Các biện pháp sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại ở trường THPT .... Thực hiện theo yêu cầu đổi mới cách dạy và học của Bộ Giáo dục, ở một số tr
Lý do ch ọn đề tài
Xu thế toàn cầu hóa hiện nay đang đặt các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trước nhiều thách thức mới Để hội nhập với thế giới, thích ứng để vươn lên nhưng không bị “hòa tan” thì vai trò của giáo dục lại đặc biệt thêm quan trọng Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh: “Tri thức đã trở thành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế, tất cả các nền kinh tế ớn tr n thế giới, các quốc gi đều thức r về v i tr củ giáo dục trong việc y dựng ngu n nh n ực chất ượng c o tạo đ n b y qu n trọng để th c đ y o động sản uất, tạo động ực tăng trưởng và phát triển kinh tế - ã hội một cách bền v ng” [40] Để giáo dục có thể phát huy đƣợc tối đa vai trò của nó thì việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là vô cùng quan trọng.
Trong bối cảnh cấp thiết đó, môn Lịch sử với đặc thù của một môn
Khoa học xã hội, phát triển cho học sinh về tƣ duy lịch sử, kĩ năng khai thác và sử dụng các nguồn sử liệu, tƣ duy hệ thống, tƣ duy phản biện, Từ đó giúp học sinh có thể nhận thức và vận dụng đƣợc các bài học lịch sử để giải quyết các vấn đề của thực tế cuộc sống, góp phần hình thành nên những phẩm chất của công dân Việt Nam, công dân toàn cầu trong xu thế của thời đại.
Tuy nhiên, trên thực tế, do nhiều yếu tố khác nhau, việc DHLS chƣa thực sự phát huy được giá trị và vai trò vốn có của nó.Dưới đây là những con số không biết nói dối:
Trong một cuộc phỏng vấn của ngắn do phóng viên của Kênh Chuyển động 24h, đƣợc tiến hành năm 2015 với một số học sinh trên hai tuyến phố Tây Sơn và Đặng Tiến Đông ở Hà Nội, có liên quan đến vị vua Quang Trung Khi đƣợc hỏi về mối quan hệ giữa Quang Trung và Nguyễn Huệ là gì? Trong
40 học sinh được phỏng vấn thì có tới 37 bạn trả lời rằng họ là hai người khác nhau, là anh em, bạn chiến đấu, bố con, hay lại cho rằng Quang Trung là Nguyễn Du Chỉ có 3 học sinh trả lời đúng Quang Trung, Nguyễn Huệ là cùng một người, thì lại đưa ra những thông tin sai lệch về vị vua này [48] Mặc dù cách đặt câu hỏi của phóng viên chƣa thực sự khoa học và có phần “bẫy” người trả lời Tuy nhiên, nếu học sinh thực sự có kiến thức cơ bản thì điều này đãkhông xảy ra.
Bên cạnh đó, kì thi Đại học năm 2011, cả nước rúng động khi có đến hàng nghìn bài thi Lịch sử bị điểm 0 Năm 2015, hàng loạt điểm thi đóng cửa trong ngày cuối cùng do không có thí sinh dự thi môn này Hay theo thống kê, trong hai kì thi THPT quốc gia hai năm gần đây 2017 và 2018, môn
Sử là môn có điểm số trung bình thấp nhất (4,6 năm 2017 và 3,9 năm 2018), trong hơn 565.000 thí sinh dự thi Lịch sử, có đến 83,24% đạt điểm dưới trung bình, [42]
Trong khi đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ mạnh mẽ, nhiều hình thức tổ chức dạy học hiện đại xuất hiện và ngày càng thể hiện ƣu thế nổi bật Thực hiện theo yêu cầu đổi mới cách dạy và học của Bộ Giáo dục, ở một số trường tại một vài tỉnh, thành phố cũng đã tiến hành áp dụng các phương pháp, hình thức khác nhau như: dạy học kết hợp, lớp học đảo ngược, phương pháp trực quan, sử dụng CNTT, tổ chức các buổi học tập ngoại khóa,… và đem đến kết quả tương đốikhả quan trong việc nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.
Mô hình lớp học đảo ngƣợc là một trong những hình thức tổ chức dạy học mới Hình thức này đã được áp dụng ở nhiều nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới nhƣ: Mĩ, Australia,… và đem đến hiệu quả tích cực, với những ưu điểm cụ thể như: thúc đẩy người học tích cực trong học tập; tạo cơ hội cho học sinhrèn luyện những kĩ năng trực tiếp ở trên lớp: làm việc nhóm, trình bày vấn đề; tăng khả năng tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh Hiện nay, mô hình này bước đầu đã được áp dụng trong dạy học các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế do nhiều yếu tố chi phối nên còn những hạn chế nhất định.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường Trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
L ị ch s ử nghiên c ứ u v ấn đề
Các công trình nghiên c ứu ngoài nướ c
Trên thế giới, việc nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngƣợc ngày càng trở nên phổ biến, cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, sách chuy n khảo:
Năm 1993, trong cuốn sách “From Sage on the Stage to Guide on the Side” (Từ nhà hiền triết tr n bục giảng đến người hướng dẫn b n cạnh học sinh), Alison King đã chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng thời gian trên lớp cho các hoạt động có ý nghĩa thay vì truyền tải thông tin đơn thuần Mặc dù chƣa đƣa ra một khái niệm về lớp học đảo ngƣợc nhƣng đây đƣợc coi là tiền đề cho sự ra đời của mô hình này.
Năm 1997, Eric MaZur trong cuốn sách của mình “Peer Instruction: A User's Manual” lần đầu tiên mô hình học tập đảo ngƣợc đƣợc ông trình bày.
Cuốn “Flip Your Classroom: Reach Every Student in Every Class Every D y” (Đảo ngược ớp học củ bạn: hướng đến mỗi học sinh trong mỗi ớp hàng ngày) của J.Bergmann và A.Sams xuất bản năm 2012 đã giới thiệu một cách cơ bản và toàn diện về lớp học đảo ngƣợc trên cơ sở thu đƣợc từ những buổi học thực nghiệm của chính họ: cách thức để thực hiện, vai trò, ý nghĩa (giúp người học có thể nói lên được ý kiến của bản thân, giúp họ học tập dễ dàng hơn, làm tăng sự tương tác giữa người dạy và người học,…), những vấnđề đặt ra và những giải đáp trong quá trình tiến hành mô hình,…
Hay trong cuốn “The flipped classroom: a model for active student learning” (Lớp học đảo ngược: một mô hình n ng c o tính tích cực học tập củ học sinh) của G.Karlsson và S.Janson năm 2016 trình bày về cấu trúc để tiến hành một giờ học áp dụng mô hình đảo ngƣợc (gồm 2 phần: ở nhà thì người học sẽ xem video, đọc sách, tài liệu và trả lời các câu hỏi; còn trên lớp sẽ là thời gian dành cho việc tìm hiểu sâu hơn và người học có thể sáng tạo, phát triển tư duy), về các bước tiến hành một giờ học áp dụng mô hình đảo ngược (tạo các bài thuyết trình, bài giảng trực tuyến; tạo sự tương tác trực tuyến giữa người dạy và người học thông qua các trang học trực tuyến,…).
Thứ h i, tạp chí, báo cáo nghi n cứu về ớp học đảo ngược:
Có rất nhiều bài báo, tạp chí đã trình bày những nghiên cứu về vấn đề này, nổi bật nhƣ năm 2000, Lage, Platt và Treglia đã cho xuất bản bài báo
“Inverting the Classroom: A Gateway to Creating an Inclusive Learning Environment” (Đảo ngược ớp học: một cánh cử để tạo r một môi trường học tập hội nhập) trong đó trình bày những nghiên cứu của họ về lớp học đảo ngược ở bậc Đại học, khẳng định có thể tạo sự đa dạng trong phương pháp giảng dạy bằng việc đƣa thời gian giảng dạy, truyền đạt kiến thức trên lớp ra khỏi lớp học.
Năm 2000, tại một Hội nghị giáo dục ở Mĩ, J Wesley Baker đã trình bày một bản báo cáo mang tên “The “C ssroom F ip”: Using Web course management tools to become the Guide by the Side” (“Lớp học đảo ngược”:
Sử dụng các công cụ quản í Web kho học để trở thành người hướng dẫn b n cạnh bạn), thảo luận về lớp học đảo ngƣợc và đƣa ra một mô hình mẫu của một lớp học đảo ngƣợc.
Tại rất nhiều ngôi trường ở nhiều nơi trên thế giới thì mô hình này đã đƣợc áp dụng vào giảng dạy và đạt đƣợc nhiều kết quả khả quan.
Một trong những người đi tiên phong cho việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào giảng dạy là Salman Khan –một nhà giáo dục người Mĩ Năm
2004, anh tiến hành quay các video giảng dạy và vài năm sau đó thành lập nên một tổ chức giáo dục mang tên mình nhằm tạo ra các trang học trực tuyến cho việc áp dụng mô hình trên vào giảng dạy [50].
Các giáo viên hóa học của trường trung học Woodland Park (Mĩ) cũng đã tiến hành áp dụng mô hình này vào giảng dạy và nhận được sự hưởng ứng lớn từ phía học sinh [44].
