BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN VĂN DƯƠNG ĐỀ TÀI NHẬN DẠNG VÀ ƯỚC LƯỢNG THIỆT HẠI VÔ HÌNH CỦA NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT DỰ ÁN THẢO CẦM VIÊN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ H.
PHẦN MỞ ĐẦU
Vấn đề nghiên cứu
Phát triển công nghiệp và chỉnh trang đô thị là xu hướng tất yếu trên toàn cầu, và mỗi nước có cách tiếp cận riêng để triển khai sao cho phù hợp với bối cảnh địa phương Trong khuôn khổ đó, thu hồi đất vẫn là biện pháp phổ biến nhất được sử dụng để mở quỹ đất cho các dự án phát triển công nghiệp và đô thị, đồng thời đảm bảo tiến độ và hiệu quả kinh tế – xã hội.
Quá trình thu hồi đất không đơn giản chỉ là di chuyển một bộ phận dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác; nó còn liên quan đến nhiều yếu tố như việc làm, môi trường sống, điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội và các quan hệ xã hội trong cộng đồng Vì vậy, giải toả, di dời và tái định cư cần được nhìn nhận như một quá trình thay đổi sinh kế của người dân, chứ không chỉ là một sự chuyển đổi chỗ ở Việc xem xét một cách toàn diện các yếu tố này giúp đảm bảo sự phát triển đi đôi với an sinh và quyền lợi của người dân trong quá trình thu hồi đất.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2009), sau khi thu hồi đất, tới 13% lao động nông nghiệp chuyển sang nghề mới và 25-30% không có việc làm hoặc có việc làm không ổn định; thực trạng này là nguyên nhân chính khiến 53% số hộ bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có khoảng 1,5 lao động thất nghiệp, và mỗi ha đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc phải chuyển đổi nghề nghiệp.
Xem xét trên phạm vi cả nước, công tác giải phóng mặt bằng, di dời và tái định cư chủ yếu nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đất ở, dân cư Ở Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài phục vụ xây dựng các khu cụm công nghiệp, việc chỉnh trang và xây dựng đô thị mới là một yêu cầu cấp thiết, đồng thời đòi hỏi đầu tư và hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của đô thị Vì vậy về dài hạn, dù nỗ lực hạn chế tối đa, việc di dời, giải phóng mặt bằng và chuyển mục đích sử dụng đất ở TP.HCM vẫn sẽ tiếp diễn với quy mô không nhỏ.
Như vậy, thu hồi đất là một vấn đề khá “nhạy cảm” nhưng lại là một quy luật
Mai Thành trong bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản số 15 (183) năm 2009 cho rằng quá trình chỉnh trang và phát triển đô thị ở các khu vực đô thị là một hiện tượng không thể tránh khỏi Bài viết cho thấy khi cải tạo, nâng cấp hạ tầng và mở rộng không gian sống, đô thị sẽ đối mặt với nhiều thách thức và biến động, đòi hỏi có sự quản lý và định hướng chiến lược để đảm bảo sự bền vững của quá trình phát triển đô thị Tham khảo nguồn tại http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID855963 sẽ cung cấp bối cảnh chi tiết cho độc giả quan tâm.
Cu Chi, một huyện ngoại thành của TP Hồ Chí Minh đang thực hiện con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần sang công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Hiện nay diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn đang thu hẹp và nhường chỗ cho các khu, cụm công nghiệp như Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, Khu công nghiệp Tân Phú Trung, cụm công nghiệp cơ khí Hòa Phú, cụm công nghiệp Tân Quy, Samco, nhờ vậy đã góp phần đáng kể giải quyết việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống cho người dân Tuy nhiên, các dự án phục vụ nhu cầu phát triển và chỉnh trang đô thị đã tác động tới một bộ phận người dân, đặc biệt những người bị thu hồi đất; vì vậy cần chăm lo tối đa đời sống họ và bảo đảm họ có đời sống bằng hoặc tốt hơn trước khi thu hồi đất Muốn thực hiện được mục tiêu này ngoài việc bồi thường thiệt hại về đất đai, nhà cửa và tài sản khác, còn phải tính đến chi phí “tái khôi phục” đời sống người dân hay còn gọi là chi phí vô hình và cụ thể hóa thành các điều khoản trong chính sách giải tỏa, đền bù và tái định cư.
Chính sách giải tỏa, đền bù và tái định cư là một trong những chủ đề được Quốc hội bàn bạc và thảo luận gần đây; gần đây nhất Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã trao đổi với báo giới trong buổi giao lưu trực tuyến do Bộ phối hợp với 64 Sở tổ chức để giải đáp các ý kiến của nhân dân và doanh nghiệp diễn ra ngày 29/08/2008, nhấn mạnh sự cần thiết cân bằng giữa giá trị hữu hình và giá trị vô hình Ông cho biết chúng ta đã quan tâm đến đền bù nhưng chỉ ở giá trị hữu hình, còn giá trị vô hình sau khi thu hồi đất, người dân không còn đất để làm ăn thì cuộc sống của họ sẽ ra sao vẫn chưa được quan tâm đầy đủ Theo Bộ trưởng, giá trị vô hình chiếm một phần đáng kể và cần được nhận diện, đo lường và tích hợp vào chính sách đền bù và tái định cư để đảm bảo cuộc sống người dân sau giải tỏa.
Trong quy trình đền bù đất, 50% giá trị hữu hình của đất được xem là mức đền bù; tuy nhiên, tất cả mới chỉ là ý tưởng, còn quy định rõ ràng và cách tính giá trị vô hình ra sao thì hiện tại chưa có.
Xuất phát từ ý tưởng trên, tôi chọn thực hiện đề tài "Nhận dạng và ước lượng thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất thuộc Dự án Thảo Cầm Viên, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh" Nghiên cứu nhằm nhận diện các dạng thiệt hại vô hình—như mất sinh kế, xáo trộn đời sống và tác động tâm lý—và ước lượng quy mô tác động lên cộng đồng bị thu hồi đất Phương pháp tiếp cận kết hợp thu thập dữ liệu từ người dân bị ảnh hưởng với phân tích định tính và định lượng, đồng thời tham khảo các văn bản pháp lý và báo cáo liên quan để đảm bảo tính khách quan và đầy đủ Kết quả dự kiến cung cấp khung nhận dạng và ước lượng thiệt hại vô hình, từ đó đề xuất các giải pháp đền bù, hỗ trợ và tái định cư nhằm giảm thiểu tác động của dự án Thảo Cầm Viên tại khu vực Củ Chi và tăng cường tính minh bạch trong quá trình triển khai.
Mục tiêu nghiên cứu
Nhận diện và ước lượng thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất thuộc dự án Thảo Cầm Viên, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh là bước căn bản để xác định tác động và nhu cầu hỗ trợ của cộng đồng Các thiệt hại vô hình được định lượng ở phạm vi mất nguồn thu nhập, suy giảm sinh kế, ảnh hưởng tinh thần và mất quyền tiếp cận dịch vụ xã hội, từ đó hình thành cơ sở cho đề xuất các chính sách đền bù phù hợp Kết quả này được chuyển thành khung đền bù minh bạch và công bằng, nhằm tăng tính hiệu quả của công tác giải phóng mặt bằng và đảm bảo quyền lợi của người dân bị thu hồi đất, góp phần phát triển bền vững dự án và khu vực.
- Xác định các yếu tố thiệt hại vô hình của người dận bị thu hồi đất.
- Ước lượng mức độ thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường của người dân.
- Đề xuất những chính sách về đền bù thiệt hại vô hình.
Câu hỏi nghiên cứu
- Ngoài những mất mát về đất đai, nhà cửa thì khi bị thu hồi đất người dân còn phải chịu những thiệt hại nào khác?
- Làm thế nào để xác định được mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường cho những thiệt hại vô hình do thu hồi đất gây ra?
- Tại sao mỗi hộ gia đình lại có mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường khác nhau cho những thiệt hại vô hình?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng được khảo sát trong nghiên cứu là những hộ gia đình có đất bị thu hồi thuộc dự án Thảo Cầm Viên, và hiện đang tái định cư tại 03 xã An Nhơn Tây,
An Phú và Phú Mỹ Hưng là hai địa bàn được khảo sát để tập trung vào các hộ gia đình bị giải tỏa trắng, tức sau khi nhận tiền đền bù họ phải tự tìm nơi ở để ổn định cuộc sống và lo toan mọi việc Nghiên cứu nhằm làm rõ những khó khăn thực tế khi tự tìm chỗ ở mới, từ chi phí sinh hoạt, quản lý tài chính đến ảnh hưởng tới sinh kế và đời sống gia đình sau giải tỏa Đồng thời, bài viết gợi ý nhu cầu hỗ trợ từ cơ quan chức năng và nhà đầu tư nhằm giúp các hộ gia đình nhanh chóng ổn định cuộc sống sau mất đất và hạn chế các tác động tiêu cực.
