1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN điểm TRIẾT học mác LÊNIN về CON NGƯỜI và vấn đề xây DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

31 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm Triết học Mác-Lênin về Con Người và Vấn đề Xây dựng Con Người Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Trần Thị Trang, Võ Thị Nhàn, Võ Ngọc Tố Trinh, Lại Huỳnh Anh Tiến, Trương Thị Thu Thảo, Trần Thị Ngọc Hải, Nguyễn Thị Dương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quế Diệu
Trường học Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2022
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 827,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI THU HOẠCH MÔN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY GVHD TS Nguyễn Quế.

Trang 1

BÀI THU HOẠCH MÔN TRIẾT HỌC

QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI

VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM

4 Lại Huỳnh Anh Tiến 2200012123 134

5 Trương Thị Thu Thảo 2200012124 117

6 Trần Thị Ngọc Hải 2200012122 35

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2022

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 12 năm 2022

NGƯỜI NHẬN XÉT

TS NGUYỄN QUẾ DIỆU

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, nhóm em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Nguyễn Quế Diệu Trong quá trình tìm hiểu và học tập bộ môn Triết học, nhóm em đã nhận được sự giảng dạy và hướng dẫn rất tận tình cũng như tâm huyết của Thầy Thầy đã giúp nhóm tích lũy thêm nhiều kiến thức hay và bổ ích Từ những kiến thức mà Thầy truyền đạt, nhóm em xin trình bày lại những gì mình đã tìm hiểu

về vấn đề: quan điểm triết học Mác-lênin về con người và vấn đề xây dựng con người Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, kiến thức về môn Triết học của nhóm em vẫn còn những hạn chế nhất định Do đó, không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận này Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ Thầy để bài tiểu luận của nhóm em được hoàn thiện hơn

Kính chúc Thầy luôn hạnh phúc và thành công hơn nữa trong sự nghiệp trồng người

Nhóm em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 6

1.1 Vị trí của con người trong triết học Mác-Lênin 6

1.2 Bản chất con người 10

1.3 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội 17

CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 20

2.1 Thực trạng vấn đề khơi dậy khát vọng con người Việt Nam hiện nay 20

2.2 Giải pháp khơi dậy khát vọng con người Việt Nam 25

KẾT LUẬN 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 5

cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tiến trình xây dựng

xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam, nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc

tế, Đảng ta xác định một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người Con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của phát triển, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện và hoàn thiện nhân cách của mình Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: "Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh Nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất" Trong thời đại khoa học - công nghệ ngày càng hiện đại và xu hướng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc khơi dậy khát vọng ý chí phát triển đất nước của con người cần hướng tới việc thích ứng ngày càng sâu rộng với các xu hướng trên Chính vì những lý do

trên, tôi chọn đề tài “Quan điểm của triết học Mác-Lê nin về con người và vấn

đề khơi dậy khát vọng con người ở Việt Nam hiện nay”

Trang 6

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI

1.1 Vị trí của con người trong triết học Mác-Lênin

Bàn về vị trí của con người trong triết học Mác-Lênin còn có nhiều ý kiến khác nhau Không ít các nhà khoa học, xã hội học phương Tây đã phủ nhận học thuyết về con người trong chủ nghĩa Mác-Lênin Họ cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ đề cập nhiều về kinh tế và giá trị, chủ trương đấu tranh giai cấp, bạo lực, chuyên chính mà bỏ rơi con người Như thế là đã phá vỡ mất truyền thống nhân đạo vốn có trong lịch sử tư tưởng nhân loại

Quan điểm khác tỏ ra công bằng hơn khi cho rằng, chủ nghĩa Mác- Lênin, nếu như bàn đến vấn đề con người, đó chỉ là ở giai đoạn đầu, sơ khởi

và thời kỳ C.Mác còn trẻ, chứ sau này nó là học thuyết phi nhân vì nói nhiều đến tính chất quyết định của những quy luật khách quan

