MỤC LỤC NỘI DUNG 2 CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LENIN VỀ DÂN TỘC 2 1 1 Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc 2 1 1 1 Thị tộc 2 1 1 2 Bộ lạc 2 1 1 3 Bộ tộc 3 1 2 Dân tộc.
Trang 1MỤC LỤC
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LENIN VỀ DÂN TỘC 2
1.1.Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc 2
1.1.1.Thị tộc 2
1.1.2.Bộ lạc 2
1.1.3.Bộ tộc 3
1.2.Dân tộc - hình thức cộng đồng người phổ biến hiện nay 4
1.2.1.Khái niệm dân tộc 4
1.2.2.Đặc trưng của dân tộc 5
CHƯƠNG 2: TÍNH ĐẶC THÙ CỦA SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY 9 2.1 Quá trình hình thành của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa hiện nay 9
2.2 Tính đặc thù của sự hình thành dân tộc Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa hiện nay 10
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề dân tộc luôn có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗi quốc gia có một hay nhiều tộc người cả trong lịch sử và trong thế giới hiện đại Nó ảnh hưởng đến sự ổn định, tồn tại và phát triển của nhà nước, thể chế chính trị ở quốc gia đó nếu không được giải quyết đúng đắn
Độc lập dân tộc gắn với chủ quyền quốc gia đang là một xu thế của thế giới Mỗi quốc gia dân tộc, dù lớn hay nhỏ, đều cố gắng khẳng định giá trị dân tộc, như quyền tự quyết định chế độ xã hội, kinh tế, đường lối phát triển đất nước, khẳng định sự bình đẳng giữa các quốc gia trong sinh hoạt quốc tế Lợi ích quốc gia được các nước đặt lên hàng đầu trong các hoạt động đối nội và đối ngoại Chính phủ các nước đều coi trọng việc xác lập, bảo vệ và củng cố các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, thực thi nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội tích cực, cố gắng tạo lập sự hài hòa lãnh thổ, vùng miền, sắc tộc nhằm hướng tới sự đồng thuận, gắn kết quốc gia
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, vấn đề về dân tộc tại Việt Nam ta vẫn luôn được mọi người quan tâm và bàn luận Để tìm hiểu rõ hơn về
vấn đề này, trong bài tiểu luận lần này, em sẽ đi vào nghiên cứu đề tài: “Phân tích quan điểm của triết học Mác – Lenin về dân tộc, tính đặc thù của sự hình thành dân tộc Việt Nam trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa hiện nay”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục bài tiểu luận gồm 2 phần:
Chương 1: Quan điểm của Triết học Mác- Lenin về dân tộc
Chương 2: Tính đặc thù của sự hình thành dân tộc Việt Nam trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa hiện nay
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LENIN VỀ DÂN TỘC 1.1.Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc
Con người mang bản chất xã hội, tồn tại và phát triển bên dưới những người nhất định cộng đồng hình thức Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ trước đến nay là lịch sử phát triển của các cộng đồng hình thức từ dưới lên: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và dân tộc
Trong các định thức này, dân tộc là cao nhất cộng đồng hình thức của con người, và phổ biến nhất trong các xã hội loài người ngày nay
1.1.1.Thị tộc
Ph Ăngghen chỉ rõ : “ thị tộc ( trong chừng mực những tài liệu hiện có cho phép chúng ta phản đoán ) là một thiết chế chung cho tất cả các dân dã man , cho tận đến khi họ bước vào thời đại văn minh , và thậm chí còn sau hơn nữa ”
Thị tộc có những cơ bản đặc biệt sau: Các thành viên trong thị tộc đều thực hiện công việc chung, trò chơi của các thành viên phụ thuộc vào vị trí của họ trong ban đầu Các thành viên trong thị tộc có chung một tổ hợp và nói cùng một ngôn ngữ; Về tổ chức xã hội, thị tộc bầu ra các trưởng, tộc trưởng và các thủ lĩnh quân đội để điều hành công việc chung của thị tộc