Việc giới hạn đối tượng khảo sát nhằm hai mục đích chính: thứ nhất là tập trung vào những hộ gia đình thuộc diện giải tỏa trắng – nhóm chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi việc thu hồi đất và đã có một khoảng thời gian sinh sống tại địa phương trước khi bị thu hồi, tức là họ đã hình thành một cộng đồng tương đối rõ nét tại nơi cư trú; thứ hai là những hiểu biết, kiến thức và kinh nghiệm của các đối tượng được khảo sát có thể làm sáng tỏ tính ổn định của kết quả nhận định và đánh giá trong suốt quá trình điều tra, đặc biệt là những thay đổi trong đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất.
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu này tập trung khảo sát các hộ gia đình thực hiện tái định cư trên địa bàn ba xã An Nhơn Tây, An Phú và Phú Mỹ Hưng Không khảo sát các hộ đã di chuyển đến địa phương khác do gặp khó khăn trong việc truy tìm và hạn chế về thời gian.
Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu sơ cấp: tiến hành điều tra, khảo sát 150 hộ dân bị thu bị hồi đất bằng cách phỏng vấn trực tiếp bằng bản câu hỏi.
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các phòng ban chuyên môn của huyện, điển hình là Phòng Thống kê, Ban Bồi thường và Giải phóng mặt bằng và Ban Quản lý Dự án huyện, nhằm cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy cho công tác phân tích và lập báo cáo Việc tổng hợp từ các đơn vị này giúp hình thành bức tranh tổng quan về thực trạng và nhu cầu của địa phương, đồng thời tăng cường tính minh bạch và hỗ trợ các quyết định quản lý dựa trên số liệu thực tế.
Củ Chi, và các số liệu thống kê liên quan khác.
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp thu thập dữ liệu dùng để xác định thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất bằng cách xây dựng bảng câu hỏi để hỏi trực tiếp các hộ gia đình bị thu hồi đất; đề tài sử dụng CVM vì những thiệt hại do thu hồi đất được xem như loại thiệt hại không có thị trường để so sánh và đối chiếu, nên chỉ còn cách hỏi xem họ sẽ chọn như thế nào trong một tình huống giả định do người nghiên cứu đặt ra trong một điều kiện môi trường nhất định.
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để mô tả và nhận diện các yếu tố thiệt hại của người dân bị thu hồi đất Kết hợp so sánh với số liệu sơ cấp và thứ cấp giúp phản ánh những thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của các hộ gia đình trước và sau thu hồi đất, từ đó làm rõ mức độ thiệt hại và các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống sau sự kiện thu hồi đất.
Phương pháp định lượng được áp dụng bằng cách xây dựng một mô hình kinh tế lượng nhằm lượng hóa các yếu tố tác động đến mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường của người dân Mô hình này tích hợp các biến định lượng và biến chất lượng để đo lường ảnh hưởng của thu nhập, nhận thức, rủi ro, sự tin cậy đối với cơ quan quản lý, khoảng cách địa lý và mức độ thiệt hại lên quyết định nhận bồi thường Qua quá trình ước lượng tham số, nghiên cứu có thể đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho thiết kế chính sách đền bù phù hợp và tối ưu hóa hiệu quả quản lý rủi ro Kết quả của phương pháp định lượng cho phép dự báo sự thay đổi trong mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường theo các kịch bản khác nhau, hỗ trợ ra quyết định và cải thiện giao tiếp với cộng đồng.
Cấu trúc của đề tài
Đề tài được trình bày theo 4 chương:
Giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và cấu trúc của đề tài.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm về thiệt hại vô hình
Thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất là một khái niệm mang tính trừu tượng và cho tới nay chưa có tài liệu hay nghiên cứu chính thức nào trong và ngoài nước đề cập đầy đủ, khiến việc xác định một định nghĩa phù hợp gặp nhiều khó khăn vì thiếu căn cứ rõ ràng và chính xác Trong nghiên cứu này, việc xác định thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất được dựa trên ba căn cứ được trình bày nhằm cung cấp một khung phân tích có hệ thống, giúp đánh giá các tác động về đời sống, nguồn lực và quyền lợi sau thu hồi đất, từ đó hỗ trợ các đề xuất chính sách và đánh giá tác động lâu dài một cách có cơ sở.
Trong văn hóa phi vật thể, thuật ngữ "vô hình" được xem như đồng nghĩa với "phi vật thể", chỉ những giá trị văn hóa và tinh thần mà con người có thể cảm nhận và trải nghiệm Xét ở một khía cạnh nhất định, thiệt hại vô hình chính là những ảnh hưởng về mặt tâm lý và tinh thần, cũng như sự tổn thất của các giá trị truyền thống mà con người trân trọng và gìn giữ.
Thứ hai đề cập đến các thiệt hại liên quan đến tài sản văn hóa, chi phí cho các hoạt động giải trí và tiêu khiển, ảnh hưởng đến sự gắn kết xã hội, tới sự bền vững về tâm lý và các dịch vụ môi trường.
- Thứ ba, những thiệt hại trong việc trong việc tái khôi phục đời sống sau thu hồi đất.
Do đó, các yếu tố nào thuộc một trong ba yếu tố trên được xem là thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất.
Thu hồi đất là hành động của Nhà nước ra quyết định hành chính nhằm thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã được giao cho các tổ chức và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý, thực hiện theo các quy định của Luật đất đai năm 2003.
Tái định cư là biện pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án của nhà nước, khi đất ở của họ bị thu hồi toàn bộ hoặc phần đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sinh sống, buộc họ chuyển đến nơi ở mới Tái định cư bao gồm tái định cư tự nguyện và tái định cư bắt buộc.
Tái định cư tự nguyện: là do nhu cầu cuộc sống người dân tự nguyện di chuyển từ nơi này sang định cư ở nơi khác.
Tái định cư bắt buộc là một thực tế không thể tránh khỏi trong quá trình triển khai các dự án phát triển, khi kế hoạch của dự án gây ra những mất mát cho người dân bị di dời Những người bị ảnh hưởng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bắt đầu lại từ đầu và xây dựng lại cuộc sống, củng cố thu nhập và tái thiết cơ sở vật chất ở một nơi ở mới Những khía cạnh này được ghi nhận trong các nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 1995).
Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Lý thuyết về đánh giá hàng hóa phi thị trường
Trong lý thuyết kinh tế học tân cổ điển, một giả thuyết cơ bản cho rằng con người có sự lựa chọn hàng hóa, gồm cả hàng hóa thị trường và hàng hóa phi thị trường Nếu không xem xét chi phí hàng hóa, mỗi cá nhân được giả định có thể sắp xếp các gói hàng hóa theo mong muốn và hình thành một thứ tự ưu tiên lựa chọn Trong thực tế, người tiêu dùng thể hiện hành vi chọn lọc theo thứ tự các gói hàng hóa mình yêu thích, phản ánh cách phân bổ nguồn lực và tối ưu hóa lợi ích cá nhân trong hệ thống thị trường.
Yếu tố cơ bản nhất của lý thuyết kinh tế học là sở thích và mức độ yêu thích của con người, xuất phát từ mong muốn cá nhân chứ không phải tiền nong Tiền đóng vai trò quan trọng như công cụ giúp chuyển đổi mong muốn thành hàng hóa và dịch vụ, nhưng chỉ khi mỗi người được cấp một ngân sách giới hạn để mua một số lượng nhất định hàng hóa Trong thực tế, nguồn lực có hạn bắt buộc người tiêu dùng phải đưa ra lựa chọn và ưu tiên dựa trên sở thích của mình, chứ không thể thoả mãn mọi ước muốn.
Việc lựa chọn của cá nhân được biểu thị qua hàm hữu dụng Giả sử X = (x1, x2, …, xn) là tập hợp các hàng hóa thị trường và Q = (Q1, Q2, …, Qk) là các hàng hóa phi thị trường Theo Flores (2002), hàm hữu dụng đối với một gói hàng hóa (X, Q) được ký hiệu là U(X, Q) Với hai lựa chọn (X_A, Q_A) và (X_B, Q_B), nếu U(X_A, Q_A) > U(X_B, Q_B) thì cá nhân thích (X_A, Q_A) hơn (X_B, Q_B); như vậy hàm hữu dụng thể hiện thứ tự ưu tiên lựa chọn Vì vậy, hàm hữu dụng đóng vai trò là biểu diễn của sự ưa thích và mức độ hài lòng, giúp phân tích hành vi tiêu dùng và so sánh giá trị giữa hàng hóa thị trường và hàng hóa phi thị trường.
Trong nền kinh tế hiện tại, tiền được lưu thông và người tiêu dùng chi tiêu cho các hàng hóa được ưa thích với mức giá thị trường P = (p1, p2, , pn) và thu nhập cho trước y Điểm khởi đầu là hàng hóa phi thị trường có chất lượng cố định ở mức Q0 và người tiêu dùng không thể tự điều chỉnh chất lượng của chúng Vấn đề cơ bản là làm sao đạt được mức hữu dụng tối đa khi chi tiêu toàn bộ thu nhập y vào hàng hóa thị trường, trong khi chất lượng của hàng hóa phi thị trường bị giới hạn ở Q0 Nói cách khác, bài toán tối ưu hóa là max U(X, Q) sao cho ràng buộc P · X ≤ y và Q = Q0.
