PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU MỞ ĐẦU 1 Đặt vấn đề Vườn quốc gia U Minh Thượng được xem là nơi lưu trữ một diện tích rừng trên đất than bùn lớn còn sót lại ở Việt Nam và được công nhận là một trong ba khu.
Trang 1PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
ra được kế hoạch thích hợp với tình hình của vùng để giải quyết vấn đề trên Vì vậy, Đề tài
“Đánh giá – Đề xuất giải pháp quản lý cho phú dưỡng hóa ở Vườn Quốc Gia U Minh Thượng”
dựa trên đề tài, “Điều tra, Đánh giá tài nguyên nước mặt và đề xuất các giải pháp khai thác tàinguyên nước mặt ở VQG UMT” của Viện kĩ thuật biển, Trung tâm nghiên cứu Môi trường vàbiến đổi khí hậu để xem xét hiện trạng sử dụng nước, hiện trạng quản lý tài nguyên nước tại khuvực này, từ đó đề ra mô hình quản lý tài nguyên nước, giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồngtrong công tác quản lý tài nguyên nước để để giải quyết vấn đề trên
2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài bao gồm:
• Tìm hiểu tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng, hiện trạng về quản lýtài nguyên nước ở Việt Nam và tại VQG U Minh Thượng
• Tìm hiểu về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng, phương pháp phân tích SWOT định lượng nhằm xác định mô hình quản lý nước thích hợp với điều kiện của vùng
• Đề xuất giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng hỗ trợ cho công tác quản lý tài nguyên nướcnhằm sử dụng tài nguyên nước có hiệu quả
Trang 23. Nội dung và phương pháp thực hiện
b. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp tổng quan tài liệu
Phương pháp này sẽ kế thừa các thông tin từ các tài liệu, kết quả điều tra hoặc các kết quả nghiên cứu có liên quan trước đây để phân tích và tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ đề tài
• Phương pháp tổng hợp
Khi đã có số liệu thu thập được, dựa trên phương pháp phân tích, đánh giá…và kết hợp với kiến thức chuyên ngành để tổng hợp và đưa ra nhận xét, đánh giá khách quan, đề xuất giải pháp
và những ý kiến cần thiết hỗ trợ cho những vấn đề đặt ra
• Phương pháp phân tích hệ thống môi trường: dùng phương pháp phân tích SWOT
định lượng để xác định mô hình quản lý nước phù hợp cho VQG
4. Giới hạn của đề tài
Đề tài còn nhiều hạn chế do chưa có số liệu đầy đủ để đánh giá và tính toán một cách đầy
đủ về hiện trạng phú dưỡng hóa tại đây
Chưa được khảo sát thực tế ở khu vực VQG UMT nên chưa có cái nhìn tổng quan, đầy
đủ, cụ thể về diễn biến của chất lượng nước ở đây
B.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Tại vườn quốc gia U Minh Thượng, có rất nhiều dự án/đề tài nghiên cứu về chất lượng nước trong khu vực cũng như nhiều vấn đề liên quan đã được thực hiện bao gồm như [1]:
Đánh giá môi trường đất – nước – tài nguyên sinh thái rừng vùng bán đảo Cà Mautỉnh Kiên Giang (năm 1997)
Điều tra cơ bản chất lượng nước, môi trường nước và những tác động tiêu cực tới sảnxuất và dân sinh kinh tế vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ - Viện Khoa học Thủylợi miền Nam (từ năm 2001 đến năm 2002)
Điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt và đề xuất các giải pháp khai thác tài nguyênnước mặt ở vườn quốc gia U Minh Thượng – Viện kĩ thuật biển – Trung tâm nghiêncứu môi trường và Biến đổi khí hậu (2011)
Đánh giá môi trường, sinh thái đối với rừng tràm VQG U Minh Thượng và giải phápbảo tồn, phát triển bền vững –Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (2008 -2010)
Các vấn đề quản lý nguồn nước nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và phòng chống cháyrừng
Trang 4CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TỀ XÃ HỘI – VQG U MINH THƯỢNG
2.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính
VQG UMT được thành lập theo Quyết định số 11/2002/QĐ – TTg ngày 14 tháng 01 năm 2002của Thủ tướng chính phủ, thuộc huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang
Tiền thân của rừng UMT là rừng úng phèn, vốn được người dân bản địa đặt tên từ lâu đời là “Hổrừng”, hình thành tập trung ở phía Tây bán đảo Cà Mau, tiếp giáp với dải rừng ngập mặn venbiển Vịnh Thái Lan, trên địa bàn hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang Với tọa độ địa lý như sau [1]:
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Địa hình VQG UMT không đều có dạng “mai rùa”, dốc từ trung tâm ra ngoài Khu vựccao nhất lệch về phía Nam, thấp dần về phía Bắc Khu vực thấp nhất ở Tây – Bắc Địa hình vùnglõi có thể chia làm ba vùng [1]:
• Vùng trung tâm: cao độ biến đổi từ 1,0m đến 1,8m; diện tích 2.687ha; trong đó khoảng1.005ha tập trung ở đĩa than bùn, hướng dốc từ giữa ra xung quanh;
• Vùng xung quanh: cao độ từ 0,5m đến 1,0m; diện tích 3.624ha, bao gồm phần đất ở phíaBắc giới hạn bởi kênh ngang và phần quanh đĩa than bùn;
• Phần còn lại diện tích mặt kênh có cao độ dưới 0,5m
Vườn đệm quốc gia thuộc đồng bằng triều thấp ven biển, được hình thành từ quá trìnhbiển lùi và bồi tụ phù sa, chủ yếu là trầm tích ven biển và đầm lầy, hình thành nên một địa hìnhthấp và khá bằng phẳng, bị chia cắt bởi hệ thống các kênh đào [1]
2.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng
Trang 52.1.3.1 Đặc điểm thổ nhưỡng vùng lõi
Vùng lõi VQG là đầm lầy than bùn Bề dày tần than bùn liên quan với độ cao địa hình ởdưới cùng là lớp sét nhão, màu xám xanh không thuần thục, trên là lớp sét bột xen cát mịn chứamảnh vỏ sò, dày từ 1,5 – 2m , tiếp đến là lớp sét – bột màu xám phớt nâu đến xám nâu chứa ít bãthực vật, bề dày từ 20 – 100cm (tầng chứa vật liệu sinh phèn) và trên nó là lớp than bùn (lớp thanbùn còn lại sau cháy chủ yếu là than bùn đen, bề dày thay đổi từ 40 – 63cm) hoặc lớp sét nâu(những nơi không than bùn) Bên dưới lớp than bùn là tầng sinh phèn xuất hiện sâu ở độ sâukhác nhau Những nơi tầng sinh phèn xuất hiện nông đã hình thành phèn hoạt động [1]
2.1.3.2 Đặc điểm thổ nhưỡng vùng đệm
Đất ở vùng đệm biến động với những loại đất khác nhau Kết quả kiểm tra đất do CAREcủa Trường Đại học Cần Thơ thực hiện ở vùng đệm VQG UMT phân theo loại đất thế giới củaFAO và UNESCO (1990):
2.1.4 Đặc điểm thủy văn dòng chảy
U Minh Thượng gồm ba khu chia cắt nhau bởi hệ thồng kênh nên điều kiện thủy văncũng khác nhau:
Phía bên ngoài vùng đệm: (vùng phụ cận: phần bên ngoài đê bao ngoài)
Trang 6Vùng này nối thông với sông Cái Lớn, rạch Tiểu Dừa, Chắc Băng (Cà Mau) bằng hệthống kênh đào và các kênh nối thẳng với biển Tây nên chịu ảnh hưởng của thủy triều biển Tâyvới chế độ Nhật Triều [1].
Vùng đệm: (được giới hạn bởi đê bao ngoài và đê bao trong)
Gắn liền với hoạt động kinh tế lâm – nông – ngư kết hợp: trồng rừng, khai vuông nông
hộ, lên líp trồng cây công nghiệp, rau màu, cây ăn quả Chế độ thủy văn mang đặc điểm thủy văn
hồ chứa Sự dao động của mực nước bị sự chi phối điều tiết của con người theo mùa khô haymùa mưa và các hoạt động sản xuất [1]
Khu vực VQG UMT: (nằm trong đê bao trong)
VQG UMT là vùng khép kín, nguồn nước cấp chính là nước mưa Chế độ điều tiết ở cácthời điểm trong năm bằng hệ thống, đập trên đê
Những hạn chế trong hệ thống thủy văn hiện có: hệ thống kênh chưa hoàn chỉnh, cống ở
đê ngoài còn nhỏ và thiếu Nước trong các hệ thống kênh không lưu thông dẫn đến việc rửa phèn
bị hạn chế, phèn từ tầng sinh phèn trong đất thoát gây ra tình trạng nước torng khu vực bị nhiễmphèn nặng cản trở cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nhất là mùa khô [1]
2.1.5 Đặc điểm khí hậu thời tiết
Số ngày mưa trung bình năm rất cao, trung bình mỗi năm từ 163 – 171 ngày (Xẻo Rô: 163 ngày.Vĩnh Thuận: 165 ngày, U Minh: 171 ngày và Cà Mau: 167 ngày) [1]
c. Độ ẩm
Trang 7Độ ẩm có liên quan mật thiết với chế độ mưa Độ ẩm tương đối trung bình năm từ 82,2 –87,5% Độ ẩm trung bình tương đối cao nhất vào tháng 9, tháng 10 dao động từ 86 – 89%; thấpnhất vào tháng 2 và tháng 3 từ 75,6 – 83,2% Độ ẩm trong không khí thấp cộng thêm tình trạngnguồn nước cạn kiệt và mặt đất kho hạn, khả năng cháy rừng sẽ rất lớn [1].
