1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận lịch sử đảng thành tựu, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc (1954 1975)

38 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận lịch sử đảng thành tựu, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc (1954 1975)
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng, Văn hóa, Lịch sử Việt Nam
Thể loại Báo cáo hoặc luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 306,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. HOÀN CẢNH (4)
  • 2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC (5)
  • CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC (1954-1975) (11)
    • 1. BƯỚC ĐẦU KHÔI PHỤC KINH TẾ SAU CHIẾN TRANH (1954 – 1957) (11)
    • 2. CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, BƯỚC ĐẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ Ở MIỀN BẮC (1958 – 1960) (13)
    • 3. KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1961 – 1965) (17)
    • 4. GIAI ĐOẠN 1965-1975 (22)
      • 4.1 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng chuyển hướng xây dựng miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1965-1968) (22)
      • 4.2 Đảng lãnh đạo xây dựng miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969-1973) (25)
      • 4.3 Đảng lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển (28)
  • CHƯƠNG 3. THÀNH TỰU, KHUYẾT ĐIỂM TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC (1954-1975). TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY (31)
    • 1. THÀNH TỰU (31)
    • 2. KHUYẾT ĐIỂM (33)
    • 3. TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY (34)
  • KẾT LUẬN (37)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (38)

Nội dung

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, lập nên những kỳ tích vĩ đại, gó

HOÀN CẢNH

Miền Bắc đang bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển Trong bối cảnh thế giới và trong nước, miền Bắc vừa gặp nhiều thuận lợi to lớn như sự ủng hộ quốc tế và nguồn lực nội địa, vừa phải vượt qua không ít khó khăn, thử thách để thúc đẩy tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đang phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, định hướng tương lai của thời đại mới Sức mạnh này phản ánh sự phát triển toàn diện của các quốc gia xã hội chủ nghĩa, gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, trong đó Liên Xô đóng vai trò trung tâm và cột trụ Sự mạnh lên của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã khơi dậy và cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam, để chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và bảo vệ hòa bình thế giới.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt sau chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, góp phần thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc và đấu tranh của giai cấp công nhân toàn cầu Sự kiện này đã trở thành bước ngoặt lịch sử, tạo động lực cho các phong trào cách mạng trên khắp các châu lục, thúc đẩy sự tiến bộ của phong trào cộng sản quốc tế.

Lực lượng của chủ nghĩa đế quốc đang ngày càng suy yếu nghiêm trọng do sự tan rã của hệ thống thuộc địa và sự suy thoái của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Đồng thời, nội bộ các quốc gia đế quốc ngày càng gia tăng mâu thuẫn, khiến chủ nghĩa đế quốc đứng trước nguy cơ khủng hoảng toàn diện và trầm trọng hơn.

Từ sau Hiệp định Giơnevơ, với sự can thiệp và xâm lược của đế quốc

Mỹ là đất nước bị chia cắt thành hai miền với chế độ chính trị, xã hội riêng biệt Nhân dân miền Nam vẫn sống dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, tiếp tục đối đầu với kẻ thù vô cùng tàn bạo và nham hiểm Tình hình này đặt ra nhiều thử thách lớn cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm gia tăng khó khăn và gian khổ.

Sau ngày giải phóng, nhân dân miền Bắc vô cùng phấn khởi và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, hăng say lao động xây dựng chế độ mới, tạo điều kiện chính trị – xã hội thuận lợi để miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, miền Bắc đối mặt với nhiều khó khăn phức tạp, trong đó nổi bật là quá trình tiến thẳng từ sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội mà bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Bên cạnh đó, sự phá hoại của các thế lực thù địch trước và sau khi thực dân Pháp rút quân cùng hậu quả của chiến tranh đã gây ra hàng chục vạn người thất nghiệp, đồng thời để lại nhiều tàn dư của nền văn hóa nô dịch và các tệ nạn xã hội chưa được cải tạo triệt để Những yếu tố này đã trở thành những trở ngại lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa II diễn ra từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954 tại Việt Bắc Hội nghị đã xem xét và đánh giá tình hình mới sau chiến tranh, đồng thời xác định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng để phù hợp với thực tiễn lịch sử và hoàn cảnh đất nước.

Trong bối cảnh đất nước tạm thời chia thành hai miền, Đảng ta tập trung tranh thủ và củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ toàn quốc, kiên quyết chống đế quốc Mỹ xâm lược Ở miền Bắc, đất nước tiếp tục phát huy quyền làm ruộng của người nông dân và phục hồi sản xuất nhằm chuẩn bị điều kiện để xây dựng đất nước Ngày 5 tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng, nhấn mạnh đế quốc Mỹ và tay sai là kẻ thù chính của cách mạng nước ta, đề ra các nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới.

Về nhiệm vụ xây dựng miền Bắc, Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9 năm

Năm 1954 đặt ra mục tiêu ổn định xã hội, kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi kinh tế quốc dân Đồng thời, phát động phục hồi sản xuất, mở rộng hoạt động quốc tế để tạo nền tảng thuận lợi chuẩn bị tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hội nghị lần thứ bảy (3-1955) và lần thứ tám (8-1955) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II xác định nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Đặc biệt, Hội nghị lần thứ tám đã chủ trương đưa miền Bắc tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh rằng củng cố miền Bắc phải luôn luôn chú trọng và phát huy vai trò hỗ trợ miền Nam, bởi hai nhiệm vụ này là không thể tách rời nhau.

Việc xác định đường lối đưa miền Bắc tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế phát triển của thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chính sách này giúp thích ứng với điểm xuất phát thấp của thực tiễn kinh tế – xã hội và con người miền Bắc Mục tiêu này góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định và bền vững của khu vực, đảm bảo tiến bộ kinh tế và xã hội theo hướng toàn diện.