Có hai vấn đề chính mà người tiêu dùng phải đối mặt: tổng chi tiêu cho hàng hóa thị trường không vượt quá thu nhập và hàng hóa phi thị trường được xem là cố định Điều này phụ thuộc vào thu nhập y, giá của hàng hóa thị trường P và mức giới hạn của hàng hóa phi thị trường Q Đối với mỗi hàng hóa thị trường, hàm nhu cầu tối ưu phụ thuộc vào ba yếu tố x* = x(P, Q, y) hoặc X* = X(P, Q, y) Khi chuyển hàm cầu tối ưu sang hàm hữu dụng gián tiếp, ta có U(X*, Q) = v(P, Q, y), vì nhu cầu và mức hữu dụng đạt được cao nhất đều bị chi phối bởi ba yếu tố này.
Giá trị của hàng hóa phi thị trường được đánh giá dựa trên hai yếu tố chính: sự hợp lý và quyền của người tiêu dùng Sự hợp lý cho biết cá nhân muốn tiêu dùng loại hàng hóa nào, trong khi quyền tiêu dùng cho phép họ lựa chọn những sản phẩm tối ưu dựa trên lợi ích cá nhân Điều này có nghĩa là mặc dù hàng hóa phi thị trường không hiện diện trên sàn giao dịch, mỗi cá nhân được giả định có thể đánh giá được giá trị của chúng Cụ thể, khi một sự thay đổi ở hàng hóa phi thị trường làm tăng phúc lợi của một người, người đó sẽ ưa thích sự cải thiện ấy và sẵn sàng chi trả cho nó Tổng số tiền mà người đó sẵn sàng chi trả phản ánh giá trị kinh tế của sự cải thiện hàng hóa phi thị trường, tạo nên thước đo quan trọng cho lợi ích xã hội và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
2 Theo Flores, chúng ta có thể lựa chọn các thuộc tính của hàng hóa môi trường như chất lượng không khí và tiếng ồn Những thuộc tính này được xem xét trong trường hợp chúng ta không thể tự cải thiện chất lượng không khí hoặc tiếng ồn quanh nơi ở Chúng ta có thể di chuyển tới một nơi ở mới có chất lượng không khí tốt hơn, nhưng mức độ chất lượng không khí tại nơi ở cũ lại không thể xác định được.
2.2.2 Mức sẵn lòng trả (WTP) và sẵn lòng chấp nhận (WTA)
Mức sẵn lòng trả và sẵn lòng chấp nhận là công cụ dùng để đo lường thay đổi phúc lợi hàng hóa phi thị trường. y: hàng hóa tư nhân y1 y0
CV: thay đổi bù đắp EG: lợi ích tương đương EV: thay đổi tương đương EL: mất mát tương đương
Hình 2.1 Đo lường sự thay đổi phúc lợi
Nguồn: Bateman và Cộng sự, 2002.
Khái niệm về mức sẵn lòng trả (WTP) và mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) và mối quan hệ giữa chúng được minh họa bằng Hình 2.1: trục tung biểu thị chi tiêu của cá nhân cho hàng hóa tư nhân bằng đơn vị tiền, còn trục hoành biểu thị một hàng hóa công; các đường cong bàng quan I và I’ cho thấy các tổ hợp giữa hai loại hàng hóa có mức phúc lợi hoặc hữu dụng khác nhau, với I’ tương ứng với mức phúc lợi cao hơn; khi đường cong bàng quan dịch chuyển sang phải cho thấy phúc lợi của cá nhân tăng lên, giúp diễn giải rõ ràng sự khác biệt giữa WTP và WTA trong ngữ cảnh trao đổi giữa hàng hóa tư nhân và hàng hóa công.
Có 4 cách đo lường giá trị của sự thay đổi trong chất lượng hàng hóa công.
Đầu tiên, xem xét sự gia tăng chất lượng hàng hóa công từ x0 lên x1 và tác động của nó lên mức thụ hưởng của cá nhân Giả sử ban đầu cá nhân dành y0 cho chi tiêu hàng hóa tư nhân, do đó tại điểm A ta có mối quan hệ giữa chi tiêu tư nhân và chất lượng hàng hóa công ở trạng thái x0 So với điểm C, khi chất lượng hàng hóa công đạt x1, cá nhân có thể thụ hưởng được x1 hàng hóa công tại điểm C Điều này cho thấy sự gia tăng chất lượng hàng hóa công làm tăng mức thụ hưởng của cá nhân so với trạng thái ban đầu.
Trong lý thuyết kinh tế, việc tăng cung cấp hàng hóa công sẽ làm giảm tiêu dùng tư nhân xuống một mức bằng BC Khi A và C cùng nằm trên đường cong bàng quan I, có thể suy ra mức sẵn lòng trả (WTP) của một cá nhân cho sự gia tăng hàng hóa công là BC Trong kinh tế học, sự mất đi một lượng được gọi là sự thay đổi bù đắp cho một sự gia tăng phúc lợi từ hàng hóa công; BC bị mất đi trong tiêu dùng tư nhân chính là phần bù đắp cho sự gia tăng đó.
Thứ hai, xem xét trường hợp ngược lại: một cá nhân bắt đầu với y0 chi tiêu tư nhân và chịu sự giảm của hàng hóa công từ x1 xuống x0 Tại vị trí B so với D, tại D cá nhân chỉ còn x0 hàng hóa công nhưng tiêu dùng tư nhân lại lớn hơn Điều này cho thấy sự đánh đổi giữa tiêu dùng tư nhân và cung cấp hàng hóa công khi mức hàng hóa công giảm, và sự so sánh giữa hai vị trí B và D minh họa rõ mối quan hệ giữa y0, x1 và x0: khi hàng hóa công giảm từ x1 xuống x0 thì tiêu dùng tư nhân tăng lên.
DA đơn vị xác định mức bù đắp cho sự thay đổi phúc lợi liên quan đến hàng hóa công Khi hai điểm B và D đồng thời nằm trên đường cong bàng quan I’, có thể suy ra mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) của cá nhân cho việc giảm phúc lợi trong hàng hóa công bằng DA Đây được hiểu như một sự thay đổi bù đắp cho việc giảm phúc lợi liên quan đến hàng hóa công.
Xét hai giá trị ảnh hưởng đến phúc lợi của cá nhân khi hàng hóa công tăng từ x0 lên x1 Giả sử cá nhân ở điểm A có tiêu dùng tư y0 và x0 là mức hàng hóa công Vấn đề đặt ra là lượng tiêu dùng tư thêm vào để người đó được hưởng một sự gia tăng hàng hóa công đến x1 mà vẫn có mức tiện nghi như trước khi x tăng là bao nhiêu? Lượng tiêu dùng tư này được gọi là lợi ích tương đương (equivalent variation), đo lường sự thay đổi giá trị phúc lợi do sự tăng của hàng hóa công Nói một cách ngắn gọn, EV là số tiền hoặc giá trị tiêu dùng tư cần có để làm cho cá nhân ở trạng thái tương đương về mức độ tiện nghi giữa hai trạng thái x0 và x1 Do đó, EV phản ánh mức tăng phúc lợi từ việc mở rộng hàng hóa công và được dùng như một thước đo chuẩn cho sự thay đổi của hàng hóa công trong khung tiêu dùng cá nhân.
Điểm D nằm trên cùng đường cong bàng quan với điểm B, thể hiện lợi ích tương đương là DA Theo thuật ngữ kinh tế, DA là sự thay đổi tương đương của phúc lợi khi có sự gia tăng của hàng hóa công Như vậy, lợi ích tương đương và mức sẵn lòng chấp nhận WTA được coi là DA Sự cân bằng giữa hai giá trị này thể hiện cách diễn đạt của lý thuyết kinh tế về sự yêu thích Tuy nhiên, trong câu hỏi phát biểu về sự yêu thích, DA và WTA là hai khái niệm riêng biệt, xuất phát từ các loại câu hỏi khác nhau, và theo lý thuyết ta kỳ vọng hai giá trị này sẽ cho cùng một đáp án.
Đo lường thứ tư giả định một cá nhân tại vị trí B với y0 là lượng hàng hóa tư nhân và x1 là lượng hàng hóa công Ta xác định tiêu dùng tư nhân phải giảm bao nhiêu để được coi là bằng với mức giảm phúc lợi do hàng hóa công xuống mức x0; đây chính là lượng mất mát tương đương khi thay đổi hàng hóa công Khi đó, C và A nằm trên cùng một đường cong bàng quan và BC thể hiện khoảng cách của sự mất mát tương đương Trong kinh tế học, BC đại diện cho sự mất mát phúc lợi tương đương với sự giảm hàng hóa công Do đó, lượng mất mát tương đương và WTP (willingness to pay) chính là BC.
Những đặc điểm của mức sẵn lòng trả và mức sẵn lòng chấp nhận
Tổng quan lý thuyết về thiệt hại vô hình do thu hồi đất gây ra
2.3.1 Nhận định của các tổ chức thế giới về thiệt hại vô hình khi thu hồi đất
Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho biết trong báo cáo năm 2004 rằng quá trình đền bù, giải tỏa và tái định cư có thể mang theo nhiều nguy cơ cho cộng đồng bị tác động, bao gồm mất đất đai và mất việc làm khi thu hồi đất, mất văn hóa làng quê và môi trường sinh hoạt truyền thống Những thay đổi này có thể làm suy giảm điều kiện sản xuất và nguồn thu nhập, đẩy nhiều hộ gia đình vào nguy cơ nghèo đói, và làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ họ hàng cũng như cấu trúc cộng đồng do di chuyển và tái thiết sống.
Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2004) cho rằng khi ước tính chi phí bồi thường, cần chú ý đến cả chi phí tái khôi phục đời sống kinh tế - xã hội Các yếu tố này được xem là các dạng thiệt hại vô hình, ảnh hưởng đến mức độ phục hồi và tổng chi phí mà cộng đồng phải gánh chịu.
Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995), ngoài những thiệt hại về đất đai và sinh kế, người dân bị thu hồi đất còn đối mặt với các hệ quả khác như di cư đến nơi ở mới không thân thiện và khác biệt về văn hóa, khó khăn trong hoạt động kinh tế và công việc làm ăn; những áp lực này có thể khiến họ phải khai thác kiệt quệ tài nguyên môi trường để sinh tồn, dẫn đến hậu quả môi trường nghiêm trọng và tác động dài hạn tới cộng đồng.
2.3.2 Các nghiên cứu liên quan đến thiệt hại của người dân do thu hồi đất
Mặc dù các nghiên cứu dưới đây chỉ dừng lại ở việc đánh giá những thay đổi đời sống của người dân trước và sau thu hồi đất, nhưng kết quả cho thấy có những yếu tố thiệt hại của người dân được xem như thiệt hại vô hình Những thiệt hại vô hình này phản ánh những mất mát khó đo đếm mà người dân phải chịu khi đất bị thu hồi Vì vậy, các nghiên cứu này không chỉ mô tả sự thay đổi thực tế mà còn cung cấp cơ sở tham khảo quan trọng để xác định thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất, từ đó hỗ trợ điều chỉnh chính sách và biện pháp hỗ trợ phù hợp.
Cernea (1997) cho rằng quá trình thu hồi đất gây ra tám rủi ro và nguy cơ đối với người dân, trong đó nổi bật là mất đất và mất sinh kế, mất việc làm, mất nhà ở và bị cách ly khỏi xã hội Bên cạnh đó còn có mất an ninh lương thực, mất quyền tiếp cận các tiện ích từ tài sản cộng đồng, gia tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong, đồng thời làm tan rã tính cộng đồng.
Dư Phước Tân (1997) nghiên cứu các khía cạnh kinh tế xã hội của các hộ bị di dời khỏi kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè và nêu ra những thay đổi nổi bật sau di dời Theo đó, đời sống người dân chịu tác động ở nhiều mặt như thay đổi thu nhập và chi tiêu, điều kiện nhà ở, cơ hội việc làm, khả năng tiếp cận giáo dục và dịch vụ y tế, cùng với sự biến động trong mối quan hệ xã hội và mạng lưới hỗ trợ cộng đồng Nghiên cứu cũng cho thấy mức độ dễ bị tổn thương của các hộ di dời phụ thuộc vào điều kiện nơi ở mới và khả năng thích nghi với môi trường sinh sống mới.
Biến động kinh tế được thể hiện qua bốn yếu tố chính: tình hình đầu tư và trang bị các dịch vụ hạ tầng; sự nâng cấp và đa dạng hóa tiện nghi gia đình; sự thay đổi về thu nhập của các hộ gia đình và cá nhân; và sự biến động của chi phí dịch vụ hàng tháng, tác động trực tiếp đến ngân sách sinh hoạt.
Những thay đổi về khía cạnh xã hội tập trung vào ba yếu tố chính: quan hệ cộng đồng, điều kiện sinh hoạt hằng ngày và cơ hội việc làm Đối với quan hệ cộng đồng, sự thay đổi về mức độ gắn kết, sự tham gia của người dân vào các hoạt động xã hội và mạng lưới hỗ trợ lẫn nhau đang hình thành và mở rộng Về điều kiện sinh hoạt hằng ngày, các yếu tố như điều kiện học hành, khả năng đi lại và sự tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục và công nghệ có sự biến động đáng kể Những thay đổi này ảnh hưởng đến thị trường lao động và cơ hội việc làm, đòi hỏi người dân và doanh nghiệp thích nghi với hoàn cảnh mới để duy trì sinh kế và phát triển kinh tế địa phương.
- Các thay đổi về môi trường sống và các ảnh hưởng do môi trường sống thay đổi gây ra.
Phan Huy Xu (2005) đánh giá đời sống xã hội của người dân thuộc diện tái định cư ở Thành phố Hồ Chí Minh và nêu bật những thay đổi sau khi di dời Các yếu tố được đề cập gồm điều kiện nhà ở, vệ sinh môi trường và cơ sở hạ tầng, việc làm và thu nhập, cũng như sự thay đổi trong tiếp cận các cơ sở văn hóa, y tế và giáo dục Bên cạnh đó, di dời còn ảnh hưởng đến quan hệ cộng đồng và mạng lưới hỗ trợ xã hội trong khu vực tái định cư.
Nghiên cứu của Lê Văn Thành và cộng sự (2008) về thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của các hộ gia đình sau tái định cư cho thấy nhận định tổng quát và khá toàn diện về những thay đổi sau di dời Các yếu tố thay đổi chính được nêu rõ gồm việc làm và thu nhập, giáo dục và đào tạo, y tế và văn hóa cùng với mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội, cùng với sự biến động về nhà ở và điều kiện sinh hoạt Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra sự thay đổi trong các mối quan hệ xã hội của người dân sau tái định cư.
Theo Tôn Nữ Quỳnh Trân (2009), sau khi thu hồi đất tại Cần Thơ, đời sống người dân đã có những thay đổi đáng kể: thay đổi việc làm và nguồn thu nhập, sự biến động của môi trường vật chất gồm điều kiện về nhà ở, vệ sinh môi trường và cơ sở hạ tầng, và sự biến đổi của đời sống xã hội bao gồm các cơ sở y tế – văn hóa – giáo dục và quan hệ cộng đồng.
2.3.3 Các nghiên cứu liên quan đến mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường của người dân bị thu hồi đất
Đến nay, số lượng nghiên cứu về WTAC trong lĩnh vực thu hồi đất còn rất hạn chế, không chỉ trên phạm vi toàn cầu mà còn ở Việt Nam Trong số các công trình được công bố, một ví dụ đáng chú ý là nghiên cứu của Supriya Garikipati.
Vào năm 2005, dự án Sardar Sarovar ở thung lũng Namadar đã nhận được tham khảo ý kiến từ những người bị ảnh hưởng Dòng sông này có 30 đập lớn, 135 đập trung bình và 3.000 đập nhỏ được xây dựng nhằm phục vụ nhiều mục đích khác nhau và băng qua ba bang phía Tây Bắc Ấn Độ Gần 40.000 hộ gia đình bị ảnh hưởng, là nguyên nhân chính dẫn tới di dời Tuy nhiên, phương án tái định cư được xem là thất bại ở tổng thể (Cernea, 1999), vì kế hoạch do các nhà cầm quyền thiết kế không phản ánh đầy đủ những mất mát thật sự của những người bị thu hồi đất.
Một giải pháp tái định cư tự nguyện được đề xuất, trong đó quyết định về các yếu tố bồi thường không thuộc về nhà cầm quyền mà do chính những người bị ảnh hưởng tự quyết Phương pháp này yêu cầu nhà nước cam kết không thực hiện di dời cho đến khi có một kế hoạch bồi thường được thiết kế và thảo luận với cộng đồng bị ảnh hưởng Đây được xem là một cơ chế có tiềm năng phản ánh đúng mức những mất mát thực sự của người bị ảnh hưởng, đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng và tính công bằng trong quá trình di dời.
Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng CVM để khảo sát 847 hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án và xem họ có sẵn lòng chấp nhận bồi thường để từ bỏ nhà và đất của mình hay không Người dân được đưa ra bốn gói bồi thường để lựa chọn giữa chấp nhận hay phản đối: No-Commons, cung cấp đất và nơi ở như ở cũ và tiền mặt để bồi thường cho mất sinh kế; No-Other-Caste, tương tự No-Commons nhưng chỉ dành cho một nhóm người; No-Community, bồi thường nhà ở và tiền mặt cho việc tái định cư mà không có cộng đồng; và Only-Cash, chỉ cung cấp tiền mặt cho sự di dời.
Thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất
Thay đổi các mối quan hệ xã hội Thay đổi về điều kiện môi trường
Thay đổi về đk tiếp cận các dịch vụ xã hội Thay đổi về tài sản tự nhiên & nhân tạo
Thay đổi đk tiếp cận giáo dục và đào tạo
Thay đổi về điều kiện Kinh tế
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Tổng quan về tình hình sử dụng và thu hồi đất huyện Củ Chi
3.1.1 Tình hình sử dụng và biến động đất nông nghiệp giai đoạn (2005 – 2010)
Quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện đã đi vào nề nếp theo đúng quy định pháp luật, từ đó kiểm soát biến động đất đai như chuyển mục đích sử dụng, chuyển nhượng và tách thửa, đồng thời làm giảm sự gia tăng dân số cơ học Tuy nhiên, khi quá trình đô thị hóa diễn ra, hình thành nhiều khu dân cư tự phát và hạ tầng còn nhiều hạn chế (hẻm đất, chiều rộng đường hẹp, hệ thống cấp thoát nước chưa đồng bộ), khiến nguồn quỹ đất trống, đặc biệt là đất có diện tích lớn, ngày càng thu hẹp và còn xen kẹt trong khu dân cư Nguy cơ này dẫn tới hiệu quả sử dụng quỹ đất nông nghiệp thấp, chi phí đất đai cho các dự án tăng và tính khả thi của dự án bị đe dọa do công tác đền bù, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn.
