1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THÂM hụt NGÂN SÁCH NHÀ nước tác ĐỘNG của THÂM hụt NGÂN SÁCH NHÀ nước

32 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thâm hụt Ngân Sách Nhà Nước tác Động của Thâm hụt Ngân Sách Nhà Nước
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 437,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1 1 Khái niệm Trong hệ thống tài chính thống nhất, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ đạo NSN.

Trang 1

tế, xã hội ở mọi quốc gia Song, quan niệm về NSNN thì lại chưa thống nhất Trên thực tế, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN không giống nhau tùy theo quan điểm của người định nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau

Ở nước ta, trong Luật NSNN có ghi rằng: Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước

1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước

Vai trò tất yếu của NSNN ở mọi thời đại và trong mọi mô hình kinh tế là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, là vai trò quan trọng của ngân sách trong cơ chế thị trường Vai trò này, về mặt chi tiết

có thể đề cập đến ở nhiều nội dung và những biểu hiện đa dạng khác nhau, song trên góc độ tổng hợp, có thể khái quát trên ba khía cạnh sau đây:

Trang 2

Thứ nhất, NSNN kích thích sự tăng trưởng kinh tế (vai trò điều

tiết trong lĩnh vực kinh tế) Trước kia trong cơ chế thị trường kế hoạch hóa tập trung, NSNN gần như chỉ là một cái túi đựng sổ thu để rồi thực hiện việc bao cấp vốn cố định, vốn lưu động, cấp bù lôc, bù giá, bù lương, Hiệu quả các khoản thu chi NSNN không được coi trọng và tất yếu, tác động của ngân sách nhà nước đến các hoạt động kinh tế nhằm điều chỉnh các hoạt động đó và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế là rất hạn chế Sau này nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, trong lĩnh vực kinh tế, Nhà hước định hướng về việc hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền Điều đó được thực hiện thông qua các chính sách thuế và chính sách chi tiêu của ngân sách chính phủ để vừa kích thích vừa gây sức ép với các doanh nghiệp, nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế

Thứ hai, NSNN giúp giải quyết các vấn đề xã hội Trong thời kỳ

kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tính chất bao cấp tràn lan cho mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội đã hạn chế đáng kể vai trò của NSNN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Những chế độ bao cấp về nhà ở, cung cấp lương thực thực phẩm… với giá thấp đã làm giảm hiệu quả công tác, hiệu quả tiền vốn, không đảm bảo công bằng xã hội Chuyển sang cơ chế kinh tế mới, NSNN có vai trò đặc biệt quan trọng để nhà nước thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận Bên cạnh đó hằng năm chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp Chúng ta có thể nhận thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp trực tiếp được dành cho những người có thu nhập thấp nhất hoặc có hoàn cảnh đặc biệt, các loại trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước,…), các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình quốc gia lớn về chống mù chữ, dịch bệnh… Bên cạnh các khoản chi ngân sách cho việc thực hiện các vấn đề xã hội, thuế cũng được sản xuất để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công

Trang 3

bằng xã hội Việc kết hợp giữa thuế trực thu và thuế gián thu, vừa tăng cường các khoản thu cho ngân sách nhà nước, vừa điều tiết thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao, điều tiết tiêu dùng, đảm bảo thu nhập hợp lý cho các tầng lớp người lao động

Thứ ba, NSNN góp phần bình ổn giá cả, chống lạm phát Trong

điều kiện nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường Do đó để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hóa trên thị trường Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu của NSNN Bằng nguồn vốn cấp phát của chi tiêu ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa và tài chính được hình thành Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, giá cả lên cao hoặc xuống quá thấp, nhờ lực lượng dự trữ hàng hóa và tiền, chính phủ có thể điều hòa quan hệ cung cầu hàng hóa, vật tư đủ bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

và ổn định sản xuất Chính phủ cũng có thể sử dụng NSNN nhằm khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách có hiệu quả thong qua việc thực hiện chính sách thắt chặt ngân sách, nghĩa là cắt giảm các khoản chi tiêu ngân sách, chống tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu, đồng thời có thể tăng thuế tiêu dùng để hạn chế cầu, mặt khác có thể giảm thuế với đầu

tư, kích thích sản xuất phát triển để tăng cung Ngoài ra việc chính phủ phát hành các công cụ nợ để vay nhân dân nhằm bù đắp thiếu hụt của NSNN cũng góp phần to lớn vào việc giảm tốc độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dân