Mô hình nhanh chóng lan ra mọi cấp bậc học, ở nhiều nơi khác ngoài nước Mĩ như Thổ Nhĩ Kì, Áo,…
Các công trình nghiên c ứu trong nướ c
Ở Việt Nam, trong một vài năm gần đây mô hình này cũng nhận đƣợc sự quan tâm ngày một lớn từ phía các nhà nghiên cứu và giáo viên thể hiện ở các bài báo, các nghiên cứu, công trình khoa học Cụ thể nhƣ sau:
Trong bài nghiên cứu “Mô hình lớp học đảo trình trong b i dưỡng kỹ năng CNTT cho sinh vi n sư phạm” đƣợc đăng trên Tạp chí Khoa học dạy nghề, số 43, 44, năm 2017, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, hai tác giả Nguyễn Hoài Nam và Vũ Thái Giang đã đƣa ra những phân tích về lí thuyết mô hình lớp học đảo ngƣợc và khẳng định tính khả thi của việc áp dụng mô hình này vào trong việc bồi dƣỡng kĩ năng sử dụng CNTT Đồng thời khẳng định:
“Trong mô hình này, tiến trình học tập không chỉ được đảo, mà còn nhấn mạnh vai trò chủ động tích cực của người học – lấy người học là trung tâm, đ ng thời thấy rõ vai trò quan trọng củ người thầy trong việc thiết kế và tổ chức các hoạt động và nội dung học tập” [24-tr.52]
Tác giả Nguyễn Văn Lợi với “Lớp học đảo nghịch – mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến” đƣợc đăng trên Tạp chí Khoa học, tr.56-61, Đại học Cần Thơ, đã trình bày một số vấn đề lí luận và thực tiễn ứng dụng một mô hình dạy học kết hợp có tên là lớp học nghịch đảo Qua tổng hợp nghiên cứu, phân tích điểm mạnh và hạn chế của mô hình này, người viết khẳng định có thểứng dụng mô hình dạy học này vào Việt Nam
Hai tác giả Lê Thị Phượng và Bùi Phương Anh với bài “Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng ực tự học cho học sinh” đƣợc đăng trên Tạp chí Quản lí Giáo dục, số 10, năm 2017, đã trình bày những khái niệm chung về lớp học đảo ngƣợc và năng lực tự học, đƣa ra nguyên tắc tổ chức, đặc điểm của mô hình, đề xuất quy trình tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc trên cơ sở áp dụng công cụ Edmodo và tiến hành thực nghiệm, đƣa ra đánh giá về năng lực tự học của học sinh khi mô hình đƣợc áp dụng Tác giả cũng khẳng định: “Phương pháp này gi p học sinh có thêm sự hứng thú trong việc tìm hiểu bài, phát huy các kĩ năng, đ ng thời cho phép giáo viên có thêm thời gian để củng cố kiến thức, đi s u hơn vào nội dung bài học” [26-tr.8]
Hay, hai tác giả Nguyễn Quốc Vũ, Lê Thị Minh Thanh với “Áp dụng mô hình Lớp học đảo ngược dạy kĩ thuật số nhằm phát triển năng ực tư duy sáng tạo cho sinh viên” đƣợc đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục, tập 14, số
1, năm 2017, tr.16-28, Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đã trình bày một cách khái quát vềcơ sở lí thuyết và bản chất của mô hình lớp học đảo ngƣợc, khái niệm về năng lực tƣ duy sáng tạo, quy trình thực hiện khi áp dụng mô hình vào trong giảng dạy và sau đó tiến hành thử nghiệm, đánh giá kết quả Qua đó, hai tác giả khẳng định: “Thay vì ng i lắng nghe các GV giảng bài, SV có dành nhiều thời gian hoạt động hợp tác tr o đổi Do tăng số giờ thực hành thảo luận tại lớp, SV phát triển được kĩ năng tr o đổi, kĩ năng diễn đạt suy nghĩ củ mình SV thường uy n được GV kiểm tr đánh giá, n n biết kiến thức mình còn thiếu và yếu vấn đề gì và tự bổ sung trong quá trình tự học” [32-tr.27]
Ngoài ra, còn có nhiều bài báo bàn về mô hình lớp học đảo ngƣợc, cụ thể nhƣ: “Lớp học đảo ngược” – Tô Thụy Diễm Quyên, tác giả đã tiến hành áp dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc vào trong giảng dạy và chỉ ra những lợi ích cùng khó khăn khi sử dụng mô hình Qua thực tế giảng dạy, tác giả khẳng định với mô hình này, học sinh đƣợc chủ động nên giờ học không bị nhàm chán, mặt khác, học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi, với mọi thiết bị chỉ cần thiết bị đó có thể kết nối Internet [41]
Hay, bài viết “Áp dụng mô hình ớp học đảo ngược – Flipped classroom – nhằm mục đích b i dưỡng năng ực người học”, tác giả Nguyễn Đăng Bắc đã phân tích một cách ngắn gọn về những điểm mạnh và hạn chế của mô hình lớp học đảo ngƣợc Đồng thời khẳng định có thể áp dụng mô hình này vào trong giảng dạy khi điều kiện cơ sở vật chất phục vụ giáo dục đang ngày một tốt lên Và nhận định, với việc áp dụng mô hình này, ý thức, thái độ và trách nhiệm học tập của người học sẽ được nâng cao; đồng thời tạo ra thói quen học hợp tác ở người học [39]
Hai năm trở lại đây, nhiều buổi tập huấn cho giáo viên, giảng viên về mô hình lớp học đảo ngƣợc đã đƣợc tiến hành.Qua đó, mô hình này cũng dần được áp dụng nhiều hơn, xuất hiện các ngôi trường thí điểm phục vụ cho các chuyên gia giáo dục nghiên cứu về hiệu quả của mô hình này trong giáo dục.
Tháng 12 năm 2017, một lớp tập huấn với tên gọi “N ng c o năng ực giảng vi n sư phạm về tư duy phản biện và ớp học đảo ngược”diễn ra trong ba ngày đã đƣợc diễn ra với sự tham gia của 130 học viên là các giảng viên, các nhà quản lí giáo dục từ một số trường Đại học ở khu vực phía Bắc Tại lớp tập huấn, các học viên đƣợc giới thiệu và thảo luận về lớp học đảo ngƣợc, sự khác nhau giữa phương pháp dạy học cùng những lợi ích cũng như hạn chế của lớp học truyền thống và lớp học đảo ngƣợc, đồng thời khám phá những cơ hội để áp dụng lớp học đảo ngƣợc vào việc giảng dạy các môn học khác nhau, cách lập kế hoạch và thiết kế mô hình lớp học này và áp dụng nó vào công việc giảng dạy.
Bên cạnh các buổi tập huấn chuyên môn chung do các tổ chức giáo dục tổ chức thì ở một số trường, các buổi tập huấn như vậy cũng được tiến hành
Ví dụ như ở trường Đại học Lạc Hồng (ngày 9/1/12019), trường THPT chuyên Ngoại ngữ (Đại học quốc gia Hà Nội) vào tháng 10 năm 2017 Hay, ngày 5/12/2015, một Hội thảo về phương pháp dạy học Blended learning – dạy học đa phương thức hay còn gọi là dạy học hỗn hợp (trong đó có mô hình lớp học đảo ngược)đã được diễn dưới sự phối hợp của trường THPT Olympia với Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trong thực tế giảng dạy thì lớp học đảo ngƣợc cũng đã đƣợc đƣa vào giảng dạy ở một số ngôi trường như Đại học FPT, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, và các trang web giáo dục trực tuyến nhƣ Zuni.vn và Moon.vn; ở một số môn nhƣ Lý, Hóa, Sinh, Anh,…
Tất cả những nghiên cứu trên là cơ sở, tiền đề và định hướng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện khóa luận.
M ục đích và nhiệ m v ụ nghiên c ứ u
Mục đích nghiên cứu củ đề tài: từ việc nghiên cứu thực trạng, vai trò, ý nghĩa của mô hình lớp học đảo ngƣợc trong DHLS, đề tài đề xuất các biện pháp tổ chức dạy và học phần Lịch sử thế giớilớp 10 (chương trình chuẩn) áp dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông.
Nhiệm vụ nghi n cứu: Để thực hiện đƣợc mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận cơ bản của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong DHLS.
- Tiến hành điều tra, khảo sát đối với giáo viên và học sinh ở một số trường để đánh giá thực tế thực trạng của việc dạy và học hiện nay, nhất là việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong DHLS.
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại ở trường THPT.
- Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc đƣợc đề xuất Từ đó rút ra kết luận và ý nghĩa khoa học của đề tài.
Đối tƣợ ng, ph ạ m vi nghiên c ứ u
Đối tượng nghi n cứu: quá trình DHLS ở trường THPT với việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc.
- Nội dung: đề tài nghiên cứu phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10, chương trình chuẩn.
- Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm: một số trường THPT trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh.
Phương pháp nghiên cứ u
- Nghi n cứu í uận: các nguồn tài liệu về Tâm lí học, Giáo dục học,… đặc biệt là lí luận về Phương pháp DHLS, các sách, báo, bài nghiên cứu,… liên quan tới mô hình lớp học đảo ngƣợc, các tài liệu có liên quan đến phần
Lịch sử thế giới cận đại lớp 10.