Thực ra, chưa có học thuyết nào lại quan tâm đầy đủ đến vận mệnh của con người như chủ nghĩa Mác-Lênin Lịch sử quá trình hình thành triết học Mác-Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, đã chứng tỏ một cách

rõ ràng rằng: Con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là mục đích cao nhất của triết học Mác-Lênin Tư tưởng nhân văn, nhân đạo đó đã

trở thành ánh sáng soi đường cho hành động thực tiễn của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động toàn thế giới trong công cuộc đấu tranh xóa bỏ xã hội

cũ xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Thật vậy, ngay từ khi còn là một học sinh trung học, trong báo cáo tốt nghiệp của mình, C.Mác đã phê phán những tư tưởng ích kỷ, vụ lợi và đi vào phân tích mục đích, ý nghĩa việc chọn nghề của thanh niên là phải xuất phát

từ hạnh phúc của nhân dân và việc hoàn thiện bản thân mình Con người chỉ

Trang 7

có thể hoàn thiện bằng cách làm việc vì sự hoàn thiện của đồng loại, vì hạnh phúc của nhân loại Nghề nghiệp là phương tiện giúp ta tiếp cận với mục đích Chính tinh thần nhân vãn, nhân đạo đó được bồi dưỡng, nâng cao không ngửng trong suốt cuộc đời của C.Mác và Ph.Ăngghen với tư cách là những nhà khoa học, nhà cách mạng Đồng thời, chủ nghĩa nhân đạo đó đã trở thành nhân tố định hướng cho sự phát triển tư tưởng triết học của C.Mác - góp phần vào sự nghiệp giải phóng con người

Xét về lô gic nội tại của triết học Mác-Lênin, những nguyên lý triết học Mác-Lênin nói chung, chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng có mối liên hệ hữu

cơ với tiền đề xuất phát của nó là con người Khắc phục những hạn chế, thiếu sót của những nhà tư tưởng đi trước, triết học Mác-Lênin xuất phát từ con người với tính cách là tiền đề của lịch sử Nhưng đó là con người có đời sống hiện thực nhất định chứ không phải là con người trừu tượng, chung chung, phi hiện thực Tính hiện thực của con người được quy định trước hết bởi sản xuất vật chất, trong đó phương thức sản xuất vật chất không chỉ đơn thuần là sự tái sản xuất ra tồn tại thể xác của các cá nhân, mà hơn thể, theo cách nói của C.Mác, nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ Đây là điều khác biệt căn bản nhất của triết học Mác- Lênin với tất cả các tư tưởng triết học trước đó Và cũng chỉnh từ đó, C.Mác

đi vào nghiên cứu sự vận đông và biến đổi của quá trinh sản xuất vật chất của

xã hội, vạch ra quy luật khách quan của lịch sử

Sự phát triển lực lượng sản xuất là nguyên nhân sâu xa của sự phát triển toàn xã hội, do đó sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất là “tiền đề thực tiễn” tuyệt đối cần thiết để khắc phục sự tha hóa của con người, phát triển con người Lịch sử loài người là lịch sử của những phương thức sản xuất vật chất, thay thế nhau từ thấp đến cao Trên cơ sở đó, triết học Mác-Lênin có được

Trang 8

quan niệm khoa học về giai cấp, đấu tranh giai cấp một thực tế lịch sử mà các nhà tư tưởng trước C.Mác đã phát hiện ra và đi tới lý luận khoa học về nhà nước, về cách mạng xã hội

Như vậy, lý luận triết học Mác-Lênin nói chung, chủ nghĩa duy vật lịch

sử nói riêng cần được hiểu như sự phát triển quan điểm nhân văn ở C.Mác

Nhờ đó, chủ nghĩa nhân đạo được phát triển, đáp ứng yêu cầu giải phóng con người trong thời đại mới, đó là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực Điều này bác

bỏ ý kiến xuyên tạc triết học Mác-Lênin, đem đối lập các quan điểm về giai cấp và đẩu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội và bạo lực cách mạng với quan điểm nhân văn Rõ ràng, không hề có sự đối lập giữa “Mác trưởng thành” xa

rời tính nhân văn với Mác nhân đạo thời trẻ - tác giả Bản thảo kinh tể - triết học năm 1844 Đương nhiên, có thể kể ra những sự thay đổi nhất định trong

quan điểm triết học của C.Mác qua các tác phẩm của ông, song đó chính là quá trình phát triển tư tưởng triết học, trong đó chủ nghĩa nhân đạo luôn thể hiện một cách nhất quán và xuyên suốt Đồng thời, tính nhân văn của triết học Mác ngày càng trở nên sâu sắc vì đã vượt qua được những hạn chế do ảnh hưởng từ chủ nghĩa nhân bản của triết học Phoiơbắc [4]