Dưới chính sách của Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám, tháng 1 năm 1956, Bộ Chính trị xác định miền Bắc đã chuyển sang quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa sau khi hòa bình lập lại, không phụ thuộc vào tình hình bên ngoài Đảng thể hiện rõ quyết tâm tiến lên chủ nghĩa xã hội, dựa trên nền tảng miền Bắc đã giải phóng, lực lượng đế quốc và phong kiến bị đánh đổ, nhân dân tin tưởng và triệt để củng cố khối liên minh công nông Chính quyền nhân dân ngày càng vững mạnh, chuyển sang thực hiện nhiệm vụ lịch sử vô sản, với sự hỗ trợ ngày càng hiệu quả từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và nguyện vọng của toàn dân, đồng thời chuẩn bị cho chiến lược giải phóng miền Nam và tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội cả nước Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba vào tháng 12-1957 đã bàn về nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn mới, tổng kết phát triển kinh tế miền Bắc, đề ra hướng phát triển chủ nghĩa xã hội, cải tiến chế độ lương thưởng, xây dựng và kiện toàn tổ chức Đảng, nhà nước nhằm dẫn dắt toàn quốc và miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội Hội nghị còn thảo luận và thông qua kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội theo từng bước tiến tới chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh phát triển kinh tế quốc dân, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời đề ra các hướng công tác tư tưởng nhằm loại bỏ ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản và chủ nghĩa xét lại, đảm bảo hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa chiếm vị trí thống lĩnh trong đời sống tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Vào tháng 11 năm 1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ mười bốn, xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đề ra kế hoạch ba năm (1958-1960) để cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhằm phát triển kinh tế và văn hóa, đồng thời tăng cường lực lượng về mọi mặt như chính trị, xã hội, quốc phòng, quân đội và tư tưởng Đáp ứng xu thế phát triển của cách mạng cả nước, tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ mười lăm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã tổng kết quá trình cách mạng hai miền từ 1954 đến 1958, đề ra đường lối cách mạng toàn quốc và từng miền, tập trung đặc biệt vào chiến lược cách mạng miền Nam Hội nghị nhất trí củng cố miền Bắc, nâng cao vị trí và phát triển vững chắc chủ nghĩa xã hội, xây dựng hậu phương lớn toàn diện, góp phần đẩy mạnh tiến trình cách mạng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Vào tháng 4 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cụ thể hóa Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ mười lăm bằng Hội nghị lần thứ mười sáu, trong đó thông qua hai nghị quyết quan trọng về cách mạng miền Bắc: nghị quyết về hợp tác hóa nông nghiệp và nghị quyết về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh nhằm thực hiện từng bước cách mạng xã hội chủ nghĩa Đến năm 1960, sau hơn 5 năm lãnh đạo, Đảng đã tích lũy nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong xác lập đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa; từ đó, ngày 5 tháng 9 năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng khai mạc tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người nhấn mạnh rằng, “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước.” Nội dung cốt lõi của đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được xác định tại Đại hội là: thúc đẩy xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, hướng tới mục tiêu thống nhất đất nước trong hòa bình.

Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, đồng thời củng cố miền Bắc thành một lực lượng vững mạnh để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Việc này góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, hướng tới một tương lai hòa bình, độc lập và phát triển bền vững.

Để đạt được mục tiêu này, cần sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân nhằm thực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản trong việc cải tạo xã hội chủ nghĩa Quá trình này bao gồm phát triển các ngành kinh tế như nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư nhân, đồng thời xây dựng thành phần kinh tế quốc doanh Đồng thời, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, kết hợp với phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Cuối cùng, cần thúc đẩy cách mạng về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật để hoàn thiện quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Về nhịp độ, bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc: Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội

Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, mục tiêu là biến đất nước trở thành một nước xã hội chủ nghĩa với nền công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, cùng với nền văn hóa và khoa học tiên tiến Điều kiện then chốt để đạt được thành công này là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Nhà nước dân chủ nhân dân, và củng cố sự đoàn kết chính trị, tinh thần của nhân dân Bên cạnh đó, cần thúc đẩy hợp tác quốc tế trong phe xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước có chế độ chính trị khác nhau và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Đại hội xác định rõ vai trò quyết định của cách mạng miền Bắc trong sự phát triển toàn diện của cách mạng nước nhà và công cuộc thống nhất đất nước Đồng thời, Đại hội đề ra nhiệm vụ và phương hướng cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965), nhằm xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Qua quá trình tích cực tìm kiếm, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng ta đã từng bước hình thành đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thể hiện rõ bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo trong vận dụng lý luận Mác – Lênin và tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước bạn Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), đường lối này đã cơ bản hoàn thiện, phù hợp với lịch sử đất nước và con người Việt Nam Nội dung đường lối tiếp tục được bổ sung, phát triển qua các nghị quyết Trung ương lần thứ 10 (1963), lần thứ 11, 12 (1965) và lần thứ 19, góp phần định hướng cho sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Nghị quyết Trung ương lần thứ 19 năm 1971 đánh dấu bước phát triển hoàn chỉnh về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, và tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: về quan hệ sản xuất, khoa học, và tư tưởng, văn hóa Đồng thời, nghị quyết xác định thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là lâu dài, gồm nhiều bước nhỏ hơn, và cho biết miền Bắc đang ở bước đầu của quá trình này Nghị quyết cũng kết hợp xây dựng chủ nghĩa xã hội với bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC (1954-1975)

BƯỚC ĐẦU KHÔI PHỤC KINH TẾ SAU CHIẾN TRANH (1954 – 1957)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các bên đã ký kết Hiệp định Giơnevơ, đặt nền móng cho việc lập lại hòa bình tại Việt Nam và Đông Dương Hiệp định này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài và thúc đẩy quá trình thống nhất đất nước Hội nghị Geneva đã thể hiện sự cam kết của các bên tham dự trong việc giữ gìn hòa bình và ổn định khu vực Đông Dương.

Sau năm 1954, miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng, mở ra điều kiện chính trị – xã hội thuận lợi để phát triển Tuy nhiên, miền Bắc phải đối mặt với nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, như hàng vạn héc-ta ruộng đất bỏ hoang, thiếu nhân lực lao động, nông cụ và sức kéo Trong khi đó, ở thành phố, nhiều nhà máy, xí nghiệp bị phá hoại hoặc tháo gỡ thiết bị trước khi rút quân, dẫn đến tình trạng thất nghiệp phổ biến và hoạt động của thương nghiệp, thủ công nghiệp gặp nhiều trì trệ Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ cuối năm 1953 mới chỉ thực hiện được ở một số địa phương, chủ yếu trong vùng tự do Đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn, nhiều khu vực phải đối mặt với nạn đói, thiếu ăn trầm trọng do hậu quả chiến tranh để lại.

