1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở an lạc, xã thống nhất huyện lạc thủy tỉnh hòa bình

82 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở An Lạc, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Tác giả Quách Khương Duy
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Huế
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (9)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (10)
  • 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu (11)
  • 4. Mục tiêu nghiên cứu (11)
  • 5. Nội dung nghiên cứu (11)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE (14)
    • 1.1 Cơ sở lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh (14)
      • 1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài (14)
      • 1.1.2 Vai trò của giáo dục sức khỏe sinh sản đối với học sinh THCS (17)
      • 1.1.3 Nhiệm vụ của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS (18)
      • 1.1.4 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở trường (19)
      • 1.1.5. Một số nguyên tắc về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh (21)
      • 1.1.6 Hình thức, phương pháp, nội dung giáo dục SKSS cho học sinh (22)
    • 1.2 Một số lý thuyết chủ yếu ứng dụng trong nghiên cứu (26)
      • 1.2.1 Thuyết nhu cầu Maslow (26)
      • 1.2.2 Thuyết nhận thức- hành vi (30)
    • 1.3. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu (31)
      • 1.3.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (31)
    • 2.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu (36)
      • 2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (36)
      • 2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu (37)
    • 2.2 Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình (39)
      • 2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh THCS An Lạc về giáo dục sức khỏe (39)
      • 2.2.2 Thực trạng thái độ đối với việc học tập kiến thức giáo dục sức khỏe sinh sản của học sinh THCS An Lạc (44)
      • 2.2.3 Thực trạng thời gian, hình thức, phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh (45)
      • 2.2.4 Thực trạng quan điểm, thái độ của giáo viên trong trường về vấn đề giáo dục SKSS cho học sinh (48)
      • 2.2.5. Đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS An Lạc 45 Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE (53)
    • 3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp (56)
      • 3.1.1 Mong muốn của học sinh về nội dung giáo dục SKSS (56)
      • 3.1.2 Mong muốn của học sinh về hình thức giáo dục SKSS (58)
      • 3.1.3 Mong muốn của học sinh về đối tƣợng tham gia giáo dục SKSS (0)
    • 3.2 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục sức khỏe (61)
      • 3.2.1 Đổi mới chương trình giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho học sinh trường TH và THCS An Lạc (61)
    • 3.3 Một số mô hình áp dụng (64)
      • 3.3.1 Xây dựng phòng công tác xã hội (64)
      • 3.3.2 Xây dựng kênh kết nối nhà trường – phụ huynh – học sinh – xã hội (68)
    • 1. KẾT LUẬN (70)
    • 2. KHUYẾN NGHỊ .......................................................................................... 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)
  • PHỤ LỤC (75)

Nội dung

Chính trong thời điểm này nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản SKSS ở trẻ vị thành niên là rất cao đặc biệt là giai đoạn đầu của tuổi dậy thì - giai đoạn trẻ rất cần được sự giúp đỡ,

Mục tiêu nghiên cứu

Bài viết tập trung tìm hiểu thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) cho học sinh THCS tại An Lạc, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục SKSS cho học sinh THCS ở xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; thông qua khảo sát thực tế, phân tích nội dung chương trình, nguồn lực sư phạm và mức độ tiếp cận thông tin của học sinh, bài viết làm rõ những khó khăn và nhu cầu thực tế, từ đó gợi ý các biện pháp như tích hợp giáo dục SKSS vào chương trình phổ thông, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đầu tư cơ sở vật chất và tài nguyên học tập, tăng cường hoạt động ngoại khóa và sự tham gia của phụ huynh, cộng đồng để nâng cao nhận thức và kỹ năng tự chủ về sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại An Lạc – Thống Nhất, Lạc Thủy, Hòa Bình.

Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại Trường THCS An Lạc, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, nhằm đánh giá mức độ nhận thức, thái độ và thực hành liên quan đến sức khỏe sinh sản ở lứa tuổi THCS và đề xuất các giải pháp giáo dục phù hợp với điều kiện tại An Lạc và khu vực lân cận.

Phạm vi về thời gian của nghiên cứu được xác định là 3 năm học, từ năm học 2017–2018 đến năm học 2019–2020 Dữ liệu về đặc điểm đơn vị thực tập được thu thập trong khoảng thời gian này, và số liệu từ phiếu khảo sát cũng được thu thập trong cùng khung thời gian nhằm đảm bảo tính thống nhất và khả năng so sánh giữa các năm học.

- Phạm vi về không gian: Trường TH và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở tại trường Tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến sức khỏe sinh sản của học sinh THCS tại trường, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản và tăng cường nhận thức cho học sinh, giáo viên và phụ huynh ở khu vực An Lạc, Thống Nhất, Lạc Thủy, Hòa Bình.

Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Mục tiêu chính là đánh giá mức độ tiếp cận, chất lượng nội dung và hình thức giảng dạy về sức khỏe sinh sản, năng lực của đội ngũ giáo viên và nhận thức, thái độ của học sinh đối với vấn đề này Kết quả dự kiến sẽ làm sáng tỏ những thách thức và nhu cầu nguồn lực, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện như tăng cường đào tạo giáo viên, tích hợp giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vào chương trình giảng dạy, bổ sung tài liệu giáo dục phù hợp, và tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng.

Để nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, cần triển khai một số giải pháp trọng tâm: tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vào chương trình giảng dạy hiện hành và lồng ghép với các môn liên quan để nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành an toàn; nâng cao năng lực giáo viên thông qua tập huấn định kỳ về kiến thức SRH, kỹ năng giao tiếp và tư vấn giới tính; xây dựng bộ tài liệu giảng dạy phù hợp với lứa tuổi, dễ tiếp cận và có tính tương tác cao; áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, tình huống thực tế và hoạt động trải nghiệm để học sinh chủ động tiếp nhận thông tin; tăng cường sự tham gia của gia đình và cộng đồng, phối hợp với trạm y tế xã và các tổ chức y tế địa phương để cung cấp thông tin đúng đắn và hỗ trợ học sinh; đảm bảo tính bảo mật, tôn trọng sự đồng thuận và bao quát toàn diện không phân biệt giới tính; và thiết kế hệ thống đánh giá hiệu quả qua khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi nhằm điều chỉnh chương trình cho kết quả bền vững, từ đó có thể làm mẫu cho các trường lân cận trong khu vực.

Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận chung về vấn đề giáo dục SKSS cho học sinh trung học cơ sở

- Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

Để nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại Trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, cần triển khai một chuỗi giải pháp đồng bộ nhằm đảm bảo nội dung phù hợp, phương pháp giảng dạy hiệu quả và sự tham gia của toàn xã hội Cụ thể, rà soát và cập nhật chương trình giảng dạy sức khỏe sinh sản ở cấp THCS theo độ tuổi, tích hợp nội dung về giới tính, chăm sóc bản thân và kỹ năng ra quyết định; nâng cao năng lực cho giáo viên qua đào tạo phương pháp dạy học tích cực và sử dụng tài liệu chuẩn cùng nguồn tư liệu tại địa phương; tăng cường hoạt động ngoại khóa và giáo dục trải nghiệm để học sinh tiếp cận kiến thức một cách thực tế và an toàn; phối hợp chặt chẽ với trạm y tế xã và các cơ sở y tế để cung cấp tư vấn, khám sức khỏe và tư vấn tâm lý khi cần; huy động sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng thông qua các buổi gặp mặt tuyên truyền và chia sẻ thông tin; xây dựng nguồn tài liệu dễ tiếp cận, thân thiện với người học và phù hợp với điều kiện địa phương, kể cả tài liệu số; đảm bảo môi trường học tập tôn trọng sự riêng tư, an toàn và không phân biệt đối xử; và thiết lập hệ thống đánh giá chất lượng với các chỉ số theo dõi tiến độ, từ đó điều chỉnh chương trình dựa trên phản hồi của học sinh, giáo viên và phụ huynh để liên tục cải thiện chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản.

Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài nhằm thu thập thông tin về giáo dục SKSS cho học sinh THCS tại Trường TH và THCS An Lạc, Xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Đối tượng nghiên cứu là học sinh THCS của trường TH và THCS An Lạc ở Xã Thống Nhất, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Phiếu khảo sát được thiết kế phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, nhằm đánh giá mức độ nhận thức, thái độ và hành vi liên quan đến giáo dục SKSS Kết quả thu được từ phương pháp này sẽ cung cấp dữ liệu thực tế để cải thiện chương trình giáo dục SKSS tại địa phương.

- 120/180 chiếm 66,7%học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 trường TH và THCS An Lạc Trong đó:

Khảo sát bằng hình thức phát phiếu trên lớp

+ 1 lớp 9 tổng số 33 học sinh chiếm 27% tổng số phiếu khảo sát Khảo sát

Bằng hình thức phát phiếu điều tra tại nhà là

+ Lớp 8 với tổng số 35 học sinh chiếm 29,1 % tổng số phiếu khảo sát

+ Lớp 7 với tổng số 30 học sinh chiếm 25% tổng số phiếu khảo sát

+ Lớp 6 với tổng số 22 học sinh chiếm 18,3 % tổng số phiếu khảo sát

- 41/41 chiếm cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường TH và THCS An Lạc Khảo sát bằng hình thức phát phiếu trực tiếp đến giáo viên tại trường

Phương pháp phỏng vấn là cách thu thập thông tin trực tiếp về hoạt động giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS Phương pháp này giúp nắm bắt sâu sắc quan điểm, nhu cầu và thực hành của học sinh liên quan đến GD SKSS, từ đó điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp Ngoài ra, phỏng vấn còn bổ trợ cho quá trình điều tra bằng bảng hỏi, làm giàu dữ liệu và làm rõ các câu trả lời nhằm tăng tính khách quan và độ tin cậy của nghiên cứu.

Thu thập những tài liệu, số liệu sẵn có tại cơ sở thực tập nhƣ: Báo cáo tổng kết năm học, đặc điểm địa bàn nghiên cứu…

6.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

6.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

Áp dụng phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết để xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, từ đó đưa ra các nhận định và phân tích vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống và logic.

6.2.2.Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này được sử dụng để xử lý số liệu thu thập được và từ đó đưa ra các kết quả chính xác, khách quan cho đề tài nghiên cứu Qua các bước áp dụng, tỉ lệ phần trăm (tỉ lệ %), giá trị trung bình và tốc độ phát triển được xác định một cách đáng tin cậy, cho phép so sánh giữa các nhóm và theo dõi xu hướng của dữ liệu theo thời gian Việc sử dụng phương pháp này giúp nâng cao tính lặp lại và độ tin cậy của phân tích, đồng thời cải thiện chất lượng và tính khả thi của các kết luận nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE

Cơ sở lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

Thuật ngữ “giới tính” có nguồn gốc từ tiếng Latinh Sectus, nghĩa là chia cắt, phản ánh ý định phân chia loài thành hai nhóm Trong ngữ cảnh sinh học, giới tính được hiểu là các khác biệt được xác định giữa nam và nữ.

Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ ở phương diện sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu (kích thước, hình dạng cơ thể) và đặc điểm sinh lý (hoạt động hormone, chức năng của các cơ quan) Các đặc trưng của giới tính thể hiện qua cấu trúc sinh dục, sự phát triển sinh dục và các yếu tố di truyền, hormone tham gia vào quá trình này Việc nắm bắt sự khác biệt này giúp hiểu rõ sự đa dạng sinh học và phục vụ cho các hoạt động giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe và nghiên cứu y học.

Tính bẩm sinh được thể hiện ở cấp độ sinh học khi nam và nữ mang những đặc điểm khác nhau — cơ quan sinh dục, hooc-môn và nhiễm sắc thể — được xác định bởi tự nhiên.

Khái niệm tính đồng nhất cho thấy nam giới và nữ giới ở mọi nơi, mọi nền văn hóa, có cấu tạo sinh học cơ bản tương đồng, với phụ nữ có khả năng mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ.