Triết học Mác-Lênin xuất phát từ con người và nhằm mục đích cao nhất

là giải phóng con người, phát triển con người, song triết học Mác-Lênin lại không thể lấy con người nói chung làm đối tượng nghiên cứu của mình Con người là một khách thể có nội dung hết súc phong phú, sự tồn tại của con người bao hàm nhiều mặt với vô vàn các quan hệ phức tạp, nên con người được nghiên cứu bởi nhiều khoa học khác nhau với phương pháp tiếp cận khác nhau như sinh vật học, tâm lý học, y học, dân tộc học, sử học, văn hóa học.Chỉ với những vấn đề chung nhất về con người như bản chất của con người, thế giới quan, tư duy, đạo đức, tín ngưỡng, thẩm mỹ của cọn người, các quan hệ cá nhân và xã hội, quan hệ giai cấp, dân tộc và nhân loại mới thuộc

Trang 9

lĩnh vực nghiên cứu của khoa học triết học Tất nhiên, triết học không giới hạn đối tượng nghiên cứu của mình ở từng mặt của con người hay bản chất con người trong trạng thái trừu tượng, cô lập với thế giới bên ngoài Nó là một thể thống nhất bao gồm trong đó cả cái tự nhiên lẫn cái xã hội, cái tôi và cải không phải tôi, cái đơn nhất và cái chung, cái bên trong và cái bên ngoài, ý thức và hành động

Chính vì xuất phát điểm của triết học Mác-Lênin là những con người cụ thể, con người hiện thực, đang sống, đang hoạt động trong một môi trường xã hội cụ thể với hoàn cảnh lịch sử cụ thể và những mối quan hệ xã hội cụ thể, cho nên tư tưởng giải phóng con người của triết học Mác-Lênin trước hết là giải phóng từng con người cụ thể trong xã hội Việc giải phóng những con người cụ thể là để đi đến giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và tiến tới giải phóng toàn thể nhân loại như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: Xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt Hơn nữa, tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác-Lênin là giải phóng con người toàn diện về mọi mặt trong đó, đấu tranh giai cấp nhằm thay thế chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất

và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, để giải phóng con người về phương diện kinh tế và chính trị là nội dung quan trọng hàng đầu đồng thời, khắc phục

sự tha hóa của con người cũng như của lao động của họ, biến lao động sáng tạo trở thành chức năng thực sự của con người là nội dung có ý nghĩa then chốt [6]

Việc giải phóng con người hiện thực một cách toàn diện, đầy đủ trên mọi phương diện, ở mọi cấp độ: con người cá nhân, con người giai cấp, con người dân tộc, con người nhân loại đã làm cho tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác-Lênin mạng tính triệt để và khác hoàn toàn về chất so vởi các tư tưởng giải phóng con người của các học thuyết khác trong lịch sử Ví

Trang 10

dụ: khác với tư tưởng giải phóng con người ở phần lớn các tôn giáo - đó là sự giải thoát con người khỏi cuộc sống khổ đau, tạm bợ nơi trần thế để lên cõi Niết Bàn hoặc lên Thiên đường hưởng niêm hạnh phúc ở kiếp sau, khác với

tư tưởng giải phóng con người của một số học thuyết triết học duy vật - chỉ quan tâm đến việc giải phóng con người trong một lĩnh vực nào đó trong đời sống xã hội như pháp luật, đạo đức, chính trị Vĩnh viễn giải phóng toàn thể

xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bứclà tư tưởng căn bản, cốt lõi của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin [1] Tóm lại, con người là điểm xuất phát, giải phóng con người toàn diện trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ là trọng tâm

và mục đích cao nhất của học thuyết Mác-Lênin

1.2 Bản chất con người

Trong lịch sử tư tưởng có rất nhiều cách tiếp cận vấn đề con người Phật giáo xem con người khác con vật ở chỗ có tâm và có thức Tuy vậy, tâm chỉ là một cái gì huyền bí, không sinh ra từ bất cứ một cái gì nhưng lại là nguồn gốc của mọi cái, nguồn gốc của thế giới và mọi vật Thức chỉ là sự giác ngộ về tâm linh, giác ngộ về sự phát triển huyền bí Quan niệm cơ bản của Phật Giáo

về con người và cuộc đời con người tập trung thể hiện ở nhân sinh quan Phật Giáo, cụ thể là ở tứ diệu đế, tứ chân lý vĩ đại về cuộc đời con người: khổ đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế [5]