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng và biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2010
So sánh ±△ Tỷ lệ % Tổng diện tích đất nông nghiệp 33320.44 32541.41 -779.03 -2.34
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 32493.50 31800.37 -693.13 -2.13
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 18153.86 16626.57 -1527.29 -8.41
1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 796 1629.31 833.31 104.69 1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 3013.06 4320.15 1307.09 43.38 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 14339.60 15173.80 834.20 5.82
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 407.25 405.77 -1.48 -0.361.4 Đất nông nghiệp khác 315.48 286.79 -28.69 -9.09 Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Củ Chi
Củ Chi là một huyện ngoại thành của TP.HCM, nơi đất nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích tự nhiên Tuy vậy, nhờ quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp ở Củ Chi đang dần thu hẹp trong khi đất phi nông nghiệp ngày càng gia tăng, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất từ nông nghiệp sang các khu đô thị, khu công nghiệp và khu dân cư Xu hướng này cho thấy huyện đang được hưởng lợi từ phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời đặt ra thách thức về bảo tồn đất nông nghiệp và quản lý quy hoạch dùng đất lâu dài.
Năm 2010, diện tích đất nông nghiệp của huyện đạt 32.541,42 ha, chiếm 74,81% tổng diện tích tự nhiên của huyện So với năm 2005, diện tích đất nông nghiệp đã giảm 779,03 ha.
- Đất sản xuất nông nghiệp giảm 693,13 ha gồm:
+ Đất trồng cây hàng năm giảm 1.527,29 ha;
+ Đất trồng cây lâu năm tăng 834,16 ha;
- Đất lâm nghiệp giảm 55,73 ha (còn 48,48ha);
- Đất nuôi trồng thủy sản giảm 1,48 ha (còn 405,77 ha);
- Đất nông nghiệp khác giảm 28,69 ha (còn 286,79 ha).
Trong 5 năm qua, đất nông nghiệp trên địa bàn huyện tiếp tục giảm, giảm mạnh nhất là đất trồng cây hàng năm Trong khi đó ở nhóm đất phi nông nghiệp, đất ở và đất chuyên dùng tăng mạnh.
Phần lớn diện tích đất nông nghiệp giảm là do chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, cho thấy sự tác động của phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến nhu cầu và xu hướng chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn Quá trình này phản ánh nỗ lực đô thị hóa và mở rộng các khu công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng, làm tăng áp lực lên quỹ đất nông nghiệp Tuy nhiên, sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả của cơ quan nhà nước đóng vai trò thiết yếu trong việc điều tiết các biến động về cơ cấu sử dụng đất, giúp các nhóm đất chuyên dùng ngày càng chiếm tỷ lệ cao hơn và phù hợp với định hướng phát triển địa phương. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tối ưu hóa nội dung chuẩn SEO với [Pollinations.AI free text APIs](https://pollinations.ai/redirect/kofi) giúp bài viết của bạn nổi bật và hiệu quả hơn!
Việc giảm diện tích đất nông nghiệp và tăng diện tích đất phi nông nghiệp, đặc biệt là đất có mục đích công cộng và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện; đồng thời tuân thủ quy hoạch sử dụng đất được duyệt và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện.
3.1.2 Tình hình thu hồi đất trên địa bàn Huyện
Quyết định 3045/QĐ – UBND ngày 16 tháng 7 năm 2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) cho huyện Củ Chi cho thấy diện tích đất nông nghiệp của huyện đến năm 2010 sẽ giảm 5.106,5 ha so với năm 2005; do đó bình quân mỗi năm nhu cầu thu hồi đất nông nghiệp để chuyển sang các mục đích sử dụng khác khoảng 1.000 ha, và sự dịch chuyển này được dự báo sẽ ảnh hưởng nhiều đến đời sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất; cụ thể diện tích đất dự kiến phải thu hồi theo Quyết định 3045 trên địa bàn huyện Củ Chi trong giai đoạn 2006–2010 được xác định là diện tích sẽ thu hồi.
Bảng 3.2 Diện tích đất phải thu hồi giai đoạn 2006 – 2010 ĐVT: ha
STT Loại đất phải thu hồi Mã Diện tích
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 5630,2
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm CHN 4282,6
Trong đó: đất chuyên trồng lúa nước LUC 3659,9
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 1347,6
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 19,1
1.5 Đất nông nghiệp khác NKH 2,7
2 Đất phi nông nghiệp NKN 130,7
Nguồn: Quyết định 3045/QĐ – UBND ngày 16/7/2008 của UBND Tp HCM
Từ đầu năm 2006 đến nay, UBND huyện Củ Chi đã tổ chức thực hiện công tác bồi thường cho 30 dự án, trong đó có 03 dự án dỡ dang từ năm 2004 chuyển sang: dự án xây dựng Thảo Cầm Viên, dự án Samco và dự án Khu công nghiệp Tân Phú Trung Đến nay, việc chi trả bồi thường đã được thực hiện cho 5.352 hộ dân với tổng diện tích đất 2.151 ha, số tiền chi trả bồi thường đạt 2.027,2 tỷ đồng.
Với sự xuất hiện của các khu, cụm công nghiệp và việc nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở, thu hồi và sử dụng đất tại huyện Củ Chi đã có những chuyển biến tích cực: diện tích đất ở, đất giao thông và đất công nghiệp tăng lên trong khi đất nông nghiệp giảm nhường chỗ cho quá trình đô thị hóa đang diễn ra Tuy nhiên, ngoài những thành tựu đạt được, huyện Củ Chi vẫn đối mặt với nhiều thách thức quan trọng, trong đó chất lượng cuộc sống sau thu hồi đất và sự chuyển đổi nghề nghiệp của người dân được xem là vấn đề cốt lõi Sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận dân cư và có tác động dây chuyền lên các lĩnh vực khác; nông dân là nhóm chịu tác động mạnh nhất do họ không thể làm nghề nông như trước và phải đối mặt với một quá trình chuyển đổi nghề nghiệp chưa được chuẩn bị Việc tìm việc làm mới phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tâm lý và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, trong đó độ tuổi trên 40 được coi là trở ngại lớn Những người trên 40 tuổi khó có cơ hội trở thành công nhân tại các công ty, xí nghiệp trên địa bàn huyện, và nếu không thể chuyển đổi nghề sẽ có nguy cơ trở thành nghèo đô thị Trong khi đó, trình độ học vấn là yếu tố quyết định giúp những nông dân trẻ có khả năng tìm việc làm tại các công ty, xí nghiệp và còn có nhiều thay đổi khác trong đời sống sau thu hồi đất Đáng chú ý là cho tới nay chưa có bất cứ cơ quan hay tổ chức nào trên địa bàn tổ chức điều tra, đánh giá đời sống người dân sau thu hồi đất.
Tình hình kinh kế-xã hội hộ gia đình
3.2.1 Giới tính, tình trạng và vị trí gia đình đối tượng khảo sát
Bảng 3.3 Giới tính và tình trạng gia đình
Chỉ tiêu Số hộ Tỷ lệ
2 Tình trạng gia đình Độc thân 17 11.3%
3 Vị trí của người phỏng vấn
Nguồn: Số liệu điều tra.
Kết quả khảo sát cho thấy đối tượng tham gia là nam giới cao gấp đôi số lượng nữ giới Trong tổng số 150 mẫu khảo sát, nam giới 101 người, chiếm 67,3%, nữ giới 49 người, chiếm 32,7%.
Trong bảng thống kê tình trạng gia đình, có 133 người đã lập gia đình (88,7%) và 17 người chưa lập (11,3%) Sự khác biệt này cho thấy người độc thân có cuộc sống tương đối thoải mái hơn so với người có gia đình, vì họ chỉ phải lo cho bản thân trong khi người đã có gia đình còn phải chăm lo cho các thành viên trong gia đình Do đó, hai nhóm sẽ có sự khác biệt về suy nghĩ và thái độ đối với việc thu hồi đất, cũng như đánh giá những thiệt hại vô hình và mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường (WTAC) cho những mất mát do thu hồi đất gây ra.
Về vị trí gia đình, chủ hộ có 128 người (chiếm 85,3%), chồng/vợ chủ hộ là
Trong mẫu khảo sát, 14 người chiếm 9,3% tổng số người được phỏng vấn và số còn lại là con của chủ hộ chiếm 4,7% Hầu hết người được phỏng vấn cho rằng chủ hộ đóng vai trò quyết định trong các hoạt động đời sống gia đình, nên nhận định và đánh giá của họ được xem là có độ chính xác cao và đại diện cho các thành viên khác trong gia đình Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì nhiều câu hỏi trong bảng khảo sát yêu cầu người được phỏng vấn đại diện cho cả gia đình khi trả lời.
Bảng 3.4 Độ tuổi của đối tượng phỏng vấn
Giá trị thống kê Độ tuổi Người Tỷ lệ Trung bình
Trung vị Độ lệch chuẩn
Nguồn: Số liệu điều tra.