- Nghi n cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát giáo viên và học sinh bằng phiếu hỏi.
- Thực nghiệm: soạn bài và tiến hành thực nghiệm sƣ phạm sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10.
- Sử dụng phương pháp toán học: thống kê, tập hợp và xử lí các số liệu thu đƣợc để phân tích, nhận xét, rút ra kết luận và nêu ý kiến.
Gi ả thuy ế t nghiên c ứ u
Mô hình lớp học đảo ngƣợc là một hình thức tổ chức lớp học hiện đại, nếu mô hình này đƣợc sử dụng một cách hợp lí, linh hoạt theo các biện pháp đề xuất trong đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học trong môn Lịch sử ở trường THPT.
Đóng góp củ a khóa lu ậ n
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong DHLS ở trường THPT.
- Đánh giá đƣợc thực trạng của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong DHLS ở trường THPT hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong
DHLS ở trường THPT theo hướng phát triển kĩ năng tự học, hợp tác và sử dụng CNTTcho họcsinh nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học lịch sử.
- Đánh giá đƣợc thực trạng của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong DHLS ở trường THPT hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong
DHLS ở trường THPT theo hướng phát triển kĩ năng tự học, hợp tác và sử dụng CNTT cho học sinh nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học lịch sử.
C ấ u trúc khóa lu ận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung Khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Chương 2: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường THPT Thực nghiệm sư phạm
CƠ S Ở LÍ LU Ậ N VÀ TH Ự C TI Ễ N C Ủ A VI Ệ C S Ử D Ụ NG MÔ HÌNH L Ớ P H Ọ C ĐẢ O NGƢỢ C TRONG D Ạ Y H Ọ C L Ị CH S Ử Ở TRƯỜ NG THPT
Cơ sở lí lu ậ n
1.1.1 Các khái ni ệm cơ bả n
1.1.1.1 Hình thức dạy học kết hợp (Blended learning)
Blended learning hay còn gọi là dạy học kết hợp là một hình thức dạy học có sự kết hợp giữa phương thức dạy học truyền thống ở trên lớp với phương thức dạy học trực tuyến thông qua Internet [43] Để có thể áp dụng đƣợc Blended learning vào trong giảng dạy, điều kiện tiên quyết là phải có sơ sở vật chất hiện đại cho dạy học (máy chiếu, máy tính, Internet,…), ngoài ra cần phải có nguồn tài liệu học tập online phong phú và đòi hỏi khả năng sử dụng CNTT thành thạo của giáo viên và học sinh
Blended learning hiện có 6 mô hình đang đƣợc áp dụng và đem đến hiệu quả cao trong giáo dục: Face-to-Face Driver, Rotation, Flex, Online Lab, Self-Blend, Online Driver
Face-to-Face Driver (Hướng dẫn trực tiếp), với mô hình này, người dạy và người học trao đổi trực tiếp với nhau, mặt đối mặt Địa điểm học tập có thể là lớp học hoặc cũng có thể là một không gian khác với sự kết nối của Internet
Rotation (Luân phiên/Xoay vòng/Hoán đổi), đƣợc chia nhỏ thành
Station Rotation (Hoán đổi trạm học tập), Flipped classroom (Lớp học đảo ngƣợc), Individual Rotation (Xoay vòng cá nhân),… Với mô hình này, giáo viên sắp xếp một lịch trình cho quá trình học hoặc một tiết học cho nhiều các hoạt động học tập nhƣ dự án, thảo luận nhóm, cá nhân,… và nhất định phải có học trực tuyến
Flex (Mô hình linh hoạt), đây là mô hình mà quá trình dạy và học diễn ẽ ế ạ ế ế ả ập,… liên quan tới bài học trên các trang Web học tập online để học sinh truy cập vào đó và tiến hành quá trình học tập của mình
Online Lab (Phòng học trực tuyến), với mô hình này học sinh sẽ đƣợc học tại phòng học riêng Ở đó, không có giáo viên giảng dạy trực tiếp mà chỉ có các trợ giảng giám sát Các bài giảng sẽđƣợc giáo viên truyền đạt đến học sinh thông qua hệ thống máy chiếu và loa trong phòng
Self-Blend (Tự kết hợp), ở mô hình này, học sinh có thể tự chọn kết hợp các chương trình học, khóa học khác nhau, có thể lựa chọn học trên lớp, tại nhà hoặc trực tuyến
Online Driver (Học trực tuyến), với mô hình này, không gian học tập là không cố định Giáo viên và học sinh thực hiện việc trao đổi thông tin, giảng dạy và học tập thông qua Internet
1.1.1.2 Mô hình lớp học đảo ngược (Flipped classroom)
Flipped classroom hay còn gọi là lớp học đảo ngƣợc, là một trong những mô hình của hình thức dạy học kết hợp Với mô hình này, cấu trúc của một lớp học truyền thống bị phá vỡ, những gì ở lớp học thông thường diễn ra trên lớp thì sẽ trở thành hoạt động diễn ra ở nhà và ngƣợc lại (Hình 1.1)
Hình 1.1 So sánh l ớ p h ọ c truy ề n th ố ng và l ớ p h ọc đảo ngƣợ c [1]
[1] https://lophoccongdong.com/phuong-phap-lop-hoc-dao-nguoc-la-gi/
Cấu trúc của một bài học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc (Hình 1.2) nhƣ sau:
Hình 1.2 S ự khác nhau v ề c ấ u trúc gi ữ a l ớ p h ọ c truy ề n th ố ng và l ớ p h ọc đảo ngƣợ c [2]
Nếu như một lớp học bình thường, trước khi lên lớp học sinh đọc trước bài, nghe giảng trên lớp và về nhà thì làm những bài tập mà giáo viên giao cho thì với lớp học đảo ngƣợc, quá trình này hoàn toàn ngƣợc lại, xáo trộn lại Theo đó, giáo viên sẽ thiết kế bài giảng, bài tập, các đoạn video ngắn,… trên các trang Web học tập online và học sinh sẽ lên đó nghe giảng, hoàn thành các bài tập trước ở nhà còn thời gian trên lớp là để thảo luận, tìm hiểu sâu hơn, kĩ hơn các vấn đề khó, các vấn đề mà học sinh quan tâm
Hay theo nhƣ thang nhận thức thì ở mô hình lớp học đảo ngƣợc, các mức độ nhận biết, ghi nhớ các kiến thức cơ bản của bài sẽ đƣợc tiến hành ở nhà thông qua việc hoàn thành các bài tập trên Web học online mà giáo viên đã thiết kế Thời gian trên lớp là dành cho việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực cao hơn: nhận xét, phân tích, đánh giá, vận dụng, sáng tạo Điều này là ngược lại hoàn toàn với một mô hình lớp học thông thường
[2] http://thpttranhuutrang.hcm.edu.vn/flipped-classroom/lop-hoc-nghich-dao-mo-hinh-day-
Nhƣ vậy, lớp học đảo ngƣợc là một mô hình lớp học mà ởđó, tất cả các hoạt động dạy học được thực hiện “đảo ngược” so với thông thường Sự “đảo ngƣợc” ởđây đƣợc thể hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các hoạt động dạy học khác với cách truyền thống trước đây của người dạy và người học Với mô hình này, giáo viên cung cấp bài giảng đã được số hóa (bài giảng điện tử, tài liệu học tập, videoclip, ) để học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới ở nhà Tại lớp, học sinh đặt câu hỏi, thảo luận để giải đáp các thắc mắc dưới sựhướng dẫn của giáo viên
Mô hình lớp học đảo ngƣợc mang những đặc điểm riêng và trái ngƣợc hoàn toàn so với mô hình lớp học thông thường
Thứ nhất, hoạt động ở nhà và trên lớp đƣợc đảo ngƣợc lại Thay vì nghe giảng và ghi chép kiến thức cơ bản trên lớp, về nhà làm bài bài tập thì với mô hình này, học sinh sẽ nghe giảng và hoàn thiện kiến thức cơ bản ở nhà, trên lớp là thời gian thảo luận, tìm hiểu sâu hơn các vấn đề
Thứ hai, các mức nhận thức có sự thay đổi Trên lớp, học sinh đƣợc bồi dƣỡng các mức nhận thức ở bậc cao: vận dụng, sáng tạo thông qua các hoạt động rèn luyện, thảo luận, phân tích, tƣ duy sáng tạo để giải quyết các vấn đề của bài học Còn các mức nhận thức bậc thấp hơn là hiểu, biết thì học sinh sẽ tự bồi dưỡng ở nhà thông qua sựhướng dẫn của giáo viên
