1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 1 trường tiểu học quảng sơn

21 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề SKKN Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 1 trường tiểu học Quảng Sơn
Trường học Trường Tiểu học Quảng Sơn
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Thành phố Đắk Nông
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 248,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác củatrình độ nhận thức ở học sinh lớp 1 không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giảicác bài toán có lời văn ở lớp 1 cao hơn những mạch kiến thức khác các em đãđược học, các em phải đọ

Trang 1

4 Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm 15

5 Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả sáng kiến 16

Trang 2

SÁNG KIẾN: Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 1 Trường Tiểu học Quảng Sơn

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Chương trình toán lớp 1 của tiểu học có vị trí và vai trò hết sức quantrọng Thông qua môn toán nhằm phát triển trí thông minh, óc sáng tạo chohọc sinh Nhờ toán học mà các em có điều kiện rèn luyện và phát triển tínhtích cực, năng lực tư duy, sáng tạo, rèn phương pháp suy luận lôgic

Trong quá trình dạy học toán lớp 1 ở tiểu học, việc giải toán có lời văn

có một vị trí đặc biệt rất quan trọng Có thể coi việc dạy và học và giải toánlớp 1 là ''hòn đá thử vàng'' của dạy - học toán lớp 1 Trong giải toán ở chươngtrình lớp 1, học sinh phải tư duy một cách nhanh nhạy và linh hoạt nhất, huyđộng tích cực các kiến thức và khả năng tư duy đã có vào các tình huống khácnhau, đặc biệt phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo Vì vậy bản thân chúng

ta có thể coi giải toán có lời văn lớp 1 là những biểu hiện năng động nhất củahoạt động trí tuệ dành cho học sinh cấp tiểu học Ở học sinh lớp 1 kiến thứctoán học đối với các em còn khá mới lạ, khả năng nhận thức của các em cònmới bắt đầu được hình thành Hoạt động tư duy ở các lớp đầu cấp còn rất đơn

sơ đang trong giai đoạn phân tích trực quan và dần dần đi đến phân tích trítuệ Sau cùng là đến phần phân tích trừu tượng bằng trí tuệ Mặt khác củatrình độ nhận thức ở học sinh lớp 1 không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giảicác bài toán có lời văn ở lớp 1 cao hơn những mạch kiến thức khác các em đãđược học, các em phải đọc nhiều hơn, viết nhiều hơn và bài làm phải trả lờichính xác hơn với phép tính, còn có các yêu cầu của bài toán đã đưa ra, nênthường vướng về vấn đề trình bày bài giải như: sai sót do viết không đúngchính tả hoặc viết thiếu thừa từ Một sai sót đáng nói khác nữa là học sinh cònnhỏ nên thường chưa biết hoặc không chú ý phân tích theo các điều kiện củabài toán đã đưa nên đã lựa chọn sai phép tính

Từ những lý do này, với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1nói riêng, việc học toán và giải toán có lời văn là rất quan trọng nó còn đặc

Trang 3

biệt cần thiết với các em Để thực hiện được những mục tiêu đó, người giáoviên dạy lớp 1 cần phải nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp giảng dạy phù hợp,giúp học sinh của mình giải bài toán một cách vững vàng, hiểu sâu được bảnchất của vấn đề cần tìm kiếm, mặt khác còn tích cực giúp các em có phươngpháp suy luận toán logic thông qua các cách trình bày, các cách nêu lời giảiđúng và ngắn gọn sáng tạo nhất trong cách thực hiện Từ đó truyền cho các

em năng lượng, hứng thú, lòng say mê học toán Từ những căn cứ đó tôi đã

tập trung vào nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 1 Trường Tiểu học Quảng Sơn” để làm sáng kiến kinh nghiệm

cho bản thân cũng như cho các đồng nghiệp khác

2 Mục đích nghiên cứu

Qua đề tài này, bản thân tôi muốn góp một phần sức lực nhỏ bé vào việcnâng cao chất lượng dạy học môn Toán để tìm ra những phương pháp tối ưugiúp giáo viên dạy Toán có lời văn cho học sinh lớp 1 được tốt hơn

3 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu học sinh lớp 1A2 Trường Tiểu học Quảng Sơn Quảng Sơn - Đắk Glong - Đắk Nông

-4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra để khảo sát thực tế

- Phương pháp trao đổi và toạ đàm với đồng nghiệp

- Phương pháp trực quan

- Phương pháp thực hành luyện tập

- Phương pháp gợi mở - vấn đáp

- Phương pháp giảng giải - minh hoạ

- Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Trong chương trình toán dành cho học sinh lớp 1