Ngoài ra, NSNN còn có vai trò lịch sử, đó là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì sự hoạt động và vận hành của bộ máy nhà nước

2 THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.1 Khái niệm

Trang 4

Thâm hụt NSNN là tình trạng khi tổng chi tiêu của NSNN vượt quá các khoản thu không mang tính hoàn trả trong cân đối của NSNN

Để phản ánh mức độ thâm hụt NSNN, người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng thu trong NSNN 2.2 Nguyên nhân

Trong lịch sử phát triển tài chính, thâm hụt NSNN đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến trong các nước đang phát triển và những nước kinh tế chậm phát triển Tuy nhiên ở mỗi nước, những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng này có khác nhau Người ta đã tổng hợp lại và cho thấy có hai nhóm nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt NSNN Trước hết đó là những nguyên nhân mang tính khách quan do diễn biến của chu kỳ kinh doanh, do tác động của môi trường, điều kiện

tự nhiên Thứ hai là những nguyên nhân mang tính chủ quan, thuộc về quá trình quản lý và điều hành NSNN

a) Nguyên nhân khách quan: là những tác động của chu kỳ kinh

tế và môi trường Khủng hoảng kinh tế làm cho thu nhập của Nhà nước

co lại Tuy nhiên những khó khăn về kinh tế - xã hội lại yêu cầu nhà nước phải chi ra một phần ngân sách để giải quyết những khó khăn đó Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên Ngoài ra, tình hình bất ổn của an ninh thế giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi NSNN để khắc phục hậu quả của thiên tai

b) Nguyên nhân chủ quan: thuộc về quá trình quản lý và điều hành NSNN Nhà nước chủ động sử dụng bội chi như một công cụ của chính sách tài khóa để kích cầu, khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế Khi sản lượng của nền kinh tế ở mức thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận có thâm hụt ngân sách để tăng tổng cầu, qua đó thúc đẩy sự mở rộng của nền

Trang 5

kinh tế Sử dụng gói kích cầu một mặt kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên sẽ làm cho mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12% GDP Ngoài ra trong quá trình quản lý ngân sách xảy ra một số bất cập cũng gây thâm hụt NSNN như: thất thu thuế nhà nước, đầu tư công kém hiệu quả, quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn

* Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho NSNN Tuy nhiên do hệ thống phấp luật nước ta còn nhiều bất cấp, sự quản lý chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho NSNN Bên cạnh đó việc dãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì mở rộng sản xuất, mặt khác làm ảnh hưởng tới các khoản thu chi NS khác gây thâm hụt NSNN

* Tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn NSNN và kìm hãm sự phát triển của các vùng miền gây nên thâm hụt NSNN

* Chi tiêu của chính phủ giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn Nhưng khi chi tiêu của chính phủ vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn đến thâm hụt NSNN

2.3 Phân loại thâm hụt NSNN

Tài chính công hiện đại phân thâm hụt NSNN thành hai loại là thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ

a) Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như thuế suất, trợ cấp bảo hiểm

xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,…

Trang 6

b) Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên

Việc phân biệt hai loại thâm hụt ngân sách có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế

3 TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

3.1.Tác động tới lãi suất

Mối quan hệ giữa thâm hụt NSNN và lãi suất được nghiên cứu rộng rãi trên cả phương diện lí thuyết và thực nghiệm Về mối quan hệ này có nhiều quan điểm khác nhau từ các trường phái kinh tế khác nhau