Bảng 3.4 cho thấy, đối tượng khảo sát nhiều nhất nằm trong nhóm tuổi từ 41-
Phân tích phân bổ độ tuổi của đối tượng khảo sát cho thấy nhóm tuổi từ 50 trở lên chiếm 36% (54 người), nhóm 31–40 tuổi chiếm 28% (42 người), nhóm 51–60 tuổi chiếm 24,7% (37 người), nhóm 19–30 tuổi chiếm 6,7% (10 người) và nhóm trên 60 tuổi chiếm 4,7% (7 người) Độ tuổi trung bình của mẫu là 44,84 tuổi, cho thấy người tham gia có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống và do đó kết quả nhận định có thể phản ánh một cách đáng tin cậy những thay đổi trong đời sống của họ do việc thu hồi đất gây ra.
3.2.3 Quy mô hộ gia đình
Bảng 3.5 Quy mô hộ gia đình trước và sau thu hồi đất
Giá trị thống kê Chỉ tiêu Số hộ Tỷ lệ Trung Trung Độ lệch Giá trị Giá trị bình vị chuẩn thấp nhất cao nhất
Quy mô hộ trước thu hồi đất
Quy mô hộ sau thu hồi đất
Nguồn: Số liệu điều tra.
Bảng 3.5 cho thấy hộ gia đình có từ 4-6 thành viên chiếm tỷ lệ cao nhất cả trước và sau thu hồi đất, lần lượt là 96 hộ (64%) trước thu hồi và 103 hộ (68,7%) sau thu hồi Trung bình mỗi hộ có từ 4 thành viên trở lên, với số lượng thành viên tối thiểu 2 và tối đa 8 Trước thu hồi đất, hộ có từ 7-9 thành viên chiếm 13,3%, nhưng sau thu hồi đất tỷ lệ này giảm còn 7,3%.
Thông qua kiểm định Paired Sample Test (Phụ lục 1), quy mô hộ gia đình trước và sau thu hồi đất có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Với mức ý nghĩa hai phía Sig = 0,000 < 0,01, có thể kết luận rằng sự chênh lệch quy mô hộ gia đình là có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 99% Cụ thể, quy mô hộ gia đình sau thu hồi đất nhỏ hơn so với trước khi thu hồi.
3.2.4 Trình độ học vấn và nghề nghiệp
Bảng 3.6 phản ánh trình độ học vấn của đối tượng phỏng vấn, trong đó 75 hộ (50%) có trình độ trung học phổ thông; 54 người (36%) từ tiểu học đến trung học cơ sở; 6 người (4%) chưa từng đến trường; 15 người (10%) có trình độ từ trung cấp trở lên Có sự khác biệt tương đối lớn giữa nam và nữ về trình độ học vấn, đa số nam có trình độ cao hơn nữ trong mẫu phỏng vấn Tổng cộng, khoảng 60% hộ có trình độ từ trung học phổ thông trở lên, điều này giúp người phỏng vấn truyền đạt các thông tin trong bảng câu hỏi và đối tượng được phỏng vấn có thể nhận ra những thay đổi trong đời sống sau khi thu hồi đất Vì vậy, kết quả đánh giá của người dân về sự biến động kinh tế - xã hội trước và sau thu hồi đất sẽ có độ chính xác cao hơn.
Bảng 3.6 Trình độ học vấn và nghề nghiệp của đối tượng phỏng vấn
Giới tính Chỉ tiêu Nữ Nam Tổng
Người Tỷ lệ Người Tỷ lệ Người Tỷ lệ
Giới tính Chỉ tiêu Nữ Nam Tổng
Người Tỷ lệ Người Tỷ lệ Người Tỷ lệ
NV công ty xí nghiệp 3 6% 8 8% 11 7%
Nguồn: Số liệu điều tra.
Bảng 3.6 mô tả rõ nghề nghiệp của nhóm đối tượng được phỏng vấn, với lao động nông nghiệp chiếm 43%, lao động phổ thông và tự do 34%, tiểu thương và mua bán 10%, nhân viên công ty xí nghiệp 7%, và nhân viên hành chính công 3%; phân tích theo giới cho thấy sự chênh lệch đáng kể trong lĩnh vực lao động nông nghiệp, khi số lượng lao động nam gần gấp ba lần số lượng lao động nữ Nhóm hộ gia đình gắn với nông nghiệp rất dễ bị tổn thương khi thu hồi đất, bởi nguồn thu nhập chính dựa vào sản xuất nông nghiệp; mất đất sẽ đặt đời sống hiện tại và tương lai của họ trước nhiều khó khăn nếu không có hướng chuyển đổi phù hợp Vì vậy, cần quan tâm và điều chỉnh chính sách tập trung vào nhóm đối tượng này trong quá trình phân tích Một điểm đáng chú ý là đối tượng lao động phổ thông tại các công ty, xí nghiệp trên địa bàn huyện lên tới 51 người, chiếm 34% tổng mẫu điều tra, cho thấy tín hiệu tích cực về cơ cấu kinh tế địa phương Tuy nhiên, phân tích thống kê cũng gợi mở vấn đề làm thế nào để tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ khi chính sách công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã tác động lớn đến nguồn sinh kế của một bộ phận dân cư dựa vào nông nghiệp.
Bảng 3.7 phản ánh thu nhập của hộ gia đình trước và sau thu hồi đất, cho thấy sự biến động rõ rệt giữa hai thời kỳ Sự khác biệt đáng kể trong thu nhập được thể hiện ở nhóm hộ có mức thu nhập từ 2–4 triệu đồng trước khi thu hồi đất Những phát hiện này cho phép đánh giá tác động kinh tế của quá trình thu hồi đất đối với đời sống hộ gia đình và cung cấp cơ sở cho các phân tích và đề xuất chính sách liên quan.
21.3% là 71 hộ (chiếm 47,3%), sau thu hồi đất tăng lên 106 hộ (chiếm 70,7%), ngược lại số hộ có thu nhập từ 5-7 từ 68 hộ trước thu hồi đất, chiếm 45,3% giảm xuống còn
Sau khi thu hồi đất, có 17 hộ dân chiếm 11,3% tổng số hộ được khảo sát Đồng thời, số hộ có thu nhập trên 7 triệu đồng cũng tăng lên; cụ thể, số hộ có thu nhập từ 8-10 triệu đồng đã tăng từ 3,3% lên 6%, và số hộ có thu nhập từ 11-13 triệu đồng tăng từ 0,7% lên 2,7%.
Bảng 3.7 Thu nhập của hộ gia đình trước và sau thu hồi đất
Thu nhập Số hộ Tỷ lệ
1 Thu nhập trước thu hồi đất
2 Thu nhập sau thu hồi đất
Nguồn: Số liệu điều tra.
Kiến thức và sự hiểu biết của người dân đối với thu hồi đất
Hình 3.1 Thời gian sinh sống tại nơi ở cũ trước khi thu hồi đất
Nguồn: Số liệu điều tra.
Phần lớn hộ gia đình trong mẫu điều tra có thời gian cư trú tại địa phương rất lâu, với 27,3% sống ở đây từ 51–60 năm, 21,3% từ 41–50 năm và 19,3% từ 31–40 năm, trong khi chỉ 5,3% sống dưới 10 năm Điều này cho thấy mức độ gắn bó lâu đời với nơi cư trú và sự hình thành của một cộng đồng bền vững, nơi các tập tục, truyền thống văn hóa được gìn giữ và mọi người thân sống gần bên nhau Người dân đã quen với các hoạt động sản xuất và nếp sinh hoạt địa phương, khiến toàn cộng đồng trở nên liên kết chặt chẽ Vì vậy, bất kỳ sự thay đổi nào xảy ra cũng có thể làm xáo trộn đời sống của người dân nơi đây.
Bảng 3.8 cho thấy có nhiều lý do khiến hộ gia đình gắn bó lâu dài với mảnh đất nơi họ sống Cụ thể, 24,2% hộ cho biết lý do ở lại là vì có gia đình và người thân đang sống cùng, tiếp đến là điều kiện sống tốt được 22,7% hộ lựa chọn; trên 18% hộ cho rằng nơi đây có mối quan hệ hàng xóm tốt và quen với tập quán văn hóa địa phương, trong khi 16% hộ gắn bó vì đây là nơi chôn nhau cắt rốn của họ.
Bảng 3.8 Lý do gắn bó với nơi ở cũ trước khi thu hồi đất
Lý do gắn bó với nơi ở cũ Hộ Tỷ lệ
Là nơi chôn nhau cắt rốn 72 16.0%
Mối quan hệ hàng xóm gắn bó 82 18.2%
Gia đình và người thân sống nơi đây 109 24.2%
Quen với tập quán, văn hóa 85 18.9% Điều kiện sống tốt 102 22.7%
Nguồn: Số liệu điều ra.
Mặc dù các hộ gia đình được phỏng vấn cho biết mong muốn định cư lâu dài tại nơi ở hiện tại và không muốn phải di chuyển, bảng 3.9 cho thấy có tới 84% hộ gia đình ủng hộ việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển và quy hoạch lại không gian đô thị, trong khi 16% không đồng ý Kết quả này cho thấy người dân sẵn sàng ủng hộ việc thu hồi đất vì lợi ích chung của cộng đồng, khác với các báo cáo trước đây của cơ quan chức năng cho rằng người dân thường có thái độ tiêu cực đối với thu hồi đất.
