1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo giao đất giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp cơ hội và thách thức

52 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Giao đất Giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp: Cơ hội và thách thức
Tác giả Tô Xuân Phúc, Trần Hữu Nghị
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý và phát triển rừng
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 901,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. T ổng quan đấ t r ừ ng t ạ i Vi ệ t Nam (4)
    • I.1 Hi ệ n tr ạng đất lâm nghiệ p (4)
    • I.2 Hi ệ n tr ạng tài nguyên rừ ng (7)
  • II. M ộ t s ố th ể ch ế lâm nghiệp cơ bả n t ừ nh ững năm 1950 đế n nay (9)
  • III. Giao đấ t giao r ừng cho các hộ gia đình, cá nhân (15)
    • III.1 T ổng quan các chính sách quy đị nh vi ệc giao đấ t giao r ừ ng (15)
    • III. 2 Chính sách giao đất khoán rừ ng cho h ộ gia đình và cá nhân (17)
  • IV. Ti ến trình thự c hi ện GĐGR: từ lý thuyết đế n th ự c ti ễ n (22)
  • V. Tác độ ng c ủa chính sách giao đấ t giao r ừ ng (25)
    • V.1 Giao đấ t giao r ừng và sinh kế h ộ (25)
    • V.2 Tác độ ng c ủa GĐGR đố i v ới độ che ph ủ và chất lượ ng r ừ ng (29)
  • VI. Giao đấ t giao r ừng và ý nghĩa đố i v ới FLEGT và REDD+ (34)
    • VI.1 Giao đấ t giao r ừng và FLEGT (34)
    • VI.2 Giao đấ t giao r ừng và ý nghĩa đố i v ớ i REDD+ (36)
  • VII. M ộ t s ố ti ềm năng thay đổi thông qua GĐGR (37)
    • VII.1 Tái cơ cấu ngành lâm nghiệ p (37)
    • VII.2 S ắ p x ếp đổ i m ới và phát triển các CTLN (40)
    • VII.3 Vai trò củ a c ộng đồ ng trong qu ả n tr ị r ừ ng (46)
    • VII.4. Di ện tích rừng/đấ t r ừng do UBND xã quản lý (50)
  • VIII. K ế t lu ậ n (51)

Nội dung

Với lý do như vậy, kể từ cuối những năm 1980 Chính phủ đã thực hiện chính sách GĐGR, theo đó đất lâm nghiệp và một số quyền sử dụng đi kèm với đất đã được giao cho các hộ.. Những thay đổ

T ổng quan đấ t r ừ ng t ạ i Vi ệ t Nam

Hi ệ n tr ạng đất lâm nghiệ p

Theo Quyết định 1482/QĐ-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi trường ban hành ngày 10 tháng 9 năm 2012, tính đến hết ngày 1 tháng 1 năm 2012, đất lâm nghiệp của Việt Nam đạt gần 15,4 triệu ha, được phân thành ba loại chính gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng Gần 79% diện tích đất này (tương đương 12,1 triệu ha) đã được giao cho các đối tượng sử dụng, trong khi phần còn lại, chiếm khoảng 21% (hơn 3,2 triệu ha), vẫn chưa được giao và hiện do cộng đồng cùng UBND xã quản lý Thông tin về diện tích của từng loại đất cũng được thể hiện rõ trong Bảng 1 của quyết định.

1 B ộ Tài nguyên và Môi trườ ng Quy ết định 1482/QĐ - BTNMT ngày 10 tháng 9 năm 2012 Phê duyệt và công b ố k ế t qu ả th ống kê diện tích đất đai năm 2011

Thông tư 34 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ngày 10/6/2009 quy định rõ các tiêu chí phân loại rừng gồm: rừng phòng hộ để bảo vệ nguồn nước, đất, chống xói mòn, hạn chế sa mạc hóa, phòng chống thiên tai, điều hòa khí hậu và bảo vệ môi trường; rừng đặc dụng nhằm bảo tồn thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường; rừng sản xuất dùng cho sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp bảo vệ môi trường Ngoài ra, Thông tư còn hướng dẫn phân loại rừng dựa trên trữ lượng, nguồn gốc hình thành (tự nhiên hoặc trồng), điều kiện lập địa (núi đất, núi đá, ngập nước, đất cát), theo loài cây (gỗ, tre nứa, cau dừa, giao gỗ và tre nứa), và trữ lượng rừng Đồng thời, quy định về đất chưa có rừng, bao gồm đất có rừng trồng chưa hình thành, đất trồng có hoặc không có cây gỗ tái sinh, và đất núi đá không có cây.

Phần diện tích 12,1 triệu ha được giao cho 8 nhóm đối tượng sử dụng khác nhau, bao gồm:

 các hộgia đình và cá nhân

 Các tổ chức kinh tế

 Các cơ quan nhà nước

 Các tổ chức 100% vốn nước ngoà

Trong diện tích đã được giao, hộ gia đình, cá nhân, các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế chiếm tỷ lệ lớn, thể hiện vai trò chủ đạo trong việc sử dụng đất đai Các tổ chức liên doanh, tổ chức 100% vốn nước ngoài và cộng đồng chỉ được giao diện tích nhỏ hơn, phù hợp với quy định về phân bổ đất đai Hình 1 và Bảng 1 minh họa rõ tỷ lệ phần diện tích được giao cho các nhóm sử dụng khác nhau, giúp đánh giá phân bổ đất đai một cách rõ ràng và chính xác.

Hình 1 Tỷ lệ (%) diện tích đất lâm nghiệp được giao cho các nhóm sử dụng

Nguồn: Quyết định 1482 của Bộ TN&MT

Trong tổng diện tích đất lâm nghiệp được giao cho các nhóm đối tượng sử dụng là 12,1 triệu ha, hộ gia đình và cá nhân chiếm tỷ lệ cao nhất với gần 4,5 triệu ha, tương đương 37% Khoảng 70% diện tích đất lâm nghiệp mà hộ gia đình và cá nhân được giao là đất rừng sản xuất (RSX), trong khi đó đất rừng phòng hộ (RPH) chiếm gần 30% Diện tích đất rừng đặc dụng (RĐD) còn lại là khá nhỏ, không đáng kể.