Không biến đổi: Giới tính nói lên tính ổn định và mối quan hệ giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của nam và nữ là đặc thù và không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau; nam có tinh trùng, còn nữ có trứng và dạ con, và các đặc điểm này vẫn không đổi Tuy nhiên, nhờ sự trợ giúp của y học, hiện nay có thể thực hiện những can thiệp nhất định về giải phẫu và nội tiết, song chức năng sinh sản cơ bản của nam và nữ vẫn không thay đổi.

Với ý nghĩa đó, giới tính là một phạm trù cơ bản của đời sống xã hội Giới tính gần như là một kiểu phân nhóm xã hội dễ nhận diện nhất, giúp chúng ta nhận diện bản thân và nhận diện người khác dựa trên giới tính.

Giới tính gắn liền với sự hình thành và phát triển của mỗi con người, và từ khi lên 3–4 tuổi, trẻ đã bắt đầu ý thức về giới tính của mình, nhận biết mình là trai hay gái Điều này là kết quả của quá trình nhận thức tự nhiên về thế giới xung quanh và sự hình thành nhận thức giới tính ngày càng rõ nét theo thời gian Cùng với sự biến đổi sâu sắc về giới tính, đời sống tâm lý của cá nhân cũng trải qua những biến đổi lớn, nhất là ở tuổi dậy thì khi cơ thể đạt đến sự trưởng thành sinh dục và có khả năng sinh sản Nếu không có nhận biết đầy đủ về đặc điểm giới tính và quá trình phát triển của nó, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và sự phát triển của trẻ Vì vậy, giáo dục giới tính cho trẻ từ nhỏ là cần thiết để hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển nhân cách, mang lại cho các em một cuộc sống tốt đẹp.

Giới và giới tính là hai khái niệm có bản chất khác nhau, mặc dù quan niệm về giới được hình thành trên cơ sở giới tính cụ thể – nam hay nữ Các đặc điểm giới tính đóng vai trò quan trọng trong cấu thành nên đặc điểm giới, nhưng chúng không phải là yếu tố quan trọng nhất hoặc duy nhất Trong nhiều bối cảnh văn hóa, việc xếp loại một người là phụ nữ hay đàn ông không chỉ dựa trên những đặc điểm cơ thể mà còn dựa trên cơ sở của những dữ kiện văn hóa Giới có thể biến đổi nhiều, còn giới tính hầu như không đổi; và việc cho rằng sự khác biệt giới tính là nguồn gốc duy nhất để giải thích sự khác biệt về giới và hợp lý hóa bất bình đẳng dựa trên một căn cứ duy nhất là yếu tố sinh học là một sai lầm.

Định nghĩa giáo dục theo Võ Thị Ngọc Lan và Nguyễn Văn Tuấn là một quá trình đào tạo con người có mục đích nhằm chuẩn bị họ tham gia vào đời sống xã hội và lao động sản xuất, thông qua việc tổ chức truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người Quá trình này nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để công dân có thể đóng góp cho sự tiến bộ xã hội và nền kinh tế, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc truyền thụ lịch sử và kinh nghiệm xã hội cho các thế hệ tương lai.

Theo tác giả Phạm Viết Vƣợng (2012) khái niệm giáo dục đƣợc hiểu theo 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Ở nghĩa rộng, giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàn diện, bao gồm trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất và kỹ năng lao động Quá trình này vừa phát huy kiến thức vừa bồi đắp các giá trị và năng lực thiết yếu để được sống có trách nhiệm, tự tin và đóng góp tích cực cho xã hội.

Theo nghĩa hẹp, giáo dục được hiểu là quá trình tác động của nhà giáo lên các đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng xã hội Khía cạnh này nhấn mạnh vai trò của người dạy trong việc định hình nhận thức và hành vi của học viên để họ có sự hòa nhập và tuân thủ các chuẩn mực xã hội Đề tài sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp do tác giả Phạm Viết Vương đề xuất làm khung lý thuyết chính để thực hiện nghiên cứu Việc áp dụng khái niệm này giúp làm rõ mối liên hệ giữa hoạt động giáo dục và sự hình thành nhân cách, thói quen và chuẩn mực xã hội của đối tượng giáo dục.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe là trạng thái toàn diện của thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là sự vắng mặt của bệnh tật hay tàn phế Vì vậy, khái niệm sức khỏe mở rộng hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như chỉ có một cơ thể khỏe mạnh, không ốm đau hay lành lặn, bởi nó còn bao gồm các yếu tố tâm lý và mức độ tham gia xã hội của mỗi người.

Tương tự như vậy, sức khoẻ sinh sản là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương ở bộ máy sinh sản

Sức khỏe sinh sản là tập hợp nhiều khía cạnh, trong đó có sức khỏe tình dục Hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản của con người được hình thành, phát triển và tồn tại suốt đời Sức khỏe sinh sản có vai trò đặc biệt đối với cả nam giới và nữ giới Quá trình sinh sản và tình dục là một quá trình tương tác giữa hai cá thể, đòi hỏi sự tự nguyện, tinh thần trách nhiệm và sự bình đẳng trong quan hệ.

Xã hội Việt Nam còn tồn tại nhiều quan điểm sai lệch hoặc hiểu biết chưa đầy đủ về khái niệm và các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe sinh sản, đặc biệt là vai trò của nam giới Trong những năm gần đây, vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được đánh giá đúng mức hơn Các chiến lược quốc gia như 'Chiến lược truyền thông Dân số/Sức khỏe sinh sản/Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006–2010' của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam và 'Chiến lược Chăm sóc sức khỏe sinh sản' đã phản ánh sự nhìn nhận ngày càng cao về vai trò này.

Bộ Y tế… cũng đã nêu rõ nam giới là một thành phần quan trọng và có tác động lớn đến việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Một số lý thuyết chủ yếu ứng dụng trong nghiên cứu

Abraham Maslow sinh ngày 1-4-1908, mất năm 8-5-1970 Ông là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về

Tháp nhu cầu và Maslow được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong tâm lý học, với khái niệm tự nhận thức và tiềm năng phát triển của con người Maslow bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại Brooklyn College và trong thời gian này ông gặp gỡ nhiều nhà tâm lý học hàng đầu châu Âu như Alfred Adler và Erich Fromm Năm 1951, Maslow trở thành trưởng khoa Tâm lý học tại Brandeis University, nơi ông bắt đầu công tác nghiên cứu và phát triển lý thuyết của mình Ông đã gặp Kurt Goldstein, người đã giới thiệu cho ông ý tưởng về sự tự nhận thức nhu cầu và sự tự hiện thực hóa tiềm năng của con người Ông về hưu tại California và qua đời vì đau tim.

1979, thọ 62, sau nhiều năm sức khoẻ kém

Maslow, nhà khoa học xã hội nổi tiếng, đã xây dựng thuyết nhu cầu của con người vào những năm 1950 Thuyết này giải thích cách các nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Thông qua việc nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu, thuyết Maslow giúp ta hiểu rõ hơn động lực của con người Ông phân loại các nhu cầu dựa trên tính đòi hỏi và trình tự phát sinh, từ đó quy về năm loại được sắp xếp thành thang nhu cầu từ thấp đến cao.

Bậc 1 Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Những nhu cầu cơ bản của con người là yếu tố thiết yếu và lâu dài nhất, đồng thời rộng rãi nhất trong đời sống Nếu thiếu những nhu cầu này, con người sẽ không thể tồn tại được, và đặc biệt ở trẻ em, vốn phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản Theo quan niệm này, khi các nhu cầu cơ bản chưa được thỏa mãn ở mức cần thiết để duy trì sự sống, các nhu cầu khác của con người sẽ không thể phát triển thêm được Do đó, việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cơ bản đóng vai trò làm nền tảng cho sự phát triển của các nhu cầu khác và cho sự cân bằng của toàn bộ đời sống.

Bậc 2 Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác nhƣ an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác

Bậc 3 nhu cầu xã hội: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý nhƣ: Đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại

Bậc 4 nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại:

Lòng tự trọng đồng hành cùng nhu cầu được người khác tôn trọng, thể hiện qua khát vọng giành được lòng tin, năng lực, bản lĩnh, thành tích, sự độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện Nhu cầu được người khác công nhận và tôn trọng thể hiện ở khả năng giành uy tín, sự thừa nhận và tiếp nhận, có địa vị và danh dự Tôn trọng là sự coi trọng và ngưỡng mộ từ người khác Khi được người khác tôn trọng, mỗi người sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Vì thế, nhu cầu được tôn trọng là yếu tố thiết yếu với mỗi con người.

Bậc 5 nhu cầu thể hiện bản thân: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành đƣợc mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành đƣợc mục tiêu nào đó Đối với thuyết nhu cầu của Maslow có thể ứng dụng vào trong nghiên cứu vì xã hội ngày càng phát triển vì vậy các nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo Với đề tài này tôi có thể dựa vào thuyết nhu cầu của Maslow để xác định xem sử dụng rượu có phải là một nhu cầu cơ bản của người dân tại địa bàn hay không, nếu thiếu đi việc sử dụng rƣợu họ có thế tiến đến các nhu cầu cao hơn hay không Thậm chí việc sử dụng rƣợu của họ rất có thể không chỉ dừng lại ở mức nhu cầu cơ bản mà còn ở các bậc cao hơn nhƣ là các nhu cầu về xã hội hay là nhu cầu về tôn trọng Đó là những điều mà thuyết nhu của Maslow có thể giúp tôi ứng dụng và làm rõ những điều trên Ứng dụng vào đề tài: Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển Học sinh được tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng rất sớm Ngoài nhu cầu cơ bản nhƣ ăn mặc, ở… học sinh THCS còn cần đƣợc đáp ứng nhu cầu về giáo dục

Việc áp dụng thuyết nhu cầu của Maslow để xem xét học sinh THCS cho thấy nhu cầu được hiểu biết về các vấn đề sức khỏe sinh sản và giới trong SKSS là yếu tố thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu an toàn cho các em Vì thế, giáo dục SKSS nằm ở tầng thứ an toàn trong tháp nhu cầu và học sinh THCS cần được trang bị đầy đủ kiến thức liên quan về giáo dục sức khỏe sinh sản—bao gồm quan hệ tình dục và kiến thức sinh sản—một cách đúng đắn và phù hợp để phát triển bản thân Việc ứng dụng lý thuyết này giúp các nhà nghiên cứu đánh giá mức độ quan trọng của nhu cầu giáo dục SKSS đối với học sinh THCS và từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục SKSS cho học sinh, gia đình, nhà trường và cộng đồng nhằm tác động tích cực và góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh cho các em.

1.2.2 Thuyết nhận thức- hành vi

Thuyết nhận thức hành vi được xây dựng và phát triển bởi nhiều nhà khoa học như Scott và Drylen, Goldstein, Glasser, Gambrill Thuyết này bổ sung yếu tố nhận thức vào quá trình tạo ra hành vi; tác nhân kích thích không directly quyết định hành vi mà thông qua nhận thức của con người Thuyết này được phát triển trên nền tảng lý thuyết về quá trình nhận thức, thuyết học tập và phân tích hành vi và cho rằng nguyên nhân của những hành vi chưa tốt hay không tích cực bắt nguồn từ nhận thức và suy nghĩ sai lệch.

Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi

(S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi)

Theo lý thuyết nhận thức - hành vi, nhận thức về tác nhân kích thích và kết quả hành vi quyết định phản ứng của con người, chứ không phải bản thân môi trường hay kích thích một cách trực tiếp Quan điểm này cho thấy các vấn đề nhân cách và hành vi được hình thành từ những suy nghĩ sai lệch khi tương tác với môi trường bên ngoài, và con người có thể học tập để cải thiện nhận thức, từ đó củng cố hành vi thích nghi Đối với giáo dục SKSS ở học sinh THCS, quá trình xã hội hóa và kinh nghiệm học tập cùng với sự trưởng thành sinh lý ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi liên quan đến sức khỏe sinh sản Đề tài áp dụng lý thuyết hành vi nhằm đánh giá mức độ quan tâm, hiểu biết và nhận thức của học sinh THCS về giáo dục SKSS, nhằm giúp các em nhận thức đúng nội dung SKSS và từ đó hình thành các hành vi đúng đắn như từ chối quan hệ tình dục không an toàn, biết sử dụng các biện pháp phòng tránh thai và bao cao su an toàn Mục tiêu là kiểm nghiệm hiệu quả của giáo dục SKSS: nhận thức tốt dẫn tới hành vi an toàn và ngược lại, từ đó hỗ trợ phụ huynh và giáo viên trong việc nâng cao nhận thức và hành vi phù hợp cho học sinh THCS.

Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.3.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trên toàn cầu, nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên đã xuất hiện từ rất sớm, song được gọi bằng nhiều tên khác nhau, chẳng hạn như sức khỏe vị thành niên hoặc sức khỏe giới tính thanh thiếu niên Từ sau hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo năm 1994, định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản được thống nhất và phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới, trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Vấn đề sức khỏe sinh sản được nâng lên một tầm mức mới, thu hút sự chú ý của các cấp chính phủ, cơ sở y tế, giáo dục và cộng đồng trong công tác chăm sóc và giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên.

Ở Châu Phi, giáo dục sức khỏe sinh sản chủ yếu tập trung đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS và thiết lập các chương trình giáo dục về HIV/AIDS, được thực hiện thông qua sự hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO) Các nỗ lực này giúp nâng cao nhận thức cộng đồng, cải thiện tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản và giảm thiểu tác động của HIV/AIDS lên đời sống người dân, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững.

Các chương trình giáo dục giới tính cho vị thành niên tập trung vào nguyên tắc ABC để phòng chống AIDS: A kiêng quan hệ tình dục, B chung thủy và C dùng bao cao su Ở Ai Cập, trẻ từ 12–14 tuổi được giảng dạy các kiến thức giải phẫu sinh lý và cơ chế hoạt động của cơ quan sinh dục, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục Ở các nước châu Á như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc và Sri Lanka, đã triển khai các chính sách giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên trong trường học.

Tuy nhiên ở Bangladesh, Myanmar, Nepan và Pakistan thì không có những chương trình giáo dục giới tính như vậy

Ở nhiều nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore và Philippines đã đưa nội dung giáo dục giới tính vào chương trình giáo dục quốc gia Tại Philippines, giáo dục giới tính được tích hợp vào nội dung nội khóa của trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông, là một thành phần của giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình; nội dung này được lồng ghép một cách hợp lý vào nhiều môn học văn hóa, chủ yếu qua giờ chính khóa và hoạt động ngoại khóa, tùy thuộc từng lứa tuổi Ở nước này, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, các phương pháp và phương tiện dạy học về giới tính và SKSS được quan tâm sâu và thu hút học sinh, giúp quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao Giáo dục nội dung này còn được mở rộng ra ngoài trường học đến các tầng lớp nhân dân qua nhiều hình thức giáo dục phong phú, từ các trung tâm tư vấn đến sự ủng hộ của xã hội Đối với các quốc gia châu Âu như Pháp, năm 2020 chính phủ quyết định đưa kiến thức giới tính và SKSS lên đài truyền hình và phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông và trung học về các phương pháp tránh thai an toàn và hiệu quả Ở Đức, có nhiều nhà khoa học nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính như R Neubert, Aresin, Smolka, Hopman và Klemm, Linser, Polte, Dierl, Grassel; một cuốn bách khoa toàn thư về giới tính được biên soạn để giảng dạy và giáo dục giới tính cho học sinh.

Ở các quốc gia Châu Mỹ, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản được tích hợp vào chương trình cho học sinh từ lớp 7 đến lớp 12, có nơi bắt đầu từ lớp 5 hoặc 6 Học sinh tiếp cận hai kiểu kiến thức giới tính: toàn diện kiến thức chung chiếm 58% và kiến thức sâu về một khía cạnh chiếm 34% Tuy nhiên, Mỹ là một trong những nước có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao và tỷ lệ nhiễm bệnh qua đường tình dục ở thanh thiếu niên cũng ở mức cao Điều này cho thấy phương pháp giảng dạy và cách tiếp cận giáo dục giới tính có vai trò quan trọng, hơn là chỉ xác định ở cấp độ giáo dục nào được áp dụng.

( Theo giáo dục giới tính toàn cầu của trang Tailieu.vn)

1.3.1.2 Ở Việt Nam Ở Việt Nam ta, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, giáo dục giới tính và SKSS đã bắt đầu đƣợc quan tâm rộng rãi

Chỉ thị số 176A, ký ngày 24/12/1974 bởi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, nêu rõ Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Tổng cục Dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái.

Việt Nam ban hành Chỉ thị về giáo dục dân số và giáo dục giới tính, triển khai đồng bộ trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học trên phạm vi cả nước Chỉ thị nhấn mạnh vai trò của giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản, quyền trẻ em và vị thành niên, đồng thời thúc đẩy sự tôn trọng và bình đẳng giới, bằng cách tích hợp nội dung này vào chương trình giảng dạy ở mọi cấp học và ngành đào tạo Mục tiêu là trang bị cho học sinh, sinh viên kiến thức và kỹ năng cần thiết để đưa ra quyết định an toàn và có trách nhiệm cho sức khỏe và cuộc sống, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

Ngay từ năm 1985, nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu và hôn nhân gia đình của các tác giả như Đặng Xuân Hoài, Tràn Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức đã được công bố và phân tích nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính Những công trình này, cùng với nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình từ năm 1985 đến nay, đã làm cơ sở cho giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh, đồng thời cho thấy sự đa dạng, phong phú của các vấn đề giới tính và giáo dục SKSS ở Việt Nam Đặc biệt từ năm 1988, một đề án quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có ký hiệu VIE/88/P09 (đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ,

Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, được phê duyệt và cho phép triển khai dự án với sự tài trợ từ UNFPA và UNESCO khu vực.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thủy và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án được tiến hành một cách thận trọng và khoa học, đồng thời nghiên cứu sâu rộng nhiều vấn đề như quan niệm về tình bạn, tình yêu và hôn nhân; nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh và phụ huynh ở nhiều địa phương trên cả nước Mục tiêu là chuẩn bị cho việc giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12.

Trong khoảng từ năm 1990 đến nay, Việt Nam đã triển khai nhiều dự án quốc gia và đề tài nghiên cứu về giới tính liên kết với nước ngoài và các tổ chức quốc tế nhằm làm rõ các vấn đề liên quan Các nội dung nghiên cứu và giáo dục chính tập trung vào giáo dục sức khỏe sinh sản, giáo dục về tình yêu và tình dục cho thanh niên và học sinh, cũng như giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính cho học sinh Việc nghiên cứu và giáo dục giới tính nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, cùng các nhà khoa học và phụ huynh.

Viện Khoa học Giáo dục đã thực hiện công trình nghiên cứu xây dựng chương trình thử nghiệm giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản (SKSS) trong trường phổ thông, tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực là tâm lý giáo dục và sinh học Lần đầu tiên trong hệ thống trường phổ thông ở nước ta, học sinh được học một cách có hệ thống về những điều bí ẩn của chính bản thân và mối quan hệ với người khác giới, bằng cách tích hợp các nội dung liên quan vào các môn từ tiểu học đến trung học với năm chủ đề: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới và dinh dưỡng Trọng tâm của chương trình là giáo dục SKSS cho vị thành niên, coi việc giải quyết các vấn đề SKSS vị thành niên là một yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước Tuy vậy, nội dung vẫn còn thiên về dân số phát triển và chưa được coi SKSS như một mục tiêu ưu tiên trong chính sách quốc gia.

Nhiều tác giả đã chọn vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản (GDSKSS) làm đề tài cho luận văn ở các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ Ví dụ điển hình gồm luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Lợi (2000) với chủ đề Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về SKSS cho học sinh THPT các huyện miền núi Phú Thọ; luận văn thạc sĩ của Lê Thị Kim Hoa (2003) về Các biện pháp giáo dục SKSS vị thành niên cho HS THPT thành phố Nam Định; và luận án tiến sĩ của Trần Thị Minh Ngọc với đề tài Nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học sư phạm về SKSS (2006) Nhìn chung, các công trình này tập trung làm rõ cơ sở lý luận về sự cần thiết của giáo dục SKSS và thực trạng nhận thức về SKSS, đồng thời chú trọng các lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và đời sống tâm-sinh lý tuổi vị thành niên.

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG TH VÀ THCS AN LẠC -

XÃ THỐNG NHẤT - HUYỆN LẠC THỦY -TỈNH HÒA BÌNH

Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Xã Thống Nhất là một xã trung du vùng núi thấp, có địa hình đồi núi chiếm đa số với độ dốc trung bình khoảng 15°, cao nhất 40° Độ cao so với mực nước biển từ 120 m đến 270 m Tỉnh lộ 438B đi qua xã với tổng chiều dài 5 km Xã cách trung tâm huyện Lạc Thủy 18 km về phía Tây Nam Tổng diện tích tự nhiên 2.380,37 ha, có 861 hộ và 2.893 nhân khẩu Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường chiếm tỉ lệ lớn.

70%, còn lại là dân tộc kinh

Trong quá trình sản xuất phát triển, cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch tích cực, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và diện mạo nông thôn xã đổi thay nhanh chóng; cơ sở hạ tầng được chỉnh trang, nâng cấp ngày càng hoàn thiện, xứng đáng với danh hiệu xã đạt chuẩn Nông thôn mới Năm 2019, thu nhập bình quân đầu người đạt 35,6 triệu đồng/năm và tổng giá trị sản xuất của xã ước đạt 319,6 tỷ đồng Chính sách xã hội được quan tâm toàn diện, từ chăm lo cho gia đình thương binh liệt sĩ, hỗ trợ đồng bào bị thiên tai đến xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho các hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất thông qua các đoàn thể tại địa phương như Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân và Hội Phụ nữ Hiện toàn xã có 49 hộ nghèo, chiếm 1,9% tổng số hộ, giảm 0,34% so với năm 2018.

Trong những năm qua, xã Thống Nhất đã triển khai nhiều biện pháp tích cực nhằm giải quyết việc làm cho người lao động, như hỗ trợ, đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế và phối hợp với các ngành liên quan để xúc tiến việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp Trong những năm tới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, địa phương sẽ đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân và ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn.

Văn hóa - xã hội có chuyển biến tích cực; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên và các mũi nhọn được đẩy mạnh; đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa, cơ sở vật chất trường học được tăng cường, giúp duy trì phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và hoàn thành mục tiêu phổ cập trung học cơ sở Mạng lưới y tế được tăng cường về cán bộ và cơ sở vật chất, điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tốt lên Hoạt động văn hóa, thông tin, phát thanh - truyền hình, thể dục, thể thao được đẩy mạnh, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

Tình hình chính trị ổn định, an ninh nông thôn miền núi được giữ vững và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có chuyển biến tích cực, số chi bộ trong sạch, vững mạnh hàng năm tăng lên Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp từ huyện đến xã được nâng lên, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được phát huy.

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu

Trường tiểu học và THCS An Lạc thuộc huyện miền núi Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, nằm ở xã có đời sống còn nhiều khó khăn, địa hình hiểm trở và dân cư thưa thớt; bất chấp điều kiện, trường đã đạt được nhiều thành tích trong giáo dục Mỗi năm trường có khoảng 440 học sinh theo học, các em học sinh rất ngoan ngoãn, chăm chỉ và ham học tập Phụ huynh chủ yếu làm nông, một số ít là công chức, viên chức Đội ngũ giáo viên của trường phần lớn có trình độ đại học hoặc cao đẳng, với chuyên môn vững vàng.