d. Chế độ bốc hơi
Lượng bốc hơi hằng năm khá lớn, (số liệu quan trắc trên ống Piche) tại Rạch Giá1,179mm và Cà Mau 972mm Mùa khô nắng nhiều và độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơilớn trong đó tháng 3 là hơn cả, khoảng 110mm – 130mm (Rạch Giá: 123mm, Cà Mau: 117mm,trung bình xấp xỉ 4mm/ngày) Sự thiếu hụt lượng mưa so với lượng bốc hơi giảm nhiều so vớimùa khô Tháng 10 có lượng bốc hơi thấp nhất, 50 – 80mm (Rạch Giá: 75mm, Cà Mau: 54mm),trung bình 2mm/ngày Tổng lượng thiếu hụt mùa khô ở vùng U Minh Tượng là khoảng 400mm.Đây là cơ sở quan trọng để cân bằng lượng thiếu hụt mùa khô và lượng dư thừa trong mùa mưa[1]
2.2 Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội
2.2.1 Đặc điểm dân sinh
Vùng U Minh Thượng có hai xã là Xã Minh Thuận và An Minh Bắc bao gồm 12 ấp, tổng
số hộ là 3.267, với nhân khẩu là 19.602 (tính tới năm 2009) [1]
Trong vùng đệm có ba thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống Tỉ lệ phần trăm các
hộ gia đình dân tộc thiểu số sống xung quanh vùng VQG UMT được sắp xếp như sau [1]:
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Dân cư trên địa bàn phân bố xung quanh vùng lõi, trình độ dân cư thấp, đời sống kinh tếcòn nhiều khó khăn, một bộ phận dân cư còn sống lệ thuộc vào đất rừng, rừng và các lâm sảnphụ từ rừng tạo ra áp lực lớn cho công tác quản lý bảo vệ rừng của Vườn Quốc gia UMT
Trang 8a. Dựa theo sự sở hữu đất, rừng, nơi định cư, dân cư trogn vùng đệm phân ra làm bốn nhóm sau:
- Nhóm 1: có đất và rừng, định cư trong vùng đệm (chiếm 79,4% số hộ trong vùng đệm và61,2% số hộ của 12 ấp);
- Nhóm 2: có đất trong và ngoài vủng đệm, sống trong và ngoài vùng đệm (chiếm 16,3%
hộ trong vùng đệm, 17,1% số hộ của 12 ấp);
- Nhóm 3: không có đất, sống trong vùng đệm (chiếm 4,3% hộ của vùng đệm và 4,3% số
hộ của 12 ấp);
- Nhóm 4: không có đất, sống trong và ngoài vùng đệm (chiếm 22,7% số hộ của 12 ấp)
b. Điều kiện kinh tế xã hội của xã phân loại giàu, trung bình, nghèo
Tiêu chí phân hóa nghèo, trung bình, khá giả:
- Hộ nghèo: hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người bằng hoặc thấp hơn200.000VND/tháng
- Hộ trung bình: hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn200.000VND/tháng nhưng thấp hơn 700.000VND/tháng
- Hộ khá giả: hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng cao hơn700.000VND/tháng
c. Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp
Tổng diện tích đất tự nhiên của vùng đệm là 13.069 ha, đất lâm nghiệp là 4.032 ha trong đó đất
có rừng là 3.245 ha (chiếm 80,5% diện tích đất lâm nghiệp) Tuy nhiên, trong những năm gầnđây cây Tràm không mang lại hiệu quả kinh tế cao nên một số hộ đã phá bỏ Tràm đển sản xuấtnông nghiệp
Trang 9d. Tình hình sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình với cây trồng đa dạngnhưng sản phẩm chủ yếu vẫn là lúa gạo, mía đường và rau màu
e. Tình hình sản xuất lâm nghiệp
Trồng rừng sản xuất là một thế mạnh của vùng nhưng gần đây gỗ Tràm không mang lạihiệu quả kinh tế cao nên các hộ gia đình đã loại bỏ cây Tràm để cấy lúa dẫn đến công tác quản lý
và bảo vệ rừng không được quan tâm chú trọng Ngoài ra, vào mùa khô các vụ cháy rừng lạithường xuyên xảy ra
Sản xuất lâm nghiệm tại vùng đệm vẫn chưa phát triển, chưa khai thác hết được thếmạnh Nhân dân có kinh nghiệm trồng rừng từ xưa đến nay nhưng do thiếu quy hoạch, vốn, thêmvào đó công tác bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn nên chất lượng diện tích rừng chưa cao Nếu cógiải pháp thích hợp sẽ khơi dậy được tiềm năng sản xuất lâm nghiệp làm cho độ che phủ rừngtăng lên, đời sống phần nào được cải thiện
2.2.3 Y tế
Với mức thu nhập thấp, mức đảm bảo lương thực cũng như các mức tiêu chuẩn dinhdưỡng thấp, thiếu cơ sở hạ tầng đã ảnh hưởng đến sức khỏe người dân ở Vườn Quốc Gia Cáctrạm y tế rất thiếu thốn về mặt nhân sự cũng như trang thiết bị Cứ mỗi 10.000 dân chỉ có 9 cán
bộ y tế và 1.000 dân chỉ có 1 giường bệnh
2.2.4 Giáo dục
Về giáo dục, U Minh Thượng thiếu hụt về phòng học và giáo viên Số trường có kiến trúckiên cố rất ít Thiết bị giáo dục thiếu trầm trọng, không có đủ đồ dùng học tập, nhà vệ sinh, cómột số trường không có đủ bàn học Trẻ em là học sinh lớp 1 và lớp 2 phải đi bộ hoặc thuyền xagần 2km đến trường Học sinh muốn học cao hơn phải lên thị trấn lớn hơn như Huyện An Minh,thành phố Rạch Giá Phần lớn các gia đình không đủ khả năng để cho con đi học
2.3 Đặc điểm cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tần vùng đệm U Minh Thượng còn nhiều bất cập, giao thông đi lại còn nhiềukhó khăn, chủ yếu là phương tiện đường thủy Mạng lưới điện đã được kéo đến tất cả các xã, hộdân sử dụng điện tính đến năm 2009 đạt 85% trên toàn huyện Nước ngọt phục vụ cho sản xuất