Hộ gia đình, cá nhân 37%

Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp cảnước tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2012 (ha)

Mục đích sử dụng đất Tổng số

Diện tích đất theo đối tượng sử dụng Diện tích đất theo đối tượng được giao quản lý 3

Hộ gia đình, cá nhân

UBND xã Tổ chức kinh tế

Tổ chức khác Liên doanh

100% nước ngoài Cộng đồng Tổng số Cộng đồng UBND xã

1 Đất lâm nghiệp 15373063 12134259 4463214 142449 2234577 4536056 457645 51 19238 281002 3238804 524713 2714091 1.2 Đất rừng sản xuất 7406558 5967676 3120377 92157 1813968 779930 84912 32 18592 57708 1438882 186580 1252301 1.2 Đất rừng phòng hộ 5827314 4174140 1331487 48588 399447 1981469 189209 0 645 223294 1653174 327048 1326126

Nguồn: Quyết định 1482 Bộ TN&MT

Diện tích đất theo đối tượng sử dụng là diện tích đất thụ đắc đã được giao, đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất Trong khi đó, diện tích đất theo đối tượng được giao quản lý là diện tích đất hiện vẫn còn chưa được giao cụ thể mà chỉ tạm thời giao cho cộng đồng và Ủy ban nhân dân xã quản lý, nhằm duy trì trật tự và quản lý hiệu quả.

Các tổ chức nhà nước, chủ yếu là các Ban quản lý RPH và RĐD, đang quản lý khoảng 4,5 triệu ha đất lâm nghiệp, chiếm 37% tổng diện tích đất đã được giao, chủ yếu là đất RPH (44%) và đất RĐD (39%), trong khi đất RSX chỉ chiếm 17% Hầu hết các diện tích đất RPH và RĐD đều do các tổ chức nhà nước quản lý mà không giao cho các nhóm đối tượng khác Các tổ chức kinh tế, chủ yếu là các công ty lâm nghiệp tiền thân từ các LTQD, đã được giao sử dụng khoảng 2,2 triệu ha đất lâm nghiệp, chiếm 19% tổng diện tích đất của đất lâm nghiệp quốc gia, trong đó 81% là đất RSX và phần còn lại chủ yếu là đất RPH nằm xen kẽ trong đất RSX.

Hiện còn 3,2 triệu ha đất lâm nghiệp chưa được bàn giao, trong đó 2,7 triệu ha do UBND cấp xã quản lý và 0,5 triệu ha quản lý bởi cộng đồng Khoảng 51% diện tích đất chưa giao (tương đương 1,25 triệu ha) là đất RPH, trong khi đó đất RSX chiếm 44% và đất RĐD chiếm 5%, điều này ảnh hưởng đáng kể đến công tác quản lý và phát triển rừng bền vững tại Việt Nam.

Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước, trong khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp Tuy nhiên, dữ liệu thống kê về tài nguyên rừng và đất rừng của hai cơ quan này hiện không đồng nhất, chủ yếu do các đơn vị sử dụng các tiêu chí phân loại đất và rừng khác nhau (Forest Sector Support Partnership) Việc không thống nhất trong tiêu chuẩn phân loại gây ảnh hưởng đến độ chính xác và khả năng hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng và đất đai của đất nước.

Hi ệ n tr ạng tài nguyên rừ ng

Dựa trên Quyết định 1739 của Bộ NN&PTNT ngày 31 tháng 7 năm 2013, tính đến hết năm 2012, Việt Nam có tổng diện tích rừng ước đạt khoảng 13,8 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10,4 triệu ha và rừng trồng 3,4 triệu ha Theo chức năng sử dụng, rừng Việt Nam được phân thành ba loại chính: rừng đặc dụng (2 triệu ha), rừng phòng hộ (4,68 triệu ha) và rừng sản xuất (6,96 triệu ha) Bảng 2 mô tả chi tiết diện tích các loại rừng này của Việt Nam nhằm cung cấp cái nhìn rõ nét về cơ cấu rừng quốc gia.

Bảng 2.Hiện trạng tài nguyên rừng của Việt Nam (ha)

Thuộc quy hoạch 3 loại rừng

Ngoài quy hoạch đất Lâm nghiệp Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất Đất có rừng 13862043 2021995 4675404 6964415 200230

Rừng tự nhiên 10423844 1940309 4023040 4415855 44641 Rừng trồng 3438200 81686 652364 2548561 155589

Nguồn: QĐ 1739 Bộ NN&PTNT

Trong tổng diện tích 10,4 triệu ha rừng tự nhiên, RPH và RĐD chiếm 56,7%, trong khi RSX chiếm 43,3% Rừng gỗ tre nứa chiếm phần lớn diện tích với 81,6%, còn lại là các loại rừng khác như rừng tre nứa, rừng hỗn giao và rừng ngập mặn Đến nay, cả nước có khoảng 3,4 triệu ha rừng trồng, góp phần đa dạng hóa hệ sinh thái và cải thiện môi trường.

4 Forest Sector Support Partnership 2010 Vietnam Forestry Development Strategy: Progress Report 2006-

5 Quy ết định 1739/QĐ -BNN-TCLN c ủ a B ộ NN &PTNT ngày 31 tháng 7 năm 2013 về vi ệc công bố hi ệ n tr ạ ng r ừ ng toàn quốc năm 2012

Diện tích rừng trồng là rừng sản xuất, chiếm khoảng 2,5 triệu ha, tương đương 73,5% tổng diện tích rừng trồng, trong khi phần còn lại (26,5%) là diện tích rừng trồng thuộc RPH và RĐD Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng đã tăng tương đối nhanh với tốc độ khoảng 150.000 – 200.000 ha mỗi năm (FSSP 2014), tạo nền tảng thuận lợi để cung cấp nguyên liệu gỗ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ trong tương lai.

Diện tích rừng trong nước đã được giao cho 7 nhóm đối tượng sử dụng, trong đó các chủ rừng chính bao gồm Ban Quản lý Rừng phòng hộ và Rừng đặc dụng, đang nắm giữ khoảng 4,6 triệu ha rừng, chiếm 33% tổng diện tích Hộ gia đình hiện quản lý khoảng 3,4 triệu ha, chiếm 25% tổng diện tích rừng của cả nước, trong khi diện tích rừng giao cho cộng đồng gần 600.000 ha Theo Luật Bảo vệ Phát triển rừng (sửa đổi) ban hành năm 2004, UBND xã không phải là đơn vị chủ rừng, nhưng thực tế, diện tích rừng được giao cho UBND xã quản lý rất lớn, khoảng 2,19 triệu ha, trong đó 81,7% là rừng tự nhiên và 18,3% là rừng trồng Hình 2 thể hiện diện tích rừng tính đến cuối năm 2012 được phân theo các nhóm chủ rừng, phản ánh rõ nét phân bổ diện tích và vai trò của từng chủ thể trong quản lý rừng quốc gia.

Hình 2 Cơ cấu các chủ rừng theo diện tích đang quản lý (%)

Nguồn: Quyết định 1739 Bộ NN&PTNT

Theo Quyết định 1739, hàng năm có trên 30.000 ha rừng tự nhiên bị chuyển đổi sang mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp, trong khi diện tích rừng trồng được khai thác gần 57.000 ha Sự thay đổi trong sử dụng và quản lý đất rừng xuất phát từ các thể chế lâm nghiệp và những biến đổi liên quan kể từ khi đất nước thành lập, đòi hỏi phải hiểu rõ các chính sách, quy định và quá trình điều chỉnh pháp luật để lý giải nguyên nhân hiện trạng này.