Trang thiết bị dạy học ở trường gần như đầy đủ, đảm bảo cho phòng học và thư viện có đầy đủ tài liệu học tập như sách, báo và dụng cụ học tập Tuy vậy, nguồn lực còn hạn chế ở số lượng máy tính, khiến việc học môn tin học chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên dạy ngoại ngữ còn ít, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và khả năng tiếp cận ngôn ngữ cho người học.

Nội dung đào tạo chủ yếu bao gồm các kiến thức nền tảng về văn hóa và đạo đức làm người trong xã hội, kết hợp với giáo dục thể lực và chăm sóc sức khỏe cho học sinh nhằm hình thành nhân cách tốt, thói quen ứng xử tích cực và phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần.

Phương pháp dạy học hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các hình thức truyền thống như giảng, đọc và chép, chưa được tích hợp với các phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu, PowerPoint và các công cụ công nghệ khác Do thiếu sự ứng dụng công nghệ trong quá trình lên lớp, học sinh gặp khó khăn trong quá trình lĩnh hội kiến thức, dẫn đến mức độ nắm vững còn hạn chế và chưa đi sâu sát với nhu cầu học tập thực tế.

- Về học sinh: Báo cáo tổng kết năm học 2019 – 2020

Bảng 2.1: Báo cáo số học sinh trường TH và THCS An Lạc năm học 2019 – 2020

Tổng số hs Nữ Dân tộc

Tỷ lệ tăng giảm so với đầu năm Ghi chú

Báo cáo sơ kết năm học 2019–2020 xác định phạm vi nghiên cứu là các học sinh trong độ tuổi THCS, tập trung vào các khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9 Mẫu nghiên cứu có tổng số 180 học sinh, đại diện cho nhóm tuổi và cấp học THCS được khảo sát để làm rõ các đặc điểm và kết quả liên quan.

- Về đội ngũ cán bộ giáo viên:

Bảng 2.2 : Báo cáo số giáo viên trường TH và THCS An Lạc năm học 2019 – 2020

Tổng BC HĐ68 Nữ DT Nữ

DT ĐH CĐ TH Chƣa ĐT Đảng viên

( Báo cáo sơ kết năm học 2019 – 2020)

Nhà trường cơ bản đảm bảo công tác giảng dạy và các hoạt động chung, đồng thời duy trì hệ thống quản lý chất lượng hiệu quả Nhìn chung đội ngũ cán bộ, giáo viên đã đạt và vượt chuẩn, đáp ứng tốt các yêu cầu về chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học Cán bộ, giáo viên của nhà trường có đủ năng lực và trách nhiệm để đảm nhiệm nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh, giúp học sinh phát triển toàn diện về tri thức, kỹ năng sống và nhân cách.

Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình

2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh THCS An Lạc về giáo dục sức khỏe sinh sản

Trải qua một thời gian dài, xã hội nói chung và ở góc độ cá nhân chúng ta vẫn còn né tránh khi đề cập đến vấn đề giới tính, tình dục, và đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới những hậu quả như lối sống buông thả, quan hệ tình dục sớm, sống thử và mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên Mấu chốt của vấn đề là sự hiểu biết chưa đúng về kiến thức giới tính của học sinh, với quan niệm chưa đúng đắn như: GDSKSS là con dao hai lưỡi, là vẽ đường cho hươu chạy… Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tìm hiểu sự hiểu biết của học sinh về những nội dung trong môn GDGT dựa trên những gì các em đã được học ở trường Qua khảo sát 180 học sinh ở trường tiểu học và THCS An Lạc về nội dung GDGT, kết quả cho thấy nhận thức của học sinh còn chưa đầy đủ, nhiều em có quan niệm sai lệch và ngại bàn luận về giới tính, từ đó cho thấy nhu cầu tăng cường giáo dục giới tính tại trường và sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình để trang bị kiến thức an toàn và đúng đắn cho học sinh.

 Nhận thức của học sinh về khái niệm giáo dục sức khỏe sinh sản

Biểu đồ 2.1 Hiểu biết của học sinh về nhận thức giới tính

(Nguồn khảo sát thực tế) Nhận xét biểu đồ 2.1

Có tới 79,2% học sinh nhận thức chưa đầy đủ về khái niệm giới tính Các em chỉ nhận thức được một mặt của khái niệm giới tính, ví dụ như nhận diện giới tính ở mức cơ bản là giống đực và giống cái (37,5%), hoặc nhận biết các đặc điểm khác nhau về sinh lý cơ thể (25,8%).

83,3% học sinh chọn khái niệm về giới tính là “Những đặc điểm khác nhau về tâm sinh lí con người”, cho thấy nhận thức khái niệm về giới tính ở mức tương đối đầy đủ Điều này phản ánh sự hiểu biết của phần lớn học sinh về sự khác biệt tâm sinh lí giữa các giới tính, dù vẫn còn một số học sinh cần được bổ sung kiến thức để mở rộng hiểu biết về giới tính và sự đa dạng của nó.

 Nhận thức về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản

Qua khảo sát 120 học sinh thcs ở trường tiểu học và THCS An Lạc hiểu về nội dung GDGT, kết quả thu đƣợc nhƣ sau:

So với nội dung GDGT được đưa vào trường, học sinh có nhận thức khá cao về các nội dung giáo dục giới tính; các em cho rằng GDGT bao gồm các chủ đề: quan hệ tình bạn, tình yêu; tâm sinh lý tuổi vị thành niên; quan hệ tình dục; các bệnh lây truyền qua đường tình dục; các biện pháp tránh thai; hậu quả của nạo phá thai; vấn đề sinh sản; hôn nhân gia đình Trong đó, nội dung được đề cập nhiều nhất là “quan hệ tình dục”, chiếm 85,5% ý kiến học sinh; tiếp theo là các bệnh lây truyền qua đường tình dục, còn lại là các chủ đề khác như quan hệ tình bạn và tình yêu, tâm sinh lý tuổi vị thành niên, biện pháp tránh thai, hậu quả của nạo phá thai, vấn đề sinh sản và hôn nhân gia đình.

Khảo sát cho thấy 80,7% ý kiến của học sinh liên quan đến giáo dục giới tính, trong đó chủ đề “Cách phòng tránh thai và hậu quả của việc phá thai” được lựa chọn với tỉ lệ 75,7% Mô tả số liệu cụ thể được trình bày ở biểu đồ sau.

Biểu đồ 2.2 Nhận thức về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản

(Nguồn khảo sát thực tế)

Giải thích cho lựa chọn trên cho thấy các vấn đề liên quan tới tình dục và tình dục an toàn ở lứa tuổi vị thành niên đang được xã hội quan tâm và đề cập rộng rãi Hiện nay một bộ phận học sinh có hành vi yêu đương sớm và quan hệ tình dục không an toàn gây ra hậu quả nghiêm trọng như mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai Theo thống kê của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, các ca nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên chiếm tới 30% tổng số ca, trong khi 50% ca nhiễm HIV/AIDS là dưới 25 tuổi và nguyên nhân chủ yếu là thiếu kiến thức về tình dục và sinh sản Báo Hà Nội Mới cho biết tại Trung tâm Sức khỏe Sinh sản Hà Nội mỗi tháng có 150-180 ca nạo phá thai, trong đó 30% chưa lập gia đình Vị thành niên là tương lai của đất nước và luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, ngành nhằm phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Vì vậy, các trường ở Hoà Bình cũng chú trọng đưa nội dung liên quan tới lĩnh vực tình dục vào giảng dạy giáo dục giới tính (GDGT) cho học sinh, từ đó giúp các em có sự lựa chọn nhiều hơn về các vấn đề liên quan đến tình dục.

Ở lứa tuổi THCS, mặc dù có các nội dung khác với tỉ lệ lựa chọn cao thấp khác nhau, các chủ đề liên quan đến quan hệ tình bạn, tình yêu và thay đổi tâm sinh lý vị thành niên vẫn được học sinh quan tâm: “Quan hệ tình bạn, tình yêu” chiếm 46,7% ý kiến, còn “Thay đổi tâm sinh lý vị thành niên” chiếm 58,3% ý kiến THCS là giai đoạn cơ thể đang hoàn thiện nhưng nhận thức và vốn sống chưa trưởng thành; mối quan hệ tình bạn, tình yêu ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của các em Vì vậy, đây là những nội dung gần gũi với lứa tuổi học sinh THCS và là nội dung quan trọng trong GDSKSS tại trường Hầu hết các giáo viên được phỏng vấn đều nhấn mạnh tới những nội dung này; cô LTT nói: “Theo tôi thì đối với lứa tuổi học sinh THCS thì các em quan tâm đến nhiều tới làm thế nào để xây dựng mối quan hệ tình bạn tốt, hay cũng nhiều em băn khoăn về bạn khác giới, tình yêu tuổi học trò Vì vậy, những kiến thức về tình bạn, tình yêu trong môn GDSKSS là hoàn toàn phù hợp với các em” (giáo viên dạy Sinh của trường).

Trong nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản (GDSKSS) dành cho học sinh THCS, các chủ đề sinh sản, bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới, cùng hôn nhân gia đình được đề cập ít hơn so với các nội dung khác Lý do được đưa ra là những nội dung này vẫn còn xa với lứa tuổi học sinh THCS, nên không nhiều em lựa chọn học theo hướng này so với các chủ đề phổ biến như quan hệ tình dục tuổi vị thành niên, tình bạn hay tình yêu Điều này cho thấy thách thức trong việc tích hợp đầy đủ các nội dung liên quan đến hôn nhân gia đình và bình đẳng giới vào chương trình giáo dục Một em học sinh chia sẻ: “Theo em chưa cần thiết phải học về những vấn đề liên quan đến hôn nhân gia đình, để sau học vẫn chưa muộn.”

Có thể nói, nhìn chung các em đã hiểu đúng đắn về những nội dung trong môn giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) Các em đã nhận thức được những kiến thức giới tính cần được trang bị cho lứa tuổi nhằm phục vụ cho cuộc sống hiện tại và tương lai Tuy nhiên, sự hiểu biết của học sinh về giới tính ở những vấn đề cụ thể còn ở mức thấp, điều này khiến ta suy nghĩ về hiệu quả của việc dạy giáo dục SKSS hiện nay trong trường và cần xem xét cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy để nâng cao kiến thức giới tính cho học sinh.

 Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục SKSS:

Giáo dục giới tính cho học sinh THCS có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách, giúp các em nhận thức đúng đắn về giới tính, quyền và trách nhiệm cá nhân Vì vậy việc đưa GDSKSS vào chương trình của trường THCS là cần thiết, nhất là khi xã hội đang lên tiếng về hậu quả của thiếu kiến thức giới tính đối với học sinh Các em là người trong cuộc sẽ đánh giá vai trò của GDSKSS sau khi được học trong nhà trường và qua các kênh thông tin khác; kết quả đánh giá về mức độ cần thiết của GDSKSS được thể hiện rõ qua biểu đồ ở dưới đây Bài viết này mô tả những nội dung thiết yếu mà GDSKSS mang lại và giải thích vì sao trường THCS nên ưu tiên tích hợp giáo dục giới tính vào chương trình giảng dạy để hình thành thói quen và nhận thức an toàn cho học sinh.

Biểu đồ 2.3: Sự cần thiết của giáo dục SKSS

(Nguồn khảo sát thực tế)

Số liệu từ biểu đồ cho thấy 29% học sinh cho rằng giáo dục giới tính (GDGT) là cần thiết, trong đó mức độ “Rất cần thiết” chiếm 18% và “bình thường” là 28% Với số liệu này, các em học sinh đã nhận thấy được tầm quan trọng của GDGT đối với chính bản thân các em Cụ thể dưới đây là một số ý kiến của học sinh về vấn đề này.

