Tế bào chất được phân vùng và chứa các bào quan phức tạp như mạng lưới nội chất, riboxom, ti thể, lục lạp, thể Golgi, lizoxom, peroxixom, trung thể…Trong đó trung thể có ý nghĩa đặc biệt
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA SINH HỌC
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: SINH HỌC PHÂN TỬ TẾ BÀO
Chủ đề: Cơ chế phân bào, điều khiển chu kì tế bào của
sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực
HÀ NỘI
Trang 2NỘI DUNG CHÍNH PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ TẾ BÀO NHÂN SƠ VÀ TẾ BÀO NHÂN THỰC
1 Lịch sử nghiên cứu tế bào
2 Đặc điểm cấu trúc của tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
PHẦN II CƠ CHẾ PHÂN BÀO
1 Cơ chế phân bào ở sinh vật nhân sơ
2 Cơ chế phân bào ở sinh vật nhân thực
2.1 Cơ chế nguyên phân
2.2 Cơ chế giảm phân
PHẦN III ĐIỀU KHIỂN CHU KÌ TẾ BÀO
1 Đặc điểm của chu kì tế bào
2 Các cơ chế điều khiển chu kì tế bào
2.1 Điều khiển chu kì tế bào ở sinh vật nhân sơ
2.2 Điều khiển chu kì tế bào ở sinh vật nhân thực
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ TẾ BÀO NHÂN SƠ VÀ TẾ BÀO NHÂN THỰC
1 Lịch sử nghiên cứu tế bào
Robert Hooke là người đầu tiên sử dụng kính hiển vi để quan sát về tế bào, đồng thời mở ra ngành khoa học sinh học tế bào Năm 1665, tế bào được Hooke mô tả giống như các ô rỗng có thành bao quanh và xếp cạnh nhau như tổ ong Sau đó vào những năm
1674 – 1683, cùng với sự phát triển của kính hiển vi, nhà khoa học người Hà Lan Antonie van Leeuwenhoek đã phát hiện được các tế bào như: vi sinh vật trong giọt nước ao, tế bào máu, tế bào tinh trùng động vật Từ những quan sát của mình, ông đã kết luận rằng tế bào
có cấu tạo phức tạp gồm màng sinh chất, tế bào chất chứa các bào quan và nhân chứ không chỉ có dạng xoang rỗng như Hooke thấy Năm 1838 - 1839, Matthias Schleiden và
Theodor Schwann đã đưa ra học thuyết tế bào với nội dung: Tất cả sinh vật được cấu tạo
từ tế bào và tế bào là đơn vị sống cơ bản của sinh giới Năm 1858, Virchow phát biểu
thêm rằng: Tế bào sinh ra từ tế bào có trước. Năm 1862, Pasteur tiếp tục chứng minh
rằng: Sự sống không tự hình thành ngẫu nhiên từ các chất vô sinh.Ngày nay học thuyết tế bào vẫn giữ nguyên giá trị của nó và tế bào được xem là đơn vị tổ chức cơ bản của thế giới sống cả về cấu tạo, chức năng sinh lý và di truyền F Engels đã từng đánh giá: cùng với hoạc thuyết tiến hóa của Darwin, và thuyết bảo tồn năng lượng, học thuyết tế bào là một trong ba phát kiến vĩ đại của thể kỉ XIX
2 Đặc điểm cấu trúc của tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
Tùy theo mức độ phức tạp về cấu trúc mà người ta phân biệt hai dạng tế bào nhân sơ
và tế bào nhân thực Từ hai loại tế bào này sẽ cấu trúc nên hai nhóm sinh vật tương ứng là sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực Sinh vật nhân sơ bao gồm vi khuẩn và vi khuẩn
cổ Sinh vật nhân thực được tạo nên từ các tế bào nhân thực như động vật đơn bào, tảo, nấm, thực vật và động vật