6 Đối tác hỗ tr ợ ngành lâm nghiệp 2014 Báo cáo phát triển ngành lâm nghiệp năm 2013 Hà Nội: Báo cáo phụ c v ụ H ộ i ngh ị thường niên FSSP ngày 21 tháng 1 năm 2014

Theo Quyết định số 1739/QĐ-BNN&PTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích rừng trồng hiện nay mới đạt khoảng 52%, trong khi đó, còn lại là rừng chưa được khai thác để trữ lượng.

Tổ chức KT khác 1% Đơn vị vũ trang 2%

M ộ t s ố th ể ch ế lâm nghiệp cơ bả n t ừ nh ững năm 1950 đế n nay

Kể từ khi đất nước dành độc lập, ngành Lâm nghiệp đã trải qua những thay đổi căn bản về cơ chế quản lý tài nguyên rừng Chính phủ thực hiện quốc hữu hóa tài nguyên rừng toàn quốc ngay sau độc lập, trong đó Nghị định 596/TTg ngày 3 tháng 10 năm 1955 nhấn mạnh rằng “rừng là tài sản quốc gia rất lớn,” yêu cầu khai thác phải đi đôi với bảo vệ và xử lý thích đáng những hành vi phá hoại tài sản quốc gia Thị số 15 ngày 3 tháng 10 năm 1961 của Chính phủ khẳng định “rừng là tài sản của toàn dân, phải do nhà nước thống nhất quản lý” Năm 1957, Chính phủ ban hành nghị định về hạn chế nương rẫy mới, đồng thời Nghị quyết số 38/CP ngày 12 tháng 3 năm 1968 thúc đẩy định canh định cư và thành lập hợp tác xã Trong giai đoạn 1955-1975, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quản lý lâm nghiệp tại miền Bắc chủ yếu theo hình thức quản lý nhà nước tập trung, với việc thành lập Bộ Nông lâm và thiết lập các Ty Nông nghiệp để quản lý hơn 9 triệu ha rừng của toàn miền Bắc.

Đến năm 1961, cả nước đã thành lập 23 Chi cục Quản lý Nông nghiệp, và trong hai thập kỷ từ 1955 đến 1975, nhiệm vụ trọng tâm của ngành lâm nghiệp là khai thác gỗ để tạo nguồn nguyên liệu phục vụ tái thiết đất nước và chiến tranh Hệ thống các cơ quan quản lý lâm nghiệp đã được hình thành, với Hạt Lâm nghiệp tại các địa phương không có chi cục để đảm nhận nhiệm vụ này, và đến năm 1975, cả nước có khoảng 200 Hạt Lâm nghiệp Các doanh nghiệp tư nhân tham gia chế biến gỗ trước 1955 đã bị xoá bỏ hoàn toàn Năm 1972, hoạt động bảo vệ rừng bắt đầu được chú trọng, với việc ban hành Pháp lệnh Bảo vệ rừng và thành lập lực lượng Kiểm lâm Nhân dân theo Nghị định số 101/CP ngày 21 tháng 5 năm 1973, đến cuối năm 1974, hệ thống Kiểm lâm Nhân dân được thiết lập từ trung ương tới các huyện Tuy nhiên, quản lý lâm nghiệp trong cả nước bắt đầu phát sinh chồng chéo về chức năng giữa các cơ quan như Hạt Lâm nghiệp và Kiểm lâm Nhân dân, trong đó tại cấp xã, hoạt động quản lý rừng do cán bộ xã đảm nhiệm nhưng hình thức này thiếu hiệu quả do chính quyền xã thiếu nguồn lực và chuyên môn phù hợp.

Trong giai đoạn 1955-1975, sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam chủ yếu được tổ chức theo mô hình tập thể hợp tác xã (HTX), đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và khai thác gỗ ở miền núi (Kerkvliet, 2005) Đặc biệt, vào năm 1978-1979, các HTX nông nghiệp đã huy động khoảng 30.000 lao động trực tiếp tham gia khai thác gỗ cho các lực lượng quản lý nhà nước; đồng thời, các HTX cung cấp khoảng 17.000 trâu kéo gỗ và chiếm khoảng 80-85% tổng lượng gỗ khai thác toàn quốc Đến năm 1989, hệ thống các lực lượng quản lý khai thác gỗ đã phát triển thành 431 lực lượng, trong đó 18% do Bộ Lâm nghiệp quản lý, 48% do UBND tỉnh quản lý, và 38% còn lại do UBND huyện quản lý Trong giai đoạn 1981-1985, đã khai thác khoảng 7 triệu mét khối gỗ để phục vụ tái thiết đất nước và xuất khẩu Các cuộc điều tra lâm nghiệp bắt đầu từ thập niên 1960 đã tạo nền tảng cho hệ thống thống kê tài nguyên rừng, góp phần vào quá trình giao đất, giao rừng và quản lý rừng bền vững ở Việt Nam.

Trong phần này, các tài liệu chủ yếu được trích dẫn từ cuốn "Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000" do Nguyễn Văn Đăng chủ biên, xuất bản bởi Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 2001 Khi sử dụng các nguồn tư liệu khác, báo cáo cần trích dẫn rõ nguồn gốc cụ thể để đảm bảo tính chính xác và minh bạch của thông tin.

9 Kerkvliet B 2005 The Power of Everyday Politics: How Vietnamese Peasants Transformed National Policy Ithaca and London: Cornell University Press

Chính sách định canh định cư (ĐCĐC) của Chính phủ bắt đầu được triển khai từ cuối những năm 1960 nhằm ổn định cuộc sống cho đồng bào du canh du cư Chính sách nhấn mạnh việc kết hợp phát triển kinh tế địa phương thông qua tiến trình hợp tác xã hóa và di dân từ miền xuôi lên miền núi để xây dựng các vùng kinh tế mới.

Các chính sách và hoạt động của các lực lượng kiểm lâm đã tạo ra những thay đổi căn bản trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên rừng trong nước Từ năm 1976 đến 1990, nhà nước đã thực hiện chương trình xây dựng các vùng kinh tế mới ở miền núi, thu hút hàng vạn người dân miền xuôi di cư lên vùng núi để phát triển kinh tế Đồng thời, gần 1,4 triệu ha đất rừng đã được chuyển đổi mục đích để phát triển ngành nông nghiệp vùng cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp Việt Nam.

Lâm nghiệp nhà nước tập trung vào khai thác rừng và bỏ qua công tác bảo vệ, dẫn đến nguồn tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt (Sikor, 1997; McElwee, 2004) Đến đầu những năm 1980, nhiều lâm trường không còn gỗ để khai thác, đánh dấu sự khủng hoảng nghiêm trọng của ngành lâm nghiệp tại Việt Nam.