Đảng đã tổ chức các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu, bảy, tám và mười (khóa II) để bàn về các vấn đề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhằm tận dụng thuận lợi và vượt qua khó khăn; trong giai đoạn mới, toàn Đảng, toàn dân tập trung phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, với nhiệm vụ cải cách ruộng đất và thực hiện người cày có ruộng là trung tâm; đồng thời, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, củng cố vai trò của Đảng và chính quyền nhân dân, thực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản; quốc phòng và xây dựng quân đội cũng được coi là ưu tiên để tạo điều kiện đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong quá trình khôi phục kinh tế miền Bắc sau chiến tranh, Đảng ta đã chỉ đạo toàn dân thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ quan trọng Trước tiên, nhiệm vụ phục hồi sản xuất nông nghiệp và xây dựng bộ phận kinh tế tập thể được đặt lên hàng đầu, góp phần giải phóng nông dân khỏi ách áp bức và bóc lột, đồng thời chia ruộng đất cho nông dân Nhờ đó, nông dân hăng hái vượt mọi khó khăn, khai hoang phục hóa, chống hạn, đẩy mạnh sản xuất và tăng nhanh sản lượng lương thực, đạt 4,2 triệu tấn năm 1957 vượt mức trước chiến tranh hai lần Đời sống nhân dân, chủ yếu là nông dân, dần ổn định, đẩy lùi nạn đói Về khôi phục công nghiệp và thủ công nghiệp, Đảng tập trung phát triển các cơ sở thiết yếu phục vụ nông nghiệp như mỏ than Hồng Gai, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy xi măng Hải Phòng từ 1955 đến 1957, thúc đẩy quá trình phục hồi kinh tế miền Bắc hiệu quả.

Phòng và nhà máy điện Hà Nội đi vào hoạt động hiệu quả, giúp công nhân phấn khởi trở thành người làm chủ cơ sở sản xuất của mình Đảng và Nhà nước còn chỉ đạo xây dựng nhiều nhà máy mới nhằm thúc đẩy công nghiệp miền Bắc phát triển Đến cuối năm 1957, miền Bắc đã có tổng cộng 97 nhà máy, xí nghiệp do Nhà nước quản lý, góp phần tăng tổng mức bán lẻ thương nghiệp lên 70,6% và doanh số gấp đôi so với năm trước.

Năm 1955, Đảng và Nhà nước tập trung khôi phục và phát triển hệ thống giao thông vận tải bằng việc nhanh chóng khôi phục đường sắt, ô tô, đường thủy, bưu điện, cùng nạo vét và mở rộng các cảng quan trọng như Long Biên, Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Bến Thủy, đồng thời khai thông đường hàng không quốc tế Các ngành văn hóa, giáo dục, y tế cũng phát triển mạnh mẽ theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó hệ thống giáo dục phổ thông xây dựng theo chương trình 10 năm và giáo dục đại học được quan tâm mở rộng Hệ thống y tế và chữa bệnh miễn phí tại miền Bắc được mở rộng, tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Chính quyền từ trung ương đến địa phương được củng cố vững chắc, phát huy hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phục hồi kinh tế và chống lại mọi âm mưu phản động chống đối chế độ mới.

Trong quá trình chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất, Đảng chủ trương giảm tô thuế đợt 6 và thực hiện cải cách ruộng đất đợt 2 để trả lại đất đai cho nông dân Mục tiêu của chính sách là đưa đất đai về tay nông dân và từng bước hình thành các tổ hợp tác làm ăn tập thể, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững Trong hơn 2 năm, các hoạt động này đã góp phần nâng cao đời sống của người nông dân và tăng cường sức mạnh kinh tế nông thôn.

Trong giai đoạn 1954-1956, cải cách ruộng đất ở miền Bắc được thực hiện qua 4 đợt tiếp theo (từ đợt 2 đến đợt 5), bao phủ tổng cộng 3.314 xã, qua đó chia lại khoảng 81 vạn mẫu ruộng đất, 10 vạn trâu bò và 1,8 triệu dụng cụ nông nghiệp từ tay giai cấp địa chủ cho hơn 2 triệu nông dân, xóa bỏ địa chủ và hình thành hệ thống sản xuất mới mang tính xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số sai lầm nghiêm trọng đã gây ảnh hưởng đến tư tưởng, cảm xúc và tinh thần cách mạng của nhân dân; nhận thức rõ các vấn đề này, Đảng đã kịp thời sửa chữa, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Công cuộc khôi phục kinh tế và hoàn thành các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân từ năm 1954 đến 1957 là quá trình san nền, xây móng, mở đường do Đảng lãnh đạo Đây chính là bước chuẩn bị cần thiết để bắt tay vào triển khai từng bước của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, BƯỚC ĐẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ Ở MIỀN BẮC (1958 – 1960)

Công cuộc khôi phục kinh tế thành công đã tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Năm 1958, Hội nghị lần thứ mười bốn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra kế hoạch 3 năm (1958-1960) hướng tới cải tạo xã hội chủ nghĩa các thành phần kinh tế tư nhân như nông dân, thợ thủ công, doanh nghiệp tư nhân, và thương nhân nhỏ, đồng thời đẩy mạnh xây dựng cơ bản và tăng cường lực lượng thành phần kinh tế quốc doanh Đảng nhấn mạnh việc tập trung lãnh đạo toàn diện cải tạo nền kinh tế xã hội, trong đó trọng tâm là cải tạo nông nghiệp thông qua hợp tác hóa toàn bộ, trước khi thực hiện cơ giới hóa, xem hợp tác hóa trong nông nghiệp như một đòn bẩy thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác.

Mục đích của việc cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa là nhằm xác lập chế độ công hữu về tư hữu sản xuất, gồm hai hình thức chính là sở hữu nhà nước (toàn dân) và sở hữu tập thể Điều này nhằm hình thành quan hệ sản xuất mới theo hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.

Quan điểm chỉ đạo của Đảng nhấn mạnh rằng trong quá trình cải tạo, việc lấy cải tạo làm trung tâm là quan trọng hàng đầu, đồng thời phải tiến hành song song với công tác xây dựng và phát triển Việc xây dựng và cải tạo phải đi liền nhau, nhằm thúc đẩy quá trình cải tạo diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.

Đến năm 1960, nhân dân miền Bắc hướng tới mục tiêu có đủ lương thực, cùng với sự tăng cường sản xuất rau, thịt, cá và đường để đảm bảo cuộc sống Các lĩnh vực tiêu dùng như ăn, mặc, học tập và đồ dùng gia đình sẽ được tự cung cấp phần lớn, nâng cao chất lượng cuộc sống Đồng thời, trình độ văn hóa và kỹ thuật của nhân dân sẽ được nâng dần để phát triển bền vững Nạn thất nghiệp do chế độ cũ để lại cũng sẽ được giải quyết căn bản, góp phần xây dựng miền Bắc ngày càng phát triển.