Tế bào nhân sơ thường có kích thước nhỏ và cấu tạo đơn giản với ba thành phần cấu tạo chính: màng sinh chất, tế bào chất, vùng nhân (Hình 1) Màng sinh chất của vi khuẩn chứa khoảng 45% lipit và 55% protein có cấu trúc và chức năng tương tự màng sinh chất của tế bào nhân thực Nhiều chỗ màng sinh chất gấp nếp lồi lõm vào tế bào chất tạo nên các mezoxom được xem như một loại bào quan có vai trò quan trọng trong sự phân bào Bên trong tế bào chất có chứa nhiều loại riboxom tổng hợp protein của vi khuẩn nhưng không có các bào quan có màng bao bọc và không có hệ thống nội màng điển hình như tế bào nhân thực Hầu hết các chức năng của các bào quan như ty thể, lục lạp, bộ máy Golgi được tiến hành trên màng sinh chất Vùng nhân chứa nhiễm sắc thể của vi khuẩn là phân
tử ADN trần (không liên kết với histon), là chuỗi xoắn kép dạng vòng khu trú ở vùng tế bào chất Ngoài ADN trong thể nhân, còn có một số phân tử ADN khác được gọi là plasmit chứa thông tin di truyền quy định một số đặc tính của vi khuẩn Ngoài ba thành phần chính có ở các tế bào nhân sơ điển hình, một số vi khuẩn còn có thêm các thành phần cấu tạo khác như lông, roi, thành tế bào, vỏ nhầy Lông và roi là các protein bám
Trang 4trên bề mặt tế bào giúp vi khuẩn di chuyển chủ động trong môi trường Thành tế bào có bản chất là peptidoglican giúp vi khuẩn giữ nguyên hình dạng và không bị tác động của
áp suất thẩm thấu trong môi trường nhược trương Vỏ nhày là rào cản phụ giúp bảo vệ tế bào, chọn lọc các chất ra vào tế bào
Tuy cũng được cấu tạo từ ba thành phần chính là màng sinh chất, tế bào chất và nhân, nhưng tế bào nhân thực có kích thước lớn hơn và cấu tạo phức tạp hơn nhiều so với
tế bào nhân sơ (Hình 2) Màng tế bào cũng gồm hai thành phần chính là lipit và protein nhưng được phân hóa phức tạp hơn Màng có cấu trúc khảm - động: lớp photpholipit kép tạo nên cái khung liên tục của màng, còn các phân tử protein phân bố rải rác trong khung, xuyên qua khung hoặc bám ở rìa trong và rìa ngoài của màng, các phân tử lipit và protein
có trong màng có tính động Tế bào chất được phân vùng và chứa các bào quan phức tạp như mạng lưới nội chất, riboxom, ti thể, lục lạp, thể Golgi, lizoxom, peroxixom, trung thể…Trong đó trung thể có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phân bào (tạo thành bộ máy phân bào), các vi ống và định hướng cho các vi ống Tế bào nhân thực có nhân hoàn chỉnh với lớp màng kép bao bọc lấy vật chất di truyền Vật chất di truyền gồm một hoặc một số phân tử ADN mạch thẳng liên kết với protein histone tạo nên cấu trúc nhiễm sắc thể Ngoài nhân, ADN còn được tìm thấy ở một số bào quan như ti thể, lục lạp
Trang 5Tế bào thực vật cũng như tế bào động vật đều thuộc dạng tế bào nhân thực điển hình Ngoài những đặc điểm chung giống nhau, chúng còn khác nhau ở một số đặc điểm Một
số loại bào quan chỉ có thể tìm thấy ở tế bào thực vật hoặc tế bào động vật mà không thể cùng tồn tại trong cả hai loại tế bào này Các lysosome, trung tử với các trung thể chỉ có ở
tế bào động vật mà không có ở tế bào thực vật Lục lạp, không bào trung tâm, thành tế bào, cầu sinh chất có thể tìm thấy ở tế bào thực vật còn tế bào động vật thì không
Như vậy, điểm khác biệt quan trọng giữa sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực là
sự xoang hóa ở tế bào nhân thực nhờ các lớp nội màng giúp chúng thực hiện các hoạt động trao đổi chất riêng biệt Trong đó, quan trọng nhất là việc hình thành nhân tế bào có