Trang 10và sinh hoạt vẫn còn thiếu hụt nghiêm trọng, nguồn nước ngọt chủ yếu của người dân là nguồnnước mưa được dự trữ trong chum, vại…
Trang 11CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở
VIỆT NAM VÀ VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG
3.1 Hiện trạng quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam
3.1.1 Công cụ quản lý tài nguyên nước
Đối với công tác quản lý tài nguyên nước hiện nay có rất nhiều công cụ quản lý khácnhau Nhìn một cách tổng quát, ta có thể thấy được một số công cụ cơ bản thường được sử dụngtrong quản lý tài nguyên nước:
3.1.1.2 Công cụ kinh tế:
Là các khoản thu từ các đối tượng khai thác nguồn nước, các hành vi vi phạm pháp luậtđược qui định trong luật cũng như là các văn bản có liên quan đến tài nguyên nước như: thuế,các loại phí, xử phạt…[2]
• Thuế môi trường
Thuế môi trường là khoản thu ngân sách nhằm điều tiết các hoạt động có ảnh hưởng đếnmôi trường và kiểm soát môi trường
Mục đích: buộc người gây ô nhiễm phải trả tiền cho những thiệt hại mà họ đã gây ra chomôi trường
Áp dụng thuế môi trường đối với các đối tượng khai thác ngầm để sản xuất, kinh doanh,dịch vụ [2]
• Phí môi trường
Phí môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước cho các hoạt động môi trường, tínhtrên lượng phát thải của chất gây ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm hoặc khắc phục tác động tiêucực do chất ô nhiễm gây ra đối với môi trường
Đối tượng áp dụng: đối tượng sử dụng nước gây ra nước thải;
+ Nước thải sinh hoạt: phí được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán của 1m3 nước sạch,
< 10% chưa gồm VAT
Trang 12+ Nước thải công nghiệp: phụ thuộc nồng độ các chất ô nhiễm [2].
- Pháp lệnh đê điều số 26/2000/PL – UBTVQH10 ngày 24/08/2000;
- Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi số 33/2001/PL – UBTVQH10 banhành ngày 04/04/2001;
Trang 13Tính từ năm 1993 đến năm 2006, thành phố Hồ Chí Minh đã có tổng số 20 trạm quan trắc
đi vào hoạt động ổn định Tần suất lấy mẫu thường kì vào ngày 01; 08; 15; 22 hàng tháng ứngvới hai thời điểm cao triều cao nhất và cao triều tthấp nhất với các thông số đo đạc là: pH, DO,
độ đục, TSS, BOD5, độ kiềm, tổng N, tổng N, tổng P, Pb, Hg, Cd, Cu, thuốc trừ sâu, dầu mỡ,E.Coli và Coliform [2]
• Phòng ngừa
Cần thường xuyên đi kiểm tra, kiểm soát các cơ sở công nghiệp, ngăn chặn việc xả thải
chất thải nguy hiểm chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn ra ngoài, có thể làm ảnhhưởng tới quá trình xử lý nước thải ở trạm xử lý nước tập trung Để phòng ngừa, những biệnpháp có thể thực hiện :
- Phải thực hiện quá trình tiền xử lý ở cơ sở, nhà máy trước khi xả thải về trạm xử lý tậptrung
- Hạn chế sử dụng những hóa chất độc hại khó xử lý trong quá trình sản xuất [2]
3.1.1.4 Công cụ giáo dục truyền thông
Công cụ giáo dục truyền thông cũng là một công cụ quan trọng thông qua đó có thể nângcao nhận thức của người dân trong việc sử dụng, bảo vệ nguồn nước một cách hiệu quả, phầnnào giảm nhẹ gánh nặng trong việc xử lý cũng như thiếu hụt nguồn nước sử dụng
+ Truyền thông cá nhân: tiếp xúc trực tiếp (trao đổi thông tin cho người dân thông quacác cuộc họp phường xã, cuộc họp dân phố…)
+ Truyền thông bằng phương tiện thông tin đại chúng: báo chí, internet, áp phích, poster,diễn lưu động, chiến dịch, lễ hội…
+ Giáo dục: giáo dục trong hệ thống giáo dục và đào tạo từ mẫu giáo, đào tạo nguồn nhânlực chuyên môn về môi trường, kỹ sư, các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy… [2]
3.1.2 Một số kết quả của công tác quản lý môi trường nước trong những năm gần đây
• Công tác xây dựng thể chế và các văn bản quy phạm pháp luật
Năm 2014 và 06 tháng đầu năm 2015, trong lĩnh vực tài nguyên nước đã ban hành cácvăn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện hệ thống văn bản triển khai Luật Tài nguyên nước số17/2012/QH13, trong đó có hai nghị định: Nghị định 43/2015/NĐ – CP về lập, quản lý hành langbảo vệ nguồn nước và Nghị định số 54/2015/NĐ – CP quy định về ưu đãi đối với các hoạt động
Trang 14sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả Ngoài ra, Bộ còn ban hành thêm ba thông tư: Thông tư quyđịnh về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước;Thông tư quy định việc hành nghề khoa nước dưới đất; Thông tư quy định điều kiện năng lực củađơn vị thực hiện điều tra cơ bản về tài nguyên nước, đơn vị tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước[3].