Đã cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Đảng ta đã ban hành các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương để thúc đẩy cải cách xã hội chủ nghĩa toàn diện trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội Các nghị quyết này đã tạo nên phong trào sản xuất sôi nổi tại miền Bắc Năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu của Đảng tập trung thảo luận về hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Trong hợp tác hóa nông nghiệp, nhiệm vụ của Đảng là chuẩn bị kỹ lưỡng về đường lối, chính sách, tư tưởng, tổ chức và cán bộ để phát triển tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp một cách tích cực và ổn định, hướng tới cao trào cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nông thôn Nguyên tắc xây dựng hợp tác xã dựa trên tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các tổ hợp tác Phương châm cải tạo là làm việc tích cực, vững chắc, quy hoạch toàn diện theo từng vùng để đảm bảo sự thành công của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp.

Đảng đề ra chủ trương cải tạo hòa bình đối với các doanh nghiệp công thương nghiệp tư bản tư doanh, nhằm thúc đẩy sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế Chính sách này hướng tới sự hợp tác hai bên có lợi, đảm bảo sự cân đối giữa các lợi ích của nhà tư bản và giai cấp tư sản Đồng thời, cải tạo này còn đi kèm với việc sắp xếp lại công ăn việc làm, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà tư bản và giai cấp tư sản thích nghi và phát triển trong môi trường mới.

Dưới sự chỉ đạo của Đảng, phong trào cải tạo xã hội chủ nghĩa nhanh chóng lan rộng khắp miền Bắc, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp đạt nhiều thành tựu lớn, đến cuối năm 1960, hơn 85% hộ nông dân và 68% diện tích đất đai đã gia nhập hợp tác xã nông nghiệp Trong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, miền Bắc đã hoàn tất cải tạo 100% hộ tư sản công nghiệp, 97,1% hộ tư sản thương nghiệp và 99% hộ tư sản vận tải cơ giới vào cuối năm 1960 Hàng vạn công nhân đã thoát khỏi ách bóc lột của giai cấp tư sản, ngành thủ công nghiệp từng bước phục hồi và phát triển, hình thành các hình thức hợp tác như hợp tác xã cung tiêu và hợp tác xã sản xuất thủ công nghiệp Tính đến cuối năm 1960, gần 88% thợ thủ công đã tham gia vào các tổ chức hợp tác và hoạt động tập thể.

Đảng tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, trong đó chú trọng mở rộng thành phần kinh tế quốc doanh Đến năm 1960, miền Bắc đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và củng cố nền kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực.

Trong giai đoạn này, hệ thống nông trường quốc doanh với diện tích hơn 100.000 héc-ta đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp Các công trình lớn nhỏ trong ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất đã được Đảng, Nhà nước chú trọng đầu tư, hình thành nhiều khu công nghiệp như Nhà máy gang thép Thái Nguyên và khu liên hiệp công nghiệp Việt Trì Ngành công nghiệp tiêu dùng phát triển vượt bậc, năm 1959, sản lượng hàng tiêu dùng tăng 283,7% so với năm 1955, đáp ứng 90% nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Cơ sở hạ tầng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa cũng mở rộng mạnh mẽ, đến năm 1959, mạng lưới mậu dịch quốc doanh gồm 12 tổng công ty, với 1.400 cửa hàng, cùng các hợp tác xã mua bán phủ sóng khắp các địa phương miền Bắc Đồng thời, lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế luôn nhận được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước để thúc đẩy sự nghiệp phát triển xã hội toàn diện.

1960, miền Bắc đã căn bản xóa nạn mù chữ ở miền xuôi cho những ngời dưới

Đến năm 1960, hệ thống giáo dục phổ thông miền Bắc đã hoàn chỉnh và mở rộng đáng kể, với số học sinh tăng 80% so với năm 1957, trong khi các trường đại học và trung học chuyên nghiệp không ngừng phát triển, với 9 trường đại học và 11.070 sinh viên, gấp đôi so với năm 1957 Hệ thống y tế tại miền Bắc đã hình thành căn bản và gồm các bệnh viện, bệnh xá, trạm y tế phủ sóng khắp các địa phương, cung cấp dịch vụ y tế miễn phí nhằm phục vụ nhân dân hiệu quả. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách làm mới bài viết của mình để nó vừa mạch lạc, vừa chuẩn SEO? Hãy thử [JustDone](https://pollinations.ai/redirect-nexad/OlpbYce7?user_id=983577)! Với các công cụ như AI Plagiarism Checker, Text Humanizer và Paraphraser, JustDone giúp bạn diễn đạt lại các ý chính trong đoạn văn một cách sáng tạo và độc đáo Ví dụ, từ đoạn văn về sự phát triển giáo dục và y tế ở miền Bắc Việt Nam đến năm 1960, bạn có thể sử dụng JustDone để tạo ra những câu văn vừa giữ được ý nghĩa cốt lõi, vừa hấp dẫn người đọc và tối ưu cho công cụ tìm kiếm JustDone là trợ thủ đắc lực giúp bạn tạo ra nội dung chất lượng cao một cách dễ dàng.

Trong giai đoạn từ 1958 đến 1960, dưới sự phát triển của kinh tế, văn hóa và xã hội, Đảng đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể quần chúng Các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ mười bốn và mười lăm đã được quán triệt toàn Đảng nhằm chỉnh đốn tổ chức, tăng cường giáo dục lý luận Mác - Lênin, và cải tạo tư tưởng để chống lại các quan điểm phản động, sai trái, góp phần làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Năm 1959, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Hiến pháp mới, và ngày 1 tháng 1 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta Các hoạt động dân chủ qua bầu cử đã mở rộng Hội đồng Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Các tổ chức quần chúng như Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Thống nhất đều được củng cố và hoạt động tích cực Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ vai trò chủ chốt trong nền quốc phòng toàn dân và trụ cột của chuyên chính vô sản, đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng, từng bước tiến tới chính quy, hiện đại hóa.