Thái độ đối với thu hồi đất Số hộ Tỷ lệ
1 Thái độ đối với thu hồi đất Ủng hộ 126 84.0%
2 Lý do ủng hộ thu hồi đất
Thực hiện dự án phát triển là việc nên làm 29 23.0%
Dự án mang lại lợi ích cho cộng đồng 32 25.4% Thế hệ tương lai có thể hưởng lợi từ dự án này
Gia đình tôi có thể hưởng lợi từ dự án này 28 22.2%
3 Lý do không ủng hộ thu hồi đất
Không thấy được lợi ích từ dự án 9 37.5%
Nên thu hồi đất của gia đình khác 3 12.5% Đây là nơi tốt, không muốn thay đổi chỗ ở 6 25.0% Không biết sống thế nào khi bị thu hồi đất 6 25.0%
Nguồn: số liệu điều tra cho thấy quan điểm về thu hồi đất phân hóa giữa những người ủng hộ và không ủng hộ; 29,4% hộ cho rằng các thế hệ tương lai sẽ được hưởng lợi từ dự án, 25,4% cho rằng dự án mang lại lợi ích cho cộng đồng và 23% cho rằng thực hiện các dự án phát triển là đúng đắn, trong khi chỉ 22,2% cho rằng gia đình họ có thể được hưởng lợi Ngược lại, với những người không ủng hộ thu hồi đất, 37,5% cho rằng họ không thấy lợi ích, 25% cho rằng nơi đây có điều kiện sống tốt và họ không muốn thay đổi, và một số lượng tương tự cho rằng họ không biết cuộc sống sẽ ra sao khi bị thu hồi đất; tuy nhiên, nhóm này là thiểu số Qua khảo sát cho thấy nhận thức của người dân về thu hồi đất ngày càng tiến bộ, với sự sẵn lòng từ bỏ mất mát cá nhân trước mắt để vì lợi ích chung của cộng đồng Việc di dời khỏi một nơi đã ổn định từ lâu là vấn đề trọng yếu, vì nó ảnh hưởng không chỉ đến việc tìm kiếm nơi ở mới phù hợp mà còn tới việc làm, thu nhập, môi trường, quan hệ xã hội và tâm lý; đồng thời thị trường đất đai biến động khiến giá đất có lúc cao gấp nhiều lần giá trị thực, gây thách thức cho người dân có thu nhập thấp khi bị thu hồi đất.
1 Khó khăn do thu hồi đất gây ra giải tỏa lại càng không có cơ hội mua nhà để ở Tâm lý người dân cũng rất lo sợ khi phải tự mình tìm nơi ở mới.
Bảng 3.10 Những khó khăn và ảnh hưởng của thu hồi đất đến đời sống người dân
Chỉ tiêu Số hộ Tỷ lệ
Mất cộng đồng đang sống 107 23.8%
2 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến đời sống người dân
Thay đổi về việc làm và thu nhập 115 25.6%
Thay đổi về nhà ở, CSHT và điều kiện sinh hoạt 139 30.9% Thay đổi điều kiện tiếp cận về giáo dục và đào tạo 7 1.6% Thay đổi điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội 33 7.3%
Thay đổi môi trường sống 77 17.1%
Thay đổi quan hệ xã hội và truyền thống văn hóa 79 17.6%
Nguồn: Số liệu điều tra. Điều người dân lo ngại nhất là gì? Thứ nhất là bị mất nhà ở (32,2%), lo ngại thứ hai là không còn đất sản xuất (24,2%) Ngoài ra, mất cộng đồng nơi đang sống (23,8%) và mất việc làm (19,8%) là những nguy cơ có thể xảy ra và làm xáo trộn đời sống người dân Khi được hỏi, việc thu hồi đất đã tác động như thế nào đến đời sống và sinh hoạt của người dân, thì 30,9% số hộ gia đình cho rằng họ sẽ bị thay đổi về nhà ở, cơ sở hạ tầng và điều kiện sinh hoạt, 25,6% số hộ nghĩ nói rằng họ bị thay đổi về thu nhập và việc làm Bên cạnh đó, trên 17% hộ gia đình nói rằng khi môi trường sống thay đổi sẽ kéo theo những thay đổi quan hệ xã hội và truyền thống văn hóa Trong khi đó, một số lượng rất ít hộ gia đình quan tâm đến những thay đổi về điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội (7,3%) và giáo dục đào tạo (1,6%).
Những lo ngại thực tế của người dân đã và đang trở thành hiện thực khi đất đai bị thu hồi cho dự án Thảo Cầm Viên tại huyện Củ Chi Dù đã nhận thức được nguy cơ, người dân và các nhà làm chính sách vẫn không thể tránh khỏi những hệ quả nghiêm trọng đối với một bộ phận cư dân Bài phân tích này làm rõ thiệt hại vô hình mà người dân chịu đựng khi đất bị thu hồi, như mất sinh kế và kế hoạch tương lai, xáo trộn cuộc sống gia đình, áp lực tài chính gia tăng, đứt gãy kết nối cộng đồng và khó khăn trong quá trình tái định cư.
Phân tích thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất
3.4.1 Thay đổi về điều kiện kinh tế, bao gồm việc làm và thu nhập
3.4.1.1 Tình hình việc làm của người dân sau thu hồi đất
Bảng 3.11 Thay đổi việc làm sau thu hồi đất
Chỉ tiêu Số hộ Tỷ lệ
2 Nguyên nhân thay đổi việc làm
Không còn đất sản xuất 55 57.2%
Nơi làm việc cũ quá xa 33 33.6%
Không có mặt bằng buôn bán 9 9.2%
Nguồn: Số liệu điều tra.
Thu hồi đất được xem là yếu tố tất yếu gây ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế-xã hội của người dân và dự báo sẽ gặp nhiều vấn đề phát sinh Trong đó, thay đổi lớn nhất về việc làm và thu nhập là vấn đề quan trọng chi phối và ảnh hưởng xuyên suốt đến suy nghĩ, nếp sống và gánh nặng lo toan của những người bị thu hồi đất Thực tế cho thấy, có đến 97 hộ (chiếm 64,4%) phải thay đổi việc làm, trong khi 53 hộ (chiếm 35,6%) không thay đổi việc làm trong mẫu điều tra.
Nguyên nhân chính dẫn đến việc các thành viên trong hộ gia đình phải chuyển đổi nghề nghiệp là do mất đất sản xuất nông nghiệp, chiếm 57,2% Ở Củ Chi, huyện ngoại thành với hơn 70% dân số sống bằng lao động nông nghiệp, nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp; khi đất bị thu hồi, người dân không còn đất sản xuất và buộc phải tìm nghề nghiệp mới Nguyên nhân thứ hai là nơi làm việc cũ quá xa, 33,6%, là mối quan tâm lớn nhất của người bị thu hồi đất hiện nay; nếu duy trì công việc cũ, họ phải di chuyển quãng đường dài hơn, tốn kém chi phí như xăng, ăn uống và bảo trì phương tiện, đồng thời mất thêm thời gian và công sức Bên cạnh đó, việc tìm công việc mới gặp khó khăn hơn vì tuổi tác và trình độ học vấn là hai yếu tố quan trọng nhất làm giảm khả năng tìm việc của các thành viên trong hộ gia đình.
Liệu thay đổi việc làm có phải là một tín hiệu tích cực và có thể mang lại thu nhập cao hơn cho người dân hay không? Câu hỏi này dù được đặt ra thường trực nhưng chưa có câu trả lời dễ dàng và là bài toán nan giải đối với các nhà làm chính sách; việc có được một việc làm ổn định sau khi mất đất nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, khả năng nắm bắt và chuyển đổi nghề nghiệp, và không kém phần quan trọng là mạng lưới xã hội cùng sự hạn chế phát triển tại nơi ở mới Tuy nhiên thực tế cho thấy đa số người dân thuộc dự án này là người lớn tuổi, trình độ học vấn còn hạn chế, nên việc chuyển đổi nghề nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn Trong số các hộ được điều tra, 27 hộ gia đình cho rằng có thành viên trong gia đình bị mất việc làm (18%) và 123 hộ gia đình không bị mất việc làm (82%) Theo khảo sát, sau thu hồi đất, số người không có việc làm khá đông, nhưng họ lại tỏ ra thanh thản và nhàn hạ; nhiều gia đình vẫn có chi tiêu và có tiền tiết kiệm ở ngân hàng, song tình trạng thất nghiệp kéo dài sẽ là vấn đề đáng báo động trong tương lai, gây bất ổn xã hội và không tích cực cho sự phát triển kinh tế.
Bảng 3.12 Nguyên nhân mất việc làm
Chỉ tiêu Số hộ Tỷ lệ
2 Nguyên nhân mất việc làm
Nơi ở mới khó tìm việc 12 44.4%
Không được đào tạo nghề 11 40.7%
Nguồn: Số liệu điều tra.