Sở Tài nguyên và Môi trường ở các địa phương đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương ban hành chỉ thị, hướng dẫn quản lý tài nguyên nước ở địa phươngnhư: Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 26/5/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc tăngcường quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình [3]
• Công tác quy hoạch tài nguyên nước
“Quy hoạch Quản lý sử dụng tài nguyên nước và bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ sông Đáy đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” cơ bản đã hoàn thành, việc lập nhiệm vụquy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bắc Giang – Kỳ Cùng, Srepok và vùng sông Hậu cũng
-đã hoàn tất [3]
Công tác quy hoạch tài nguyên nước ở các địa phương cũng đã từng bước được triển khai
và đáp ứng yêu cầu về quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước
• Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng
Việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về tài nguyên nước thường xuyênđược thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang báo điện tử như VOV,VTV,Thông tấn xã Việt Nam… Các chương trình hỏi đáp, đối thoại , tọa đàm, hội thảo tọa đàm …nhằm giải đáp pháp luật, trao đổi về những vấn đề quan trọng cấp bách trong quản lý tài nguyênnước [3]
Các buổi lễ mít tinh quốc gia và các sự kiện bên lề hưởng ứng Ngày nước thế giới vàongày 22 tháng 3 hàng năm, với năm 2014 ở Lai Châu và 2015 tại Bắc Giang đã thu hút nhiều sựquan tâm và tham gia của xã hội; phần nào làm thay đổi nhận thức, hành vi, thái độ của ngườidân đối với tài nguyên nước [3]
• Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên nước
Trang 15Công tác thanh tra, kiểm tra được xem là một trong những nhiệm vụ qua trọng trong côngtác quản lý tài nguyên nước Mỗi năm, cấp Trung ương và địa phương đều lập kế hoạch và triểnkhai việc thực hiện thanh tra, kiểm tra tình hình thực thi chấp hành luật tài nguyên nước tại một
số cơ sở khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước trong địa bàn tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương [3]
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra đã có những đóng góp đáng kể trong công tác quản
lý, nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, ý thức chấp hành pháp luật của các tổchức cá nhân Đồng thời phát hiện, ngăn chặn, xử phạt kịp thời hành vi vi phạm pháp luật tronglĩnh vực tài nguyên nước, nâng cao việc sử dụng nguồn nước hiệu quả, tiết kiệm [3]
• Công tác điều tra cơ bản về nguồn nước
Nhìn chung, công tác điều tra cơ bản, xây dựng thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước đãđược đẩy mạnh triển khai thực hiện nhưng vẫn chưa đủ để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành vìmột số nguyên nhân: kinh phí cho các hoạt động điều tra chưa tương xứng với nhiệm vụ yêu cầu,mạng lưới trạm quan trắc, điều tra tài nguyên nước còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêucầu đánh giá số lượng, chất lượng và dự báo diễn biến tài nguyên nước [3]
3.2 Hiện trạng quản lý tài nguyên nước tại VQG UMT
3.2.1 Hiện trạng chất lượng nước
Nguồn nước ở U Minh Thượng được tạo ra bởi ba nguồn chính là nước mưa, nước ngầm
và thủy triều từ các cửa sông rạch nối tiếp với biển Tây Do nguồn nước ngầm ở tầng sâu nênnguồn nước mưa là quan trọng nhất phục cho đời sống và sinh hoạt của người dân [1]
Nguồn nước được trữ và lọc bởi lớp than bùn trong vùng lõi, vì vậy đây là nguồn cungcấp nước quan trọng cho người dân địa phương, bảo tồn đa dạng sinh học và phục vụ cho côngtác chữa cháy cho VQG Mực nước trong VQG được quản lý và điều tiết thông qua hệ thốngkênh rạch và đê, với nhiều cống và kênh rạch nhỏ bên trong [1]
Bảng 3.1 Khả năng giữ nước của vùng lõi trong hệ thống kênh bao
Trang 16Khả năng trữ nước Vùng lõi Vùng đệm
Thể tích nước trữ trong hệ thống kênh rạch (triệu m3) 1.88 3.60
(Nguồn: [1])
VQG U Minh Thượng nằm trong vùng có lượng mưa bình quân hàng năm gần như lớnnhất ĐBSCL – 2400mm và khá ổn định theo thời gian Mùa mưa kéo dài 7 tháng từ tháng 5 đếntháng 11, mùa khô thì lượng mưa rất ít so với lượng bốc hơi [1]