Giáo dục giới tính (SKSS) thực sự cần thiết trong giáo dục hiện đại, mang lại cho học sinh những hiểu biết căn bản về giới tính, quyền tự chủ và sức khỏe sinh sản Nhờ được trang bị kiến thức đúng đắn, học sinh có thể nhận diện và phòng tránh các rủi ro ngoài ý muốn liên quan đến tình dục, từ đó giảm nguy cơ mang thai ngoài ý muốn và lây nhiễm bệnh qua đường tình dục Đối với học sinh nam, giáo dục giới tính giúp các em phát triển nhận thức, hành vi an toàn và trách nhiệm khi tham gia các hoạt động liên quan đến giới tính.

Có những người nghĩ đó là điều xa vời, không bao giờ quan trọng và chỉ là chuyện của người lớn Tuy nhiên, khi được học, họ nhận ra đó là kiến thức thiết yếu cho cuộc sống và tương lai, và nếu được học sớm hơn thì lợi ích sẽ lớn hơn nhiều (Học sinh nữ, phiếu 89)

Giáo dục SKSS giúp học sinh tránh được những hậu quả có thể xảy ra trong tương lai và định hướng các em tới một cuộc sống tốt đẹp hơn Việc trang bị kiến thức về sức khỏe sinh sản, quyền tự chủ và trách nhiệm cá nhân là nền tảng để học sinh, đặc biệt là học sinh nữ, chuẩn bị tốt cho tuổi trưởng thành Đây là một mục đích tốt và rất cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một cộng đồng an toàn, lành mạnh và tiến bộ.

Theo một nữ sinh, vấn đề này có thể học được hoặc cũng có thể không học; ở lứa tuổi này em thấy nội dung ấy chưa phù hợp lắm vì bọn em còn quá trẻ để cần biết.

Cơ sở đề xuất giải pháp

Giáo dục SKSS là một bộ phận quan trọng của nội dung giáo dục toàn diện, mang lại những kiến thức và kỹ năng thiết thực cho thế hệ trẻ Để thực hiện hiệu quả, giáo dục SKSS đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, phù hợp với sự biến đổi tâm sinh lý theo từng lứa tuổi Mục tiêu của giáo dục SKSS là trang bị cho học sinh những hiểu biết căn bản về giới và giới tính, hình thành quan niệm sống tiến bộ và đúng đắn, đồng thời tôn trọng tình bạn, tình yêu chân thành, trong sáng và phát triển ý thức trách nhiệm với gia đình và xã hội.

Qua quá trình khảo sát thực tế mong muốn của học sinh THCS tại trường

TH và THCS An Lạc, tác giả thu đƣợc kết quả nhƣ sau

3.1.1 Mong muốn của học sinh về nội dung giáo dục SKSS

Như tác giả đã trình bày, giáo dục SKSS là một vấn đề nhạy cảm nên việc chọn nội dung phù hợp để giáo dục cho học sinh gặp nhiều khó khăn Để tháo gỡ vấn đề này, việc hiểu học sinh có nhu cầu được học những nội dung nào là rất cần thiết Khảo sát về vấn đề này cho thấy kết quả được thể hiện ở biểu đồ 3.8.

Biểu đồ 3.1 Mong muốn của học sinh về nội dung giáo dục SKSS

Đầu tiên, sự thay đổi tâm sinh lý tuổi vị thành niên chiếm tới 90% ý kiến của học sinh Trong giai đoạn dậy thì, những biến đổi lớn về cơ thể và tâm lý khiến các em tò mò, băn khoăn và lo lắng về tốc độ dậy thì, ảnh hưởng tới hình dáng và chức năng cơ thể hay sự khác biệt so với bạn bè Vì vậy, các em rất muốn tìm hiểu và lý giải những hiện tượng này, nên việc học nội dung về tâm sinh lý tuổi vị thành niên là phù hợp với nhu cầu cũng như đặc điểm lứa tuổi.

Trong tuổi dậy thì, cách xử lý với bạn khác giới, tình bạn và tình yêu chiếm tới 85% mong muốn của học sinh, cho thấy sự thay đổi tâm sinh lý rất mạnh mẽ Ở giai đoạn này, tình bạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì giúp các em tự khám phá và tự kiểm tra bản thân Những mối quan hệ bạn bè chân thành cho phép các em đối chiếu ước mơ và lý tưởng với người bạn đồng trang lứa, đồng thời nhận được đánh giá, phản hồi về bản thân thông qua lời nhận xét của bạn bè Vì vậy, nhu cầu duy trì và phát triển quan hệ bạn bè là yếu tố thiết yếu để các em khẳng định bản thân và xây dựng kỹ năng xã hội hiệu quả.

Trong khảo sát, nội dung thứ ba được các em lựa chọn nhiều nhất là "Vẻ đẹp và cách chăm sóc", chiếm tới 85% ý kiến của học sinh Lứa tuổi học sinh là giai đoạn các em muốn khẳng định bản thân mạnh mẽ và chú ý hơn đến người khác giới, nên nhu cầu làm đẹp và chăm sóc bản thân tăng lên đáng kể Vì vậy, việc cung cấp kiến thức về chăm sóc bản thân và vẻ ngoài là điều dễ hiểu, giúp các em trang bị kỹ năng tự chăm sóc và tự tin thể hiện bản thân.

Những nội dung còn lại như tình dục, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, sinh sản và bình đẳng nam nữ có sự lựa chọn ít hơn nhưng chiếm tỷ lệ rất cao, trên 60% ý kiến học sinh Điều này có thể lý giải bởi đây là những nội dung mang tính chất tế nhị và khó nói, khiến học sinh ngại thảo luận và ít chia sẻ.

3.1.2 Mong muốn của học sinh về hình thức giáo dục SKSS

Giáo dục SKSS là nhu cầu cấp thiết của xã hội và đã được đưa vào nhà trường, nhưng vẫn còn băn khoăn về hình thức triển khai phù hợp Có quan điểm cho rằng nên đưa SKSS vào như một môn học chính khóa, trong khi nhiều ý kiến khác cho rằng cần các hình thức giảng dạy linh hoạt và phù hợp với lứa tuổi Để nắm bắt suy nghĩ của học sinh, nghiên cứu tập trung khảo sát ý kiến của học sinh về các hình thức giáo dục SKSS tại các trường Tiểu học và Trung học cơ sở An Lạc Kết quả được mô tả cụ thể qua biểu đồ ở dưới cho thấy mức độ đồng thuận và sự khác biệt giữa các nhóm học sinh về các hình thức giảng dạy SKSS, từ đó đề xuất các lựa chọn tổ chức giáo dục SKSS tối ưu cho trường An Lạc.

Biểu đồ 3.2 Mong muốn của học sinh về hình thức giáo dục SKSS

(Nguồn khảo sát thực tế)

Trên cơ sở số liệu từ biểu đồ, 77.5% học sinh cho rằng nên được tổ chức các buổi học ngoại khoá về giới tính và sức khỏe sinh sản, đây là hình thức được lựa chọn cao nhất so với các hình thức khác Hiện nay, học ngoại khoá là hình thức chủ yếu được các trường THCS ở Hoà Bình thực hiện để tổ chức giảng dạy giáo dục SKSS cho học sinh Học ngoại khoá là các hoạt động nằm ngoài chương trình chính khóa, thường mang tính tự nguyện, ít bị ép buộc, nên mang lại cảm giác thoải mái và ít căng thẳng cho người học Với đặc điểm ấy, khi tiếp cận kiến thức về giới tính thông qua hình thức ngoại khoá, các em không bị ràng buộc về kết quả học tập hay yêu cầu hoàn thành môn học, vì vậy các em mong muốn hình thức này nhiều hơn.

Động lực thứ hai của học sinh là mong muốn tích hợp nội dung vào các môn học khác theo hình thức liên môn, chiếm tới 69,2% Học sinh mong được lồng ghép nội dung vào các môn như sinh học và giáo dục công dân, cùng các hoạt động liên môn nhằm giúp học sinh có cái nhìn tổng thể hơn về chương trình học, nhưng vẫn không phải học quá nhiều kiến thức ở phần này.

Việc tổ chức giáo dục SKSS thành môn học chính thức trong nhà trường đang nhận được sự quan tâm của các nhà quản lý và giáo dục, nhưng tỉ lệ học sinh lựa chọn môn này vẫn khá thấp, chỉ có 46,7% ý kiến mong muốn được tham gia Có thể do các giờ học chính khoá gây áp lực cho các em, đồng thời giáo dục SKSS vẫn chưa được coi ngang bằng với các môn học khác, mặc dù các em nhận thức được tầm quan trọng của nó.

Ý kiến về hình thức phát tài liệu cho học sinh cho thấy tỷ lệ đồng thuận rất thấp, khoảng 20,8% Vì nếu chỉ phát tài liệu, các em có thể tự tìm hiểu thêm qua sách, báo và internet để nâng cao kiến thức, nên hình thức này không đáp ứng được nhu cầu học tập sâu và tự chủ của các em.

Hoạt động theo hình thức câu lạc bộ chiếm 17,5% tổng số hình thức tổ chức, và theo các em học sinh, hoạt động này mang lại sự thoải mái khi trao đổi về giới tính, đồng thời giúp các em không còn e ngại khi nói tới những vấn đề nhạy cảm.

3.1.3 Mong muốn của học sinh về đối tượng tham gia giáo dục SKSS

Thành công và hiệu quả của giáo dục SKSS cho học sinh phụ thuộc vào người trực tiếp truyền đạt các kiến thức và kỹ năng về giới tính mà các em mong đợi; vì thế, chúng tôi đã tiến hành khảo sát mong muốn của học sinh về đối tượng tham gia giáo dục SKSS dựa trên những đánh giá của các em, và kết quả khảo sát được trình bày trong biểu đồ dưới đây, cho thấy xu hướng và mức độ ưu tiên của học sinh đối với các đối tượng giảng dạy SKSS để từ đó điều chỉnh chương trình cho phù hợp.

Biểu đồ 3.3 Mong muốn của học sinh về đối tƣợng tham gia giáo dục SKSS

(Nguồn khảo sát thực tế)

Khoảng 39,2% học sinh lựa chọn những người truyền đạt kiến thức là những chuyên gia trong lĩnh vực này, như bác sĩ và nhà tâm lý học Đây là đội ngũ được đào tạo sâu về giáo dục giới tính, tình dục và tâm lý lứa tuổi, nên có thể mang đến cho các em niềm tin khi giải đáp những thắc mắc về giới tính Đồng thời, uy tín của họ cũng nâng cao mong muốn tìm hiểu của học sinh và làm tăng độ thuyết phục của các thông tin được cung cấp.

Nhóm giáo viên được các em tin tưởng nhất ở nội dung này là đội ngũ giáo viên chuyên môn về lĩnh vực giáo dục SKSS của trường, chiếm 29,2%, nhưng con số này vẫn chưa được xem là cao Giống như các môn học khác, môn giáo dục SKSS có đội ngũ giáo viên đảm nhận giảng dạy tại trường và được đào tạo sâu về các kiến thức liên quan đến giới tính Tuy vậy, ở Việt Nam hiện chưa có nơi đào tạo một đội ngũ giáo viên riêng biệt dành cho môn giáo dục SKSS, điều này khiến các em khó nhận biết năng lực của đội ngũ này và dẫn đến mức độ mong muốn học tập từ các em vẫn còn ở mức thấp.

Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục sức khỏe

Trên cơ sở thực trạng và nhu cầu giáo dục SKSS cho học sinh ở cấp tiểu học và THCS, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục SKSS và đáp ứng đúng mong đợi của nhà trường Các giải pháp trọng tâm gồm tăng cường năng lực đội ngũ giáo viên giảng dạy SKSS thông qua đào tạo chuyên môn liên tục, bổ sung tài liệu và công cụ giảng dạy hiện đại, dễ tiếp cận và phù hợp với lứa tuổi; xây dựng chương trình giáo dục SKSS được lồng ghép có hệ thống vào kế hoạch giảng dạy ở tất cả cấp học và hoạt động ngoại khóa Đồng thời, củng cố sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để hình thành hệ sinh thái hỗ trợ học sinh, bảo đảm an toàn thông tin, quyền riêng tư và tôn trọng sự đa dạng giới tính Chú trọng tạo môi trường học tập mở, khuyến khích thảo luận thẳng thắn và phản hồi của học sinh để điều chỉnh nội dung cho phù hợp, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tài nguyên số nhằm nâng cao tính tương tác và tiếp cận kiến thức SKSS một cách khoa học và tin cậy.