Nguồn ngân sách quốc gia, đặc biệt là ngân sách dành cho ngành lâm nghiệp, đã giảm đáng kể kể từ năm 1997 Nguyên nhân chính là do nguồn thu từ khai thác gỗ trong nước sụt giảm nghiêm trọng, cùng với việc mất hoàn toàn hỗ trợ tài chính từ các nước Đông Âu cũ do sự sụp đổ của khối này.

Năm 1986 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quản lý kinh tế tại Việt Nam với chính sách 'đổi mới' Chính phủ đã quyết định chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế theo hướng thị trường để thúc đẩy sự phát triển bền vững Những thay đổi này nhằm khắc phục các bế tắc trong phát triển kinh tế, mở ra cơ hội mới cho sự phát triển của đất nước.

Trong quá trình đổi mới tại các vùng núi, đã có những thay đổi cơ bản theo Sowerwine (2004), bao gồm việc xóa bỏ hình thức hợp tác xã (HTX) và giao đất trực tiếp cho người dân để tăng khả năng tự chủ sử dụng đất Đồng thời, chính sách đầu tư đã được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển kinh tế theo chiều sâu (ĐCĐC) và trồng rừng trên các diện tích đất trống, đồi trọc nhằm thúc đẩy phát triển vùng núi Bên cạnh đó, chính sách mở rộng thị trường nhằm tạo ra sự giao lưu hàng hóa giữa miền núi và đồng bằng được đẩy mạnh, khuyến khích đầu tư từ cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để thúc đẩy phát triển kinh tế vùng cao.

Chính sách lâm nghiệp đã tạo động lực thúc đẩy sự phát triển vùng cao nhờ vào việc điều tra đất và rừng thực địa, hình thành hệ thống bản đồ và phân chia đất rừng để giao hoặc khoán cho các hộ gia đình nhằm phát triển vốn rừng và ổn định sinh kế Từ cuối những năm 1990, giá trị của tài nguyên rừng và đất rừng đã có những thay đổi căn bản, chủ yếu do ưu tiên bảo tồn rừng Chính phủ, được hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế, đã thành lập hệ thống các khu rừng đặc dụng và phòng hộ nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị của tài nguyên rừng còn lại Hiện nay, tổng diện tích rừng đặc dụng trong cả nước đã vượt 2 triệu ha, trong khi diện tích rừng phòng hộ hơn 4,6 triệu ha.

10 Sikor, T 1997 Stewardship of the Vietnamese uplands, McElwee, P Become a socialist man or become a Kinh…

11 Gainsborough, M 2010 Vietnam: Rethinking the State Zed Books, London and New York, Silkworm Books, Chiang Mai, Thailand

12 Sowerwine, J 2004 Territorialisation and the politics of highland landscapes in Vietnam: Negotiating property relations in policy, meaning and practice Conservation & Society, 2(1): 97-136

13 Sikor, T., Nghiem P.T., J Sowerwine và Romm, J 2011 (eds.) Upland transformation in Vietnam Singapore:

14 Zingerli, C 2005 Colliding understandings of biodiversity conservation in Vietnam: global claims, national interests, and local struggles Society & Natural Resources, 18(8): 733-747

Phuc Xuan To 2011 Why did the forest conversation policy fail in the Vietnamese uplands? Forest conflicts in

Ba Vi national park in northern region International Journal of Environmental Studies, 66(1): 59-68

Luật đất đai năm 1993 và các hướng dẫn thực hiện quy định rõ việc giao đất cho tổ chức trong và ngoài nhà nước, bao gồm hộ gia đình và cá nhân Các luật nhấn mạnh quyền sở hữu toàn dân và vai trò của Nhà nước trong việc đại diện chủ sở hữu đất đai, bao gồm đất rừng Nhà nước giao đất và quyền sử dụng đất cho các nhóm đối tượng khác nhau, như các hộ sống dựa vào rừng Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 quy định quản lý ba loại rừng: RĐD, RPH và RSX Chính sách này cho phép các tổ chức nhà nước như Ban Quản lý rừng có phần lớn diện tích RĐD và RPH - những khu vực có giá trị cao về đa dạng sinh học, trong khi các tổ chức như Lâm nghiệp quản lý diện tích rừng tự nhiên RSX còn trữ lượng Diện tích rừng giao cho hộ gia đình thường là rừng nghèo, không còn giá trị kinh tế Đến cuối năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp hơn 2,6 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nhóm đối tượng nhận đất lâm nghiệp.

Số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho diện tích trên 10,4 triệu ha, chiếm đến 86,3% tổng diện tích đất lâm nghiệp cần được cấp giấy Bảng 3 cung cấp thống kê về số lượng giấy chứng nhận và diện tích đất đã được cấp theo các vùng sinh thái, giúp đánh giá mức độ hoàn thành trong công tác cấp giấy quyền sử dụng đất.

Bảng 3 trình bày kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tính đến hết tháng 12 năm 2011, bao gồm số giấy đã cấp và diện tích đất đã được cấp (tính bằng hecta) Thông tin này giúp đánh giá tình hình cấp giấy quyền sử dụng đất lâm nghiệp tại địa bàn trong giai đoạn này Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp, tăng cường quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên rừng Các số liệu trong bảng cung cấp dữ liệu quan trọng để phân tích và xây dựng chính sách quản lý đất lâm nghiệp hiệu quả hơn.

Tỷ lệ diện tích đã cấp/ diện tích cần cấp (%)

Miền núi phía Bắc 1.068.558 4.312.110 79,3 Đồng bằng Bắc bộ 10.912 25.923 23,0

Tây Nguyên 810.323 2.066.411 71,6 Đông Nam bộ 153.898 720.056 87,3

Ngu ồ n: B ộ TN&MT 2012 (http://www.gdla.gov.vn/index.php?option=com_tailieu&taskail&idf)

Trong số 8 vùng sinh thái của Việt Nam, Đồng bằng Bắc bộ, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ ghi nhận tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thấp nhất Mặc dù việc cấp giấy chứng nhận đất đai đã được xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu của ngành Tài nguyên và Môi trường, tiến trình này vẫn còn diễn ra chậm chạp Điều này ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi của người dân và phát triển bền vững các lĩnh vực liên quan đến sử dụng đất đai.

Giao đấ t giao r ừng cho các hộ gia đình, cá nhân

T ổng quan các chính sách quy đị nh vi ệc giao đấ t giao r ừ ng

Giao đất giao rừng cho người dân được xem là một chủ trương quan trọng của Chính phủ bắt đầu từ những năm 1980 nhằm thúc đẩy người dân tham gia quản lý và bảo vệ rừng Năm 1983, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 29 ngày 12/11 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng, nhấn mạnh mục tiêu “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ.” Kể từ đó, Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách và cơ chế nhằm hiện thực hóa mục tiêu của Chỉ thị này, trong đó có chính sách giao đất giao rừng cho các hộ, nhằm đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Nghị định 02 ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, đảm bảo bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng lâu dài Chính phủ giao đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên hoặc rừng trồng bằng vốn nhà nước cho các đối tượng nhằm duy trì sự ổn định của rừng và thúc đẩy phát triển bền vững Nghị định cũng đề cập đến việc giao đất lâm nghiệp chưa có rừng đi kèm các chính sách đầu tư, hỗ trợ hợp lý để các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài Thời gian giao đất là 50 năm, trong đó có nhiều khuyến khích để khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng rừng và sản xuất nhằm thúc đẩy ngành lâm nghiệp phát triển bền vững.

