn nhạc hoặc một tiếng động cơ đơn giản
Nó có thể được hát hoặc lời nói, hoặc sự kết hợp của giọng nói và các âm thanh khác
Đó có thể là tiếng chó sủa, tiếng chuông hoặc tiếng trẻ khóc Dù là gì đi nữa thì nó cũng phải phục vụ mục đích xác định nguồn gốc thương mại của hàng hóa / dịch vụ
mà nó sẽ được sử dụng”47
Ở Châu Âu, nhãn hiệu âm thanh được xác định phải là nhãn hiệu thương mại chỉ bao gồm một âm thanh hoặc sự kết hợp của các âm thanh Do đó, các nhãn hiệu kết hợp âm thanh, ví dụ, âm thanh từ chuyển động không đủ tiêu chuẩn là nhãn hiệu
âm thanh và nên được áp dụng làm nhãn hiệu đa phương tiện Như vậy, âm thanh ở đây có thể là một âm, hoặc kết hợp bởi nhiều âm khác nhau, không phân biệt đó là
âm thanh như thế nào Ở Hoa Kỳ, mặc dù không quy định cụ thể vào đạo luật Nhãn hiệu Lanham, nhưng án lệ quốc gia này đã tạo hành lang pháp lý cho nhãn hiệu âm
thanh Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng nhãn hiệu có thể là “hầu hết mọi thứ
có khả năng mang ý nghĩa, phân biệt hàng hoá, dịch vụ”48 Theo Cơ quan Nhãn hiệu
Hoa Kỳ (USPTO), nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ nếu được coi là “ngẫu nhiên, độc đáo, có khả năng phân biệt và có thể được sử dụng nhằm tạo ấn tượng trong tâm trí người nghe và khi bắt gặp lại, người nghe có thể nhận ra rằng một sản phẩm hoặc
47 Sổ tay Hướng dẫn Thực hành và Thủ tục Thương hiệu Úc (The Australian Trade Marks Manual of Practice and Procedures, phần 21.6 Sound (auditory) trade marks
https://manuals.ipaustralia.gov.au/trademark/6.-sound-auditory-trade-marks , ngày truy cập: 05/8/2022
48 Qualitex Co v Jacobson Products Co, 514 US 159 (1995)
Trang 39dịch vụ đó xuất phát từ một nguồn gốc thương mại cụ thể, dù không rõ tên nguồn”49 Như vậy, các quốc gia, quy định về dấu hiệu âm thanh không có các điều kiện đặc thù, miễn đó là âm thanh và đáp ứng các yêu cầu về tính phân biệt khác của nhãn hiệu Âm thanh ở đây có thể là âm thanh bình thường từ tự nhiên, từ bản thân hàng hoá, dịch vụ hoặc là âm nhạc, nó cũng có thể là âm thanh từ tiếng máy móc, động vật, một đoạn nhạc50, … Nếu âm thanh được đăng ký là âm nhạc thì vấn đề pháp lý được đặt ra, liệu có hay không sự xung đột, chồng lấn giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu âm thanh đó hay không
Thực tiễn xét xử ở Hoa Kỳ ghi nhận âm nhạc có thể được bảo hộ đồng thời giữa luật bản quyền và luật nhãn hiệu Xét vụ việc Oliveira v Frito-Lay Inc (251 F3d
56 (2d Cir 2001)51 Năm 1964, Gilberto thu âm “Ipanema” cùng với Stan Getz, trên
saxophone, và chồng của cô, Joao Gilberto, trên guitar Bản thu âm năm 1964 đã trở
nên nổi tiếng thế giới Đến năm 1996, bị đơn là Frito-Lay bắt đầu tiếp thị “Baked Lays” Potato Crisps, một loại khoai tây chiên nướng ít chất béo Để sử dụng bản ghi
âm trong quảng cáo Baked Lays, BBDO đã thay mặt Gimbel mua quyền đồng bộ hóa
từ Duchess Music Corporation và Gimbel Music Group BBDO cũng đã mua giấy phép sử dụng bản thu âm chính từ PolyGram Records Công ty này đã trả hơn 200.000
đô la cho các giấy phép Dường như tin rằng Gilberto không có quyền nào trong bản ghi âm, BBDO đã không tìm kiếm sự cho phép của cô để sử dụng nó trong quảng cáo Gilberto không tham gia sản xuất Bản ghi âm năm 1964 ngoài vai trò ca sĩ chính
Cô ấy không soạn nhạc, viết lời hay sản xuất bản thu âm Khi thu âm bài hát, cô không
ký bất kỳ hợp đồng hoặc phát hành nào với công ty thu âm hoặc nhà sản xuất; và cô