3.2.1 Đổi mới chương trình giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho học sinh trường TH và THCS An Lạc

3.2.1.1 Về nội dung Giáo dục sức khỏe sinh sản

Đưa nội dung về SKSS lồng ghép vào các chương trình bộ môn chính khóa, đặc biệt là Sinh học và Giáo dục công dân, để kiến thức về SKSS được giảng dạy một cách có hệ thống và xuyên suốt Nội dung các câu hỏi về chủ đề SKSS cần được thiết kế dễ hiểu, gần gũi và gắn với thực tế của học sinh nhằm tăng tính liên hệ và dễ tiếp nhận Những kiến thức này nhắm mục đích giúp học sinh hiểu biết về SKSS, nâng cao nhận thức cá nhân và từ đó có thể tự chăm sóc, bảo vệ SKSS cho chính mình Việc lồng ghép cũng góp phần xây dựng môi trường học tập an toàn, khuyến khích thảo luận mở về sức khỏe sinh sản và trang bị các kỹ năng để hành động có trách nhiệm và an toàn trong tương lai.

Chú trọng giảng dạy những nội dung cơ bản như Tâm lý tuổi dậy thì, các biện pháp phòng tránh thai an toàn, cách phòng tránh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, cùng với hướng dẫn Cách sử dụng bao cao su đúng cách an toàn Nội dung này giúp học sinh nhận biết sự thay đổi tâm sinh lý tuổi vị thành niên, nhận diện rủi ro và lựa chọn các biện pháp bảo vệ sức khỏe sinh sản một cách có trách nhiệm Việc nhấn mạnh cách sử dụng bao cao su đúng cách và an toàn sẽ giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và mang thai ngoài ý muốn, đồng thời củng cố hành vi chăm sóc bản thân và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Nhà trường cần chú trọng đồng thời vào chương trình giáo dục và biên soạn tài liệu giảng dạy, đảm bảo nội dung được thiết kế thực tiễn và sát với nhu cầu của học sinh, đồng thời liên tục cập nhật tài liệu để gửi tới giáo viên Nội dung giáo dục giới tính và SKSS nên được đổi mới theo hướng thiết thực, nâng cao khả năng áp dụng vào cuộc sống và phù hợp với từng lứa tuổi Bên cạnh đó, trường tổ chức thường xuyên các buổi sinh hoạt về chủ đề SKSS để học sinh không chỉ hiểu kiến thức mà còn có thể vận dụng vào thực tế Ngoài ra, nhà trường cần khảo sát và tham khảo các nguồn thông tin từ các trung tâm giáo dục kỹ năng sống, các cộng đồng và tổ chức liên quan nhằm xem cách bố trí nội dung sao cho phù hợp nhất, đầy đủ nhất cho một buổi học SKSS.

Đối với giáo viên, nâng cao kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn trong giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) là nền tảng để nâng cao chất lượng giảng dạy Bên cạnh các buổi trao đổi kinh nghiệm giữa giáo viên nhằm chia sẻ kiến thức và chuyên môn, giáo viên cần chủ động cập nhật các thông tin mới về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản (CSSKSS) và tiếp tục trau dồi kỹ năng cá nhân để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

3.2.1.2Về phương pháp Giáo dục sức khỏe sinh sản

Nhà trường nên mời các báo cáo viên từ Trung tâm kỹ năng sống, cán bộ y tế hoặc giáo viên nguồn bồi dưỡng để bổ sung kiến thức, kỹ năng và phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giáo viên Việc này giúp cập nhật nội dung giảng dạy, cải thiện kỹ năng sư phạm và phương pháp truyền đạt, đồng thời tạo hứng thú và tăng hiệu quả của buổi học.

Nhà trường cần tổ chức hoặc giới thiệu giáo viên tham gia các lớp tập huấn về giáo dục SKSS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Bên cạnh đó, cần tăng cường cán bộ, nhân viên chuyên trách về giáo dục SKSS để triển khai chương trình một cách đồng bộ và hiệu quả, đồng thời hỗ trợ giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy và tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản.

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy sức khỏe sinh sản (SKSS) trong trường học, các chuyên viên và giáo viên cần đổi mới cách tiếp cận theo hướng mở, thẳng thắn trao đổi với học sinh và lắng nghe nhu cầu của người học Việc biết ứng dụng công nghệ giáo dục hiện đại và các phương pháp giảng dạy tiên tiến sẽ giúp nội dung SKSS được trình bày rõ ràng, sinh động và phù hợp với từng đối tượng Bên cạnh đó, tạo môi trường học tập tin cậy, khuyến khích thảo luận mở và trả lời các thắc mắc một cách chuẩn xác sẽ tăng cường sự tham gia của học sinh và hiệu quả truyền thông về SKSS.

Chúng tôi tiếp tục phối hợp với các ban ngành, đoàn thể để tổ chức các buổi ngoại khóa với nội dung giáo dục cho toàn trường, thông qua các buổi nói chuyện chuyên đề và nhiều hình thức thực hiện khác nhau, điển hình như đóng tiểu phẩm nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức và kỹ năng cho học sinh.

Các phương tiện dạy học cần được sử dụng thường xuyên và đưa vào bài giảng một cách linh hoạt, kết hợp xem tranh, ảnh, video và các minh họa trực quan để tăng sự tương tác và hiểu bài Ví dụ khi giảng về các biện pháp tránh thai an toàn, giáo viên cần trang bị dụng cụ minh họa như bao cao su, các loại thuốc tránh thai an toàn và mô hình các bệnh lây truyền qua đường tình dục để học viên quan sát và hình dung chi tiết Việc lồng ghép các công cụ giảng dạy này giúp nâng cao nhận thức về phòng ngừa, phát triển kỹ năng thực hành an toàn tình dục và tạo môi trường học tập sinh động Thiết kế bài giảng nên tích hợp các phương tiện dạy học một cách tự nhiên và có kế hoạch nhằm tối ưu hoá hiệu quả giảng dạy và sự chú ý của người học Nhờ tối ưu hóa hình thức và nội dung qua các phương tiện dạy học, bài giảng về sức khỏe sinh sản và giáo dục giới tính sẽ dễ tiếp cận, có tính ứng dụng và cải thiện kết quả học tập.

3.2.1.3 Về thời gian tổ chức Giáo dục sức khỏe sinh sản

Việc bố trí lịch học ngoại khóa kỹ năng sống một cách linh hoạt cho giáo viên và học sinh là yếu tố thiết yếu giúp chương trình giáo dục được thực hiện đầy đủ Giáo viên cần chủ động sắp xếp lịch giảng dạy và khung thời khóa biểu một cách hợp lý để tránh tình trạng dạy chậm chương trình, từ đó đảm bảo mỗi tiết học kỹ năng sống diễn ra đúng tiến độ và đạt hiệu quả cho học sinh.

- Tăng cường kết hợp tổ chức giao lưu giữa học sinh với cán bộ y tế, cán bộ dân số truyền thông về CSSKSS

- Tăng thời gian tổ chức GDCSSKSS cho học sinh trong trường Tăng thời lƣợng số tiết học, số buổi học GD CSSKSS trong năm học

3.2.1.4 Về hình thức tổ chức Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông

- Tiến hành tổ chức các lớp học giáo dục SKSS theo nhu cầu của học sinh

Tổ chức các hoạt động ngoại khóa lồng ghép với SKSS nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng cho học sinh; để tăng cường sự tham gia, cần đa dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa, từ các cuộc thi, hoạt động tập thể văn nghệ đến thể dục thể thao, đồng thời phối hợp các trò chơi vui chơi giải trí lành mạnh, bổ ích cho học sinh.

Tiếp tục lồng ghép nội dung SKSS vào các môn học và có kế hoạch cụ thể, rõ ràng về tài liệu, phương tiện và kinh phí phục vụ cho hoạt động này Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tham dự các hội thảo và lớp bồi dưỡng về SKSS nhằm nâng cao năng lực giảng dạy và ứng dụng thực tiễn Cần xác định nguồn lực đầu tư cho thiết bị dạy học, tài liệu giảng dạy và kinh phí triển khai; xây dựng chương trình giảng dạy phù hợp với điều kiện từng trường và đánh giá định kỳ hiệu quả tích hợp SKSS vào giáo dục.

Đề xuất tích hợp nội dung SKSS vào môn kỹ năng sống cho học sinh dưới hình thức không tính điểm, không kiểm tra mà tập trung trao đổi, chia sẻ và làm bài thu hoạch để học sinh thể hiện nhận thức, hiểu biết về sức khỏe sinh sản và giới tính; đồng thời tăng thời lượng dạy SKSS trong trường học và hạn chế hình thức dạy tập trung toàn trường vì dễ bị nhiễu, khó tập trung và học sinh nói chuyện riêng nhiều Nên tổ chức dạy theo lớp hoặc tách nam – nữ để học sinh thoải mái chia sẻ, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và có thể điều chỉnh kịp thời.

Chúng ta tăng cường hình thức tổ chức các trò chơi giáo dục nhằm nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản (SKSS) và giới tính, đồng thời lồng ghép các chuyên đề giới tính, SKSS vào các môn học để đảm bảo sự tiếp cận toàn diện và liên thông giữa các môn học.

3.2.2 Giải pháp về tuyên truyền nâng cao về nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản

Một số mô hình áp dụng

3.3.1 Xây dựng phòng công tác xã hội

Công tác xã hội được xem là một ngành khoa học khá mới ở Việt Nam, nên công tác xã hội trường học được hình thành và phát triển dần dưới tác động của ngành này tới các lĩnh vực và đối tượng khác nhau của đời sống xã hội Trong bối cảnh hiện nay, khi công tác xã hội là ngành mới được quan tâm và phát triển, đã có hơn 40 trường đại học – cao đẳng trên cả nước mở mã ngành đào tạo Công tác xã hội, cho thấy đội ngũ nhân viên công tác xã hội đang được bổ sung và mạng lưới công tác xã hội chuyên nghiệp đang hình thành trên khắp đất nước Để nghề công tác xã hội trong trường học phát triển hơn, cần sự quan tâm của các nhà quản lý ở các Bộ, ngành để đưa nội dung này vào chiến lược phát triển giáo dục của đất nước.

Ở tỉnh Hòa Bình nói chung và trường TH và THCS An Lạc nói riêng, công tác xã hội học đường vẫn còn mới mẻ và xa lạ với nhiều người Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành công tác xã hội tại địa phương, công tác xã hội học đường ngày càng được chú trọng và phát triển phù hợp với tình hình thực tế hiện nay Việc đẩy mạnh hoạt động xã hội học đường giúp hỗ trợ học sinh và gia đình, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng để đảm bảo môi trường học tập an toàn và tích cực.

Hiện nay trường TH và THCS An Lạc chưa có nhân viên công tác xã hội học đường (NVCTXH), trong khi vai trò của NVCTXH trong trường học ngày càng quan trọng để xây dựng môi trường học tập an toàn, hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện và nâng cao kết quả học tập Để khắc phục, nhà trường nên tuyển dụng NVCTXH theo Đề án 32 Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010–2020 được phê duyệt ngày 25/03/2010, nhằm trang bị cho người làm công tác xã hội trong trường học kiến thức, kỹ năng và chuyên môn về chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), tâm lý và các vấn đề xã hội liên quan Cần mở thêm lớp tập huấn thực hành ngoại khóa để nâng cao kỹ năng giảng dạy, phương pháp can thiệp và hình thức can thiệp, đồng thời đảm bảo NVCTXH được cung cấp đầy đủ thông tin và kiến thức phù hợp về SKSS cho học sinh Công việc của NVCTXH là hỗ trợ học sinh và gia đình đối phó với những tình huống khó khăn, gắn kết họ với nguồn lực trong cộng đồng và xây dựng một môi trường thân thiện, nơi học sinh có thể thành công trong học tập và phát triển nhân cách Với vai trò cầu nối giữa phụ huynh, nhà trường và cộng đồng, NVCTXH học đường sẽ tổ chức và thực hiện các buổi tập huấn kỹ năng, tham vấn cho các cá nhân có nhu cầu, phát triển các chương trình phòng ngừa hành vi tiêu cực và thực hiện các hoạt động can thiệp nhằm giảm thiểu rào cản học tập và hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh.