Báo cáo Tổng quan về chính sách giao đất, giao rừng tại Việt Nam cung cấp cái nhìn tổng thể về các chính sách liên quan đến GĐGR Báo cáo trình bày các chính sách hiện hành, thực trạng và định hướng phát triển trong giai đoạn tới nhằm thúc đẩy hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, rừng một cách bền vững Nó được trình bày tại Hội thảo Giao đất lâm nghiệp – chính sách và thực trạng, do Tropenbos International Vietnam và Viện Điều tra Quy hoạch rừng tổ chức vào ngày 10 tháng 4 năm 2012 tại Hà Nội, nhằm góp phần nâng cao nhận thức và đề xuất các giải pháp cải thiện chính sách đất đai và rừng tại Việt Nam.

16 nông lâm nghiệp được triển khai tại các khu vực đất trống và đồi núi trọc, nhằm tận dụng và phục hồi đất đai Nhà nước có chính sách hỗ trợ trồng rừng, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững cộng đồng và bảo vệ môi trường.

Nghị định 163 ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ quy định về việc Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất lâm nghiệp, bao gồm đất có rừng tự nhiên, đất trồng rừng và đất chưa có rừng phù hợp với quy hoạch lâm nghiệp nhằm phục hồi sinh thái Nhà nước giao đất lâm nghiệp không thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình dựa trên nguồn thu nhập chính từ hoạt động sản xuất trên đất, nhưng nếu sử dụng vượt hạn mức 30 ha thì bắt buộc thuê đất tối đa 50 năm Ngoài ra, đất lâm nghiệp còn được cho thuê cho các tổ chức trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế và tổ chức cá nhân nước ngoài để phát triển kinh tế, bảo vệ và quản lý rừng bền vững.

Nghị định 01 ngày 1 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ quy định rõ việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước Các tổ chức như LTQD, BQL RHP, RĐD được Nhà nước giao đất rừng để thực hiện việc giao khoán đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân công nhân, viên chức đang hoặc đã làm việc cho bên giao khoán, cũng như các hộ, tổ chức tại địa phương và các địa phương khác có vốn đầu tư vào sản xuất Nghị định nhấn mạnh quyền lợi và trách nhiệm của cả bên giao khoán và bên nhận khoán, trong đó thời hạn giao khoán đất rừng phòng hộ và đặc dụng là 50 năm, còn đất rừng sản xuất được xác định theo chu kỳ kinh doanh của cây trồng.

Quyết định 178 ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, thuê hoặc khoán rừng và đất lâm nghiệp Văn bản này áp dụng cho các hộ và cá nhân nhận đất theo Nghị định 02 và Nghị định 01 của Chính phủ, trong đó nêu rõ các quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi được giao đất, khoán rừng với các chức năng và mục đích khác nhau như đất rồng, đất phòng hộ, đất sản xuất, rừng tự nhiên, rừng trồng, đất chưa có rừng, và các loại đất khác.

Nghị định 135 ngày 8 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ quy định về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất RSX trong các LTQD, cho phép các bên giao khoán (bao gồm hộ gia đình và cộng đồng dân tộc thiểu số困难 khăn) thực hiện giao khoán rừng tự nhiên, rừng trồng và đất trồng RSX để khai thác phù hợp với trình độ sản xuất, với hợp đồng có thể theo chu kỳ hoặc theo công đoạn, thời hạn tối đa là 50 năm Ngoài ra, bên giao khoán còn có thể đầu tư phát triển vốn rừng cho bên nhận khoán và chia lợi ích dựa trên tỷ lệ đóng góp của từng bên, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Ngoài các chính sách chung, còn có các chính sách đặc thù do Trung ương và địa phương ban hành liên quan đến GĐGR Các dự án nhằm tăng cường khả năng tiếp cận đất lâm nghiệp cho các hộ và cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược này Các chính sách đặc thù cơ bản bao gồm các biện pháp hỗ trợ, phát triển bền vững và thúc đẩy quyền tiếp cận đất lâm nghiệp cho các nhóm đối tượng ưu tiên.

Quyết định 304 ngày 23 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ đã thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên Chính sách này nhằm thúc đẩy trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản lý và bảo vệ rừng tự nhiên, đồng thời góp phần phát triển kinh tế bền vững dựa trên nguồn tài nguyên rừng Việc giao rừng tự nhiên theo quyết định này gồm có hình thức giao rừng trực tiếp (RSX) hoặc khoán rừng nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng dân tộc thiểu số.

Các hộ gia đình có đủ tiêu chuẩn, chủ yếu là hộ nghèo, có thể nhận RPH hoặc RĐD nhằm tiếp cận các nguồn lực để thực hiện công tác bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế Theo quyết định, khi quỹ đất cho phép, các hộ này có thể được giao dưới 30 ha rừng sản xuất và nhận khoán từ 15-20 ha đối với RPH và RĐD Ngoài ra, các hộ nhận đất và rừng còn được hỗ trợ các chính sách phát triển và bảo vệ vốn rừng một cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự bền vững của các nguồn tài nguyên rừng.

Nghị quyết số 30a ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững tập trung vào việc hỗ trợ các huyện nghèo thông qua chính sách khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng, và giao đất để trồng rừng sản xuất Các hộ gia đình nhận khoán và chăm sóc rừng tự nhiên hoặc rừng sản xuất (RSX) có trữ lượng giàu hoặc trung bình sẽ được hưởng tiền khoán chăm sóc và bảo vệ Những hộ được giao RSX nhưng không thuộc diện rừng khoán bảo vệ sẽ nhận hỗ trợ để phát triển vốn RSX, bao gồm cây giống và tín dụng ưu đãi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại các khu vực nghèo.

Báo cáo này tập trung vào các chính sách cơ bản liên quan đến việc giao đất rừng sản xuất (RSX) và khoán rừng cho hộ gia đình, cá nhân Cụ thể, nội dung chính tập trung vào Nghị định 02 (liên quan đến Nghị định 163 và 178) quy định về việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân, cũng như Nghị định 01 (kế thừa Nghị định 178 và 135) về cơ chế khoán rừng và chia sẻ lợi ích.