Theo kết quả đo đạc, phân tích chất lượng nước mặt tại VQG U Minh Thượng năm 2012của dự án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt và đề xuất các giải pháp khai thác tài nguyênnước mặt của VQG U Minh Thượng” của Trung tâm nghiên cứu Môi trường và Biến đổi khí hậu– Viện Kỹ Thuật Biển, cho thấy [1]:
• Giá trị pH cua vùng lõi VQG U Minh Thượng dao động từ 5 – 6.5, và nằm trong giới hạncho phép của Quy chuẫn kỹ thuật Quốc gia về Môi Trường – chất lượng nước mặt(QCVN 08:2008/BTNMT)
• Sự biến đổi độ mặn trong môi trường nước là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình tái sinh và sinh trưởng của cây tràm Độ măn trên 6,5 0/00 làm ức chế sinh trưởng câytràm, trên 90/00 gây chết cây tràm Tại vùng lõi, độ mặn tại thời điểm lấy mẫu đều bé hơn
2 0/00 nằm trong giới hạn cho phép việc trồng mới tràm cũng như quá trình sinh trưởng vàphát triển của cây tràm
• Khu vực vùng lõi VQG là đầm lầy than bùn, dưới lớp than bùn là tầng sinh phèn ở các độnông sâu khác nhau Nhưng nhìn chung, hàm lượng sắt tổng trong vùng lõi nằm giới hạncho phép cột B (1.5 – 2 mg/l) của QCVN 08:2008/BTNMT, dao động từ 1 – 1.5 mg/l
• Nước tại kênh rạch có màu đen đến nâu, nhưng hàm lượng cặn lơ lửng và đặc biệt là cáchạt sét, cát mịn trong nước khá thấp, dao động từ 1.5 – 50 mg/l và nằm trong giới hạn chophép của QCVN 08:2008/BTNMT, do hệ thống kênh rạch đê bao trong vùng lõi đượckhép kín nguồn nước gần như đứng
• Bèo phát triển mạnh trong vùng lõi Nguyên nhân chính là do nguyên tố N và P, nhưngvẫn chưa xác định được nguyên tố nào chủ đạo gây nên hiện tượng này để đưa ra giảipháp phù hợp
• Giá trị tổng cacbon hữu cơ (TOC) trong vùng lõi giữa tháng mùa mưa và mùa khô khôngchenh lệch nhiều, giá trị TOC dao động từ 10 -70 mg/l, có thể do hiên tượng phân hủy
Trang 17thảm thực vật, đặc biệt là lá cây tràm làm cho nguồn nước vùng lõi hầu hết có màu đenđến nâu.
• Tổng coliform trong vùng lõi nằm trong giới hạn cho phép của cột B (7500-10000MPN/100ml) theo QCVN 08:2008/BTNMT, dao động từ 68 – 9200 MPN/100ml
Từ kết quả cho thấy, chất lượng nước chưa có dấu hiệu ô nhiễm do hoạt động sinh sống và sảnxuất của người dân, chủ yếu là ô nhiễm tự nhiên như hiện tượng nhiễm phèn trong vùng lõi, ônhiễm vi sinh và hàm lượng TOC cao và đang có xu hướng phú dưỡng hóa xảy ra tại ba vùngđệm, vùng lõi, vùng phụ cận, đặc biệt là vùng lõi
3.2.2 Hiện trạng sử dụng nước
Tổng diện tích quản lý của VQG UMT là 21.107 ha, trong đó vùng đệm có diện tích13.069 ha và dân số khoảng 3.267 hộ gia đình sống chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên trongvùng [1]
Kết quả điều tra khảo sát nhận thấy: số hộ gia đình dùng nước giếng cho ăn uống và nấunướng chiếm hơn 90% Có 74% số hộ điều tra có giếng nước riêng và 19% phải sử dụng giếngcủa chủ khác, chỉ có 7% hộ gia đình sử dụng nước giếng công cộng Điều đó cho thấy rằng,nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt chủ yếu là nước ngầm và một phần nhỏ là nước mặt Vềlượng nước sinh hoạt có thể tính như sau [1]:
Lưu lượng nước thải sinh hoạt được tính toán dựa trên cơ sở tiêu chuẩn sử dụng nước củakhu vực nghiên cứu và hệ số thiếu hụt của nước thải so với nước thải sử dụng theo TCXD 33:
2006 [1]
Qthải = Qsử dụng * Kh
Qthải: lưu lượng nước thải sinh hoạt (m3/ngày đêm)
Kh: hệ số hao hụt của nước thải so với nước sử dụng (0,85)Theo số hộ và tỷ lệ nhân khẩu mỗi hộ, ước tính toàn bộ vùng đệm U Minh Thượng cókhoảng 21.000 nhân khẩu Theo như TCXD 33:2006 về cấp nước, lượng nước cần dùng trungbình cho mỗi người ở vùng nông thôn theo tiêu chuẩn tối đa là Qsử dụng = 21.000 x 60lít/người.ngày = 1.260.000 lít/ngày Khi đó, lượng nước thải sẽ đạt Kh= 85% lượng nước tối đa
mà một người sử dụng cho mục đích sinh hoạt hàng ngày = 1.260.000 lít/ngày x 85% =1.071.000 lít/ngày [1]
Trang 18Nhận xét: So sánh với mức tiêu chuẩn quốc gia về lượng thải trên đơn vị diện tích thìlượng nước thải ra từ sinh hoạt ở mức trung bình Toàn bộ vùng đệm có diện tích rộng, lượngthải chủ yếu là nước sinh hoạt, không có thành phần của nước thải công nghiệp, nguồn phát thảiphân tán trải đều trên toàn vùng nên vấn đề ảnh hưởng không đáng kể [1].