Vai trò của người kết nối là cầu nối giữa học sinh THCS và kiến thức về sức khỏe sinh sản (SKSS) Đối với học sinh THCS, việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và sự hiểu biết về SKSS không chỉ phụ thuộc vào nhà trường mà còn chịu tác động từ nhiều phía như gia đình, bạn bè, xã hội và các phương tiện truyền thông khác; nhờ sự phối hợp của những yếu tố này, các em được tiếp cận thông tin đáng tin cậy, trau dồi kỹ năng đánh giá nguồn tin và hình thành nhận thức tích cực về sức khỏe sinh sản.

Gia đình và nhà trường là hai yếu tố tác động mạnh nhất và có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự hiểu biết và nhận thức của trẻ; đây là cái nôi để hướng dẫn các em và cung cấp kiến thức về SKSS cho con, em mình.

Nhân viên công tác xã hội trong trường học có thể đề xuất các biện pháp khắc phục như tổ chức các buổi tập huấn hoặc tư vấn cho phụ huynh học sinh, để phụ huynh nhận thức rõ rằng vấn đề này rất quan trọng và cần thiết đối với con em mình, đặc biệt ở lứa tuổi vị thành niên Việc cung cấp kiến thức cho phụ huynh không chỉ giúp họ nắm bắt thông tin hữu ích mà còn truyền đạt cho các con, từ đó giúp trẻ tránh được các hậu quả đáng tiếc như quan hệ tình dục trước hôn nhân, các biện pháp phòng tránh thai an toàn, phòng ngừa các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và nguy cơ kết hôn sớm do có thai ngoài ý muốn.

Với vai trò là người kết nối, nhân viên công tác xã hội (CTXH) liên kết với cán bộ y tế trường học, cán bộ dân số huyện, cán bộ trung tâm y tế và báo cáo viên từ Trung tâm kỹ năng sống để tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) hoặc “Vì sự an toàn của phụ nữ và trẻ em” Đặc biệt, để nắm bắt những vấn đề của học sinh, CTXH kết nối giữa giáo viên chủ nhiệm và cán bộ y tế nhằm hiểu rõ các khó khăn mà các em đang gặp phải, từ đó hiểu được nhu cầu và mong muốn của các em để đưa ra các biện pháp phù hợp cho các em Cung cấp kiến thức và kỹ năng giúp các em có thêm hiểu biết về các vấn đề của chính bản thân mình, biết cách chăm sóc và bảo vệ SKSS cho bản thân, và tránh khủng hoảng tâm lý để không ảnh hưởng hay gián đoạn công việc học tập.

Gia đình học sinh gặp nhiều vấn đề có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập, giáo dục nhân cách và SKSS của các em Vì thế, nhân viên xã hội (NVXH) có thể tổ chức các buổi gặp gỡ phụ huynh — theo nhóm hoặc cá nhân — tùy từng trường hợp để trang bị kỹ năng làm cha mẹ và tư vấn khi cần Việc hỗ trợ phụ huynh hiểu rõ các hoạt động ở trường và vận động sự phối hợp của họ đóng vai trò then chốt cho sự thành công của các chương trình ngăn ngừa hoặc can thiệp nhằm giúp trẻ được giáo dục SKSS một cách đúng đắn và toàn diện hơn.

Có những trường hợp nhân viên xã hội (NVXH) phải chủ động tìm kiếm và phối hợp với các dịch vụ hỗ trợ trong cộng đồng để giúp gia đình các em vượt qua khó khăn và đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của các em Các nguồn lực mà NVXH có thể khai thác bao gồm chương trình an sinh xã hội, học bổng, dịch vụ sức khỏe tâm thần, chương trình nhà ở cho người nghèo và các chương trình hỗ trợ thực phẩm, nhằm đảm bảo sự hỗ trợ toàn diện cho gia đình và học sinh.

- Tham vấn nhóm, cá nhân

Việc làm việc nhóm là phương pháp hiệu quả trong giáo dục nhằm chia sẻ các vấn đề thầm kín ở lứa tuổi học sinh, từ đó xây dựng mối quan hệ tốt với các em và trang bị kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) cũng như cung cấp sự hỗ trợ kịp thời Khi tham gia nhóm, học sinh có cơ hội thực hành kỹ năng mới và xây dựng những mối quan hệ lành mạnh Nhóm có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề cá nhân như học yếu, khó khăn hoặc mất mát, gia đình bất hòa hoặc ly dị, đồng thời tập trung vào các mối quan tâm chung và cùng nhau thiết lập mục tiêu và chương trình hành động phù hợp với điều kiện của nhóm và của trường Khi cần thiết, viên chức công tác xã hội (NVXH) có thể trao đổi với giáo viên hoặc phụ huynh để phối hợp hỗ trợ các em.

NVXH cung cấp tham vấn riêng cho từng học sinh khi các em gặp khó khăn trong việc chia sẻ những điều khó nói, sử dụng các kỹ năng chuyên môn để hỗ trợ một cách hiệu quả và chuyên nghiệp Nhu cầu tham vấn có thể là vấn đề cá nhân, vấn đề thuộc gia đình hoặc trường học, hoặc sự kết hợp của cả ba Tùy theo đánh giá ban đầu, NVXH xây dựng kế hoạch tham vấn phù hợp cho từng em, đồng thời có thể phối hợp với gia đình hoặc giáo viên nếu cần thiết.

3.3.2 Xây dựng kênh kết nối nhà trường – phụ huynh – học sinh – xã hội

SKSS là sức khỏe liên quan trực tiếp đến sự phát triển của con người từ tuổi vị thành niên và liên quan đến sự duy trì nòi giống sau này; vì vậy tuổi trẻ là tương lai của dân tộc và vấn đề SKSS gắn với sự tồn vong của một dân tộc Trách nhiệm giáo dục sức khỏe sinh sản là của mọi người và của các cấp ngành tại địa phương, và cần huy động rộng rãi các lực lượng tham gia vào công tác giáo dục sức khỏe sinh sản Điều này sẽ tạo sức mạnh tổng hợp, tăng cường sự chú ý của xã hội và tận dụng nguồn lực từ các chương trình khác Việc thống nhất nhận thức, thái độ và hành vi cũng như giáo dục và chăm sóc sức khỏe sinh sản trong gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội là biện pháp cơ bản và lâu dài, cần được thực hiện một cách đồng bộ.

Nhà trường đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc tập hợp và phát huy thế mạnh của các yếu tố xã hội, phối hợp với các đoàn thể và cộng đồng để tổ chức các hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) cho học sinh Gia đình kết hợp chặt chẽ với nhà trường nhằm tăng cường vai trò của gia đình trong công tác giáo dục SKSS và tham gia tích cực vào các hoạt động giáo dục Thông qua các hoạt động thực tiễn và thời gian tổng kết kinh nghiệm, đánh giá nguyên nhân thiếu sót, từ đó đề xuất kiến nghị với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường quản lý lãnh đạo và phối hợp các nguồn lực giáo dục, đảm bảo giáo dục hiệu quả cho học sinh.

Chúng tôi triển khai các cuộc vận động chính trị và các hoạt động xã hội nhằm nâng cao nhận thức về giáo dục sức khỏe sinh sản và tình dục (SKSS) cho học sinh, đồng thời cung cấp thông tin đáng tin cậy và dễ tiếp cận để thu hút sự quan tâm của cộng đồng và tăng trách nhiệm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội trong việc giáo dục SKSS cho học sinh.

- Xây dựng và kế hoạch hoạt hoạt động về dân số và phát triển và chăm sóc SKSS

- Phát động các cuộc truyền thông rộng rãi, kết hợp cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS tại cộng đồng

- Tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa có sự tham gia đầy đủ các bên nhà trường – phụ huynh – học sinh – xã hội

Lực lượng trường học – gia đình – xã hội cần phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế, ban ngành đoàn thể tại địa phương và các trung tâm câu lạc bộ trên địa bàn để giáo dục cho học sinh Theo chức năng của mình, các cơ sở y tế tham gia vào các dịch vụ tư vấn chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và các vấn đề liên quan phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta có thể gửi các thông điệp nhanh nhất tới đông đảo đối tượng phù hợp.

KẾT LUẬN

Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục SKSS của học sinh trường

TH và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – Huyện Lạc Thủy- Tỉnh Hoà Bình Tôi rút ra những nhận định có tính kết luận sau:

Giáo dục SKSS là nhu cầu tất yếu trong quá trình phát triển nhân cách toàn diện của học sinh Nhu cầu này cần được đáp ứng để các em có đầy đủ kiến thức về giới tính và kỹ năng sống thiết yếu, từ đó tự chăm sóc bản thân, xây dựng thói quen sống lành mạnh và chuẩn bị tốt cho một tương lai tươi sáng.

Thứ hai, hầu hết học sinh có hiểu biết khá tốt về nội dung giáo dục SKSS đã được học ở trường; tuy nhiên, các em chưa có sự hiểu biết sâu sắc ở những nội dung cụ thể và mức độ hiểu còn ở mức thấp Các em cho rằng giáo dục SKSS có thể được tìm hiểu từ rất nhiều kênh thông tin khác nhau, thể hiện qua sự lựa chọn cao đối với các phương thức mà nhà trường cung cấp Đa số học sinh cho rằng giáo dục SKSS là cần thiết trong trường và điều này được thể hiện qua việc các em khẳng định sẽ gặp khó khăn khi không được trang bị đầy đủ những kiến thức về SKSS.

Học sinh mong muốn được tiếp cận đầy đủ các nội dung giáo dục SKSS và có nhu cầu được trang bị kiến thức về giới tính Vì vậy các em chọn hình thức học ngoại khoá, vừa phù hợp về thời gian vừa mang lại cảm giác thoải mái khi tiếp thu tri thức giới tính thông qua các hoạt động phong phú và đa dạng Đa số học sinh kỳ vọng vào đội ngũ chuyên gia sẽ đảm nhận công tác giáo dục SKSS trong trường THCS, cho rằng chỉ có đội ngũ này mới đáp ứng được nhu cầu kiến thức giới tính và hiểu được nguyện vọng của học sinh, dựa trên trình độ chuyên môn và sự nhạy bén với mong muốn của các em.

Trong nghiên cứu về hứng thú của học sinh khi học giáo dục SKSS, chúng tôi nhận thấy nhiều em thể hiện thái độ bình thường và thiếu động lực tham gia các tiết học Kết quả cho thấy sự quan tâm đến giáo dục SKSS còn ở mức trung bình, khiến hiệu quả giáo dục chưa đạt được như mong muốn Để tăng sự hứng thú và sự tham gia tích cực của học sinh, cần cải thiện nội dung và phương pháp giảng dạy bằng cách tích hợp ví dụ thực tế, hoạt động tương tác và liên hệ trực tiếp với cuộc sống hàng ngày của học sinh Việc tăng cường nhận thức về sức khỏe sinh sản và trách nhiệm cá nhân sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục SKSS.