Trong giai đoạn 1958 – 1960, những thành tựu nổi bật trong sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế và văn hóa ở miền Bắc khẳng định sự đúng đắn và sáng tạo trong lãnh đạo của Đảng Những kết quả này minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt, hướng dẫn toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách vững chắc, phù hợp với thực tiễn đất nước và trình độ nhận thức của nhân dân.

KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1961 – 1965)

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất và thiết lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, miền Bắc chuyển sang thời kỳ tập trung xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật Đảng ta xác định đây là nhiệm vụ trung tâm để thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước Theo tinh thần đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã đề ra phương hướng và nhiệm vụ cụ thể cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965), hướng tới thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Kế hoạch 5 năm (1961 – 1965) nhằm xây dựng bước đầu cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tiến tới công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của kế hoạch là tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, mạnh mẽ và vững chắc lên con đường chủ nghĩa xã hội Để đạt được mục tiêu này, kế hoạch đề ra những nhiệm vụ cơ bản như xây dựng hạ tầng, thúc đẩy phát triển công nghiệp và nông nghiệp, đồng thời tăng cường công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng và nông nghiệp toàn diện là ưu tiên hàng đầu của đất nước, nhằm hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp và nông nghiệp xã hội chủ nghĩa Đồng thời, phát triển công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải, và thương nghiệp quốc doanh cùng hợp tác xã góp phần xây dựng nền kinh tế vững mạnh, tạo đà cho tiến trình hiện đại hóa đất nước.

Hoàn thành quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh giúp củng cố mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Việc này mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự phát triển bền vững, công bằng và thúc đẩy lợi ích của nhân dân trong hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội Đẩy mạnh đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề, nhằm nâng cao năng lực quản lý kinh tế của cán bộ, công nhân và nhân dân lao động Xúc tiến công tác khoa học kỹ thuật và thăm dò tài nguyên thiên nhiên để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội chủ nghĩa Cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động bằng cách đảm bảo ăn no mặc ấm, nâng cao sức khỏe, xây dựng nhà ở và mở rộng cơ hội học tập, thúc đẩy sự nghiệp phúc lợi cộng đồng và xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành phố.

Phát triển kinh tế đi đôi với việc củng cố quốc phòng là yếu tố then chốt để đảm bảo an ninh quốc gia và bảo vệ thành quả cách mạng Việc tăng cường trật tự an ninh góp phần quan trọng vào sự ổn định xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội vững mạnh Chính sách kết hợp phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng đã góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng trên miền Bắc đi vào chiều sâu và bền vững.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đề ra mục tiêu quan trọng cho kế hoạch 5 năm, trong đó tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp dự kiến tăng 148% so với năm 1960, với mức tăng trung bình hàng năm khoảng 20% Đồng thời, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp cũng được dự báo sẽ tăng khoảng 10%, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước.

Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, Nhà nước dự kiến sẽ đầu tư 5,1 tỷ đồng, chiếm khoảng 48% ngân sách Đến năm 1965, thu nhập thực tế bình quân đầu người tăng khoảng 30% so với năm 1960, cho thấy sự phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.

Trong giai đoạn 1961-1965, Đảng ta đã tổ chức nhiều hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương nhằm giải quyết các vấn đề trọng yếu về phát triển kinh tế – xã hội, từng bước cụ thể hóa đường lối của Đại hội III Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (7-1961) tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, giải quyết vấn đề lương thực, coi trọng cây công nghiệp và thúc đẩy chăn nuôi Hội nghị lần thứ bảy (6-1962) bàn về phát triển công nghiệp, trong khi hội nghị lần thứ mười (12-1964) tập trung vào công tác thương nghiệp và điều chỉnh giá cả Qua các hội nghị này, Đảng đã phân tích rõ mối quan hệ giữa ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, kỹ thuật và tư tưởng – văn hóa, đồng thời làm rõ các vấn đề quan trọng như tích lũy vốn ban đầu, quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, xây dựng kinh tế đi đôi với củng cố quốc phòng, và mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, công nghiệp nặng và nhẹ, cũng như giữa công nghiệp trung ương và địa phương.

Dưới sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn thể nhân dân miền Bắc theo chủ trương của Đảng, phong trào thi đua yêu nước đã phát triển mạnh mẽ Người dân đồng lòng tiến công vào các lĩnh vực nghèo nàn, lạc hậu nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực Thành công của phong trào này góp phần quan trọng vào việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, phong trào thi đua học tập và tiến kịp hợp tác xã nông nghiệp Đại Phong đã nổi bật, thúc đẩy cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã và nâng cao kỹ thuật canh tác Nhiều công trình thủy lợi hiện đại đã được xây dựng để đảm bảo tưới tiêu thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp Đồng thời, các nông trường quốc doanh, trang trại cây trồng và chăn nuôi đã được đầu tư xây dựng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Tỷ lệ sử dụng cơ khí trong nông nghiệp đã tăng nhanh, với số máy kéo năm 1965 tăng hơn 3,3 lần so với năm 1960, góp phần nâng cao năng suất lúa đáng kể Đến cuối năm 1965, đã có 7 huyện và 640 hợp tác xã đạt hoặc vượt năng suất 5 tấn thóc trên 1 hectare, thể hiện sự tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp Tính đến đầu năm 1965, 90,1% số hộ nông dân đã vào hợp tác xã, trong đó có 60,1% hợp tác xã đạt trình độ cao, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Trong lĩnh vực công nghiệp, phong trào thi đua “Học tập Duyên Hải” và “Thi đua với Duyên Hải” đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ Nhà nước đã đầu tư tới 48% vốn xây dựng cơ bản của nền kinh tế quốc dân, trong đó trọng tâm là phát triển công nghiệp nặng Kết hợp nội lực với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em như Liên Xô và Trung Quốc, miền Bắc đã xây dựng nhiều cơ sở công nghiệp trọng điểm Đến năm 1965, miền Bắc đã có 1.132 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, trong đó có 205 xí nghiệp trung ương và 927 xí nghiệp địa phương, chiếm tỷ trọng 93,1% trong tổng sản lượng công nghiệp toàn miền Bắc Các công trình tiêu biểu về công nghiệp nặng gồm Khu gang thép Thái Nguyên, Nhà máy điện Uông Bí, Thác Bà, phân đạm Bắc Giang, và Supe Phốtphat Lâm Thao.