hệ thống màng riêng để bảo vệ các phân tử ADN của tế bào Chính những khác biệt trong cấu trúc của hai loại tế bào này sẽ tạo nên sự khác nhau trong cơ chế phân bào cũng như điều khiển chu kì tế bào ở hai nhóm sinh vật nhân sơ và nhân thực
PHẦN II CƠ CHẾ PHÂN BÀO
1 Cơ chế phân bào ở sinh vật nhân sơ
Tế bào nhân sơ chưa có nhân hoàn chỉnh nên phân bào bằng cách phân đôi trực tiếp, không hình thành thoi phân bào như ở tế bào nhân thực Nhiễm sắc thể của chúng chỉ là ADN trần, là chuỗi xoắn kép dạng vòng khu trú ở vùng tế bào chất được gọi là thể nhân - nucleoit Mặc dù ADN của thể nhân liên kết với các protein giúp đóng gói phân tử thành một kích thước nhỏ gọn, nhưng không có protein histone nên không có nucleosom ở sinh vật nhân sơ Tuy nhiên, các protein đóng gói của vi khuẩn có liên quan đến các protein cohesin và condensin tham gia vào quá trình nén nhiễm sắc thể của sinh vật nhân chuẩn Qúa trình phân đôi của vi khuẩn E Coli gồm 5 năm bước (Hình 3)
Trang 6Đầu tiên, ADN nhiễm sắc thể của vi khuẩn bắt đầu nhân đôi tại điểm khởi đầu sao chép, quá trình này diễn ra theo hai hướng Ngay sau đó, một bản sao của điểm khởi đầu sao chép nhanh chóng di chuyển về đầu đối lập của tế bào bằng một cơ chế chưa rõ Sự nhân đôi tiếp tục, mỗi đầu tế bào đã có một bản sao của điểm khởi đầu nhân đôi Đồng thời tế bào dài ra, các protein FtsZ di chuyển về giữa của tế bào và định hướng sự phân chia giữa các nucleoit ở sinh vật nhân sơ Nhiễm sắc thể sau khi được nhân đôi tiếp tục di chuyển
về hai cực đối diện của tế bào, các protein FtsZ tạo thành vòng phân cắt ở chính giữa tế bào và ngăn cách hai nulceoit với nhau Một vách ngăn được hình thành giữa các nucleoit, màng sinh chất và thành tế bào lõm dần từ ngoại vi về phía trung tâm của tế bào Sau khi vách ngăn hoàn thiện, tế bào phân chia thành hai tế bào con Protein FtsZ nằm phân tán trong tế bào chất của hai tế bào mới
2 Cơ chế phân bào của sinh vật nhân thực
Nhiễm sắc thể của sinh vật nhân thực có cấu trúc phức tạp gồm ADN xoắn kép, liên kết với protein histon tạo thành các sợi nhiễm sắc Trong kì trung gian, các sợi nhiễm sắc ở trạng thái giãn xoắn được gọi là chất nhiễm sắc, và khi phân bào chúng ở trạng thái
Trang 7xoắn và co ngắn lại tạo thành các thể có hình dạng nhất định được gọi là nhiễm sắc thể Sau khi ADN được tái bản, nhiễm sắc thể được nhân đôi ở pha S của kì trung gian, nhiễm sắc thể sẽ gồm 2 nhiễm sắc tử đính với nhau ở trung tiết (tâm động) Vì nhiễm sắc thể có cấu trúc phức tạp, nằm trong nhân có màng nhân, nên phương thức phân bào diễn ra phức tạp và đòi hỏi phải có bộ máy phân bào (thoi phân bào) Có hai phương thức phân bào là: phân bào nguyên nhiễm (nguyên phân - mitosis) và phân bào giảm nhiễm (giảm phân - meiosis)
2.1 Cơ chế nguyên phân
Nguyên phân là hình thức phân bào nguyên nhiễm, trong đó từ một tế bào ban đầu phân chia sẽ tạo ra hai tế bào mới giống nhau và giống hệt tế bào ban đầu Người ta quy ước chia nguyên phân thành năm kì: kì đầu, kì trước giữa, kì giữa, kì sau và kì cuối Gối lên kì cuối của nguyên phân là kì chia tế bào chất và kết thúc pha phân bào (Hình 4) Sau khi hoàn thành kì trung gian, các nhiễm sắc thể đơn đã nhân đôi để tạo thành nhiễm sắc thể kép Mỗi nhiễm sắc thể kép gồm hai nhiễm sắc tử chị em dính với nhau ở tâm động và dọc theo nhiễm sắc thể nhờ các protein cohesin Mỗi trong nhiễm sắc tử có một thể động, một cấu trúc protein liên kết với một đoạn đặc hiệu của ADN nhiễm sắc thể ở tâm động Hai thể động của nhiễm sắc thể kép quay về hai hướng đối lập nhau