Phần lớn học sinh cho thấy hứng thú thấp với môn giáo dục SKSS vì nội dung còn nghèo nàn và chưa sâu, dễ gây nhàm chán; thêm vào đó, cách thức truyền đạt của giáo viên chưa phù hợp khiến các em khó tiếp thu và tham gia tích cực Ở từng nội dung cụ thể, cảm xúc của học sinh thể hiện khác nhau, nhưng xu hướng chung cho thấy các em quan tâm nhiều hơn đến những chủ đề gần gũi với lứa tuổi như tình bạn, tình yêu và sự thay đổi tâm sinh lý ở tuổi dậy thì Vì vậy, nâng cao hiệu quả giáo dục SKSS đòi hỏi cải thiện nội dung để sâu sắc và thiết thực hơn, đồng thời đổi mới phương pháp giảng dạy để gắn kết với đời sống và nhu cầu của học sinh.

Chính sự thiếu hứng thú với môn học là nguyên nhân chủ yếu khiến học sinh tham gia học môn giáo dục sức khỏe sinh sản còn hạn chế, cho thấy giáo dục giới tính chưa thu hút sự quan tâm của các em Tuy vậy, khi các em nhận thấy lợi ích của môn học, sự hiểu biết đúng đắn về vai trò của giáo dục giới tính được khẳng định và tăng lên.

Những gì đã trình bày cho thấy nhận thức về ý nghĩa của giáo dục SKSS và việc trang bị đầy đủ nội dung của môn học này cho cuộc sống của học sinh THCS là rất quan trọng Mức độ ứng dụng và hiệu quả của giáo dục SKSS phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy, bao gồm người thầy, phương pháp giảng dạy và nội dung được truyền đạt Hứng thú học tập của các em đối với giáo dục SKSS sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi cách thầy cô kết nối kiến thức với thực tiễn cuộc sống và sự phù hợp của nội dung với nhu cầu của học sinh.

KHUYẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Để nâng cao chất lượng học tập môn giáo dục SKSS, cần có thái độ tích cực và chủ động hơn trong quá trình tiếp cận giáo dục giới tính Người học nên thường xuyên tham gia các buổi học giáo dục SKSS, nắm bắt tri thức về giới tính để bổ sung những thiếu hụt kiến thức của bản thân, và tích cực tham gia các hoạt động liên quan đến giáo dục giới tính do nhà trường cũng như các tổ chức xã hội tổ chức.

- Cần mạnh dạn và cởi mở hơn để chia sẻ và nói ra những khó khăn, vướng mắc của mình để tƣ vấn kịp thời

2.2 Đối với phụ huynh học sinh

Cha mẹ nên chủ động nâng cao hiểu biết về giới tính và SKSS (sức khỏe sinh sản) để có thể trả lời kịp thời mọi thắc mắc của con và đồng hành cùng chúng trong quá trình trưởng thành Việc trang bị kiến thức đúng đắn giúp cha mẹ hướng dẫn trẻ một cách an toàn, xây dựng niềm tin và kỹ năng tự chăm sóc bản thân Giáo dục giới tính tại gia không chỉ giúp trẻ nhận diện giới tính và tình dục an toàn, mà còn thúc đẩy sự phát triển nhận thức và hành vi xã hội lành mạnh.

Cha mẹ cần là người thực sự hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển theo từng lứa tuổi của các em, đồng thời gần gũi, tôn trọng nhịp sống và cảm xúc của tuổi thơ Họ nên sẵn sàng chia sẻ với con những bức xúc và thách thức ở giai đoạn hiện tại, từ đó tạo ra một môi trường gia đình an toàn, tin cậy và hỗ trợ Giao tiếp mở và lắng nghe tích cực giúp trẻ cảm thấy được tôn trọng và an tâm, từ đó phát triển tự tin, ý thức trách nhiệm và mối quan hệ gắn kết với bố mẹ Nhận diện đúng nhu cầu ở mỗi giai đoạn phát triển là nền tảng để xây dựng một gia đình lành mạnh, nơi trẻ có thể phát triển về mặt tâm lý lẫn kỹ năng xã hội.

Cha mẹ không ngại trả lời mọi thắc mắc của con và thường xuyên lắng nghe để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của con Đồng thời, cha mẹ cần cổ vũ, động viên và ủng hộ con tham gia các hoạt động giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) trong nhà trường và cộng đồng, giúp con có hiểu biết đúng đắn về SKSS và tự tin tham gia các hoạt động giáo dục liên quan đến chăm sóc sức khỏe bản thân.

2.3 Đối với thầy cô, cán bộ công nhân viên trong nhà trường

Chúng ta cần tăng cường sự quan tâm đối với công tác giáo dục SKSS bằng cách tổ chức thêm các buổi học ngoại khóa với hoạt động phong phú và đa dạng như đóng kịch, thi tìm hiểu về giới tính, giao lưu và tọa đàm với các chuyên gia (bác sĩ, nhà tâm lý học), nhằm tạo ra một môi trường giáo dục SKSS tích cực và lành mạnh cho học sinh.

- Cung cấp và giới thiệu cho các em những tài liệu, sách báo, kể cả những tài liệu trên mạng…phù hợp với nhu cầu và đặc điểm lứa tuổi để các em tìm hiểu và tham khảo, để hạn chế các em tiếp xúc với những sách, phim ảnh

“đen”…làm ảnh hưởng tới suy nghĩ, hành động và lối sống của các em

- Giáo viên tự nâng cao cho mình những kiến thức và phương pháp giáo dục SKSS để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục SKSS cho học sinh Bên cạnh đó, thầy cô giáo cần gần gũi, cởi mở để hiểu các em hơn nữa, xây dƣng niềm tin ở các em học sinh việc chia sẻ những vướng mắc, khó khăn trong học tập cũng nhƣ trong cuộc sống

2.4 Đối với Ban giám hiệu

Nhà trường nên lồng ghép nội dung giáo dục giới tính vào buổi họp phụ huynh của lớp hoặc tổ chức các buổi sinh hoạt, trao đổi về giáo dục giới tính với phụ huynh nhằm hình thành nhận thức đúng đắn cho phụ huynh và học sinh Có thể mời các chuyên gia về giới tính tham dự để cùng phụ huynh thảo luận, trao đổi thông tin và giải đáp thắc mắc Những hoạt động này giúp nâng cao hiểu biết, tăng cường sự đồng thuận giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục giới tính, an toàn cho trẻ và chuẩn bị cho quá trình trưởng thành.

Ban giám hiệu có nhiều cách thức truyền thông tới phụ huynh về giáo dục giới tính, thông qua trang web của trường chứa nội dung giáo dục giới tính và bằng cách tổ chức các câu lạc bộ phụ huynh, nơi họ có thể trao đổi, tác động lẫn nhau giữa những phụ huynh có thái độ tích cực và những phụ huynh có nhận thức còn tiêu cực, từ đó nâng cao nhận thức và sự đồng thuận về giáo dục giới tính trong nhà trường.

Giáo dục giới tính vẫn chưa trở thành môn học chính thức ở trường THCS, nhưng nhà trường đã triển khai các hoạt động giáo dục giới tính bước đầu cho học sinh Vì vậy, cần rà soát thời lượng và nội dung chương trình đào tạo để đảm bảo công tác giáo dục giới tính được triển khai đầy đủ, đạt yêu cầu Ban giám hiệu cần quan tâm tới tâm tư nguyện vọng của các em để xây dựng chương trình giảng dạy phù hợp với nhu cầu phát triển và sự an toàn cho học sinh.

Hiện nay học sinh THCS đang phát triển mạnh mẽ về thể chất và tinh thần so với các thế hệ trước, vì vậy các trường nên đáp ứng phần nào nhu cầu này bằng cách thành lập một ban tư vấn tâm lý trường học Ban tư vấn nên do những chuyên gia được đào tạo bài bản về giáo dục giới tính và tư vấn tâm lý đảm nhiệm để đảm bảo thông tin truyền đạt phù hợp với lứa tuổi, an toàn và mang tính khoa học Việc chuẩn bị trước khi môn giáo dục giới tính chính thức được đưa vào chương trình sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, tăng tính đồng thuận của phụ huynh và xã hội, đồng thời đảm bảo hỗ trợ tâm lý cho các em trong quá trình tiếp cận kiến thức nhạy cảm này.

Gia đình và nhà trường là điều kiện giáo dục tốt nhất cho học sinh THCS, nhưng các tổ chức xã hội cũng mang lại sự hỗ trợ đáng kể cho quá trình thay đổi nhận thức về giáo dục SKSS thông qua phương thức thẩm thấu từ ngoài vào trong Đây là nguồn ảnh hưởng mạnh mẽ giúp điều chỉnh nhận thức của từng cá nhân và các nhóm xã hội theo sự phát triển hợp lý của xã hội, hướng tới một cách nhìn nhận giáo dục SKSS tích cực và khoa học hơn.

Do vậy, cần xây dựng nhiều chương trình và sự kiện về giáo dục SKSS nhằm thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp xã hội, để từ đó tác động tích cực đến thái độ của cộng đồng đối với giáo dục SKSS Việc mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động này giúp lan tỏa kiến thức về sức khỏe sinh sản, hình thành nhận thức đúng đắn và thái độ cởi mở hơn đối với giáo dục SKSS.

1 Dự án giáo dục giới tính tình dục và sức khỏe sinh sản dành cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn- Quỹ dân số thế giới, Trung tâm giáo dục đạo đức công dân, viện khoa học giáo dục cục V26 - Bộ công an, trung tâm dạy nghề KoTo

2 Phạm Hoàng Gia và Minh Đức, Vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên, Tạp chí nghiên cứu giáo dục

3 Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc,(2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia

4 Phạm Thị Lệ Hằng, (2009), Nhu cầu GDGT của học sinh THPT ở Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ tâm lý học Hội CTXH trường học Mỹ

5 Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Phương Thảo (2005), Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, nhà xuất bản Trung tâm

6 Trần Thị Loan (2002), Nhu cầu giáo dục kiến thức SKSS của học sinh

THPT, Trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn

7 Lê Thị Thoa ( 2014 ) Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Yên sơn, tỉnh Tuyên Quang

8 Thủ Tướng Chính Phủ.(2011) QĐ số 2474/ QĐ- TTG Chính Phủ phê duyệt

“ Chiến lƣợc phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2020”

9 Thuyết Nhu cầu của Maslow và vận dụng thuyết Nhu cầu trong Tham vấn

10 Bùi Văn Vân - Lê Thị Phi (2001), Đề cương bài giảng giáo dục giới tính

11 Hạ Vũ, Giáo dục giới tính trong trường học, truy cập 10h ngày 05/03/2019, 12.https://text.123doc.org/document/1733152-ba-nac-thang-phat-trien-ly- thuyet-ve-vi-the-va-vai-tro-cua-con-nguoi-trong-cau-truc-xa-hoi-ppt.htm

Ngày đăng: 25/12/2022, 19:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dự án giáo dục giới tính tình dục và sức khỏe sinh sản dành cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn- Quỹ dân số thế giới, Trung tâm giáo dục đạo đức công dân, viện khoa học giáo dục cục V26 - Bộ công an, trung tâm dạy nghề KoTo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án giáo dục giới tính tình dục và sức khỏe sinh sản dành cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
2. Phạm Hoàng Gia và Minh Đức, Vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên, Tạp chí nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên
Tác giả: Phạm Hoàng Gia, Minh Đức
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu giáo dục
3. Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc,(2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Phạm Thị Lệ Hằng, (2009), Nhu cầu GDGT của học sinh THPT ở Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ tâm lý học Hội CTXH trường học Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu GDGT của học sinh THPT ở Hòa Bình
Tác giả: Phạm Thị Lệ Hằng
Nhà XB: Hội CTXH trường học Mỹ
Năm: 2009
7. Lê Thị Thoa ( 2014 ) Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Yên sơn, tỉnh Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Yên sơn, tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Lê Thị Thoa
Năm: 2014
8. Thủ Tướng Chính Phủ.(2011). QĐ số 2474/ QĐ- TTG Chính Phủ phê duyệt “ Chiến lƣợc phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Thủ Tướng Chính Phủ
Năm: 2011
5. Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Phương Thảo (2005), Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, nhà xuất bản Trung tâm 6. Trần Thị Loan (2002), Nhu cầu giáo dục kiến thức SKSS của học sinhTHPT, Trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w