ấy không được họ tuyển dụng Gilberto đã nhận được giải Grammy cho bản thu âm, ngay lập tức trở thành một bài hát nổi tiếng và khởi đầu cho sự nghiệp ca hát của cô
Cô ấy tuyên bố rằng do thành công vang dội của Bản ghi âm năm 1964 và các buổi
biểu diễn thường xuyên sau đó của cô ấy về “Ipanema”, cô ấy đã được công chúng
xác định với Bản ghi âm năm 1964 Do đó, cô tuyên bố đã giành được quyền thương hiệu trong Bản ghi âm năm 1964, mà cô cho rằng công chúng công nhận đó là nhãn hiệu xác định cô là ca sĩ Thế nên, việc Frito-Lay không thể sử dụng Hợp pháp Bản
49 https://tmep.uspto.gov/RDMS/TMEP/Oct2012#/Oct2012/TMEP-1200d1e2927.html , ngày truy cập: 07/8/2022
50 Phùng Thị Yến, Lê Hồng Anh (2021), “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh không có tính phân biệt cố hữu: Quy
định của một số nước và đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, tr.57
51 Phụ lục số 01
Trang 40ghi âm năm 1964 trong một quảng cáo cho chip của mình mà không có sự cho phép của cô
Bởi vì bị đơn đã có được giấy phép bản quyền cho bài hát, nên nguyên đơn đã dựa trên lý thuyết rằng họ có quyền với nhãn hiệu từ bài hát Tòa án quận đã bác bỏ
đơn kiện với lý do “không có sự bảo hộ nhãn hiệu liên bang cho các tác phẩm âm nhạc” Tòa phúc thẩm không đồng ý và khẳng định “thực tế là các tác phẩm âm nhạc được bảo vệ bởi luật bản quyền không phải là không tương thích với các tác phẩm cũng đủ điều kiện để được bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu” Thế nhưng, việc một
bài hát đó trở thành “nhãn hiệu âm thanh” của cá sĩ biểu diễn lại là một vấn đề cần
được xem xét Toà án lập luận rằng, “màn biểu diễn đặc trưng” để từ đó một lượng
lớn khán giả có thể liên kết với nghệ sĩ biểu diễn không phải là duy nhất đối với Gilberto Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng đã ghi lại những màn biểu diễn đặc sắc đến mức khán giả của họ nhận dạng được với nghệ sĩ biểu diễn Tuy nhiên, không có trường hợp nào một người biểu diễn như vậy được sở hữu một nhãn hiệu được bảo hộ trong
bản ghi âm đó Thực tế có những trường hợp Tòa án đã bảo vệ “tính cách” (persona)
của một nghệ sĩ chống lại việc hiểu sai về nghệ sĩ đó thông qua các bài hát Xem, ví dụ: Waits kiện Frito-Lay, Inc., 978 F.2d 1093, 1107 (9 Cir.1992) (khẳng định phán quyết cho nguyên đơn, Tom Waits, về khiếu nại chứng thực ngụ ý sai để sử dụng trong quảng cáo đồ ăn nhanh của một ca sĩ bắt chước cách hát của nguyên đơn để ca ngợi sản phẩm của bị đơn) Việc sử dụng bài hát đã ghi âm của Gilberto đã không thể hiện được tính cách của cô ấy, và tòa án quận đã kết luận một cách chính đáng rằng
cô ấy không thể tiếp tục tuyên bố về sự chứng thực ngụ ý Qua đó, Toà án xác định rằng sẽ là không hợp lý nếu luật nhãn hiệu cấp cho một nghệ sĩ biểu diễn một nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu dịch vụ trong buổi biểu diễn của họ bởi nó sẽ gây ảnh hưởng sâu sắc đến thương mại Như vậy, theo thực tiễn xét xử này, âm nhạc hoàn toàn có thể được bảo hộ bởi luật bản quyền và luật nhãn hiệu, tức là đối tượng của quyền tác giả
và quyền đối với nhãn hiệu nếu đáp ứng các điều kiện nhất định của một nhãn hiệu
Trong một trường hợp tương tự, GML Inc kiện Mayhew (188 F Supp 2d 891 (MD Tenn 2002))52, Tòa án đã bác bỏ khiếu nại của nguyên đơn rằng quyền sở hữu một số bài hát của nhạc sĩ Johnny Paycheck đã trao quyền nhãn hiệu Tòa án nhận
52 In G.M.L., Inc v Mavhew, 188 F.Supp.2d 891 (M.D Tenn 2002)