Thứ ba, để áp dụng mô hình thì cần phải có sự hỗ trợ của các phần mềm, công cụ học trực tuyến Lớp học đƣợc tiến hành thông qua một trang Web học trực tuyến Giáo viên sẽ tạo lớp, đăng bài, đăng tài liệu, sau đó chia sẻ cho học sinh tham gia vào lớp học và thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ của bài học Cũng từ yêu cầu này, đòi hỏi sự thành thạo, tích cực, chủ động trong việc sử dụng CNTT đối với giáo viên và cả học sinh
Cơ sở th ự c ti ễ n
Hồ Chủ tịch đã từng nói:
“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Lịch sử là nguồn cội của dân tộc, biết về lịch sử tức là biết về quá khứ, cội nguồn của cha ông ta
Vậy thực tiễn của việc dạy – học môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay nhƣ thế nào? Để có cơ sở đánh giá, chúng tôi đã thu thập thông tin qua nhiều kênh sách, báo, bài nghiên cứu, hội thảo, các giờ học thực tế và đặc biệt là tiến hành một cuộc khảo sát đối với giáo viên và học sinh
1.2.1 M ục đích, phạ m vi kh ả o sát
Mục đích: Tìm hiểu về thực trạng dạy – học lịch sử, thực trạng việc áp dụng các hình thức, phương pháp dạy học mới và thực trạng việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược ở trường THPT hiện nay qua cái nhìn của giáo viên và học sinh Qua đó, nhằm đề xuất các biện pháp áp dụng mô hình mới này vào trong giảng dạy góp phần nâng cao chất bài học
Phạm vi: Chúng tôi tiến hành khảo sát đối với 20 giáo viên và 110 học sinh ở các trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội
1.2.2 N ội dung điề u tra, kh ả o sát
Với giáo viên, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát (xem thêm trong Phiếu khảo sát đối với giáo viên, phần Phụ lục) cho 20 giáo viên THPT Với phiếu này, chúng tôi đƣa ra 8 câu hỏi Trong đó, 2 câu đầu là khảo sát về mức độ mà giáo viên sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá của giáo viên về vai trò, ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực và lấy học sinh làm trung tâm Trong 6 câu tiếp theo, chúng tôi khảo sát về mức độ hiểu biết của giáo viên đối với khái niệm, lợi ích, hạn chế của mô hình lớp học đảo ngƣợc, về mong muốn của giáo viên trong việc có nên áp dụng mô hình này vào giảng dạy hay không và những đề xuất mà giáo viên mong muốn
Với học sinh, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát đối với 110 học sinh THPT thông qua phần mềm Google Form (xem thêm trong Phiếu khảo sát đối với học sinh, phần Phụ lục) Với phiếu này, chúng tôi cũng tiến hành đưa ra 8 câu hỏi Trong đó, 4 câu đầu, chúng tôi khảo sát về phương pháp, hình thức mà giáo viên thường dạy và về phương pháp và hình thức mà học sinh mong muốn đƣợc thầy/cô dạy Với 4 câu sau, chúng tôi đƣa ra khái niệm, đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngƣợc và khảo sát ý kiến của học sinh về việc áp dụng mô hình này ở trường, những khó khăn mà học sinh gặp phải khi mô hình đƣợc áp dụng và những đề xuất của học sinh dành cho giáo viên và nhà trường
1.2.3 K ế t qu ả kh ả o sát Đối với giáo viên: Khi tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 20 giáo viên THPT thì kết quả khảo sát đƣợc thể hiện cụ thểnhƣ sau:
- Về phương pháp, hình thức dạy học:
+ Có tới 12/20 (chiếm 60%) giáo viên chưa từng áp dụng các phương pháp, hình thức dạy học mới vào giảng dạy mà hoàn toàn chỉ sử dụng cách dạy học truyền thống Còn lại, 40% trong số họ đã từng áp dụng các phương pháp, hình thức dạy học mới (Biểu đồ 1.1)
Bi ểu đồ 1.1 T ỉ l ệ các phương pháp, hình th ứ c mà th ầy/cô thườ ng áp d ụ ng (%)
+ Tuy nhiên, trong số 40% (8 giáo viên) còn lại, chỉ có 4/8 giáo viên thường xuyên sử dụng còn lại là rất ít khi sử dụng
- Vai trò, ý nghĩa của các phương pháp, hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực và lấy học sinh làm trung tâm: 100% giáo viên đƣợc khảo sát đều cho rằng có rất có hiệu quả
Phương pháp, hình thức dạy học
Phương pháp, hình thức dạy học mới
- Với mô hình lớp học đảo ngƣợc thì cả 20/20 giáo viên đều chƣa từng nghe nói đến và hiểu sai về mô hình này Trong đó, có 13 giáo viên đã hiểu về mô hình này là sự thay đổi về mục tiêu, mục đích học tập hướng tới thực hành bên ngoài thực tế nhiều hơn, 6 giáo viên hiểu là sựthay đổi về vai trò của giáo viên và học sinh và 1 giáo viên hiểu mô hình này là sự thay đổi về địa điểm học tập
- Cũng 100% giáo viên cho rằng vai trò của mô hình này rất quan trọng và muốn đƣợc áp dụng vào việc giảng dạy nếu có thể Họ đã đề xuất mong muốn nhà trường sẽ tạo điều kiện hơn nữa để có thể áp dụng mô hình này và trong giảng dạy Đối với học sinh: Khi tiến hành khảo sát đối với 110 học sinh về thực trạng dạy – học lịch sử hiện nay, chúng tôi thu đƣợc kết quảnhƣ sau:
- Môn học đƣợc học sinh yêu thích nhất là Toán và Thể dục Lịch sử chỉ có 6/110 học sinh (chỉ chiếm 6,6%)
- Kết quả học tập của học sinh với môn Lịch sử khá khả quan, chủ yếu là Khá (chiếm tới 86,4%)
- Về phương pháp, hình thức dạy học mà thầy/cô thường áp dụng: giáo viên rất ít khi áp dụng các phương pháp, hình thức dạy học mới (chỉ chiếm
24,5%) (Biểu đồ 1.2), riêng với dạy học trực tuyến thì có tới 100% giáo viên chƣa từng áp dụng
Bi ểu đồ 1.2 T ỉ l ệ cách d ạ y h ọ c mà th ầy cô thườ ng áp d ụ ng (%)
- Trong khi đó, khi được hỏi về phương pháp, hình thức mà học sinh muốn đƣợc học thì kết quả (Biểu đồ 1.3) nhƣ sau:
Bi ểu đồ 1.3 T ỉ l ệ các cách d ạ y h ọ c mà h ọ c sinh mong mu ốn đƣợ c th ầ y/cô áp d ụ ng
+ Với cách dạy truyền thống, chỉ có 2/110 học sinh lựa chọn (chiếm 1,8%)
+ Số học sinh còn lại đều mong muốn đƣợc thầy/cô dạy theo các phương pháp, hình thức dạy học mới Trong đó, phương pháp, hình thức mà học sinh thích nhất là tổ chức các trò chơi (90%) và các buổi trải nghiệm sáng tạo (86,4%) Riêng với hình thức học trực tuyến, mặc dù chƣa từng đƣợc thầy/cô áp dụng và chƣa hiểu hết về cách dạy học này, nhƣng vẫn có tới 68,2% học sinh lựa chọn mong muốn đƣợc học
- Còn với mô hình lớp học đảo ngƣợc (Biểu đồ 1.4):
Bi ểu đồ 1.4 T ỉ l ệ h ọc sinh đã từng đƣợ c d ạ y theo mô hình l ớ p h ọc đảo ngƣợ c (%)
Có 81,8% học sinh chƣa từng và 18,2% học sinh đã từng đƣợc học theo mô hình này Tuy nhiên, trong số 18,2% đó, tất cả đều trả lời sau khi chúng tôi đã tiến hành áp dụng mô hình này vào quá trình thực tập Còn trên thực tế thì thầy/cô phổthông chƣa từng áp dụng
- Với mô hình này, những khó khăn mà học sinh gặp phải chủ yếu là áp lực từ bài tập của các môn học khác (chiếm 72,7%) và khả năng tự học của bản thân còn hạn chế (chiếm 60,9%) Ngoài ra, còn những khó khăn nhƣ: Gia đình không có đủ điều kiện về kinh tế (25,5%), ở nhà thời gian vui chơi bị hạn chế (41,8%), thời gian cho một tiết học trên lớp bị hạn chế (45,5%), cơ sở vật chất của nhà trường chưa đủ (52,7%),… (Biểu đồ 1.5)
Bi ểu đồ 1.5 T ỉ l ệ nh ữ ng v ấn đề c ủ a h ọ c sinh khi áp d ụ ng mô hình l ớ p h ọc đảo ngƣợ c vào trong d ạ y – h ọ c L ị ch s ử ở trườ ng THPT (%)
- Mặc dù gặp phải những khó khăn kể trên, nhƣng khi đƣợc hỏi về mong muốn áp dụng mô hình này thì một phần lớn học sinh vẫn chọn “Có” (chiếm tới 97,3%) (Biểu đồ 1.6)
Bi ểu đồ 1.6 T ỉ l ệ h ọ c sinh mong mu ốn đƣợ c th ầ y/cô áp d ụ ng theo mô hình l ớ p h ọc đảo ngƣợ c vào trong bài d ạ y (%)