Chính sách giao đất khoán rừ ng cho h ộ gia đình và cá nhân

Luật Đất đai năm 1993 cùng các văn bản sửa đổi và hướng dẫn dưới luật quy định rõ quyền của hộ gia đình và cá nhân đối với đất đai Đối với đất lâm nghiệp, quyền về đất và tài nguyên rừng được phân chia thành các loại khác nhau dựa trên đặc thù của từng đất và rừng Luật phân định rõ hai nhóm quyền chính: quyền quản lý và quyền sử dụng đất Trong đó, Nhà nước giữ vai trò nắm giữ quyền quản lý, còn người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân, được Nhà nước giao các quyền sử dụng đất phù hợp với quy định pháp luật.

Chủ đất có quyền quyết định mục đích sử dụng đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cũng như hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất Họ có quyền quyết định việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và cấp phép cho người sử dụng phù hợp với quy định của pháp luật.

Trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức như giao đất, cho thuê đất, hoặc công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định Quy định này xác định rõ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để đảm bảo quyền lợi hợp pháp và thúc đẩy quản lý đất đai hiệu quả.

Thống nhất quản lý đất đai bao gồm việc ban hành các văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng đất, tổ chức thực hiện các quy định này để đảm bảo quản lý hiệu quả Đồng thời, công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới, bản đồ hành chính là những yếu tố quan trọng trong công tác quản lý đất đai Các hoạt động khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất cũng đóng vai trò then chốt trong việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch dài hạn Quản lý việc thực hiện kế hoạch, quy hoạch đất đai, cùng với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất đều được thực hiện theo đúng quy định nhằm đảm bảo phát triển bền vững và phù hợp với chiến lược của địa phương.

Chịu trách nhiệm thống kê và kiểm kê đất đai để đảm bảo chính xác về diện tích và đặc điểm của quỹ đất Quản lý và phát triển thị trường đất đai nhằm thúc đẩy hoạt động giao dịch đất đai minh bạch và hiệu quả Đồng thời, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về đất đai Nghiên cứu, thanh tra và kiểm tra việc chấp hành luật đất đai nhằm đảm bảo trật tự và chống thất thoát tài nguyên đất Xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai để bảo vệ quyền lợi nhà nước và cộng đồng, góp phần phát triển bền vững ngành đất đai.

 Có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp vềđất đai, giải quyết khiếu nại, tốcáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất

Đối với đất RSX, pháp luật cho phép người nhận đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp đất đai, với thời hạn sử dụng là 50 năm và khả năng gia hạn nếu tuân thủ quy định pháp luật Tuy nhiên, nếu người sử dụng vi phạm các quy định về sử dụng đất, Nhà nước có thể thu hồi đất cùng các quyền liên quan Nghị định 02 quy định việc giao đất lâu dài cho các hộ để phục vụ mục đích sản xuất lâu dài, trong khi Nghị định 01 quy định việc khoán đất và rừng cho hộ dân Bảng 6 nêu rõ những điểm khác biệt cơ bản giữa hình thức giao đất theo Nghị định 02 và khoán đất theo Nghị định 01.

Bảng 6 Một sốkhác nhau cơ bản giữa giao vào khoán

Trong các loại rừng áp dụng các phương pháp như RSX, RPH, RĐD, chỉ một phần nhỏ diện tích rừng tự nhiên phù hợp với các phương pháp này Tình trạng đất hoặc rừng được giao cho hộ gia đình thường là đất trống đồi núi trọc, đất có rừng tự nhiên hoặc rừng trồng có trữ lượng gỗ thấp Đặc biệt, đất có rừng thường là rừng có trữ lượng gỗ cao, còn đất trống thường được thiết kế để trồng rừng nhằm tăng giá trị sinh thái và kinh tế của khu vực.

Phạm vi của các quyền được trao cho người nhận đất

5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp

Các quyền trong hợp đồng khoán, bao gồm khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ và trồng mới, được xác định rõ ràng giữa bên giao khoán và bên nhận khoán Tuy nhiên, phạm vi của những quyền này thường rất hạn chế để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan Việc quy định chặt chẽ các quyền trong hợp đồng giúp đảm bảo quá trình khoán được thực hiện hiệu quả và bền vững.

Thời hạn của các quyền quản lý đất đai theo hợp đồng khoán là 50 năm Đối tượng quản lý trực tiếp là đất đai, với người nhận đất chủ yếu là hộ gia đình Bên giao khoán thường là các ban quản lý rừng phòng hộ (BQL RPH), đảm bảo quyền sử dụng đất phù hợp với quy định pháp luật.

RĐD và các CTLN Các hạn chế theo luật định trong việc sử dụng đất và tài nguyên rừng của hộ

Hộ gia đình được hưởng 5 quyền đối với đất đai, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quyền sở hữu và sử dụng đất hiệu quả Ngoài ra, họ còn được hưởng các quyền lợi liên quan đến các sản phẩm hình thành từ sự đầu tư của hộ, góp phần nâng cao giá trị và phát triển bền vững của cộng đồng.

Hạn chế đến mức tối đa đối với quyền của hộ nhận khoán, đặc biệt là các quyền liên quan đến RPH, RĐD hoặc rừng tự nhiên như RSX có trữ lượng lớn Các quyền của hộ nhận khoán bị giới hạn trong phạm vi áp dụng của RPH, RĐD hoặc rừng tự nhiên, nhằm đảm bảo quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng một cách hiệu quả Việc giới hạn này giúp duy trì cân bằng giữa quyền chủ động của hộ nhận khoán và việc bảo vệ bền vững các vùng rừng tự nhiên và rừng trữ lượng lớn.

Nơi cấp phép đối với các sản phẩm khai thác trên đất

UBND cấp huyện và xã UBND cấp tỉnh hoặc Bộ NN&PTNT

Nguồn: Luật Đất đai, luật Bảo vệvà Phát triển rừng, Nghịđịnh 01, Nghịđịnh 02

Chương trình GĐGR nhằm giúp các hộ dân tiếp cận đất đai dễ dàng hơn, từ đó tạo động lực để đầu tư phát triển vốn rừng và bảo vệ rừng hiệu quả Khi nhận đất lâu dài và quyền sử dụng đất, người dân có cơ hội nâng cao sinh kế và ổn định cuộc sống, từ bỏ canh tác nương rẫy truyền thống Cải thiện sinh kế của các hộ sẽ thúc đẩy họ tiếp tục đầu tư vào phát triển và bảo vệ rừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái bền vững Hình 3 minh họa rõ ràng mục tiêu của chính sách GĐGR trong việc thúc đẩy phát triển bền vững rừng và nâng cao đời sống cộng đồng.