Công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp phát triển với gần 2.000 hợp tác xã, giải quyết được 80% hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân

Thương nghiệp quốc doanh đã chiếm lĩnh thị trường và củng cố quan hệ sản xuất mới theo chủ nghĩa xã hội Năm 1965, thương nghiệp quốc doanh đạt được sự tăng trưởng vượt bội với khối lượng hàng hóa bán lẻ tăng 84,3% so với năm 1960, thể hiện rõ năng lực và hiệu quả của hệ thống thương mại quốc doanh Đồng thời, đến năm 1965, Việt Nam đã mở rộng hoạt động buôn bán, trao đổi thương mại với 35 quốc gia trên thế giới, góp phần thúc đẩy nền kinh tế hội nhập quốc tế và phát triển ổn định.

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, nhiều tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy đã được xây dựng mới và nâng cấp, cải tạo để tăng khả năng kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế Các cầu cống và đê điều cũng đã được xây dựng và cải thiện nhằm đảm bảo an toàn và chống lũ lụt hiệu quả Những hoạt động này góp phần mạnh mẽ vào việc phục vụ sản xuất và hoạt động quốc phòng, nâng cao năng lực vận tải và bảo vệ an ninh quốc gia.

GIAI ĐOẠN 1965-1975

4.1 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng chuyển hướng xây dựng miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1965-1968) Tính đến năm 1965, miền Bắc đã có 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có hòa bình, thu được nhiều thành tựu to lớn Ở miền Nam, nhân dân ta đã đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ Thắng lợi đó làm cho đế quốc Mỹ nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa Vì thế từ tháng 2 năm 1965 trở đi, một mặt Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, mặt khác, chúng dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam Đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã liên tiếp mở hai Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị lần thứ mười một (3-1965), lần thứ mười hai (12-1965), xác định quyết tâm chiến lược đánh Mỹ và thắng Mỹ cho nhân dân cả nước Đối với miền Bắc, Đảng chủ trương phải đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ coi việc bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ hàng đầu, đồng thời tích cực động viên sức người, sức của để hỗ trợ cách mạng miền Nam Chính sách này nhấn mạnh vai trò của Mỹ trong việc chi viện tối đa cho phong trào cách mạng miền Nam, cũng như thể hiện nghĩa vụ quốc tế đối với các cuộc cách mạng Lào và các nước khác Việc này nhằm thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và duy trì liên minh quốc tế trong cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài.

Về nghiệm vụ của quân và dân miền Bắc, hội nghị xác định là:

Xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương lớn, vững chắc cho cách mạng miền Nam, đảm bảo ổn định đời sống nhân dân và đáp ứng tốt nhu cầu hậu cần tại chỗ Hình thành một chiến lược hậu phương mạnh mẽ giúp tăng cường sức mạnh chiến đấu của miền Nam, đồng thời góp phần vào thắng lợi chung của cả nước Đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội tại miền Bắc là yếu tố then chốt trong chiến lược chiến tranh cách mạng.

Để đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ta cần tăng viện cho tiền tuyến lớn miền Nam và hỗ trợ cách mạng Lào, Campuchia Đồng thời, chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến, tập trung vào tư tưởng, tổ chức và tăng cường lực lượng quốc phòng phù hợp với tình hình mới Đây là nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc nhằm đảm bảo thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Chuyển hướng kinh tế nhằm điều chỉnh xây dựng và phát triển phù hợp với tình hình chiến tranh phá hoại của địch ở miền Bắc, đảm bảo yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu Đồng thời, mục tiêu là tăng cường lực lượng cho miền Nam, giữ vững phương hướng lâu dài của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong lĩnh vực quốc phòng, Việt Nam tăng cường bổ sung lực lượng thường trực, mở rộng tuyển quân từ cán bộ, quân nhân phục viên, chuyển ngành và thanh niên, đồng thời nâng cao thời hạn nghĩa vụ quân sự để đảm bảo quốc phòng vững chắc Ngoài ra, đất nước chú trọng phát triển dân quân và tăng cường lực lượng trực tiếp phục vụ quốc phòng, đồng thời phát động phong trào toàn dân tham gia bắn máy bay địch để nâng cao ý thức giữ gìn an ninh Tổ quốc Việt Nam cũng tranh thủ sự hỗ trợ về vũ khí và phương tiện chiến tranh từ các quốc gia anh em, góp phần củng cố khả năng phòng thủ quốc gia.

Để đảm bảo an ninh quốc gia, toàn Đảng và toàn dân cần nhận rõ âm mưu của địch và hiểu rằng miền Bắc đang trong thời chiến Cần điều chỉnh tổ chức cán bộ, công nhân và viên chức giữa các ngành và địa phương phù hợp với chuyển hướng phát triển kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng Đồng thời, việc cải tiến bộ máy và sửa đổi lề lối làm việc ở tất cả các cấp là yếu tố thiết yếu để thích ứng với môi trường chiến tranh, tăng cường năng lực phòng vệ của đất nước.

Trong khuôn khổ chủ trương của Đảng về chiến tranh bảo vệ miền Bắc, quân và dân ta đã thể hiện quyết tâm đấu tranh quyết liệt nhằm đánh bại sự xâm lược của giặc Mỹ, góp phần giữ vững độc lập và chủ quyền của đất nước.

Trong giai đoạn từ ngày 5-8-1964 đến 1-11-1968, nhân dân và lực lượng vũ trang miền Bắc đã anh dũng bắn rơi 3.234 máy bay của Mỹ, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Họ cũng đã bắn chìm và bắn cháy 143 tàu chiến, tàu biệt kích của địch, thể hiện tinh thần chiến đấu kiên cường và hiệu quả Thời kỳ này, do thất bại nặng nề ở hai miền Nam – Bắc, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc từ ngày 31 tháng 3 năm 1968 và chính thức ngừng hoàn toàn hoạt động ném bom trên miền Bắc từ ngày 1 tháng 11 năm 1968.