Như vậy, hiện nay, việc dạy – học lịch sử ở trường THPT đang ngày càng đƣợc quan tâm, chú trọng Hàng năm các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi, Đường lên đỉnh Olimpia,… vẫn được diễn ra và đạt được những thành công nhất định, thu hút sự tham gia và quan tâm đông đảo từ phía giáo viên, học sinh và ngay cả phụ huynh học sinh Bên cạnh đó, các cuộc thi online tìm hiểu về các sự kiện, nhân vật lịch sử hay các buổi Hội thảo về đổi mới dạy – học cũng diễn ra ngày một nhiều Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, những cuốn sách giáo khoa Lịch sử mới ra đời ngày càng sinh động, tạo hứng thú đối với học sinh Hàng loạt các phương pháp, hình thức dạy học mới ra đời, đƣợc áp dụng và đang đem lại hiệu quả rất tích cực Các giáo viên cũng đang dần tiếp cận với cái mới, trau dồi thêm cho bản thân mình nhiều kĩ năng, năng lực dạy học hơn nữa để phục vụ sự nghiệp trồng người
Tuy nhiên, từ kết quả cuộc khảo sát cho thấy:
Thứ nhất, không phải ở đâu cũng có điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới Có những nơi có điều kiện kinh tế phát triển nhƣ Hà Nội, Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh,… cơ sở vật chất trường học rất hiện đại, tiên tiến, giáo viên có điều kiện thuận lợi để áp dụng những kĩ thuật, phương pháp dạy học đa dạng, hiện đại vào trong giảng dạy, học sinh cũng có những điều kiện tốt nhất để tiếp cận với các phương pháp, hình thức dạy học mới Ngược lại, ở nhiều nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn, trang thiết bị học tập hiện đại thiếu thốn thì việc đổi mới cũng theo đó mà bị hạn chế rất nhiều Và lối dạy - học truyền thống (đọc – chép) vẫn luôn là ƣu tiên số một
C ấ u trúc, n ộ i dung, m ụ c tiêu c ủ a ph ầ n L ị ch s ử th ế gi ớ i c ận đạ i l ớ p
2.1.1 C ấ u trúc và n ộ i dung c ủ a ph ầ n L ị ch s ử th ế gi ớ i c ận đạ i l ớ p 10
Theo cấu trúc của sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thì Chương trình Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 là phần thứ ba, sau phần Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổđại và trung đại và phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX
Chương trình Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 gồm có 12 bài, được chia làm ba chương là Các cuộc cách mạng tư sản (Từ giữa XVI – cuối XVIII), Các nước Âu – Mĩ và Phong trào công nhân (Từ đầu XIX – đầu XX) Nội dung cơ bản của phần này nhƣ sau:
Thứ nhất, Sự suy yếu, khủng hoảng của chế độ phong kiến và sự ra đời của chế độ Tƣ bản Theo quy luật của lịch sử, chế độ phong kiến ra đời, phát triển đạt tới đỉnh cao rồi dần lâm vào suy thoái Trong bối cảnh đó, quan hệ sản xuất tư bản và giai cấp tư sản ra đời, đứng trước yêu cầu cần phát triển tự do Tuy nhiên, chế độ phong kiến lạc hậu lại kìm hãm sự phát triển đó, dẫn đến mâu thuẫn lớn trong xã hội Các cuộc cách mạng lần lƣợt nổ ra ở các nước Âu, Mĩ (Hà Lan, Anh, Mĩ, Pháp) nhằm lật đổ ách thống trị cũ, xóa bỏ chế độ cũ, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển Các cuộc cách mạng này đƣợc gọi là Cách mạng tƣ sản Nó có ý nghĩa to lớn không chỉ với riêng các nước tiến hành cách mạng mà còn đối với tiến trình lịch sử thế giới Cũng từ các cuộc cách mạng này, một nước Anh theo thể chế Quân chủ Lập hiến ra đời; bản Tuyên ngôn, Hiến pháp về các quyền tự do, quyền đƣợc sống, đƣợc mưu cầu hạnh phúc con người lần đầu tiên xuất hiện ở Mĩ và có ảnh hưởng lan rộng ra thế giới; khẩu hiệu nổi tiếng của Pháp “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đƣợc nêu lên
Thứ hai, Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng tƣ sản đƣa đến sự ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới (cách mạng 1.0) và mở ra thời kì mới cho các nước tư bản Với sự đòi hỏi lớn về sốlượng cũng nhƣ chất lƣợng của hàng hóa trong bối cảnh mới sau cách mạng thì các kĩ thuật mới đã ra đời Các máy móc, kĩ thuật sơ khai ra đời hoạt động thay cho lao động bằng chân tay đơn thuần Động cơ hơi nước xuất hiện, tạo ra bước tiến lớn trong sản xuất, đem đến sự phát triển mạnh mẽ cho các nước Âu – Mĩ Đồng thời, sự phát triển ngày càng cao đã đưa các nước tư bản bước sang một giai đoạn mới – Đế quốc chủ nghĩa với đặc điểm là thèm khát thị trường và nguồn nguyên nhiên liệu buộc các nước đẩy mạnh sựbành trướng thuộc địa
Cuối cùng là sự hình thành và phát triển của phong trào công nhân
Quan hệ sản xuất tư bản, một bên là giai cấp tư sản, một bên là những người làm thuê, làm công ăn lương, họđược gọi là công nhân Giai cấp công nhân ra đời và ngày một tăng nhanh về sốlƣợng Họ phải chịu sự áp bức, bóc lột nặng nề từ phía tư sản nên đã nổi dậy đấu tranh Trước phong trào công nhân nổi lên ngày một nhiều, Marx và Engels đã phát triển học thuyết của mình, cho ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học, thành lập Quốc tế thứ nhất, Quốc tế thứ hai Sau đó, đƣợc Lenin kế thừa và phát triển, cho ra đời Quốc tế thứ ba đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ cả về lƣợng và về chất củ phong trào công nhân
2.1.2 M ụ c tiêu c ủ a ph ầ n L ị ch s ử th ế gi ớ i c ận đạ i l ớ p 10
Về kiến thức, cung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về một phần Lịch sử thế giới cận đại trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở cấp THCS Thứ nhất, nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của các cuộc cách mạng tƣ sản Thứ hai, nguyên nhân, thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật lần thứ nhất Thứ ba, sự ra đời của giai cấp công nhân và sự phát triển của phong trào công nhân Và cuối cùng, có những hiểu biết cơ bản về đặc điểm, vai trò của KHLS theo định hướng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
Về kĩ năng, giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng cần thiết nhƣ: tự học (qua việc tự tìm hiểu các kiến thức), diễn xuất (đóng vai vào các nhân vật lịch sử), sử dụng CNTT (làm bài thuyết trình, thiết kế thẻ nhớ nhân vật, ), hợp tác (thông qua các nhiệm vụ thảo luận nhóm),
Về thái độ, góp phần giáo dục cho học sinh về các giá trị lịch sử Góp phần truyền cảm hứng cho học sinh khám phá lịch sử đất nước, lịch sử khu vực và thế giới, giúp học sinh có khả năng và ý thức tự học lịch sử suốt đời Phê phán sự lạc hậu, khủng hoảng của chế độ cũ (phong kiến), phản đối sự áp bức, bóc lột của tƣ sản đối với vô sản, ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân,
Về năng ực, thông qua việc tìm hiểu kiến thức, hình thành các kĩ năng, thái độ, học sinh đƣợc rèn luyện các năng lực chung: hợp tác, tự học, sử dụng CNTT, Đồng thời đƣợc bồi dƣỡng các năng lực chuyên biệt đối với môn
Lịch sử: tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tƣ duy lịch sử, vận dụng kiến thức lịch sử, vận dụng kĩ năng lịch sử,
Về ph m chất, góp phần hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu như: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, có ý thức trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước Hướng tới mục tiêu giáo dục nhân cách, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành phẩm chất của một công dân Việt Nam, công dân toàn cầu và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại [6-tr.6].