Hình 3 Mục tiêu của chính sách giao đất giao rừng

Nguồn tham khảo chính là chỉnh sửa và bổ sung từ tài liệu của Castella và cộng sự năm 2006, cho thấy các quyền được giao cho các hộ dân đối với RPH, RĐD và RSX Bảng 7 minh họa rõ sự khác biệt cơ bản về quyền hạn của các hộ trong việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên này Những thông tin này giúp làm rõ về quyền sở hữu và trách nhiệm của người dân đối với các loại rừng và đất đai liên quan Đáp ứng các tiêu chuẩn SEO, bài viết tập trung vào các khái niệm về quyền và phân cấp quản lý tài nguyên rừng theo nghiên cứu của Castella và các nhà nghiên cứu khác.

32 Castella, S Boissau, Nguyen H T., P Novosad 2006 Impact of forestland allocation on land use in a mountainous province of Vietnam Land Use Policy, 26: 147-160

Tăng cường phát triển vốn rừng thông qua

GĐGR cho các hộ gia đình

Tăng cường tính trách nhiệm của hộ với rừng

Tăng cường việc bảo vệ tài nguyên rừng

Cải thiện sinh kế hộ Áp dụng hình thức định canh định cư

Bảng 7 Phạm vi các quyền sử dụng của cho hộđối với các loại rừng khác nhau

Các loại quyền rừng bao gồm quyền Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng và Rừng sản xuất, phù hợp với từng loại rừng tự nhiên và rừng trồng Quyền khai thác các sản phẩm trên đất rừng là quyền của các tổ chức, cá nhân được pháp luật cho phép, đảm bảo khai thác bền vững, góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Hạn chế (tỉa thưa, khai thác lựa chọn, tận thu) Không được phép Hạn chế, nhưng dễdàng hơn so với

Quyền quản lý Hạn chế, được BQL nắm giữ Hạn chế, được BQL nắm giữ

Hạn chế được CTLN nắm giữ khi rừng được hình thành từ ngân sách nhà nước, nhằm kiểm soát và quản lý bền vững tài nguyên rừng Trong khi đó, nếu rừng hình thành từ vốn của chính hộ gia đình hoặc cá nhân, không có giới hạn về quyền sở hữu và khai thác Ngoài ra, việc thu hái sản phẩm phụ trong rừng có thể được phép để duy trì sinh thái và tận dụng nguồn lợi tự nhiên một cách hợp lý.

Hạn chế, nhưng dễdàng hơn so với RĐD

Hạn chế, mức độcao hơn so với RPH Được phép Được phép

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Không được cấp, chỉlà hợp đồng khoán với BQL

Không được cấp, chỉlà hợp đồng khoán với BQL

Ti ến trình thự c hi ện GĐGR: từ lý thuyết đế n th ự c ti ễ n

Dưới Nghị định 02, tiến trình Giao đất nông nghiệp (GĐGR) bắt đầu khi hộ gia đình viết đơn xin nhận đất gửi lên UBND huyện, trong đó nêu rõ diện tích, địa điểm thực địa và tình trạng thảm thực vật trên đất, có xác nhận của Chủ tịch UBND xã Cùng với đơn, hộ phải nộp kế hoạch sử dụng đất trong 5 năm tới, đã được xác nhận bởi trưởng thôn và Chủ tịch UBND xã Trong trường hợp cần thiết, UBND xã có thể thành lập Hội đồng giao rừng cấp xã, gồm đại diện các tổ chức chính trị xã hội như Hội Nông dân, Cựu Chiến binh Chủ tịch UBND huyện sẽ ban hành quyết định giao đất dựa trên đơn và kế hoạch của hộ nếu phù hợp pháp luật, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của hộ đối với đất Sau đó, UBND huyện thành lập tổ công tác gồm các đại diện cơ quan chuyên môn và UBND xã, trong đó có sự tham gia của đại diện thôn để giám sát quá trình thực hiện Trước khi tiến hành công tác thực địa, tổ công tác tổ chức họp cấp xã và thôn để phổ biến nội dung, kiến thức và các bước thực hiện GĐGR.

34 Thông tin về các bướ c th ự c hi ện chính sách GĐGR tạ i m ộ t s ố địa bàn của Hòa Bình, Phú Thọ và Hà Tây (nay là

H à Nội) có thể xem trong ấ n ph ẩ m c ủa Tô Xuân Phúc (2007).

Trong báo cáo này, có 35 một số kết quả giao đất lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn được trình bày tại Hội thảo Giao đất lâm nghiệp – chính sách và thực trạng Hội thảo do tổ chức Tropenbos International Vietnam phối hợp với Viện Điều tra Quy hoạch rừng tổ chức vào ngày 10 tháng 4 năm 2012 tại Hà Nội nhằm đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp cải thiện chính sách giao đất lâm nghiệp Báo cáo giúp hiểu rõ hơn về quá trình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp tại Bắc Kạn, từ đó đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển rừng bền vững trong khu vực.

23 tại địa phương.Quy trình đầy đủ của việc GĐGR bao gồm các bước chinhs sau (Trần ThịThu Hà

 Bước 1 Chuẩn bị, bao gồm việc thành lập ban chỉđạo, tổcông tác giao rừng cấp huyện, thành lập hội đồng giao rừng cấp xã

 Bước 2.Đánh giá hiện trạng rừng và đất rừng

 Bước 3 Xây dựng kế hoạch sử dụng đất và phương án giao đất cấp xã

 Bước 4 Lập kế hoạch giao đất tại thực địa

 Bước 5 Giao đất tại thực địa

 Bước 6 Hoàn thiện hồsơ địa chính

 Bước 7 Thẩm định, phê duyệt, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Cách thức tiến hành GĐGR trên thực địa đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của công tác GĐGR và sử dụng đất của hộ sau giao đất Nhiều nghiên cứu cho thấy, tại một số địa phương, quá trình thực hiện chính sách còn xa so với quy định, do bỏ qua hoặc cắt ngắn một số bước để tiết kiệm thời gian và kinh phí Thường xuyên xảy ra tình trạng các cuộc họp tại thôn và xã không được tiến hành đầy đủ hoặc bị cắt ngắn, thiếu sự tham gia của các ban ngành liên quan Ngoài ra, việc giao đất thiếu bản đồ hoặc sử dụng bản đồ không cập nhật tình trạng rừng và đất tại thời điểm giao đất cũng ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình này Các hoạt động ngoại nghiệp thường bị bỏ qua trong quá trình giao đất, dẫn đến hiệu quả của công tác GĐGR bị giảm sút (Theo Clement và Amezaga).

Năm 2009, nghiên cứu đã chỉ ra những khác biệt quan trọng giữa chính sách giao đất và cách thực hiện chính sách tại cấp địa phương Việc thực hiện và kết quả của chính sách này phụ thuộc vào cách chính quyền địa phương hiểu và vận dụng chính sách, cũng như các nguồn lực về con người và tài chính mà họ dành cho hoạt động thực hiện Chính sách giao đất tại cấp địa phương bị ảnh hưởng lớn bởi nhận thức của chính quyền về chính sách và khả năng huy động nguồn lực.