Quyền lực của trưởng nhóm, tộc trưởng và thủ lĩnh quân đội được thực hiện trên cơ sở uy tín và đạo đức cá nhân của họ Các trưởng đoàn, trưởng đoàn, quân trưởng làm các thành viên trong thị trấn bầu cử và có thể được cách chức nếu không hoàn thành chức năng của mình.Mọi thành viên trong thị tộc đều bình đẳng
về quyền lợi và nghĩa vụ
1.1.2.Bộ lạc
Bộ lạc là một cộng đồng được tạo thành từ các tộc người có hệ thống huyết thống quan hệ hoặc hôn nhân
Trang 4Bộ lạc là một cộng đồng dạng cộng đồng phát triển từ thị tộc và được cấu hình để làm liên kết của nhiều thị tộc theo dòng họ Ph.Ăngghen viết: “Một khi dân tộc được coi là đơn vị cơ bản của xã hội, thì toàn bộ hệ thống Thị tộc, thị tộc và bộ lạc phát triển từ hệ thống này với sự cần thiết gần như không thể ngăn cản những điểm đặc biệt sau: Cơ sở kinh tế của bộ lạc là ruộng đất chế độ và công cụ xuất khẩu Mọi thành viên đều làm công việc chung, quan hệ giữa các thành viên trong lĩnh vực sản xuất vật chất là bình thường đẳng
Tuy nhiên, lãnh thổ của bộ tộc ổn định hơn so với lãnh thổ của thị tộc Về tổ chức xã hội, đứng đầu là hội đồng các trưởng gia nhập lạc bộ và có một tù trưởng cao nhất Tất cả các vấn đề quan trọng trong bộ tộc đã được thảo luận và thông qua trong hội đồng này Trong quá trình phát triển, một bộ lạc có thể được chia thành nhiều bộ lạc khác nhau hoặc có sự hợp nhất của nhiều bộ lạc thành một bộ lạc bộ
1.1.3.Bộ tộc
Bộ tộc là một dạng cộng đồng người được hình thành khi xã hội có sự phân chia thành các giai cấp Các bộ tộc được hình thành do sự liên hiệp của nhiều bộ lạc cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định Nếu thị tộc và bộ lạc chỉ được tạo thành từ những người có cùng dòng dõi, thì bộ lạc là sự liên hợp của nhiều bộ lạc không có quan hệ huyết thống Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Do việc mua bán ruộng đất, sự phát triển hơn nữa của sự phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công, giữa buôn bán và giao thông thủy, và các thành viên của thị tộc, chế độ và
bộ lạc đã sớm phải sinh sống và phát triển cùng với nhau; và lãnh thổ của các bộ lạc và bộ lạc đã phải kết nạp những người cũng là đồng bào nhưng không thuộc các nhóm này, tức là người nước ngoài về địa điểm
Tập hợp các tội ác hình thành với chế độ nô lệ; Trong các xã hội bỏ qua chế độ nô lệ, các bộ lạc được hình thành bên cạnh chế độ phong kiến Sự hình thành và phát triển của bộ lạc phức tạp hơn thị tộc và bộ lạc Ở những quốc gia khác nhau, những thời điểm khác nhau, các bộ lạc có những đặc điểm riêng Với
tư cách là một hình thức cộng đồng người trong lịch sử, bộ lạc có những đặc điểm chủ yếu sau: Mỗi bộ lạc có một tên riêng; có lãnh thổ riêng và ổn định; có một
Trang 5ngôn ngữ thống nhất Nhưng do sự kết nối cộng đồng chưa phát triển nên tiếng nói chung đó chưa thực sự bền chặt
Bên cạnh ngôn ngữ chung, phương ngữ của các bộ tộc vẫn được sử dụng rộng rãi Các yếu tố tâm lý và văn hóa phổ biến đã xuất hiện trong bộ lạc Trong vấn đề tổ chức xã hội, việc quản lý công tác xã hội thuộc về Nhà nước Nhà nước
là công cụ do giai cấp thống trị tổ chức và phục vụ lợi ích của giai cấp này Với sự
ra đời của bộ tộc, lần đầu tiên trong lịch sử, sự kiện đối với một số hình thức cộng đồng người được hình thành không phải theo dòng dõi mà trên cơ sở thực tế kinh
tế, lãnh thổ và văn hóa, mặc dù các dòng họ đó chưa thực sự phát triển
1.2.Dân tộc - hình thức cộng đồng người phổ biến hiện nay
1.2.1.Khái niệm dân tộc
Dân tộc là cộng đồng phát triển hình thức Khái niệm dân tộc được sử dụng theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng (nation) chỉ các quốc gia và dân tộc trên thế giới (như Việt Nam, Campuchia, Anh, Pháp…) Theo nghĩa hẹp (ethnie , ethnic group) chỉ cộng đồng dân tộc - đa số và dân tộc thiểu số của một quốc gia (Kinh, Tày, Nùng, Mông, Vân Kiều, Êđê, Khmer, v.v.)