Bước vào kì đầu của nguyên phân, các nhiễm sắc thể kép bắt đầu co xoắn Ở tế bào thực vật, do có không bào trung tâm lớn nên trước khi quá trình nguyên phân bắt đầu, nhân phải di chuyển vào trung tâm của tế bào Hạch nhân dần tiêu bến, bộ máy phân bào xuất hiện Tế bào động vật có trung thể gồm hai trung tử và vùng quanh trung tử, trung tử nhân đôi ở pha S kì trung gian tạo thành hai đôi trung tử con và phát triển thành trung thể mới Do sự hoạt hoá của chất quanh trung tử, các đơn hợp tubulin trong tế bào chất trùng hợp hoá thành các vi ống tubulin Các vi ống xếp phóng xạ quanh trung tử mới, tạo thành sao phân bào Hai trung thể và hai sao di chuyển vể hai cực tế bào Giữa hai sao, các vi ống phát triển sắp xếp thành hệ thống sợi có dạng hình thoi được gọi là thoi phân bào Tế bào của thực vật thiếu các trung tử; thay vào đó, các vi ống hình thành một trục trên bề mặt của nhân và sau đó được tổ chức thành một trục bởi chính các nhiễm sắc thể, sau khi
vỏ nhân bị phá vỡ
Trang 8Kì trước giữa, các lamins được phosphoryl hóa bởi các yếu tố thúc đẩy nguyên phân (MPF), màng nhân tan rã đứt ra thành nhiều đoạn và biến thành các bóng không bào
bé phân tán trong tế bào chất, tạo điều kiện cho nhiễm sắc thể di chuyển ra ngoại vi tế bào Các vi ống thể động bắt đầu tìm kiếm và gắn vào các thể động của nhiễm sắc thể Một số vi ống không gắn vào thể động của nhiễm sắc thể (các vi ống không thể động)
sẽ tìm và tương tác với các vi ống không thể động tương ứng từ phía đối diện để hình thành thoi phân bào Khi một vi ống kết nối với thể động, một protein động cơ sẽ kích hoạt, sử dụng năng lượng từ ATP để "trượt" lên ống về phía trung thể khởi đầu Hoạt động vận động này, cùng với quá trình polyme hóa và khử phân giải của các vi ống, cung cấp lực kéo cần thiết để sau này phân tách hai nhiễm sắc tử của nhiễm sắc thể
Kì giữa là kì dài nhất của nguyên phân, sau khi các vi ống đã định vị và gắn vào các thể động, hai trung thể bắt đầu kéo các nhiễm sắc thể về các đầu đối diện của tế bào Sự kéo căng của thoi phân bào làm cho các nhiễm sắc thể sắp xếp dọc theo mặt phẳng xích đạo, một đường tưởng tượng nằm ở trung tâm tế bào Để đảm bảo sự phân bố đồng đều của các nhiễm sắc thể ở cuối quá trình nguyên phân, điểm kiểm tra chuyển tiếp đảm bảo rằng các thể động được gắn đúng vào thoi phân bào và các nhiễm sắc thể được xếp thẳng hàng
Kì sau bắt đầu khi các protein cohesin tách nhau ra khiến các nhiễm sắc tử chị em của mỗi cặp đột ngột tách nhau theo, mỗi nhiễm sắc tử trở thành một nhiễm sắc thể đơn, trượt dọc theo thoi phân bào về hai phía đối diện của tế bào Các vi ống không gắn với nhiễm sắc thể dài ra và đẩy ra xa nhau, tách các cực và làm cho tế bào dài ra Tất cả các quá trình này đều được thúc đẩy bởi các protein vận động , các cỗ máy phân tử có thể “trượt” dọc theo các đường dẫn vi ống và mang nhiễm sắc thể hoặc các vi ống khác về hai cực của tế bào Đây là thời kì diễn ra nhanh nhất của nguyên phân, chỉ mất vài phút Kết thúc kì sau,