Yêu c ầu và điề u ki ệ n s ử d ụ ng mô hình l ớ p h ọc đảo ngƣợ c trong
Để áp dụng được mô hình lớp học đảo vào trong DHLS ởtrường THPT thì cần phải đáp ứng đƣợc các yêu cầu và điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, yêu cầu vềcơ sở vật chất, hạ tầng:
Ngoài việc đảm bảo các tiêu chuẩn chung tối thiểu về một phòng học cho môn Lịch sử cấp THPT, để có thể áp dụng đƣợc mô hình này một cách hiệu quả nhất thì phòng học cần đƣợc trang bị thêm các thiết bị hỗ trợ hiện đại khác nhƣ: máy chiếu, màn chiếu, bảng thông minh, máy tính xách tay hoặc máy tính để bàn, Hiện nay, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho giáo dục nói chung và cho trường lớp nói riêng còn khó khăn, thiếu thốn Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, các thiết bị hỗ trợ ứng dụng CNTT đã đƣợc chú trọng đầu tƣ và có sự cải thiện đáng kể Đây là một trong những điều kiện thực tiễn quan trọng để áp dụng mô hình lớp học đảo ngược ởtrường THPT
Thứ hai, vềđiều kiện phương tiện học tập của học sinh: Để học sinh có thể tham gia vào vào giờ học có áp dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc, ngoài sách giáo khoa, vở ghi chép và các đồ dùng học tập cơ bản, thông thường không đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị thiết bị, phương tiện học tập hiện đại
Tuy nhiên, để giáo viên có thể triển khai, tổ chức những giờ học sử dụng mô hình lớp học đảo ngược, tương tác với nhau trên môi trường trực tuyến thì điều kiện tốt nhất là mỗi học sinh hoặc mỗi nhóm học sinh cần có một máy tính kết nối Internet hoặc Wifi Học sinh cũng nên lập các tài khoản cá nhân hoặc nhóm để đăng nhập trên các ứng dụng: Canva, Kahoot!, Padlet, Trong điều kiện học sinh không có máy tính cá nhân, điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sử dụng phòng máy tính, phòng học bộ môn Tin học của trường để học sinh chuẩn bị và tham gia vào bài học
Thứ ba, kiến thức và kĩ năng sử dụng CNTT của giáo viên:
Bên cạnh những kiến thức về chuyên ngành lịch sử; kiến thức về phương pháp giảng dạy bộ môn thì kiến thức và kĩ năng sử dụng CNTT của giáo viên cũng là một trong những điều kiện tiên quyết, quyết định đến thành công của giờ học có sự áp dụng của mô hình lớp học đảo ngƣợc Cụ thể, giáo viên cần biết cách giải quyết các vấn đề kĩ thuật cơ bản của máy tính; có khả năng sử dụng CNTT để hỗ trợ cho việc trình bày nội dung bài dạy thêm sinh động, hấp dẫn; hiểu rõ và có thể sử dụng các ứng dụng, phần mềm cơ bản (MS PowerPoint, Sway, Prezi, Canva, Padlet, ) trong bài dạy; có khả năng học hỏi và cập nhật các ứng dụng, cung cụ, phần mềm CNTT mới, giúp tăng cường phương pháp DHLS và hoàn thành được mục tiêu bài dạy Đồng thời, hướng dẫn cho học sinh cách sử dụng CNTT, các thao tác, kĩ năng cơ bản khi sử dụng CNTT để nâng cao hiệu quả học tập lịch sử cho học sinh
Và cuối cùng, tinh thần chủđộng, sáng tạo của giáo viên và học sinh: Để mô hình này được áp dụng có hiệu quả, đòi hỏi người giáo viên phải năng động, tích cực, chủđộng tìm tòi, khám phá hệ thống kiến thức bên ngoài thực tế để đƣa ra các yêu cầu, nhiệm vụ hay, hấp dẫn và phù hợp cho học sinh Đồng thời, có đƣợc những kiến thức về CNTT để áp dụng, sử dụng thành thạo, phù hợp các loại phần mềm, công cụ học tập trực tuyến vào trong giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngƣợc
Còn với học sinh, đòi hỏi phải có sự chăm chỉ, tự giác, chủ động, sáng tạo trong việc tìm hiểu kiến thức cơ bản, thảo luận, đƣa ra ý kiến cá nhân, hoàn thành các sản phẩm, mà giáo viên đưa ra dưới sựhướng dẫn của giáo viên.
M ộ t s ố ph ầ n m ề m, ứ ng d ụ ng h ỗ tr ợ cho vi ệ c áp d ụ ng mô hình l ớ p
học đảo ngược trong dạy học Lịch sửởtrường THPT
Padlet là trang mạng cho phép bạn cộng tác với những người dùng khác bằng văn bản, hình ảnh, liên kết và các nội dung khác Mỗi không gian cộng tác được gọi là một “bức tường” Nó cũng có thể được sử dụng như một bản tin riêng Các giáo viên sử dụng Padlet để khuyến khích sự sáng tạo của học sinh
Các bước để sử dụng ứng dụng này như sau:
- Bước 1 Đăng ký tài khoản trên trang Web: https://padlet.com/ (Hình 2.3.1)
Hình 2.3.1 C ấu hình đăng kí tài khoả n trên Padlet
- Bước 2 Nhấp chuột vào mục Make a Padlet Trong mục này, giáo viên có thể tạo một Padlet hoàn toàn mới hoặc lựa chọn một mẫu Padlet có sẵn và chỉnh sửa cho phù hợp với ý tưởng sư phạm
- Bước 3 Tiến hành tùy chỉnh cho mỗi Padlet Trong đó, một số tùy chỉnh giáo viên cần lưu ý như sau:
1.Title (tiêu đề): giáo viên đặt tên cho Padlet theo bài hoặc mục đích sử dụng
2.Description (mô tả): thông qua mô tả, giáo viên có thể định hướng cho học sinh bằng cách nêu ngắn gọn về nội dung và mục đích của Padlet
3.Address (địa chỉ): đây là một đường dẫn (link) của Padlet được tạo
Bằng việc truy cập theo đường dẫn này, học sinh có thể tham gia vào bài giảng đó trên Padlet Giáo viên nên đặt lại địa chỉ này ngắn gọn bằng cách viết tắt tên bài, tên lớp để dễ dàng cung cấp cho người học
- Bước 4: Giáo viên sẽ tạo các bài đăng (post) cũng là các yêu cầu/định hướng để học sinh tương tác trên Padlet Mỗi bài đăng tương ứng với một yêu cầu/ định hướng người học (Hình 2.3.2)
Hình 2.3.2 C ấ u hình m ộ t bài thi ế t k ế trên Padlet
- Bước 5: Sau khi hoàn tất Padlet, giáo viên chia sẻ để học sinh có thể tương tác trên đó Có hai cách cơ bản để chia sẻ Padlet giáo viên đã tạo cho người học
+ Cách thứ nhất: học sinh truy cập trang web: https://padlet.com/ đăng ký tài khoản và đăng nhập Sau đó, học sinh nhấp chuột vào mục Join a Padlet (Tham gia) và nhập đường dẫn giáo viên cung cấp để vào được Padlet giáo viên đã tạo
+ Cách thứ hai (sử dụng trong trường hợp học sinh có điện thoại thông minh): giáo viên vào mục Share trên Padlet, lựa chọn Share/Export/Embed để lấy mã cho Padlet Học sinh vào mục PlayStore (CH Play) - với điện thoại sử dụng hệ điều hành Android hoặc mục App Store - với điện thoại sử dụng hệ điều hành iOS để cài đặt ứng dụng Padlet trên điện thoại thông minh Sau khi học sinh cài đặt và đăng nhập phần mềm trên điện thoại, học sinh mở ứng dụng đã cài và quét mã để tham gia vào Padlet giáo viên đã tạo
Edmodo vừa là một phần mềm hệ thống quản lý học tập, vừa là mạng xã hội học thuật Edmodo có thể cung cấp đầy đủ các công cụ cần thiết cho giáo viên, học sinh và phụhuynh để biến lớp học truyền thống thành lớp học trực tuyến với nhiều hoạt động thú vị
Các bước để sử dụng Edmodo như sau:
- Bước 1 Đăng ký tài khoản trên trang Web chính thức: https://new.edmodo.com/
- Bước 2 Nhấp chuột vào Create a class để tạo một lớp học (Hình 2.3.3)
- Bước 3 Tạo các bài đăng bằng cách click vào Posts Tại đây, giáo viên có thể đăng bài dưới các hình thức như Note: một ghi chú bằng văn bản thông thường, một bài tập có thời hạn (Assignment), các câu đố (Quiz) hay Poll (thăm dò ý kiến) Với mỗi bài đăng tương ứng là một nhiệm vụ, yêu cầu liên quan đến bài học cho học sinh hoàn thiện
- Bước 4 Chia sẻ mật khẩu đăng nhập vào lớp học (Class code) cho học sinh Học sinh đăng nhập vào, đọc yêu cầu, bài tập và hoàn thiện chúng Đồng thời tại đây, học sinh có thể đăng bài đăng sản phẩm của cá nhân hay nhóm mình, đƣa ra thắc mắc về các nhiệm vụ với giáo viên và đƣa ra ý kiến, nhận xét với các sản phẩm của các nhóm, các bạn khác tại phần Comment bên dưới bài đăng.
Canva là một phần mềm thiết kế trực tuyến miễn phí đơn giản, cho phép người dùng có thể tự do sáng tạo, với nhiều loại hình thiết kế như: thiết kế bài thuyết trình, các Poster, thiết kế bìa ảnh, tạp chí,… Để sử dụng phần mềm này, người dùng cần thực hiện các bước đơn giản sau:
- Bước 1 Đăng ký tài khoản trên trang Web chính thức: https://www.canva.com/, (Hình 2.3.4), lựa chọn lĩnh vực Giáo dục để sử dụng đƣợc nhiều mẫu thiết kế phù hợp với việc dạy – học nhƣ: thiết kế thẻ nhớ, phiếu học tập, bài trình chiếu,…
Hình 2.3.4 C ấu hình đăng kí tài khoả n trên Canva
- Bước 2 Đăng nhập vào và tạo các thiết kế bằng cách nhấp chuột vào chức năng Tạo thiết kế (Creat a design), sau đó chọn mẫu thiết kế muốn tạo:
Sơ yếu lý lịch (Resumes), Trang ảnh đồ họa (Infographics), Áp phích (Poster), Bìa sách (Book Covers),… (Hình 2.3.5)
Hình 2.3.5 M ộ t s ố c ấ u hình các m ẫ u thi ế t k ế trên Canva
Sau khi chọn được mẫu thiết kế phù hợp, người dùng tiến hành nhấp đúp chuột vào mẫu đó và chỉnh sửa theo ý tưởng của mình Để có thể chỉnh sửa, người dùng cần lưu ý một sốtính năng sau (Hình 2.3.6):
Hình 2.3.6 C ấ u hình m ộ t bài thi ế t k ế trên Canva
2.Thành phần: cung cấp thêm cho người dùng có thể lựa chọn các đối tượng như: các hình ảnh, đồ họa (hình dạng, dải đổi màu, đường kẻ, biểu đồ, hình minh họa, icons,…
3.Văn bản: với nhiều tổ hợp font chữ được thiết kế sắn, người dùng có thể lựa chọn bằng cách kéo thả font chữ đó vào trang thiết kế
4.Nền: giúp thay đổi màu nền cho trang thiết kế trở nên sinh động, đẹp mắt hơn.