Trong đó, cộng đồng dân tộc là cấu trúc phần tử của quốc gia, dân tộc C.Mác, Ph.Ăngghen và VILênin tuy chưa được đưa ra một định nghĩa đầy đủ về dân tộc, nhưng đã tổng hợp được những nền tảng của dân tộc, phân tích một cách khoa học pháp luật thành hình và phát triển dân tộc, chỉ rõ trường lập trình vô cấp sản xuất về các vấn đề dân tộc Ph.Ăngghen cho rằng giai cấp tư sản càng ngày càng xóa trạng thái phân tán tư liệu sản xuất, tài sản và dân cư và tạo ra “hệ thống dân tộc nhất với một hệ thống bao phủ chính và hệ thống pháp luật, hệ thống lợi ích giai cấp và hàng rào thuế quan”
Như vậy, các nhà kinh điển thấy rằng các tác phẩm nói đến dân tộc với nghĩa là quốc gia, dân tộc và nhấn mạnh đến hệ thống yếu tố và sự ổn định của dân tộc cộng đồng Theo quan điểm của các nhà kinh điển, có thể khái quát: Quốc gia
là một cộng đồng dân cư ổn định, được hình thành về mặt lịch sử trên lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế nhất, kinh tế nhất
Trang 61.2.2.Đặc trưng của dân tộc
Dân tộc là một cộng đồng người ổn định trên một lãnh thổ thống nhất:
Dân tộc là đồng dạng cộng đồng phát triển từ trước đến nay sau bộ tộc, được định hình thành ổn định Lãnh thổ là không tồn tại và phát triển của dân tộc, là định dạng thành các cộng đồng ổn định trong lịch sử
Mỗi quốc gia đều có lãnh thổ riêng, hệ thống nhất và không bị cắt làm hình thành lâu đời và trải qua nhiều thử thách của lịch sử Các quyền thuộc phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia, dân tộc và được xác định bằng đường biên giới quốc gia Nếu trong lãnh thổ dân tộc được chia cắt bởi lãnh chúa ,… thì lãnh thổ của quốc gia đó không bị cắt và ổn định hơn rất nhiều Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có một vùng đất xác định và vùng đất này được coi là vùng đất mà các thành viên trong dân tộc có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ
Hiện nay, lãnh thổ của một dân tộc không chỉ được hiểu là lục địa mà còn bao gồm cả vùng biển, vùng trời, các hải đảo và thềm lục địa , được thể chế hóa bằng luật pháp quốc gia và quốc tế Chủ quyềnquốc gia luôn là câu hỏi thiêng liêng của mọi quốc gia
Dân tộc là một cộng đồng thống nhất về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là đặc trưng cơ bản của dân tộc Vừa là công cụ giao tiếp kết nối các thành viên trong cộng đồng dân tộc, vừa là phương tiện giao thông lưu trữ văn hóa giữa các dân tộc Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia dân tộc có một hệ thống ngôn ngữ được sử dụng chung cho tất cả các cộng đồng dân tộc trong quốc gia, dân tộc đó Nhất tính hệ thống của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện ở hệ thống nhất giữa pháp cấu trúc và vốn từ cơ bản Ngày nay, khi thương mại và hội nhập quốc tế phát triển, ngôn ngữ của một quốc gia có thể được nhiều quốc gia sử dụng, nhưng ngôn ngữ
đó vẫn được xác định (tiếng mẹ đẻ) là ngôn ngữ chính của quốc gia sản xuất sinh ra
Dân tộc là một hệ thống cộng đồng nhất về kinh tế
Trang 7Khoa học đã được chứng minh rằng từ sự phát triển của cộng đồng dân tộc sang các bộ lạc, bộ lạc, yếu tố liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng trên dòng cộng đồng giảm dần, vai trò của kinh tố ngày càng được nâng cao Kinh tế là đường lối sống của con người gắn kết các dân tộc thành một cộng đồng dân tộc
Tuy nhiên, khi một quốc gia, dân tộc được hình thành, thì nền kinh tế được hiểu là nền kinh tế hệ thống nhất của một quốc gia độc lập, tự quản lý Ph.Ăngghen
đã chứng minh rằng cơ sở nhân tố đến quá trình chuyển đổi từ cộng đồng dân tộc thành cộng đồng dân tộc là tác nhân kinh tế Dân tộc tiêu biểu là dân tộc tư sản bao gồm các tầng lớp, các tầng lớp xã hội khác nhau Các giai cấp, tầng lớp xã hội này