Các điều kiện kinh tế xã hội của địa phương đóng vai trò quan trọng quyết định cách thức thực hiện chính sách và ảnh hưởng đến kết quả của quá trình này (Tô Xuân Phúc, 2007, 2009) Đinh Hữu Hoàng và Đặng Kim Sơn chỉ ra rằng tiến trình thực hiện chính sách còn tồn tại nhiều hạn chế, như thiếu dữ liệu về tài nguyên rừng và bản đồ cập nhật, dẫn đến việc xác định ranh giới đất đai không chính xác, gây ra mâu thuẫn đất đai giữa các bên liên quan sau giao đất Tác giả Scott (2000) quan sát thấy việc giao đất tại Thái Nguyên được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong các cách thức này.

Dự án giao đất lâm nghiệp tại Bắc Kạn đã thành công nhờ sự tham gia tích cực của người dân, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững khu vực Bài trình bày trong hội thảo "Giao đất lâm nghiệp – chính sách và thực trạng" do Tropenbos International Vietnam và Viện Điều tra Quy hoạch tổ chức ngày 10 tháng 4 năm 2012 đã làm rõ vai trò của người dân trong quá trình này Thành công của dự án 3 PAD cho thấy việc kết hợp chính sách phù hợp và sự đồng thuận của cộng đồng là yếu tố quyết định trong quản lý tài nguyên rừng hiệu quả.

Phạm Hồng Giang trình bày ý kiến về công tác giao rừng liên quan đến đất lâm nghiệp tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Hội thảo "Giao đất lâm nghiệp – chính sách và thực trạng" do Tropenbos International Vietnam phối hợp cùng Viện Điều tra Quy hoạch tổ chức tại Hà Nội ngày 10/4/2012 đã tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến chính sách giao đất lâm nghiệp Bản trình bày nêu rõ những khó khăn và thách thức trong quá trình giao rừng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất lâm nghiệp tại địa phương Thảo luận tại hội thảo góp phần thúc đẩy chính sách giao đất phù hợp, bền vững, đáp ứng nhu cầu phát triển rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

This article discusses 37 key points related to the land registration process, providing insights into how households participate in forest management It highlights the significance of formal recognition of land rights in enhancing sustainable forest use The study draws on ethnographic research from three Vietnamese upland villages, illustrating local forest relations and community practices It emphasizes the importance of understanding cultural and social contexts in implementing land registration policies Overall, the paper offers valuable perspectives on the challenges and opportunities associated with land formalization in forest-rich regions of Vietnam.

38 Clement, F.; J Amezaga Afforestation and forestry land allocation in northern Vietnam: Analysing the gap between policy intentions and outcomes Land Use Policy 26(2009) 458-470

39 To, X.P Forest property in the Vietnamese Uplands: An ethnography of forest relations in three villages Berlin: LIT Verlag, 2007

To, X.P Why did the forest conservation policy fail in the Vietnamese uplands? Forest conflicts in Ba Vi national park in northern region International Journal of Environmental Studies 66 (2009): 59-68

40 Dinh H.H and Dang.K.S Giao đấ t giao r ừ ng ở Vi ệ t Nam – Chính sách và thự c ti ễ n.Hanoi: A report

Trong các xã và huyện của tỉnh, có 24 dạng khác nhau về cách thức thực hiện phân chia đất đai Theo tác giả, trong một số trường hợp, đất được giao cho từng hộ gia đình, nhưng cũng có những trường hợp đất lại được giao cho cộng đồng Ở một số địa phương, cộng đồng quyết định việc có nên chia đất cho các hộ hay không và lựa chọn phương pháp chia đất phù hợp Nghiên cứu của Castella và cộng sự đã phân tích các phương thức phân chia đất đai đa dạng này nhằm đảm bảo quyền lợi và phát triển cộng đồng bền vững.

Các tác giả nhấn mạnh rằng quá trình giao đất, giao rừng được thực hiện theo phương pháp áp đặt từ trên xuống, thiếu quy trình rõ ràng và có nhiều tài liệu sao chép chắp vá từ các địa phương lân cận Nhiều bộ phận của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhận định rằng, ở một số khu vực, tiến trình này diễn ra vội vàng, bỏ qua các bước quan trọng trong quy trình quản lý, dẫn đến sự thiếu minh bạch và thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng.

Chính sách giao đất được thực hiện theo nhiều cách khác nhau tại các địa phương, gây khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả của chính sách Trong hội thảo "Giao đất lâm nghiệp – chính sách và thực trạng" do Tropenbos International Vietnam và Viện Điều tra Quy hoạch rừng tổ chức ngày 10/4/2012 tại Hà Nội, các đại biểu đã thống nhất nhận diện những kết quả tích cực cũng như hạn chế của chính sách giao đất.

Các kết quả tích cực của giao đất

 Góp phần quan trọng trong việc thực hiện Luật Bảo vệvà Phát triển rừng, do vậy đóng góp trực tiếp vào nâng cao chất lượng rừng

 Góp phần tăng thu nhập của hộ, cải thiện sinh kế, tạo công ăn việc làm và giảm khai thác gỗ bất hợp pháp

 Có tiềm năng trong việc bảo vệ rừng khi rừng, đất rừng được giao cho cộng đồng

Một trong những hạn chế của việc giao đất là đất rừng được giao cho các hộ có chất lượng thấp và nghèo, điều này làm giảm lợi ích mà các hộ nhận được từ rừng Hạn chế này không tạo đủ động lực cho các hộ trong việc quản lý và phát triển đất, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng đất rừng.

 Tiến trình thực hiện giao đất không đồng nhất giữa các địa phương Tình trạng pháp lý của chủ rừng đôi khi không rõ ràng

Lợi ích từ quá trình giao đất phân chia không đều giữa các bên liên quan, dẫn đến thiếu công bằng trong phân phối đất đai Tại một số địa phương, hoạt động giao đất diễn ra mà không dựa trên các cơ sở dữ liệu đầy đủ, khiến quá trình này thiếu hiệu quả và gây ra mâu thuẫn trong và sau khi giao đất Những bất cập này làm giảm khả năng sử dụng đất một cách tối ưu, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên đất đai.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

41 Scott, S Changing rules of the game: local responses to decollectivisation in Thai Nguyen, Vietnam Asia

42 Castella, J-C, S Boissau, Nguyen H.T., P Novosad 2006 Impact of forestland allocation on land use in a mountainous province of Vietnam Land Use Policy, 23 (2) 147-160

Tác độ ng c ủa chính sách giao đấ t giao r ừ ng

Giao đấ t giao r ừng và ý nghĩa đố i v ới FLEGT và REDD+

M ộ t s ố ti ềm năng thay đổi thông qua GĐGR

Ngày đăng: 25/12/2022, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w