ở hai cực của tế bào có hai bộ nhiễm sắc thể hoàn chỉnh và tương đương nhau
Khi các nhiễm sắc thể đã di chuyển xong về hai cực của tế bào cũng là lúc kì cuối bắt đầu Các vi ống cực tiếp tục dài ra, kéo dài tế bào hơn nữa Một vỏ nhân mới sẽ hình thành bằng cách sử dụng các túi màng của vỏ nhân cũ của tế bào mẹ Vỏ mới hình thành xung quanh mỗi bộ nhiễm sắc thể con đã tách rời và nhân con xuất hiện trở lại, thoi phân bào tiêu biến Cả hai bộ nhiễm sắc thể, bây giờ được bao quanh bởi màng nhân mới, bắt đầu "giãn" hoặc phân rã Quá trình phân chia nhân hoàn tất, mỗi nhân con có một bộ nhiễm sắc thể giống hệt nhau Ngay sau đó quá trình phân chia tế bào chất diễn ra phân cắt tế bào mẹ thành hai tế bào con Tế bào động vật hình thành eo thắt và lõm sâu của eo tiến tới cắt đôi tế bào chất Khi vòng sợi actin co rút kéo theo phần màng sinh chất lõm thắt vào trung tâm, và khi màng nối với nhau sẽ phân tách tế bào chất thành hai nửa, mỗi nửa chứa một nhân con Đối với tế bào thực vật do được bao bởi thành xenlulozơ nên sự phân chia tế bào chất xảy ra khác với tế bào động vật Một vách ngăn ngang xuất hiện ở vùng trung tâm xích đạo, và phát triển dần ra ngoại vi cho đến khi liên kết với thành tế bào, và như vậy phân tách tế bào chất thành hai nửa chứa nhân con
Trang 92.2 Cơ chế giảm phân
Giảm phân, phân bào giảm nhiễm, là hình thức phân bào chỉ xảy ra ở các tế bào sinh dục chín (tế bào sinh tinh và sinh trứng) tạo ra các giao tử (tinh trùng hoặc trứng) mang một nửa bộ nhiễm sắc thể của tế bào mẹ ban đầu Giống với nguyên phân, giảm phân cũng có một lần nhân đôi nhiễm sắc thể ở pha S kì trung gian nhưng có hai lần phân bào liên tiếp là giảm phân I và giảm phân II, trong mỗi lần phân bào lại chia thành các kì: kì đầu, kì giữa, kì sau, kì cuối Diễn biến chi tiết của quá trình giảm phân được mô tả như trong hình 5
Giảm phân I chính là quá trình phân ly các nhiễm sắc thể trong cặp nhiễm sắc thể tương đồng, tạo ra hai tế bào đơn bội Kì đầu I cho đến nay là giai đoạn dài nhất, nhiễm sắc thể bắt đầu co xoắn, màng nhân và nhân con dần tan rã, bộ máy phân bào xuất hiện Trung thể sau khi nhân đôi tiến dần về hai cực tế bào, các thoi phân bào hình thành Các cặp nhiễm sắc thể tương đồng, tiếp hợp và có thể trao đổi chéo thông tin di truyền cho nhau Tiếp hợp kết thúc ở giữa kì đầu và nhiễm sắc thể trong từng cặp dần tách nhau ra Mỗi cặp nhiễm sắc thể tương đồng có một hoặc nhều hơn các bắt chéo, điểm xảy ra trao đổi chéo và các nhiễm sắc thể tương đồng vẫn còn liên kết với nhau nhờ lực cố kết giữa các nhiễm sắc tử chị em Cuối kì đầu I, vi ống từ các cực gắn vào hai thể động, cấu trúc protein nằm ở tâm động của các nhiễm sắc thể Cặp nhiễm sắc thể tương đồng sau đó di chuyển về măt phẳng xích đạo của tế bào Ở kì giữa, các cặp nhiễm sắc thể tương đồng xếp thành hai hàng ở mặt phẳng xích đạo, mỗi nhiễm sắc thể trong một cặp hướng về một cực của tế bào Cả hai nhiễm sắc tử của một nhiễm sắc thể tương đồng gắn với các vi ống thể động từ một cực, còn các nhiễm sắc tử của các nhiễm sắc