có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhau trong một hệ thống tế bào nhất định được hình thành trên lãnh thổ quốc gia, đó là hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Trong thế giới hiện đại, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nhưng mỗi quốc gia, dân tộc vẫn có một nền kinh tế độc lập, không phụ thuộc và phụ thuộc vào các quốc gia khác
Dân tộc là một cộng đồng bền vững về văn hóa , tâm lý và tính cách
Văn hóa là quan trọng đặc biệt phần tử của đồng liên kết, được xem như “bộ gen”, “bản sắc” của mỗi dân tộc cộng đồng Nền văn hóa dân tộc có thể hiện nhiều trạng thái của cộng đồng dân tộc, dân tộc, địa phương, nhưng vẫn là hệ thống hóa nền, có các điểm chung, ổn định Mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng của văn hóa, tạo nên bản sắc của dân tộc Đặc biệt văn hóa của dân tộc thể hiện trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng và các hoạt động sinh học khác nhau của các thành viên trong cộng đồng dân tộc
Xã hội càng phát triển, giao dịch văn hóa càng tăng cường và nhu cầu văn hóa hóa ngày càng cao, giao hòa văn hóa càng nâng cao sức mạnh nhưng hầu hết các dân tộc vẫn giữ được các sắc thái văn hóa Lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc luôn liên kết với cuộc đấu tranh giữ bản sắc văn hóa, chống nguy cơ đồng hóa Trong tiền cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, các quốc gia, dân tộc hiện đại nhận thức được muốn bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc thì phải có hội nhập nhưng không được “hòa tan”
Trang 8Mỗi dân tộc cũng có tâm lý, cách thức riêng và có thể hiện qua sinh vật chất
và tinh thần của dân tộc đó, nhất là qua phong tục, quán, tín ngưỡng và đời sống văn hóa của dân tộc đó trở thành lương tâm của mọi người trong cộng đồng dân tộc ở chỗ dù phải rời khỏi lãnh thổ của dân tộc để sống trong một đồng hoàn toàn cộng đồng nhưng các đặc điểm, tính cách văn hóa vẫn được lưu giữ lâu dài
Dân tộc là một cộng đồng người có một nhà nước và pháp luật thống nhất
Đó là điểm đặc biệt của quốc gia dân tộc để phân biệt với quốc gia theo nghĩa dân tộc (đa số hay thiểu số) Làm câu hỏi của trường và sự phát triển của hàng hóa lưu trữ, giai cấp tư sản đã xóa phân tán trạng thái về kinh tế, chính trị và
“cơ sở”, hình thành hệ thống “liên minh” về lợi ích
Kết quả là hình dạng thành “hệ thống phủ chính”, “hệ thống pháp luật”,
“thuế quan duy nhất” Vì vậy, nhà nước và hệ thống luật pháp là một dấu ấn của quốc gia và thế giới ngày nay, cũng là một khái niệm phổ biến xung quanh thế giới.Nhà nước - quốc gia là một đơn vị không thể tách rời, dân tộc nào cũng có nhà nước và nhà nước nào cũng thuộc về một dân tộc nhất định Dân tộc có thể phát triển từ một bộ lạc và nó cũng có thể được tạo ra từ một bộ lạc số
Tuy nhiên, quan hệ giữa các thành viên bộ lạc vẫn còn lỏng lẻo và yếu kém, trong khi quan hệ trong cộng đồng dân tộc ngày càng ổn định và lâu dài Tính cộng đồng lâu bền này tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia và đảm bảo cho một quốc gia có thể tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử khác nhau, kể cả khi
có giặc ngoại xâm hay xung đột
Sự kết hợp các đặc điểm cơ bản về lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế, văn hóa, tâm
lý, tính cách, nhà nước và pháp luật thống nhất làm cho cộng đồng dân tộc phát triển nhất và lâu dài nhất so với bất kỳ hình thức cộng đồng nào khác trong lịch sử Trong tương lai, dân tộc sẽ tồn tại lâu dài, kể cả sau khi các giai cấp không còn trong lịch sử
Quá trình hình thành các dân tộc ở châu Âu và đặc thù sự hình thành dân tộc ở châu Á
Trang 9Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, dân tộc là một cộng đồng hình thức liên kết với xã hội có giai cấp, nhà nước và thể chế chính trị Lịch sử cho thấy, một quốc gia có thể được hình thành từ một bộ tộc đang phát triển, nhưng hầu hết các trường hợp đều được hình thành trên cơ sở hợp nhất của nhiều bộ lạc và tộc người C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng ở châu Âu, các quốc gia được hình thành theo hai phương thức, chủ yếu liên kết với sự hình thành và phát triển của tư bản chủ nghĩa Ở thứ nhất phương thức, các tộc người được định hình từ nhiều bộ lạc khác nhau trong một quốc gia