6 Tính mới của sáng kiến

Qua một năm thử nghiệm đề tài tôi thấy nâng cao được chất lượng giảngdạy, giải quyết được khó khăn mà giáo viên và học sinh mắc phải trong quá

Trang 4

trình giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 1 Nhằm giúp cho học sinh giảitoán có lời văn xuyên suốt bậc tiểu học, đồng thời tăng sự say mê sáng tạo,năng lực tự vận động trong mỗi học sinh

Vì vậy việc hướng dẫn giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học, đặcbiệt là học sinh lớp 1 có ý nghĩa to lớn và quan trọng trong quá trình giải dạycủa bản thân người giáo viên

II NỘI DUNG

b, Điểm yếu, hạn chế

Trong quá trình dạy học ở Tiểu học, đặc biệt là dạy lớp 1 nhiều năm tôinhận thấy hầu như giáo viên nào cũng đau đầu khi dạy đến phần giải toán cólời văn Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu chưa đúngcâu lời giải, viết chưa đúng phép tính, nêu chưa đúng đáp số Những tiết đầutiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có rất ít số học sinh biết nêu lời giải,biết tự viết đúng phép tính và biết nêu được đáp số Một phần các em lại rất

mơ hồ, các em chỉ nêu lời giải theo quán tính thì được nhưng khi viết các emlại rất lúng túng, làm chưa đúng, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại thì

Trang 5

lúng túng không biết cách trả lời Chứng tỏ rằng các em chưa nắm chắc đượccách giải bài toán có lời văn Giáo viên phải mất rất nhiều công sức và tâm tríkhi dạy đến phần này

Sau khi học giải bài toán ở lớp 1, năm học 2020 - 2021 tôi tiến hànhkhảo sát với tổng số HS: 35 em và kết quả như sau:

Kết quả điều tra giai đoạn đầu kì II năm học: 2020 - 2021

Lời giảiđúng, phéptính chưađúng

Phép tínhđúng, tên đơn

vị đi kèmchưa đúng

Giải đúnghoàn toàn

Qua bảng khảo sát này ta thấy số học sinh giải được các bài toán đơn tỉ

lệ thấp (20%) Đây là điều băn khoăn không chỉ riêng tôi mà của tất cả giáoviên

1.2 Nguyên nhân của điểm yếu, hạn chế

a Nguyên nhân từ phía GV

- Bản thân người giáo viên chưa thực sự chuẩn bị tốt cho các em khi dạynhững bài đã học trước Những bài toán nhìn hình vẽ để viết ra phép tínhthích hợp thì hầu như học sinh đều làm được nên giáo viên còn tỏ ra chủquan, ít khi nhấn mạnh hoặc không trọng tâm lắm mà chỉ tập trung vào dạy kĩnăng đặt tính và cách tính toán của học sinh mà quên mất đó là những bướcđệm, bước khởi đầu của các dạng toán có lời văn sau này Đối với người giáoviên khi dạy các dạng bài nhìn hình vẽ để viết phép tính thích hợp, cần chohọc sinh quan sát tranh và tập nêu bài toán thường xuyên hơn để rèn cho họcsinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán thuần thục hơn Cần tập cho những

em học sinh giỏi nêu câu trả lời nhiều lần cứ như vậy trong một khoảng thờigian dài như thế thì đến lúc học đến phần bài toán có lời văn học sinh sẽ

Trang 6

không ngỡ ngàng và các em sẽ tiếp thu dễ dàng hơn lại còn biết giải toánđúng.

b Nguyên nhân từ phía học sinh

- Do học sinh vào lớp 1 mới bắt đầu làm quen với các dạng toán này nên

tư duy của các em còn chủ yếu mang tính trực quan chưa tư duy được

- Ở giai đoạn này các em còn chưa đọc thông viết thạo, các em còn đangđọc đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi mà các em chưa hiểu bài toán nói

gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bàitoán yêu cầu phải làm gì

- Các em còn tỏ ra chủ quan trong những bài viết phép tính thích hợp,các em chỉ chú ý đến phép tính nhưng chưa chú ý luyện nêu bài toán và trả lờicâu hỏi của bài toán