Trường phái tân cổ điển cho rằng tăng thâm hụt hiện tại sẽ kéo theo sự gia tăng về gánh nặng thuế trong tương lai Theo đó, người tiêu dùng sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng tại thời điểm hiện tại Do đó, trong trường hợp này, tiết kiệm quốc gia sẽ giảm xuống Khi tiết kiệm quốc gia giảm, lãi suất trên thị trường sẽ tăng và lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu

tư, qua đó tạo ra hiện tượng thoái lui đầu tư Vì thế, trường phái này cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế Trong khi đó trường phái Keynes lại cho rằng tăng thâm hụt ngân sách

sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế Trường phái này lập luận rằng tuy thâm hụt ngân sách làm tăng lãi suất nhưng vẫn có thể tăng tiết kiệm

và đầu tư Khi chính phủ tăng chi ngân sách từ thâm hụt sẽ kích thích tổng cầu, các nhà đầu tư thấy triển vọng sẽ đầu tư nhiều hơn làm tăng đầu tư Trường hợp chính phủ chấp nhận thâm hụt thông qua việc giảm

Trang 7

thuế sẽ làm cho thu nhập của các cá nhân và hộ gia đình tăng lên Khi đó tiêu dùng tăng và làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế Nhưng trường phái này cũng cho rằng, thâm hụt ngân sách chỉ có tác động trong ngắn hạn, đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế trong tình trạng suy thoái có sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng Còn trong khi nề kinh tế đang ở trạng thái toàn dụng nhân công (không dư thừa về các yếu tố sản xuất) thì việc tăng thâm hụt ngân sách không những không kích thích tổng cầu tăng mà còn gây ra những rủi ro lớn đối với nề kinh tế, trước mắt là tăng lạm phát

Quan điểm của trường phái Ricardo cho rằng, thâm hụt ngân sách không tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô cả trong ngắn hạn và dài hạn Theo trường phái này ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và thuế đối với tiêu dùng là tương đương nhau Việc tăng thâm hụt ngân sách do giảm thuế ở thời điểm hiện tại sẽ phải trả giá bằng việc tăng thuế trong tương lai, bao gồm cả trả lãi cho khoản vay Do vậy thâm hụt ngân sách dẫn đến vay nợ trong hiện tại sẽ đồng nghĩa với việc tăng thuế trong tương lai Với hàm ý này người tiêu dùng trong thời điểm hiện tại

sẽ tiết kiệm một khoản cần thiết để trả cho tương lai Nói cách khác, người tiêu dùng thường dự đoán tương lai, quyết định tiêu dùng của họ không chỉ dựa vào thu nhập hiện tại mà còn dựa vào thu nhập kỳ vọng trong tương lai Theo trường phái Ricardo, thâm hụt ngân sách sẽ khôn g

có tác động đến tiết kiệm và đầu tư Theo họ khi thâm hụt ngân sách tăng do giảm thuế thì thu nhập khả dụng tăng, hơn nữa người dân ý thức được cắt giảm thuế trong hiện tại sẽ dẫn đến tăng thuế trong tương lai,

do đó họ tiết kiệm nhiều hơn Trong khi đó thâm hụt ngân sach lại làm cho tiết kiệm nhà nước giảm Do đó tiết kiệm quốc gia là tổng tiết kiệm

tư nhân và tiết kiệm nhà nước Do đó thâm hụt NSNN sẽ không tác động đến tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng

Hai trường phái trên cho rằng thâm hụt NSNN và lãi suất có tác động cùng chiều Thâm hụt ngân sách tăng làm tăng lãi suất do tăng cầu tiền Thâm hụt tăng cũng đồng nghĩa với nhu cầu huy động vốn của chính phủ tăng Nếu như một phần của số vốn cần huy động để bù đắp cho thâm hụt được thực hiện thông qua thị trường nợ trong nước thì cầu

về vốn trong nước sẽ tăng, qua đó sẽ làm gia tăng sức ép đối với mặt

Trang 8

bằng lãi suất trong nước Trong trường hợp này, ngân hàng trung ương

có thể bắt buộc phải giảm sức ép gia tăng về lãi suất thông qua chính sách tiền tệ mở rộng Trường hợp ngân hàng trung ương không can thiệp thì áp lực đối với lãi suất là không thể tránh khỏi

Trên thực tế, khi thâm hụt NSNN, tổng chi cao hơn tổng thu Để

bù đắp lượng tiền thâm hụt, chính phủ sẽ phát hành trái phiếu bán cho người dân và các NHTM hoặc đi vay nợ

Thứ nhất, khi chính phủ phát hành trái phiếu bán ra cho người

dân Người dân mua TPCP sẽ làm giảm lượng tiền gửi vào ngân hàng Lượng tiền trong ngân hàng giảm làm lãi suất tăng Khi chính phủ phát hành trái phiếu bán cho các NHTM Các NHTM mua TPCP làm giảm lượng tiền dự trữ nên NHTM sẽ huy động tiền gửi vào ngân hàng từ các doanh nghiệp và công chúng làm lãi suất tăng

Thứ hai, chính phủ có thể đi vay trong nước hoặc nước ngoài để

tài trợ thâm hụt Khi chính phủ đi vay nước ngoài, vay ngoại tệ (ví dụ USD) Khi vay được tiền chính phủ phải quy đổi USD ra VNĐ để tài trợ thâm hụt Khi đó, chính phủ phải bán USD để thu VNĐ về làm cho cung VNĐ trên thị trường tiền tệ giảm, do đó làm tăng lãi suất Tương tự việc đi vay trong nước làm cầu về vốn vay tăng nên cũng làm tăng lãi suất

Nhưng khi chính phủ dùng biện pháp in tiền để giải quyết thâm hụt Khi đó sẽ làm tăng lượng tiền cơ sở và tăng cung tiền lại làm lãi suất giảm

Như vậy thâm hụt ngân sách có thể có tác động cùng chiều hoặc ngược chiều với lãi suất Thâm hụt có thể làm lãi suất tăng hoặc giảm tùy vào từng trường hợp cụ thể

Trang 9

3.2 Tác động tới lạm phát

Lạm phát là hiện tượng lượng tiền lưu thông vượt qua mức cần thiết làm cho chúng bị mất giá và là sự gia tăng liên tục của mức giá chung

Thâm hụt NSNN có nguy cơ cao dẫn đến lạm phát Vì khi thâm hụt ngân sách, chính phủ phải phát hành tiền hoặc vay nợ hoặc tiến hành cắt giảm chi tiêu mà các giải pháp đó đều có thể gây lạm phát

Thứ nhất, khi thâm hụt ngân sách, nhà nước phải đi vay hoặc in

tiền để bù đắp cho những khoản chi dư thừa Điều đó khiến cho lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế tăng lên gây ra lạm phát Khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt Sự gia tăng cung tiền có thể không làm tăng lạm phát khi nền kinh tế đang đà tăng trưởng, mức cầu tiền giao dịch tăng lên phù hợp mức tăng của cung tiền Tuy nhiên trong trường hợp khu vực tư nhân đã thỏa mãn đối với lượng tiền họ nắm giữ (lượng cầu tiền tương đối ổn định) thì sự gia tăng cung tiền làm giảm lãi suất, và sẽ kích thích đầu tư khiến tổng cầu tăng, mặt bằng giá cả tăng theo và gây áp lực lạm phát

Người ta gọi trường hợp chính phủ tăng cung tiền để tài trợ THNS là chính phủ đang thu “ thuế lạm phát” từ những người đang nắm giữ tiền