Các nhà tư tưởng Nho giáo đã tuyệt đối hóa bản chất con người

ở phương diện đạo đức Khổng tử đưa ra quan điểm tính tương cận, tập tương viễn và bản tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau Theo Khổng Tử, bản tính tự nhiên vốn có của con người khi mới sinh ra đều như nhau đó là ngay thẳng do trời phú cho nhưng sau này do hoàn cảnh sống của con người khác nhau, công việc khác nhau, thói quen khác nhau,v.v mà khiến cho bản tính tự nhiên đó ngày càng khác xa nhau Mạnh Tử cho rằng,

Trang 11

bản tính con người là thiện Tính thiện bắt nguồn từ tâm, nhờ tâm mà phân biệt được phải, trái, thiện, ác Khác Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng con người sinh ra vốn đã ác “Nhân chi sơ tính bản ác” Mặc dù có quan niệm khác nhau khi bàn về bản tính tự nhiên vốn có của con người nhưng phần lớn các nhà Nho đều đề cao vai trò của giáo dục trong việc hình thành nhân tính, lưu giữ tính thiện cho con người

Ở phương Tây, một số trào lưu triết học lại giải thích bản chất con người

từ góc độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất Bản chất đó là bản tính tự nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển nòi giống; hoặc tỉm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân riêng lẻ, nghĩa là con người bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó Tính chất siêu hình của các quan điểm này về bản chất con người biểu hiện ở chỗ coi bản chất là cái vốn có trừu tượng và quy nó về bản chất tự nhiên, tách khỏi xã hội và trở nên bất biến

Phoiơbắc đã phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, ông đã đạt tới chủ nghĩa duy vật khi khẳng định, vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà chính tinh thần là sàn phẩm tôi cao của vật chất Song, ông không giữ được quan điếm duy vật triệt để của mình Con người trong triết học của ông

là con người tự nhiên thuần túy chứ không phải là con người lịch sử - xã hội Ông chỉ coi con người là đối tượng cảm tính mà không phải là những thực thể đang hoạt động thực tiễn Ông khồng biết những quan hệ giữa người với người nào khác ngoài tình yêu, tình bạn, hơn nữa, lại là tình yêu, tình bạn đã được lý tưởng hóa Đó là con người trừu tượng nói chung, có tính loài, đứng trên mọi giai cấp, mọi thời đại với bản chất bất biến của nó [4]

Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, Mác và Ph.Ăngghen đã tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong việc nhận thức bản

Trang 12

chất con người Các ông xuất phát từ con người hiện thực, con người thực tiễn

và thông qua hoạt động vật chất cải tạo hiện thực của con người để xem xét bản chất con người Đó là một động vật có tính xã hội với tất cả những nội dung văn hóa - lịch sử của nó Con người sống dựa vào tự nhiên như hểt thảy mọi sinh vật khác Yếu tố sinh vật trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, về phương diện sinh học, có thể khẳng định con người là một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một

bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiên hóa lâu dài của môi trường tự nhiên; giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật Điều đó có nghĩa rằng, con người trước hết cũng giống như mọi động vật khác phải tìm kiếm thức ăn, nước uống, phải “đấu tranh sinh tồn” để

ăn uống, sinh đẻ con cái, tồn tại và phát triển

Khi khẳng định con người là một bộ phận của giới tự nhiên, thuộc

về giới tự nhiên, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đồng thời chỉ

ra, mọi hành vi mà con người tác động đến giới tự nhiên cũng là hành vi tác động đến chính bản thân mình, và rằng, mọi hành vi con người hủy hoại giới

tự nhiên cũng chính là hủy hoại chính bản thân minh và con người sẽ phải trả

giá cho điều đó Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã từng

đưa ra cảnh báo: “chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một tháng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta Thật thế, mỗi thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta những kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhung đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thi nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên đó” Quan điểm này là nền tảng lý luận và phương pháp luận rất

Trang 13

quan trọng, có tính thời sự nhất là trong bối cảnh khủng hoảng sinh thái và yêu cầu phát triển bền vững hiện nay

Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó Điều đó có nghĩa là, con người sở đĩ trở thành con người chính là ở chỗ nó không chỉ sống dựa vào

tự nhiên, lợi dụng cái có sẵn trong tự nhiên Ph.Ăngghen là người đầu tiên đã chỉ ra được bước chuyên biến từ vượn thành người là nhờ có lao động Quá trình con người cải tạo tự nhiên cũng là quá trình con người trở thành người đích thực