- Dạng toán này còn quá trừu tượng đối với học sinh lớp 1

- Học sinh chuyển từ nói sang viết còn nhiều lúng túng

c Nguyên nhân từ phía phụ huynh

Đa số phụ huynh học sinh làm nghề nông, trình độ học vấn còn hạn chế,

do đó việc quan tâm kiểm tra kết quả tự học ở nhà của các em hoàn toàn làkhông có Gia đình hầu như phó mặc việc học hành của con em mình chothầy cô giáo

Toàn bộ những nội dung trên là nguyên nhân chủ yếu mà bản thân tôi đãtìm hiểu dẫn đến việc dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 còn rấtnhiều hạn chế Trong quá trình giảng dạy bản thân tôi cũng đã tìm hiểu và vậndụng được một số biện pháp để giúp các em giải toán tốt hơn và cũng đã đạtđược kết quả, tuy chưa thực sự như mong muốn nhưng cũng có phần khảquan rất nhiều

2 Các biện pháp

Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh biết tự xác định yêu cầu của bài toán

Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh nêu được câu lời giải cho bài toán có lời

văn

Trang 7

Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh viết được phép tính và nêu đơn vị đo đi kèm

sau kết quả của phép tính

Biện pháp 4: Hướng dẫn nêu được đáp số

Biện pháp 5: Khái quát cách giải một bài toán, dạng toán

3 Các phương pháp hoạt động

a, Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu của bài toán

Giai đoạn đầu: Đây là giai đoạn làm quen với giải toán có lời văn Ở giaiđoạn này, các bài toán có lời văn nhưng chưa có số liệu yêu cầu học sinh dựavào tranh vẽ để điền số liệu cho phù hợp

Đối với giai đoạn này giáo viên cần yêu cầu học sinh quan sát tranh chothật kĩ

Ví dụ: Bài 3 trang 108 (Toán 1- tập 1)

Chỉ yêu cầu học sinh viết số vào ô trống để có : 4 + 2 = 6

Giai đoạn thứ 2: là giải toán có lời văn Giai đoạn này học sinh bắt đầubiết tóm tắt bài toán và trình bày bài toán theo 3 bước Điều quan trọng làphải giúp học sinh xác định đúng yêu cầu của đề bài khi đó mới giải toánđúng

Đối với giai đoạn này cần hướng dẫn cho học sinh theo các bước sau:

- Đọc kĩ đề bài:Cần biết Bài toán cho biết những gì? Bài toán yêu cầu gì?

- Tóm tắt đề bài

- Tìm được cách giải bài toán

Trang 8

- Trình bày bài giải

- Kiểm tra lời giải và đáp số

Đó là các bước chung để phân tích đề bài và làm bài giải Để học sinhhiểu yêu cầu bài giáo viên cần phải cụ thể hoá dựa vào các từ ngữ làm nổi bậtbài toán; cách ngắt ý của bài toán

* Cách 1: Dựa vào các từ ngữ làm nổi bật bài toán và tranh minh hoạ

bài toán đó.

Khi mới làm quen với tóm tắt, SGK toán 1 đã đưa ra các bài toán có lờivăn và gợi ý tóm tắt bằng lời nhưng chưa có số liệu Yêu cầu học sinh dựavào bài toán và tranh vẽ phân tích điền số liệu vào để hoàn thành tóm tắt.Đối với dạng này giáo viên hướng dẫn cho học sinh như sau:

* Căn cứ vào những từ ngữ “có”, “thêm”, (hay “bớt”, “bay đi”, “đã bán”, , “có tất cả” (hay “còn lại”), và dấu hiệu của tranh để xác định bài toán

“thêm” hay “bớt”

* Đọc, đếm số liệu của từng con vật (đồ vật ) để diền vào chỗ chấm chophù hợp

Ví dụ: Bài 3 (Trang 56, SGK Toán 1- tập 2)

Bạn Mai gấp được 25 chiếc thuyền giấy Em Mi gấp được 3 chiếc thuyềngiấy Hỏi cả hai chị em gấp được bao nhiêu chiếc thuyền giấy?

Tóm tắtMai gấp được: 25 chiếc thuyền giấy

Em Mi gấp được: 3 chiếc thuyền giấy

Cả hai chị em: … chiếc thuyền giấy?

Sau khi học sinh đã đọc kĩ đề bài, giáo viên hỏi: Bài toán này cho biếtgì? (hoặc: Qua bài toán em biết được những gì?) Dựa vào những từ ngữ nào

và dấu hiệu nào của tranh để em viết được phép tính? (Dựa vào các từ ngữ:

“được”, “cả hai chị em” là: Mai gấp được 25 chiếc thuyền giấy và em Mi gấpđược 3 chiếc thuyền giấy thể hiện số chiếc thuyền giấy được thêm vào.)