Trong khu ưu tiên cho nhiệm vụ chiến đấu, nhân dân miền Bắc đã kiên cường bám trụ và đẩy mạnh sản xuất theo chủ trương của Đảng và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần “Mỗi người làm việc bằng hai”, “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm” Trong nông nghiệp, nhịp độ sản xuất vẫn được duy trì liên tục theo thời vụ, với ngày càng nhiều hợp tác xã và địa phương đạt được “3 mục tiêu”; từ 7 huyện đạt năng suất 5 tấn thóc trên 1 héc ta năm 1965, đã tăng lên 14 huyện vào năm 1966 và 30 huyện vào năm 1967 Dù bị đánh phá nặng nề, công nhân trong ngành công nghiệp vẫn ngày đêm bám máy duy trì sản xuất, giúp năng lực một số ngành giữ vững, các cơ sở lớn sơ tán và ổn định sớm, đáp ứng nhu cầu quốc phòng và đời sống nhân dân Trong các lĩnh vực thương nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục, y tế vẫn hoạt động hiệu quả cao, nổi bật là ngành giao thông vận tải với hệ thống đường bộ và đường thủy vận chuyển liên tục ngày đêm, đạt hiệu suất cao Trong 4 năm (1965-1968), tuyến vận tải thủy bộ mang tên đường mòn Hồ Chí Minh đã chở hơn 300 nghìn cán bộ, bộ đội tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam, cùng hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhiều hàng hóa cần thiết khác, bất chấp sự đánh phá ác liệt của giặc Mỹ.

Đảng đã thể hiện năng lực lãnh đạo xuất sắc trong việc chỉ đạo toàn dân, toàn quân vượt qua chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời chuyển hướng xây dựng kinh tế miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh Sức mạnh của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố, góp phần hiệu quả vào sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

4.2 Đảng lãnh đạo xây dựng miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969-1973)

Kể từ khi Tổng thống Johnson buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện chiến dịch ném bom miền Bắc vào ngày 1-11-1968, chiến tranh vẫn diễn ra ác liệt, gây ra sự bất ổn và không có hòa bình thực sự Quân đội Mỹ vẫn ngang nhiên vi phạm lệnh ngừng bắn, lén lút đột nhập, dùng máy bay và tàu chiến tấn công vùng giáp giới Vĩ tuyến 17 thuộc khu vực Vĩnh Linh cùng các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An Điều này cho thấy tình hình chiến tranh vẫn còn rất căng thẳng và chưa thể đạt được hòa bình vững chắc.

Trong giai đoạn 1969-1972, Đảng đề ra chủ trương tranh thủ thời gian ngừng bắn để khôi phục kinh tế và chuẩn bị kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội lâu dài Đảng xác định tập trung chiến dịch viện trợ miền Nam, đồng thời nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng để sẵn sàng đối phó với các hành động liều lĩnh của đế quốc Mỹ nhằm gây chiến trở lại miền Bắc Các nhiệm vụ này nhằm đảm bảo đời sống của nhân dân lao động trong những năm hòa bình ngắn ngủi của miền Bắc.

Trong khi lãnh đạo nhân dân nỗ lực khôi phục và phát triển kinh tế, Đảng tiếp tục cụ thể hóa và bổ sung đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ XIX (3-1971) đánh giá tình hình cuộc kháng chiến, đề ra phương hướng và giải pháp để tiếp tục đưa cuộc kháng chiến tiến lên, đồng thời bàn về phát triển kinh tế miền Bắc, đặc biệt là phát triển nông nghiệp, xác định các bước đi ban đầu cùng mục tiêu cụ thể Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ XX (khóa III) tập trung thảo luận về cải tiến công tác quản lý kinh tế xã hội ở miền Bắc, nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của vùng đất phía Bắc trong giai đoạn này.

Việc bổ sung đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa đã mang lại những hiệu quả vượt trội, góp phần thúc đẩy tinh thần lao động sáng tạo của nhân dân Nhờ đó, nhân dân ta ngày càng phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, cùng nhau hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch mà Nhà nước đề ra Điều này đã tạo đà cho sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.

THÀNH TỰU, KHUYẾT ĐIỂM TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC (1954-1975) TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

THÀNH TỰU

Trong giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, đối mặt với nhiều khó khăn chồng chất Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó chế độ xã hội mới – xã hội chủ nghĩa – từng bước được xây dựng, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, cùng với việc xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Nhờ đó, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã phát huy hiệu quả trên nhiều phương diện.

Dù chiến tranh tàn phá nặng nề nhưng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vẫn duy trì và phát triển đáng kể, với 99,7% tài sản cố định thuộc về kinh tế xã hội chủ nghĩa vào năm 1975, tăng gấp 5,1 lần so với năm 1955 Các ngành công nghiệp nặng như điện, than, cơ khí, hóa chất, luyện kim đã hình thành những nền móng quan trọng, trong đó đặc biệt là công nghiệp địa phương được phát triển phù hợp với điều kiện chiến tranh nhằm phục vụ kinh tế, quốc phòng và quân đội Trong nông nghiệp, nhiều công trình thủy lợi được xây dựng, khoa học kỹ thuật được ứng dụng mạnh mẽ giúp sản xuất lương thực đủ cung cấp cho nhân dân và bộ đội Một số tỉnh, huyện và hàng nghìn hợp tác xã nông nghiệp vẫn đạt năng suất từ 5 đến 10 tấn thóc trên mỗi hecta, góp phần vào nỗ lực chung của miền Bắc trong việc chi viện sức người và sức của cho miền Nam trong thời kỳ chiến tranh.

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, dân tộc ta đã vượt qua khó khăn, gian khổ để xây dựng hệ thống đường bộ quan trọng, đảm bảo liên kết vùng miền Quân địch đã sử dụng tới 60% tổng số bom đạn tấn công hệ thống giao thông miền Bắc, nhưng nhân dân vẫn kiên trì xây dựng mạng lưới đường liên tỉnh, liên huyện, liên xã, sáng tạo ra nhiều loại cầu, phà phù hợp với yêu cầu của thời chiến Nhờ dự án như tuyến đường 559 và đường ống dẫn dầu từ Bắc vào Nam, hệ thống giao thông luôn thông suốt, nối liền miền Bắc với ba nước trên bán đảo Đông Dương, góp phần quan trọng vào sự nghiệp chiến đấu và phát triển của đất nước.