Khác với tự nhiên, xã hội không thể có trước con người mà đã ra đời cùng với con người, xã hội cũng không phải là cái gì trừu tượng, bất biến mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội chỉ thích hợp với một phương thức sản xuất nhất định Nhân tố quyết định phương thức sản xuất phát triển lại là lực lượng sản xuất, bao gồm con người với tư cách là người lao động và công cụ lao động Như thế, không phải cái gì khác mà chính là con người, cùng với những công

cụ do họ chế tạo ra, đã quyết định sự thay đôi bộ mặt xã hội Như vậy, xã hội

đã sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì con người cũng sản xuất ra xã hội như thế

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhung thông nhất nhau Hệ thống các quy luật tụ nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến

dị, tiến hóa quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý, ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh vật của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã

Trang 14

hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh vật và mặt xã hội Mối quan hệ sinh vật và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh vật và nhu cầu xã hội trong đời sống con người, như nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần

Trong khi phê phán những quan điểm của Phoiơbắc, xuất phát từ những

cá thể người cô lập, C.Mác đã đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất con người: Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội [2]

Luận điểm trên thể hiện những điểm cơ bản sau: Không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - xã hội Con người luôn

cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó như quan

hệ giai cấp, dân tộc, thời đại, quan hệ chính trị, kinh tế, quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình [3]

Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ trong từng hình thái

xã hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ, thời đại riêng biệt Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang đương đại, vừa theo chiều dọc lịch sử Các quan hệ xã hội quy định bản chất con người bao gồm cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống, bởi trong lịch sử của mình con người bắt buộc phải kế thừa di sản của những thế hệ trước

Trang 15

Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần có nhũng truyền thống thúc đẩy con người vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống đè nặng lên những con người đang sống Do đó, khi xem xét bản chất con người không nên tách rời hiện tại và quá khứ

Vì tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất của con người, cho nên khi các quan hệ xã hội thay đổi thì ít hoặc nhiều, sớm hoặc muộn, bản chất con người cũng sẽ thay đổi theo Con người chỉ có thể bộc lộ được bản chất thực sự của minh trong các quan hệ xã hội cụ thể, xác định, và cũng trong những quan hệ xã hội đó thì bản chất người của con người mới được phát triển Khi đã hình thành, các quan hệ xã hội có vai trò chi phối và quyết định các phương diện khác của đời sông con người khiến cho con người không còn thuần túy là một động vật mà là một động vật xã hội

Cái bản chất không phải là cái duy nhất, mà là bộ phận chi phối trong chỉnh thể cụ thể phong phú, đa dạng Bản chất và thể hiện bản chất của con người có khác biệt Bản chất một con người cụ thể là tổng hòa các quan hệ xã hội vốn có của con người đó và quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của con người đó Còn tất cả những hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu hiện bản chất của họ Sự thể hiện bản chất của con người không phải theo con đường thẳng, trực tiếp, mà thường là gián tiếp, quanh co qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn hóa

xã hội Trong diễn biến đầy mầu thuẫn đó, bản chất thể hiện ra như một xu hướng chung, xét đến cùng mới thấy sự chi phổi của xu hướng đó

Con người là một thực thể sinh vật - xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn và hoạt động xã hội, con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời

Ngày đăng: 26/12/2022, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục & Đào Tạo: “Giáo trình Triết Học” (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), Nxb.Lý luận chính trị, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Triết Học”
Nhà XB: Nxb.Lý luận chính trị
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2005. Giáo trình Triết học Mác-Lênin. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
5. Trung ương giáo hội phật giáo Việt Nam PHẬT HỌC CƠ BẢN Chương trình Phật học Hàm thụ (1998-2022) Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: PHẬT HỌC CƠ BẢN Chương trình Phật học Hàm thụ
Nhà XB: Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh
6. Nguyễn Hữu Vui (chủ biên). 1998. Lịch sử Triết học. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Triết học
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
4. Tư tưởng Âm dương ngũ hành, Khổng Tử, Phật giáo, Platon, Đêmôcrít, triết học thế kỉ XVII – XVIII (Bêcơn, Hốpxơ, Hôn Bách, Điđơrô, Béccơli…), triết học cổ điển Đức (Hêghen, Phoiơbắc…) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w