Quá trình thành dân tộc trên vừa nước là quá trình thống nhất đất, trường nhất hệ thống; đồng thời cũng là quá trình đóng các lạc bộ khác nhau thành một quốc gia, dân tộc, một quốc gia độc lập, như ở Đức, Ý, Pháp, Ở đây không có quá trình đồng hóa các lạc bộ mà chỉ có quá trình thống nhất các lãnh thổ phong kiến để thành lập một quốc gia bao gồm một số quốc gia, trong đó mỗi quốc gia được định hình thành từ bộ tộc của mình , như trường hợp ở Nga, Áo, Hungary, Ở các nước Châu Âu, sự hình thành và phát triển của dân tộc trải qua một số thời kỳ chính: gắn liền với cách mạng tư vấn sản xuất cấp lãnh đạo ; Sự hình thành các tộc người trong lịch sử thế giới phụ thuộc vào sự kiện và hoàn cảnh sử dụng cụ thể của từng quốc gia, từng khu vực
Sự hình thành các quốc gia và dân tộc ở phương Đông có các nét đặc thù Thực hiện lịch sử cho thấy ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam các dân tộc được hình thành từ rất sớm, không liên kết với sự việc ra mắt tư vấn chủ sở hữu Tính đặc thù của hình thành dân tộc Việt Nam Dân tộc Việt Nam được định hình thành
từ rất sớm trong lịch sử gắn liền với yêu cầu nước và giữ nước, với công cụ chống ngoại cảnh, cải tạo thiên nhiên để bảo vệ nền văn hóa dân tộc, điều này tạo nên nét độc đáo trong cố kết cộng đồng các dân tộc Lịch sử đã chứng minh từ hàng nghìn năm trước trên lãnh thổ Việt Nam đã có một cộng đồng cư dân với đầy đủ các đặc điểm của một dân tộc
Dân tộc Việt Nam đã có một ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, nhà nước, luật pháp và văn hóa thống nhất Khoa học lịch sử đã khẳng định, quá trình dựng nước
Trang 10của người Việt bắt đầu từ khi nước Đại Việt giành được độc lập (cách đây hơn 1.000 năm) cho đến thời Lý Trần
CHƯƠNG 2: TÍNH ĐẶC THÙ CỦA SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY 2.1 Quá trình hình thành của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa hiện nay
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc đa tộc người, đã trãi qua những bước thăng trầm trong lịch sử, là nước chịu nhiều tác động của những quan hệ giữa bản thân với các quốc gia dân tộc trên thế giới, có nhiều lúc được độc lập tự chủ, cũng có khi đắm mình trong đêm tối nô lệ Những thữ thách mang tính sống còn của tổ quốc đã rèn đúc cho các tộc người Việt Nam một ý chí phải tựa vào nhau mà sống, phải trăm người như một, đoàn kết một lòng chống giặc ngoại xâm, cũng như để xây dựng đất nước Trãi qua gần một trăm năm chiến đấu chống giặc ngoại xâm, kết thúc bằng hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đất nước được độc lập, các tộc người được giải phóng Toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt các tộc người, Nam, Bắc, xuôi ngược, lại phải gồng sức lên để xây dựng một đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh” theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ một điểm xuất phát thấp kém, với 80 % nhân dân còn sinh sống bằng nông nghiệp, đất nước lại bị tàn phá và đang gánh nhiều hậu quả trực tiếp của cuộc chiến tranh như thiếu kinh nghiệm xây dựng đất nước, thiếu cán bộ, thiếu thợ lành nghề, lại phải thay đổi thiết chế xã hội từ thời chiến sang thời bình, lại phải giải quyết những hâu quã của chiến tranh như gia đình thương binh, liệt sĩ, trẻ con mồ côi, nạn nhân chất độc màu da cam …Công cuộc xây dựng đất nước lại nằm trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu,
có thuận lợi nhưng cũng lại đầy những khó khăn, bất trắc, mà ở đây, vấn đề dân tộc và tôc người vẫn luôn là vấn đề phải quan tâm Ở đây,việc phát huy nội lực của khối đại đoàn kết dân tộc của các tộc người phải đạt ra như một yêu cầu hàng đầu