thể kia gắn với vi ống từ cực đối lập Sau đó các protein gắn kết các nhiễm sắc tử chị em bị phân hủy làm cho các nhiễm sắc thể tương đồng tách nhau ra Mỗi nhiễm sắc thể trong cặp tương đồng di chuyển về một cực đối lập nhờ sự định hướng của bộ thoi phân bào Lực cố kết giữa các nhiễm sắc tử chị em vẫn duy trì ở tâm động, làm cho các nhiễm sắc tử di chuyển như một đơn vị hướng về cùng một cực Sau khi các sự kiện của kì sau I kết thúc, tế bào chuyển sang kì cuối I và phân chia tế bào chất Đầu kì cuối I, mỗi nửa tế bào có một bộ nhiễm sắc thể đơn bội hoàn chỉnh với các nhiễm sắc thể đã được nhân đôi Mỗi nhiễm sắc thể gồm hai nhiễm sắc tử chị em, một hoặc cả hai nhiễm sắc tử có vùng ADN của nhiễm sắc tử
Trang 10không chị em Qúa trình phân chia tế bào chất diễn ra tương tự như phân chia tế bào chất
ở nguyên phân: tế bào động vật hình thành eo thắt trung tâm, tế bào thực vật hình thành vách ngăn ngang phân cắt tế bào Kết thúc kì cuối, nhiễm sắc thể dãn xoắn và màng nhân, nhân con tái hình thành
Sau khi kết thúc giảm phân I, tế bào trải qua một kì chuyển tiếp rất ngắn rồi ngay lập tức bước vào giảm phân II mà không có quá trình nhân đôi nhiễm sắc thể Lần phân bào II cũng trải qua các kỳ: kỳ đầu II, kỳ giữa II, kỳ sau II, kỳ cuối II và phân tế bào chất
để tạo thành hai tế bào mang nhiễm sắc thể đơn bội Người ta nói lần phân bào hai là phân bào cân bằng và nó có cơ chế tương tự với phân bào nguyên phân Sự phân ly ở kỳ sau hai giống hệt với nguyên phân, hai nhiễm sắc tử chị em tách khỏi nhau và di chuyển về hai cực theo mặt phẳng cắt dọc giữa hai nhiễm sắc tử chị em Do chỉ có một lần nhân đôi nhiễm sắc thể diễn ra vào kì trung gian trước lần phân bào I nhưng lại có tới hai lần phân chia nhiễm sắc thể cho các tế bào con ở kì sau I và sau II nên khi kết thúc quá trình giảm phân, từ một tế bào có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội ban đầu sẽ tạo ra bốn tế bào con đơn bội
PHẦN III ĐIỀU KHIỂN CHU KÌ TẾ BÀO
1 Đặc điểm của chu kì tế bào
Chu kì tế bào là một chu trình tuần hoàn các sự kiện xảy ra trong một tế bào từ lần phân bào này cho đến lần phân bào kế tiếp
Chu kì tế bào ở sinh vật nhân sơ rất đơn giản và được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn giữa phân chia (sơ sinh) và bắt đầu sao chép nhiễm sắc thể (giai đoạn B); thời kỳ cần thiết để sao chép nhiễm sắc thể (kỳ C); và khoảng thời gian từ khi hoàn thành quá trình nhân đôi nhiễm sắc thể đến khi hoàn thành quá trình phân chia tế bào (kỳ D) (Hình 6)
Chu kì tế bào ở sinh vật nhân thực diễn ra phức tạp hơn với hai thời kì chính là kì trung gian và phân bào (M) Kì trung gian bao gồm ba pha là G1, S, G2 (Hình 7) Chu kỳ phân bào có ý nghĩa sống còn đối với tế bào bởi nhờ đó mà trứng được thụ tinh từ một tế bào đơn phát triển thành cơ thể trưởng thành, đồng thời tóc, da, tế bào máu và một vài cơ quan nội tạng luôn được làm mới Sau giai đoạn phân chia, mỗi tế bào con tạo thành sẽ bắt đầu kỳ trung gian của một chu kỳ phân bào mới Pha Gl là pha sinh trưởng của tế bào
vì trong pha này xảy ra sự tổng hợp các ARN và protein, số lượng nhiễm sắc thể chứa hàm lượng ADN là ổn định Mỗi một nhiễm sắc thể chứa một phân tử ADN liên kết với