5.Nội dung tải lên: người dùng có thể tải lên các hình ảnh có sẵn trong máy tính của mình lên đểđƣa vào thiết kế
6.Thư mục: nơi lưu trữ các hình ảnh mà người dùng đã mua.
Kahoot! là “một công cụ học tập dựa trên nền tảng tr chơi, được áp dụng trong công nghệ giáo dục tại các trường học Tr chơi được sử dụng ở đ y à nh ng câu hỏi trắc nghiệm, không chỉ là nh ng câu hỏi lý thuyết đơn thuần, người dùng có thể tích hợp thên hình ảnh và video vào bài” [46] Để sử dụng ứng dụng này, người giáo viên cần thực hiện các bước cơ bản sau:
Các bi ệ n pháp s ử d ụ ng mô hình l ớ p h ọc đảo ngƣợ c trong d ạ y h ọ c
phần Lịch sử thế giới cận đại ởtrường THPT
2.4.1 S ử d ụ ng mô hình l ớ p h ọc đảo ngược để rèn luy ện kĩ năng tự h ọ c cho h ọ c sinh trong môn L ị ch s ử ở trườ ng THPT
Bác học T.Edison đã từng nói: “Thiên tài là 1% trí thông minh cộng với 99% là mồ hôi và nước mắt” Đa số kĩ năng mà con người có được trong học tập và lao động là xuất phát từ quá trình đào tạo và rèn luyện thường xuyên Vì vậy, để học sinh có được các kĩ năng cần thiết thì người giáo viên phải có các bước hướng dẫn cụ thể, cho học sinh thường xuyên được luyện tập
Theo từ điển tiếng Việt thì: Rèn luyện là “luyện tập nhiều trong thực tế để đạt tới nh ng ph m chất hay trình độ v ng vàng, thông thạo” [3]
Kĩ năng là “khả năng con người thực hiện một cách có hiệu quả các phương thức hành động tr n cơ sở lựa chọn và vận dụng nh ng tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được mục tiêu và phù hợp với nh ng điều kiện, hoàn cảnh cho phép” [31-tr.19]
Tự học là “quá trình người học hoạt động một cách tích cực, độc lập để chiếm ĩnh tri thức và rèn luyện các kĩ năng thực hành bằng cách huy động tất cả các năng ực, ph m chất củ cá nh n dưới sự hướng dẫn của giáo viên” [31-tr.21]
Nhƣ vậy, Rèn luyện kĩ năng tự học Lịch sử tức là luyện tập cho học sinh thành thạo một hệ thống các thao tác độc lập trong việc chiếm lĩnh tri thức lịch sửvà đạt đƣợc hiệu quả cao khi lựa chọn và vận dụng những tri thức đó một cách phù hợp trong những hoàn cảnh nhất định Để một kĩ năng được hình thành thì cần phải trải qua nhiều bước như sau:
- Bước 1 Giúp học sinh nắm được mục đích, cách thức, các bước của kĩ năng.
- Bước 2 Giáo viên minh họa, làm mẫu cho học sinh quan sát
- Bước 3 Giáo viên cho học sinh thử làm theo mẫu và luyện tập nhiều lần
- Bước 4 Giáo viên kiểm tra và điều chỉnh việc thực hiện kĩ năng của học sinh
Nhƣ vậy, để rèn luyện đƣợc kĩ năng tự học Lịch sử cho học sinh thì cần thực hiện theo các bước sau: Trước tiên, giáo viên giúp học sinh hiểu về khái niệm KNTH, tầm quan trọng của KNTH Tiếp theo, tự tìm hiểu về một vấn đề
[3] http://www.từ - điển.com/rèn luyện lịch sử cho học sinh theo dõi Sau đó giao nhiệm vụ cho học sinh tự tìm hiểu trong các bài học và cuối cùng đánh giá KNTH của học sinh để từ đó đƣa ra sự điều chỉnh cho phù hợp với khảnăng của học sinh
Với đặc điểm của mình, mô hình lớp học đảo ngƣợc là một mô hình đem đến hiệu quả cao trong việc rèn luyện KNTH Lịch sử cho học sinh Đây cũng chính là ƣu thế nổi bật nhất của mô hình này
Khác với một lớp học bình thường, học sinh được giáo viên cho ghi chép những kiến thức cơ bản trên lớp, do đó không có tính tự giác tìm hiểu trước bài ở nhà mà chỉ chăm chăm lên lớp nghe giảng rồi lại về nhà và bỏ đấy Nhƣ vậy, không những tinh thần tự học không có mà nó còn khiến học sinh thụđộng, thờ ờ với việc tự tìm hiểu tri thức, mà những tri thức cơ bản có đƣợc đó cũng không tồn tại lâu do không phải là bản thân tự tìm hiểu
Với mô hình lớp học đảo ngƣợc thì khác, để có đƣợc những kiến thức cơ bản của bài, buộc học sinh phải tự giác học theo sự hướng dẫn của giáo viên (theo dõi các Video bài giảng, tìm kiếm thêm thông tin về bài học, đọc và phân tích tƣ liệu,… để hoàn thiện kiến thức cơ bản của bài vào vở, đồng thời có những kiến thức nền tảng để trên lớp thảo luận, đánh giá vấn đề và làm các nhiệm vụ nhóm đạt hiệu quả cao hơn) vì trên lớp giáo viên sẽ không nhắc lại hay đọc cho học sinh ghi chép các kiến thức cơ bản nữa Nếu không tự tìm hiểu trước, học sinh sẽ không thể có nhưng hiểu biết cơ bản nhất về bài, từ đó rất khó cho việc thảo luận trên lớp, đồng thời sẽ không hiểu bài và không có kiến thức cho các kì thi
Thời gian đầu, học sinh tự học, tự tìm hiểu tri thức với tâm thế “bị ép”, nhƣng lâu ngày, đƣợc luyện tập nhiều lần nhƣ vậy học sinh sẽ không còn bị động, gò bó chỉ với những gì giáo viên yêu cầu nữa mà sẽ tích cực hơn, chủ động đi tìm hiểu các nguồn tri thức mới Chủ động phát hiện ra kiến thức cơ bản mà không cần phải xem bài giảng qua video, chủ động tóm tắt, diễn đạt lại nội dung của bài theo lời văn, ý hiểu của mình, chủ động phát hiện ra vấn đề, chủđộng tìm hiểu và giải quyết vấn đềđó,…
Vì kĩ năng không phải có thể hình thành qua một vài tiết dạy, mà nó phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài Và để đánh giá đƣợc KNTH của học sinh, người giáo viên có thể áp dụng một số phương pháp, hình thức như sau:
1 Quan sát ý thức của học sinh đối với việc thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụđƣợc giao: học sinh có tích cực, có hứng thú hay không?