Trong giai đoạn phát triển của sự nghiệp văn hóa và giáo dục, trình độ văn hóa chung của xã hội đã được nâng cao rõ rệt Tính đến đầu năm 1975, tỷ lệ người dân đi học đạt khoảng 1/3 dân số, cho thấy mức độ tiếp cận giáo dục ngày càng mở rộng Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế – xã hội có trình độ đại học, trên đại học, trung học chuyên nghiệp đã vượt mốc 43 vạn người, tăng gấp 19 lần so với năm 1960, góp phần thúc đẩy tiến bộ khoa học – kỹ thuật của đất nước Mạng lưới y tế cũng được mở rộng đáng kể, với số bác sỹ, y sỹ tăng 13,4 lần so với năm 1960, đồng thời thực hiện chính sách miễn phí khám chữa bệnh cho nhân dân, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân không ngừng phát triển và phát huy vai trò to lớn trong chiến tranh Trật tự kỷ cương xã hội được giữ vững, người với người sống có nghĩa, có tình, đoàn kết thương yêu nhau, thể hiện tấm lòng hậu phương và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc Những quan niệm này đã trở thành truyền thống tốt đẹp của nhân dân miền Bắc, góp phần xây dựng một xã hội an toàn, vững mạnh và giàu truyền thống cách mạng.

Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã chiến thắng trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc và hoàn thành nhiệm vụ hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Quân và dân miền Bắc đã chiến đấu và sản xuất để đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bằng không quân và hải quân, bắn rơi 4.181 máy bay các loại, trong đó có 68 máy bay B52 và 13 máy bay F111, đồng thời tiêu diệt và bắt sống hàng ngàn giặc lái, bắn chìm, bắn cháy 271 tàu chiến của Mỹ Thành tựu này buộc Mỹ phải cam kết rút quân về nước, thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc, tạo điều kiện cho nhân dân miền Nam vùng lên đấu tranh và giành thắng lợi hoàn toàn.

Nhân dân miền Bắc đã thể hiện trách nhiệm lớn lao trong việc bảo vệ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa và làm hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam, Lào và Campuchia Theo đánh giá của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12-1976), miền Bắc đã dốc toàn lực vào cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước, hoàn thành xuất sắc vai trò văn cứ địa cách mạng của cả nước, xứng đáng là pháo đài vô địch của chủ nghĩa xã hội Hàng chục vạn con em miền Bắc đã lên đường vào Nam, Lào, Campuchia chiến đấu chống giặc, trong khi hàng triệu tấn vũ khí, trang thiết bị, nhu yếu phẩm được chuyển vào các chiến trường Từ năm 1960 đến 1975, khối lượng vận chuyển hàng hóa, vũ khí, dầu mỡ phục vụ chiến tranh ngày càng tăng, trong đó năm 1975 đã vận chuyển tới 1.400.000 tấn hàng hóa và vũ khí, 5.500.000 tấn dầu, cùng hơn 583.000 tấn hàng hóa cho cách mạng Lào và Campuchia Năm 1974, lượng hàng vận chuyển tăng 22 lần so với năm 1960, và bước vào mùa Xuân 1975, lượng hàng tiếp tục gấp đôi năm trước, với 413.450 tấn Đoàn 559 đã vận chuyển hơn hai triệu cán bộ, chiến sĩ và nhân viên kỹ thuật qua tuyến đường Trường Sơn từ năm 1960 đến đầu năm 1975, thể hiện tinh thần hy sinh và quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng.

Bên cạnh những thành tựu nêu trên, công cuộc xây dựng chủ yếu xã hội ở miền Bắc vẫn còn một số khuyết điểm yếu kém.

KHUYẾT ĐIỂM

Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng về cơ bản là đúng đắn, sáng tạo, nhưng trong chỉ đạo thực tiễn, chưa kịp thời và vận dụng hiệu quả vào các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; các phương hướng và bước đi của từng ngành, địa phương còn chưa được xác định rõ ràng Nhận thức về quy luật của quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong xã hội chủ nghĩa chưa đủ sâu sắc, đặc biệt là mối liên hệ giữa cải tạo quan hệ sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất còn hạn chế Sự đề ra hướng đi cho hợp tác xã nông nghiệp chưa phù hợp, thậm chí có mục tiêu quá cao so với khả năng phát triển của lực lượng sản xuất Quan điểm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa chưa được hiểu rõ và cụ thể, dẫn đến sự phát triển tràn lan và không hiệu quả, chưa phục vụ tốt cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Mối quan hệ giữa kinh tế trung ương và địa phương còn chưa rõ ràng, chưa chú trọng đúng mức đến kinh tế địa phương Hệ thống quản lý, tổ chức sản xuất chưa phát huy tối đa vai trò của ngành, còn thiếu sự phối hợp đúng đắn giữa quản lý theo ngành, địa phương và vùng lãnh thổ Công tác kế hoạch hóa còn yếu kém, quản lý kinh tế mang nặng lối quan liêu, hành chính, chưa quan tâm đúng mức đến hiệu quả và chất lượng Các vấn đề về lưu thông, phân phối, tài chính, ngân hàng, giá cả, tiền lương còn tồn tại nhận thức sai lệch, gây cản trở phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân.

TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước Nhận thức này ngày càng được nâng cao qua các năm, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế kéo dài Các cấp chính quyền, ngành, đoàn thể chính trị đều tập trung thúc đẩy vai trò của thanh niên, xem họ là lực lượng nòng cốt góp phần phát triển đất nước bền vững.

Trong xã hội hiện nay, nhiều chính sách và biện pháp đã được ban hành nhằm thúc đẩy vai trò và sức mạnh của thanh niên trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, để xây dựng và phát triển thanh niên một cách bền vững, không chỉ dựa vào các cấp, ngành, tổ chức hay cơ quan mà còn cần sự thay đổi nhận thức của thế hệ trẻ Nhận thức đúng đắn từ phía giới trẻ đóng vai trò then chốt trong việc phát huy tiềm năng và tạo ra ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng.

Trước tiên đối với công cuộc xây dựng tổ quốc sinh viên cần phải:

Chăm chỉ, sáng tạo trong học tập và lao động thể hiện ý thức xây dựng tương lai đất nước, với mục đích và động cơ học tập đúng đắn Học tập không chỉ giúp cá nhân phát triển mà còn góp phần xây dựng quê hương, thể hiện lòng yêu nước và trách nhiệm công dân Hiểu rằng học tập tốt là cách thể hiện yêu nước chân chính và góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước trong tương lai.

Quan tâm đến đời sống chính trị-xã hội của địa phương và đất nước, đồng thời thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Ngoài ra, vận động cộng đồng cùng nhau thực hiện đúng quy định của pháp luật để góp phần xây dựng một xã hội phát triển bền vững.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Biết phê phán, đấu tranh với những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc

Còn trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, sinh viên cần phải:

- Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa…

- Tham gia đăng kí tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc

- Vận động bạn bè, người thân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Ngày đăng: 25/12/2022, 18:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w