Hiện tượng thất nghiệp gia tăng được giải thích chủ yếu là phần lớn lao động nông nghiệp trước đây sau khi mất đất đã gia nhập lực lượng lao động phổ thông, hầu hết có trình độ học vấn thấp và chưa được đào tạo nghề để chuyển đổi sang nghề nghiệp khác Thêm vào đó, nhiều người từng là lao động tự do trước đây cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới phù hợp, đẩy cao tỷ lệ thất nghiệp.
Trước và sau khi thu hồi đất, tại nơi ở mới kết quả điều tra cho thấy 44,4% hộ cho rằng nơi ở mới khó tìm việc làm, 40,7% cho rằng họ không được đào tạo nghề để chuyển đổi, số hộ còn lại nói rằng họ không có mặt bằng để buôn bán nhỏ và kinh doanh; ngoài ra, tại nơi ở mới họ cũng không tìm được bạn hàng như trước khi bị thu hồi đất Lao động tự do vốn đã bấp bênh khi điều kiện xã hội có sự thay đổi; tại nơi ở mới họ không có cơ hội để chuyển đổi nghề, nơi ở mới không phù hợp với nghề cũ, hoặc mất nơi buôn bán là những nguyên nhân trực tiếp khiến người dân bị thu hồi đất gặp khó khăn trong tái tạo việc làm mới.
3.4.1.2 Tình hình thay đổi việc làm trước và sau thu hồi đất
Kết quả từ Hình 3.2 cho thấy sự phân hóa rõ nét của cơ cấu việc làm trước và sau thu hồi đất Trước khi thu hồi đất, có tới 42,7% số hộ là lao động nông nghiệp, trong khi sau thu hồi đất tỷ lệ này chỉ còn 21,3%, cho thấy thu hồi đất chủ yếu tác động lên nhóm nông dân Biểu đồ cho thấy hai khuynh hướng diễn biến ngược chiều: khuynh hướng giảm của lao động nông nghiệp và khuynh hướng tăng của các nhóm việc làm khác, bao gồm thất nghiệp và không đi làm, lao động phổ thông và lao động tự do, tiểu thương và hoạt động mua bán.
Thất nghiệp và Không đi làm
Lao động phổ thông và tự do
Nhân viên công ty xí nghiệp
Nhân viên hành chính công
Hình 3.2 Thay đổi việc làm trước và sau thu hồi đất
Nguồn: Số liệu điều tra.
Sau thu hồi đất, thị trường việc làm cho thấy xu hướng chuyển dịch từ lao động nông nghiệp sang lao động phổ thông, tự do, tiểu thương và mua bán Tuy vậy, một phần lao động nông nghiệp không thể chuyển đổi nghề nghiệp đã rơi vào thất nghiệp, với tỷ lệ tăng từ 3,3% trước thu hồi đất lên 16% sau thu hồi đất Tổng thể, tình hình việc làm sau thu hồi đất vẫn có tín hiệu tích cực khi tỷ lệ lao động phổ thông làm công nhân ở các xí nghiệp tăng từ 34% trước thu hồi đất lên 38% sau thu hồi đất.
3.4.1.3 Những khó khăn trong quá trình chuyển đổi việc làm
Qua khảo sát thực tế và trao đổi với người dân bị thu hồi đất, có thể nhận thấy quá trình chuyển đổi nghề nghiệp mang tính chủ quan và khách quan, trong đó khó khăn lớn nhất là thiếu sự định hướng của các cấp chính quyền (53,6%) Ngoài ra còn nhiều thách thức như trình độ học vấn thấp (35,3%), tuổi tác cao (34,8%), tâm lý ngại chuyển đổi (30,2%) và chi phí đào tạo nghề cao (29,3%) Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy người dân dễ tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ sản xuất và chuyển đổi nghề, với chỉ 3,7% hộ gia đình gặp khó khăn trong vấn đề này; phần còn lại có thể không chuyển đổi nghề, không gặp khó khăn trong chuyển đổi, hoặc không có nhu cầu chuyển đổi.
Ở nhóm người lớn tuổi có trình độ học vấn thấp, chi phí tham gia đào tạo nghề và thiếu định hướng nghề nghiệp là những rào cản chính khiến họ ngại chuyển đổi nghề Việc này được gia tăng bởi lo lắng về học phí, sinh hoạt và sự bất an về tương lai Để tháo gỡ, cần cung cấp thông tin rõ ràng về các khóa đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thị trường và nằm gần địa bàn cư trú; đồng thời mở các gói hỗ trợ vốn và học bổng cho người lớn tuổi Chính sách ưu tiên đào tạo nghề và hỗ trợ tài chính sẽ nâng cao trình độ, mở đường cho quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và tăng cơ hội việc làm ổn định.
Hình 3.3 Những khó khăn trong chuyển đổi việc làm
Nguồn: Số liệu điều tra.
3.4.1.4 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến việc làm và thu nhập
Các khuynh hướng sử dụng tiền bồi thường
Bảng 3.13 cho thấy thứ tự ưu tiên trong việc sử dụng tiền đền bù cho chi tiêu của các hộ gia đình Ưu tiên hàng đầu là chi cho xây dựng nhà ở và mua sắm các vật dụng đắt tiền, thể hiện mong muốn cải thiện điều kiện sống và nâng cao giá trị tài sản Trong khi đó, chi tiêu cho các hoạt động tạo thu nhập lại không được quan tâm đúng mức, khiến tiềm năng tăng thu nhập của hộ gia đình bị bỏ lỡ.
Kết quả điều tra cho thấy có tới 146 hộ (chiếm 97,3%) đã dùng tiền đền bù để xây dựng nhà ở, thể hiện rõ qua nhiều ngôi nhà mới khang trang được khảo sát, và 76% hộ gia đình chi tiêu mua sắm các vật dụng đắt tiền phục vụ cuộc sống Nhiều người cho rằng sau thu hồi đất, nhiều hộ đã “đổi đời” khi sống trong những ngôi nhà tiện nghi và hiện đại Tuy vậy, tình trạng này đang là vấn đề đáng lo tại các dự án thu hồi đất trên địa bàn huyện, bởi những khoản chi tiêu chiếm phần lớn số tiền đền bù nên họ không còn nhiều tiền để đầu tư vào sản xuất và tạo thu nhập.
Bảng 3.13 Các hình thức sử dụng tiền đền bù
Sử dụng tiền đền bù Số hộ Tỷ lệ
Mua sắm các vật dụng đắt tiền 114 76.0%
Chi cho giáo dục con em 98 65.3% Đầu tư cho các hoạt động chăn nuôi 76 50.7%
Gởi tiết kiệm 41 27.3% Đầu tư vào hoạt động tiểu thủ công nghiệp 19 12.7% Đầu tư buôn bán và dịch vụ 15 10.0%
Chi đào tạo nghề để chuyển đổi 2 1.3%
Nguồn: Số liệu điều tra.
Kết quả cho thấy sự phân bố nguồn lực của hộ gia đình: 50,7% đầu tư vào các hoạt động chăn nuôi, 34,7% dùng tiền đền bù để mua đất nông nghiệp và 22,7% đầu tư vào hoạt động tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và dịch vụ.
Giáo dục và đào tạo cho con em được các hộ gia đình đặc biệt chú trọng 65,3% hộ cho biết họ dùng tiền đền bù để duy trì việc học của con em và mong con cái được “học đến nơi đến chốn”, cho thấy phần lớn gia đình đã nhìn nhận tương lai của thế hệ trẻ và đầu tư nâng cao trình độ học vấn dari từ bây giờ Tuy nhiên, đầu tư cho chuyển đổi nghề sau thu hồi đất lại chưa được quan tâm tương xứng, khi chỉ có 1,3% hộ gia đình sử dụng tiền đền bù để học nghề chuyển đổi nghề Như vậy, một thách thức nan giải đối với các cấp chính quyền và nhà làm chính sách là sau khi dùng hết tiền đền bù, người dân sẽ sống ra sao?
Khoảng 58,6% hộ gia đình sử dụng tiền đền bù để chia cho các con và gửi tiết kiệm Việc phân bổ này giải thích vì sao sau khi thu hồi đất, quy mô hộ gia đình giảm và số người nhàn rỗi, không đi làm tăng lên Khi mất đất nông nghiệp, nhiều người chỉ phụ thuộc vào tiền lãi gửi tiết kiệm hàng tháng, thay cho hoạt động sản xuất, điều này ảnh hưởng đến nguồn lực địa phương Đây là dấu hiệu cho thấy sự phát triển không bền vững trong tương lai nếu các nguồn lực và cơ hội việc làm chưa được phục hồi đầy đủ.
Ảnh hưởng của thu hồi đất đến việc làm
Ngoài những ảnh hưởng của thu hồi đất đối với việc làm đã được đề cập ở phần trên, kết quả khảo sát cho thấy 57,3% hộ gia đình phải gánh chịu chi phí công việc cao hơn Đồng thời, 24,7% hộ gia đình cho rằng quan hệ xã hội và đồng nghiệp đang bị thu hẹp lại.
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến việc làm Ảnh hưởng đến việc làm Số hộ Tỷ lệ
Chi phí công việc cao hơn 86 57.3%
QHXH và đồng nghiệp ít hơn 37 24.7%
Nguồn: Số liệu điều tra.
Ảnh hưởng của thu hồi đất đến thu nhập