2 Thông qua các sản phẩm từ quá trình thảo luận, tự tìm hiểu của học sinh: mức độ sáng tạo của học sinh, lƣợng kiến thức học sinh đƣa vào ngoài sách giáo khoa và tƣ liệu giáo viên cung cấp, sự thay đổi về phương pháp, hình thức trình bày sản phẩm,…
3 Thông qua các bài kiểm tra trên lớp: kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, kiểm tra đầu giờ, củng cố,…
Ví dụ: Với một nội dung kiến thức trong chủ đề: “Quá trình xâm lƣợc và chống xâm lƣợc của nhân dân Việt Nam (1858 –1884)” là quá trình Pháp xâm lƣợc Việt Nam
- Giáo viên sẽ tạo trên Web Edmodo, cung cấp cho học sinh 1 Video tóm tắt lại quá trình này, đăng nội dung yêu cầu (Hình 2.4.1):
Hình 2.4.1 Nhi ệ m v ụ h ọ c t ậ p v ề quá trình xâm lƣợ c Vi ệ t Nam c ủ a Th ự c dân Pháp trên Edmodo ”
Sau đó hướng dẫn cho học sinh đăng nhập và hoàn thiện các nhiệm vụ
- Học sinh sẽ theo hướng dẫn của giáo viên, tự tìm tòi, học hỏi, nghe bài giảng trên Web để hoàn thiện các kiến thức cơ bản vào vở (Hình 2.4.2):
Hình 2.4.2 K ế t qu ả c ủ a nhi ệ m v ụ hoàn thi ệ n ki ế n th ức cơ bả n
- Trên lớp, học sinh sẽ đƣợc thảo luận, đƣa ra ý kiến của bản thân về các vấn đề sâu hơn nhƣ: Nguyên nhân Pháp lựa chọn bán đảo Sơn Trà (Đà
Th ự c nghi ệm sƣ phạ m
2.5.1 M ục đích, đối tượ ng, th ờ i gian th ự c nghi ệ m
Về mục đích, để kiểm chứng tính khả thi trong thực tế của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược vào trong DHLS ở trường THPT nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học, cụ thể là nâng cao hứng thú học tập cho học sinh, rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản nhƣ tự học, sử dụng CNTT và hợp tác,… chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sƣ phạm Thông qua thực tiễn việc thực nghiệm sƣ phạm, chúng tôi sẽ đi đến kết luận về vai trò, ý nghĩa, tính hiệu quả của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc vào trong DHLS ở trường THPT Đối tượng là học sinh của 2 nhóm lớp khối 10 trường THPT Lương Tài – Bắc Ninh
Thời gian thực nghiệm: theo đúng phân phối chương trình và thời khóa biểu của 4 lớp 10A1, 10A2, 10D6 và 10D8 trường THPT Lương Tài – Bắc Ninh trong học kì II, năm học 2018 - 2019
2.5.2 N ội dung và phương pháp thự c nghi ệ m
Nội dung thực nghiệm: chúng tôi thực hiện giảng dạy nội dung “Bài 30 Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ” – Lịch sử lớp
Phương pháp thực nghiệm: Để tiến hành thực nghiệm, chúng tôi tiến hành - Soạn 2 giáo án: một với lớp thực nghiệm có sử dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trên cơ sở ứng dụng trang web học trực tuyến Padlet (xem thêm trong Giáo án lớp thực nghiệm, phần Phụ lục) và một với lớp đối chứng đƣợc tiến hành theo mô hình lớp học thông thường nhưng có áp dụng một sốphương pháp dạy học mới (xem thêm trong Giáo án lớp đối chứng, phần Phụ lục)
- Chọn ra hai nhóm lớp có sự tương đương về số lượng học sinh và trình độ nhận thức: lớp đối chứng (10A2 và 10D6) và lớp thực nghiệm (10A1 và 10D8)
- Áp dụng: Với hai lớp thực nghiệm chúng tôi tiến hành giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngƣợc Còn với hai lớp đối chứng thì chúng tôi tiến hành giảng dạy theo mô hình lớp học thông thường
- Sau giờ học, chúng tôi có đánh giá về kết quả thực nghiệm thông qua khảo sát ý kiến, nhận xét đối với giáo viên dự giờ Với học sinh là thông qua việc nhận các ý kiến phản hồi sau giờ học (sau giờ học, chúng tôi yêu cầu mỗi học sinh hoặc nhóm học sinh viết ra những ý kiến phản hồi về giờ học
+ Đối với lớp thực nghiệm: mức độ hứng thú với giờ học, có muốn tiếp tục đƣợc học theo mô hình này không, khó khăn mà em gặp phải khi học theo mô hình này là gì và mong muốn đối với giáo viên?
+ Đối với lớp đối chứng: mức độ hứng thú với giờ học và mong muốn đối với giáo viên?
Và một bài kiểm tra 15 phút (xem thêm trong Đề kiểm tra 1, 2, 3, 4, phần Phụ lục)
Sau khi tiến hành giảng dạy ở hai lớp đối chứng (10A2 và 10D6) và hai lớp thực nghiệm (10A1 và 10D8), chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến giáo viên và học sinh sau buổi học Đồng thời tiến hành một bài kiểm tra ngắn 15 phút và đã thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
2.5.3.1 Kết quảthu được từ khảo sát ý kiến
- Đối với giáo viên, Tiết dạy thực nghiệm của chúng tôi có sự tham gia dự giờ của hai thầy, cô là giáo viên Lịch sử ở các lớp chúng tôi lựa chọn
Qua quá trình theo dõi, quan sát tiết dạy, thầy, cô đánh giá cao việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược vào trong DHLS ở trường THPT Với mô hình này, học sinh hào hứng hơn với giờ học, tích cực tham gia vào thảo luận các vấn đề Các kiến thức cơ bản của bài đã đƣợc đƣa vào bài giảng trên Web để học sinh hoàn thiện vào vở ở nhà Từ đó, trên lớp học sinh không cần phải ghi chép, có nhiều thời gian cho các hoạt động hấp dẫn hơn để tìm hiểu sâu hơn về bài Việc có sử dụng dạy học trực tuyến một mặt sẽ giúp cho học sinh phát triển khả năng sử dụng CNTT, mặt khác tạo sự hấp dẫn, mới mẻ trong cách dạy và học, đồng thời bước đầu cho học sinh làm quen với các nguồn tư liệu bên ngoài sách giáo khoa, đƣợc tiếp cận với nhiều ý kiến khác nhau để đánh giá sự kiện, nhân vật chính xác hơn, khách quan hơn Hơn nữa, với các vấn đề, các nhiệm vụ yêu cầu học sinh hoàn thiện trên lớp đã giúp cho học sinh bộc lộ đƣợc những tài năng của mình, đƣợc thể hiện bản thân (vẽ, làm thơ, thuyết trình, diễn xuất,…), đƣợc tiếp cận ở những góc nhìn mới,…
Tuy nhiên, thầy, cô cũng chỉ ra một số những hạn chế cần khắc phục cho bài giảng Đầu tiên là về thời gian Thời gian cho mỗi tiết học chỉ có 45 phút, vừa thảo luận và vừa trình bày đôi khi sẽ không đủ thời gian nếu nhƣ các nhóm hoạt động không hiệu quả hoặc vấn đề quá khó, quá dài (chúng tôi phải xin thêm 10 phút của giờ ra chơi) Tiếp đó chính là sự tự giác của học sinh Một số học sinh sẽ tìm hiểu bài trước, sẽ làm theo yêu cầu nhưng một số khác sẽ ỷ nại, không chủđộng, tích cực theo dõi bài trước trên Web Điều này yêu cầu người giáo viên phải thường xuyên theo dõi, sát sao hơn nữa tới quá trình tự học trên Web ở nhà của học sinh
- Đối với học sinh, chúng tôi vừa quan sát trong quá trình thực nghiệm, đồng thời sau giờ thực nghiệm, chúng tôi yêu cầu mỗi học sinh hoặc nhóm học sinh viết ra những ý kiến phản hồi về giờ học để thu thấp ý kiến của học sinh
Trong quá trình tiến hành thực nghiệm, chúng tôi đã quan sát kĩ tinh thần học tập của học sinh và nhận thấy rằng:
Với hai lớp thực nghiệm, tất cả các học sinh đều sôi nổi, hào hứng, tích cực tham gia vào các vấn đề thảo luận, thậm chí là giành nhau để đƣợc lên trình bày sản phẩm trước, giành nhau để được đại diện cho nhóm lên trình bày Các sản phẩm của các nhóm mặc dù còn sơ sài nhƣng rất ấn tƣợng và thể hiện đúng tinh thần sáng tạo Học sinh đại diện nhóm lên trình bày rất tự tin, làm chủ tốt các tình huống Còn với hai lớp đối chứng, chúng tôi cũng nhận thấy đƣợc tinh thần sôi nổi, hào hứng, tích cực tham gia vào bài học Tuy nhiên vẫn có một số em học sinh không chú ý Và nhất là những lúc ghi bài, các em rất uể oải, thường xuyên mất tập trung Khi giao nhiệm vụ về nhà thì rất ít các em chú ý và muốn từ chối với lí do là còn nhiều bài tập của các môn học khác
Khi đƣợc khảo sát ý kiến về tiết học thì có tới hơn 80% học sinh lớp thực nghiệm mong muốn sẽ đƣợc học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc một lần nữa Gần 20% còn lại cũng thích mô hình này nhƣng không mong muốn mô hình này áp dụng thường xuyên vì ở nhà các em còn phải làm bài tập của nhiều môn học khác
Còn với lớp đối chứng thì tất cả các em đều mong muốn đƣợc học theo nhiều phương pháp, hình thức, mô hình dạy học mới Các em không thích làm bài tập về nhà, không thích đọc – chép các kiến thức cơ bản
2.5.3.2 Kết quảthu được từ bài kiểm tra 15 phút
Sau khi dạy thực nghiệm, chúng tôi tiến hành khảo sát về kết quả bước đầu thông qua một bài kiểm tra 15 phút với bốn bộđề Trong đó có bốn câu hỏi trắc nghiệm và trả lời nhanh là giống nhau và một câu hỏi tự luận là khác nhau
B ả ng 2.1 B ả ng th ố ng kê k ế t qu ả ki ể m tra c ủ a các l ớ p (thành viên)
Lớp Số HS Điểm kiểm tra
B ả ng 2.2 B ả ng th ố ng kê k ế t qu ả ki ể m tra c ủ a các l ớp theo nhóm điể m (%)
Số HS Tỉ lệ (%) Số HS Tỉ lệ (%)
Bi ều đồ 2.1 So sánh k ế t qu ả ki ể m tra c ủ a 2 nhóm l ớ p (%)
Lớp thực nghiệm (10A1, 10D8) Lớp đối chứng (10A2, 10D6)
Qua các bảng thống kê (Bảng 2.1 và Bảng 2.2) và Biểu đồ 2.1, chúng ta có thể thấy rõ ràng sự khác biệt về kết quả giữa lớp đối chứng so với lớp thực nghiệm
- Về tỉ lệ học sinh đạt điểm giỏi, lớp thực nghiệm vƣợt trội hơn hẳn (36,9%) so với lớp đối chứng (17,7%)
- Tỉ lệ học sinh đạt điểm khá của cả hai nhóm lớp đều rất cao, lớp đối chứng là 74,1% và lớp thực nghiệm là 63,1%