Nguồn nước mặt còn được dùng cho mục đích tưới tiêu nông nghiệp Tại vùng đệm, diệntíhc trồng lúa là 5.000 ha, phần lớn có thể canh tác hai vụ lúa/năm và một vụ trồng phụ Lượngnước tưới cần thiết cho cây lúa phát triển ở vùng ĐBSCL là 1.000 m3/ha (tưới ngập 10 cm nước).
Vì thế, với 5.000 ha lúa ở vùng đệm U Minh Thượng tổng lượng nước cho mỗi lần tưới là5.000.000 m3/vụ, tưới 5 lần trong mùa mưa và 10 lần đối với mùa nắng Ngoài ra, trong vùngđệm có khu vực đất bị nhiễm phèn nên việc canh tác lúa bị ảnh hưởng, mỗi năm người dân chỉcanh tác bình quân một vụ lúa với năng suất thấp [1]
Ngoài việc phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp, nguồn nước mặt còn có vai trò điều hòakhí hậu và phục vụ cho giao thông đường thủy Với hệ thống kênh rạch nhiều làm tăng diện tíchmặt nước, lượng nước bốc hơi tăng giúp điều hòa khí hậu, ngăn cháy rừng trong mùa khô, và tiêuthoát nước trong mùa mưa Hiện nay, trên toàn vùng lõi được bao bọc bởi đê bao trong với chiềudài 38 km có 4 tuyến kênh: KT1, KT2, KT3 và kênh Trung tâm để dãn nước chống cháy rừngvào mùa khô Đối với vùng đệm, được bao bọc bởi tuyến kênh ngoài dài 60 km, được chia làm
21 tuyến kênh Tuyến kênh bao là hệ thống cống có thể đóng mở để điều tiết nước [1]
Tình trạng ngập úng thường xảy ra và phụ thuộc vào mưa và thủy triều U Minh Thượngnằng trong vùng mưa lớn và sớm nhất của vùng ĐBSCL Tháng 5 lượng mưa trên 200 mm vàđến tháng 7 đa số đồng ruộng đã bị ngập sâu, sâu nhất vào tháng 8 đến tháng 9 Thời gian ngậpkéo dài 3 – 4 tháng (tháng 8 đến tháng 10) Khu vực ngập sâu là ven sông Cái Lớn từ 0,3 – 0,6
m, phần đất trũng ngập 0,8 – 1,0 m, kéo dài từ 2 – 3 tháng (từ cuối tháng 7 đến tháng 9) [1].3.2.3 Hiện trạng quản lý tài nguyên nước mặt
Đối với việc quản lý tài nguyên nước mặt ở vùng U Minh Thượng, từ năm 2002, VQG đãhoàn thành các hạng mục về xây dựng hệ thống quản lý nước mặt gồm: Nạo vét kênh, tu bổ đêbao vùng lõi theo thiết kế (đã hoàn thành trước mùa khô năm 2004) và ở khu Trung tâm (hoànthành trước mùa khô năm 2005) Xây dựng trạm bơm ranh vùng lõi theo thiết kế (hoàn thànhtrước mùa khô 2005 – 2006) Lắp đặt trạm bơm tạm tại khu Trung tâm Sửa sang, hoàn chỉnh các
Trang 19cống nhỏ hiện có Hệ thống kênh, đê bao khép kín dài 38km Hệ thống cống điều tiết nước gồm
10 cống trong đó có 8 cống tròn và 2 cống hộp, có 1 trạm bơm nước bổ sung vào rừng khi cầnthiết [1]
Hiện nay tại vùng đệm vẫn chưa có kế hoạch quản lý tài nguyên nước cụ thể phù hợp vớitình hình của vùng Nhà nước hổ trợ xây dựng hệ thống các công trình thủy lợi nhằm điều tiếtnguồn nước nhằm phục vụ cho mục đích canh tác nông nghiệp Công tác quản lý nguồn nước vàđóng mở cống đập nước được giao cho cộng đồng địa phương [1]
3.3 Đánh giá chung hiện trạng quản lý tài nguyên nước
• Quản lý nước tại Việt Nam
Công tác quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực với sự hỗ trợcủa công cụ quản lý môi trường, trong đó vai trò quan trọng hơn hết là công cụ kinh tế, pháp lýkèm theo là công cụ tuyên truyền, giáo dục – giảm thiểu gánh nặng cho cơ quan nhà nước, cáccông ty môi trường khi nhận thức của người dân được nâng cao
Bên cạnh những kết quả khả quan đó, công tác quản lý còn tồn tại một số hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác quản lý tài nguyên nước, còn nhiều vấn
kỹ thuật điều tra còn nhiều lạc hậu [3]