Lưu ý: Đối với dạng toán “thêm” giáo viên hướng dẫn học sinh lượng

“thêm” phải nhiều hơn lượng “có”

Trang 9

* Cách 2: Dựa vào cách ngắt ý của lời văn

Đối với những bài toán yêu cầu học sinh đọc đề, tự tìm cách tóm tắt bàitoán rồi giải Để giúp học sinh có kĩ năng tóm tắt bài toán và tóm tắt đượcđúng bài, xác định đúng dạng toán, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh phântích nội dung và xác định rõ dạng toán bằng cách ngắt ý của bài toán (giốngnhư hướng dẫn học sinh cách ngắt, nghỉ đúng chỗ khi đọc một văn bản) hỏihọc sinh ý đó nói gì? ý đó có nghĩa là gì? Rồi hướng dẫn học sinh tóm tắt từ

đó xác định dạng toán cần giải rồi giải

Ví dụ 1: Bài 4 (Trang 57, SGK toán 1- tập 2)

Trong vườn cây ăn quả có tất cả 75 cây nhãn và cây vải, trong đó có 25cây nhãn Hỏi trong vườn có bao nhiêu cây vải?

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài toán, sau đó hỏi học sinh: GV: Khi đọc bài toán này em ngắt và nghỉ hơi chỗ nào cho hợp lí?

HS: Ngắt hơi sau chữ cây nhãn và cây vải (dấu phẩy) và nghỉ hơi sauchữ 25 cây nhãn (dấu chấm)

GV: Câu thứ nhất của bài toán cho ta biết cái gì? (Hay bài toán đã cho tabiết cái gì?)

HS: Trong vườn cây ăn quả có tất cả 75 cây nhãn và cây vải, trong đó có

25 cây nhãn

GV: Câu thứ hai của bài toán hỏi ta điều gì? (Hay bài toán hỏi ta điềugì?)

HS: Hỏi trong vườn có bao nhiêu cây vải?

GV: Vậy ta tóm tắt bài toán như thế nào?

HS: Trình bày ý tóm tắt bài toán của mình Học sinh khác nhận xét.GV: Nhận xét và kết luận

* Giáo viên cần chú ý khi hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán cần:

+ Tóm tắt ý cho biết trước, ý bài toán bắt tìm sau

+ Cần chú ý chắt lọc từ ngữ trọng tâm và số liệu làm nổi bật nội dung bàitoán cùng đơn vị đo đi kèm

Trang 10

+ Các từ ngữ còn lại có thể bớt hoặc có thể thay đổi nhưng nội dung bàitoán không thay đổi.

+ Giáo viên có thể tóm tắt bằng nhiều cách, nhiều hình thức khác nhau(bằng lời, bằng sơ đồ đoạn thẳng, …) (Ví dụ 2, 3)

+ Các yếu tố có cùng đơn vị đo thì đưa về một phía để học sinh dễ sosánh và dễ nhận ra dạng toán mình đang giải là dạng nào, từ đó học sinh dễviết đúng phép tính hoặc lời giải

Ví dụ 3: (Bài 2 trang 64 - Toán 1- tập 2) Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

Mai, Việt và Rô-bốt chơi đá cầu Em hãy tìm số bước chân thích hợp

Trên đây là các dạng toán cơ bản của lớp 1 tôi đã cụ thể hoá cách xác định đề

và tóm tắt đạt hiệu quả khá khả quan Ngoài ra, một số bài ở trên cũng có thểtóm tắt bằng nhiều cách khác nhau Nhưng dù tóm tắt bằng cách nào cũng cầncho học sinh hiểu ý mình vừa ngắt nhịp đó là gì? diễn đạt bằng tóm tắt như

Trang 11

thế nào cho hợp lí? Khi đó học sinh dễ nắm bắt được cách giải bài toán hơn

và đặc biệt xác định đúng, viết được đúng phép tính của bài toán

b, Hướng dẫn học sinh biết nêu câu lời giải cho bài toán có lời văn

Một bài toán giải mà lời giải chưa đúng, cho dù phép tính đúng thì bàigiải đó vẫn bị coi là chưa đúng, vì thế, để hướng dẫn học sinh lớp 1 tìm vàviết câu lời giải đúng, ngắn gọn, đủ ý là một việc làm hết sức cần thiết và đặcbiệt quan trọng Với toán lớp 1, “Bài toán có lời văn” được thể hiện theo haidạng đó là giải bài toán đơn về phép cộng (“thêm”), và phép trừ (“bớt”),(trong đó có bài toán về nhiều hơn hoặc ít hơn một số đơn vị) Để giúp các emviết đúng câu lời giảỉ khi làm bài cần hướng dẫn các em theo hai giai đoạnnhư sau: trong mỗi giai đoạn có những cách dạy riêng Cụ thể:

Giai đoạn 1: (Giai đoạn chuẩn bị) Hướng dẫn học sinh làm tốt kiểu bài

“Viết phép tính” thích hợp vào ô trống Các dạng này bắt đầu từ học kì I lớp1:

+ Quan sát tranh - viết phép tính thích hợp

Ở khúc này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát tranh để hiểuhơn về nội dung tranh Sau đó hướng dẫn học sinh làm bài theo 4 bước sau:Bước 1: Quan sát tranh

Bước 2: Nêu bài toán

Bước 3: Viết phép tính thích hợp với hình ảnh hoặc bài toán

Bước 4: Nêu câu trả lời cho bài toán vừa đọc

Ví dụ: Bài 3 trang 75 (Toán 1- tập 1)

Học sinh quan sát và cần hiểu được:

Lúc đầu trong chuồng có 3 con vịt Sau đó đi kiếm ăn 3 con Trongchuồng còn lại 0 con vịt

Trang 12

Khi dạy bài toán dạng này giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh diễnđạt và trình bày để động viên các em viết được phép tính đúng để tăng cườngkhả năng diễn đạt cho học sinh tiểu học

Giai đoạn 2: (Giai đoạn chính) Giải bài toán có lời văn: được dạy từ học

kì II và xuyên suốt trong chương trình cho đến hết năm học Đây là giai đoạnquyết định Giáo viên giúp cho học sinh hiểu rõ hơn một số thuật ngữ toánhọc quan trọng như sau:

- Thêm (mua thêm, tặng thêm, cho thêm, lấy thêm .) ; “và”, “nhiềuhơn”, “hơn”, “tất cả”, “cả hai” → Dạng toán “thêm” (Giải bằng phép tínhcộng)

- “Bớt”, “cho”, “biếu”, “bay đi”, “còn lại”,”cắt”, “lấy”, “trong đó có”, “íthơn”, “kém”, “đã bán”, “đã phát”, “ngắn hơn”, “dài hơn” → Dạng toán "bớt"(Giải bằng phép tính trừ)

- Ngoài ra còn một số bài toán có thuật ngữ “nhiều hơn”, “dài hơn”,

“hơn” nhưng không phải là dạng toán “thêm” mà là dạng toán “bớt” Một sốbài toán có thuật ngữ “ít hơn”, “ngắn hơn”, “kém” nhưng không phải dạngtoán “bớt” mà là dạng toán “thêm” Điều này tuỳ thuộc vào đối tượng đượcnói đến trong bài toán (phần này chủ yếu sang lớp 2 mới có)

- Lúc này, giáo viên cần yêu cầu học sinh phải đọc thật kĩ đề toán, cầntìm hiểu thật kĩ nội dung bài để xác định rõ được: “Bài toán cho biết gì?”,

“Bài toán hỏi gì?” và sau đó sẽ trình bày bài giải theo 3 bước:

+ Nêu câu lời giải

+ Viết phép tính

+ Nêu đáp số

Ví dụ 1: Bài 4 (Trang 49 - Lớp 1- tập 2)

Bài toán: Trên cây có 15 con chim Lát sau có thêm 24 con chim bay đến

đậu cùng Hỏi lúc này trên cây có tất cả bao nhiêu con chim?

Tóm tắt:

Có: 15 con chimThêm: 24 con chim

Ngày đăng: 26/12/2022, 19:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách giáo khoa Toán 1 2. Sách Giáo viên Toán 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 1 2
3. Sách chuẩn kiến thức kĩ năng (Lớp 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuẩn kiến thức kĩ năng (Lớp 1)
4. Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học 5. Giáo trình tâm lý học Tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học 5. Giáo trình tâm lý học Tiểu học
8. Thế giới trong ta 101 câu hỏi - đáp về dạy môn Toán lớp một mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới trong ta 101 câu hỏi - đáp về dạy môn Toán lớp một mới
9. Một số tài liệu khác và tranh ảnh sưu tầm trên internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tài liệu khác và tranh ảnh sưu tầm trên internet

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w