- Nhận thức của doanh nghiệp, người dân về việc sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nướcthực sự chưa cao Hơn thế nữa, nguồn nhân lực có năng lực, kinh nghiệm cùng với chiphí để hoàn thiện cơ sở vật chất ở các địa phương thiếu và không đáp ứng được yêu cầu[3]
- Việc phổ biến về giáo dục pháp luật và các thông tin liên quan đến lĩnh vực tài nguyênnước chưa rộng khắp, chỉ tập trung chủ yếu ở cơ quan quản lý nhà nước khối doanhnghiệp, chưa mở rộng ra các đối tượng khác như học sinh, người dân Kinh phí còn hạnchế nên khó khăn trong việc đa dạng hóa hình thức cũng như mở rộng phạm vi tuyêntruyền giáo dục pháp luật, thông tin về tài nguyên nước [3]
Trang 20- Việc phổ biến các đạo luật xuống tỉnh thành – nơi có vai trò qua trọng trong việc thực thi
và tuân thủ các điều khoản của Luật, rất kém Chính vì thế, tác động của Luật lên côngtác quản lý tài nguyên nước ở địa phương rất chậm [1]
• Quản lý nước ở VQG U Minh Thượng
VQG UMT được nhà nước hỗ trợ xây dựng hệ thống thủy lợi và có những hạng mục xâydựng hệ thống quản lý nước mặt nhưng tất cả chủ yếu chỉ phục vụ cho mục đích canh tác nôngnghiệp
Hiện nay, tại vùng đệm vẫn chưa có bất kỳ kế hoạch quản lý tài nguyên nước nào phùhợp cho tình hình của vùng
Trang 21CHƯƠNG 4 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
4.1 Định nghĩa về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng là một khái niệm rộng và đa nghĩa, đề cập sựtham gia của cộng đồng có lợi ích liên quan trong việc quản lý tài nguyên đất và nước, rừng vàđộng vật hoang dã, nguồn lợi thủy sản [4]
Theo Trung tâm Nước và Vệ sinh Quốc tế, khái niệm về quản lý nước dựa vào cộng đồnglần đầu tiên được giới thiệu tại Hội nghị thế giới về nước năm 1977 ở Achentina cho chươngtrình quốc tế Thập kỉ về cung cấp nước và vệ sinh trong những năm 1980 Sau đó, lần lượt các ýtưởng về quản lý nước dựa vào cộng đồng và phi tập trung hóa trong cấp ước được thử nghiệm,củng cố và lan rộng trong những năm 1990, đặc biệt là ở những nước đang phát triển sau sự kiệnquốc tế Hội nghị tư vấn toàn cầu về nước sạch được tổ chức tại New Delhi năm 1990 và Tuyên
bố Dublin về nước và phát triển bền vững năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất ở Rio
de Jainero được tổ chức năm 1992 tại Bazil [4]
4.2 Nguyên tắc và các khía cạnh chính trong quản lý môi trường nước dựa vào cộng đồng
Nguyên tắc:
Nguyên tắc cốt lõi của quản lý nước dựa vào cộng đồng là dù tồn tại dưới bất kì hình thứcnào, vẫn là sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các hệ thống cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi [4]
Ba khía cạnh chính trong việc quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
- Trách nhiệm: cộng đồng tham gia có quyền làm chủ (quyền sở hữu) và có nghĩa vụ tham
gia vào hệ thống cấp nước để đảm bảo việc vận hành và duy trì thành công [4]
- Quyền lực: cộng đồng có quyền hợp pháp ra quyết định nhữnng việc có liên quan đến
kiểm soát, vận hành và duy trì tài nguyên nước và hệ thống cấp nước đi kèm với tư cáchvừa là người sử dụng, vừa là người quản lý [4]
- Kiểm soát: cộng đồng có khả năng thực hiện và xác định được kết quả tử các quyết định
của mình có liên quan đến hệ thống Ở khía cạnh này, ý chính là đề cập đến năng lực củacộng đồng có khả năng đóng góp về mặt kỹ thuật, nhân công và tài chính, cũng như là sự