Thứ hai, bù đáp thâm hụt bằng cách vay nợ trong nước hoặc

nước ngoài bằng cách phát hành trái phiếu ra thị trường Phát hành liên tục sẽ làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, làm lãi suất thị trường tăng Để giảm lãi suất NHTW phải can thiệp bằng cách mua các trái phiếu đó, điều này làm tăng cơ sở tiền tệ gây lạm phát Vay nợ nước ngoài để bù đắp thâm hụt ngân sách bằng ngoại tệ, lượng ngoại tệ phải đổi ra nội tệ

Trang 10

để chi tiêu bằng cách bán cho NHTW, điều này làm tăng lượng nội tệ gây áp lực lạm phát

Thứ ba, việc chính phủ tăng thu giảm chi để hạn chế thâm hụt

ngân sách cũng làm lạm phát tăng Ví dụ chính phủ tăng thu bằng cách tăng thuế vào các loại hàng hóa làm giá cả hàng hóa tăng lên dẫn đến lạm phát

3.3 Tác động tới cán cân xuất nhập khẩu

Sự gia tăng chi tiêu công và thâm hụt ngân sách, sẽ ngay lập tức làm cho tổng chi tiêu trong nước lớn hơn sản lượng trong nước Để đáp ứng lượng chi tiêu tăng thêm này, bên cạnh sản xuất trong nước tăng, thì nhập khẩu cũng sẽ tăng và gây thâm hụt thương mại

Thứ nhất, thâm hụt NSNN làm lãi suất trong nước tăng tương đối

so với lãi suất nước ngoài, dẫn đến luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước tăng, làm tăng gía trị thực của đồng tiền trong nước Khi đó, hàng hóa trong nước sẽ đắt tương đối so với hàng hóa nước ngoài, làm giảm xuất khẩu ròng Trên thực tế những năm gần đây tỉ giá danh nghĩa

có tăng lên song tỉ giá thực giữa VND và USD lại có chiều hướng giảm

Tỉ giá thực giảm đồng nghĩa với việc nhập khẩu được lợi hơn trong khi xuất khẩu gặp khó khăn Đây cũng là nguyên nhân khi ến thâm hụt cán cân thương mại tăng mạnh

Thứ hai, thâm hụt ngân sách làm tăng lãi suất, khiến cho việc sản

xuất hàng hóa trong nước trở nên khó khăn Lượng hàng hóa cung cấp trong nước sẽ ít đi đòi hỏi phải nhập khẩu thêm hàng ngoại làm nhập khẩu tăng

Như vậy, thâm hụt NSNN sẽ làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu dẫn đến tình trạng “nhập siêu” Cán cân thương mại sẽ thâm hụt

Trang 11

3.4 Tác động đến đầu tư

Thâm hụt ngân sách sẽ làm suy giảm đầu tư trong tương lai Khi

có thâm hụt ngân sach, nhà nước phải tìm cách để bù đắp thâm hụt ngân sách, chủ yếu là vay nợ trong nước và nước ngoài Thâm hụt NSNN kéo dài trong nhiều năm làm gánh nặng nợ ngày càng nặng nề, việc bù đắp cho trả nợ thâm hụt sẽ làm giảm nguồn tiền dành cho đầu tư Mặt khác

để cải thiện thâm hụt kéo dài, nhà nước cũng phải tìm cách giảm chi tiêu chính phủ Việc này ảnh hưởng lớn đến đầu tư chính phủ cho nền kinh

tế quốc dân

3.5 Tác động tới tiết kiệm quốc gia

Tiết kiệm quốc gia là tổng tiết kiệm khu vực tư nhân và tiết kiệm chính phủ

Thâm hụt NSNN do chi NSNN lớn hơn thu NSNN Chính phủ chi tiêu nhiều cho các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Bên cạnh đó khi thâm hụt ngân sách, chính phủ phải chi lượng tiền tiết kiệm trong quỹ ra để bù đắp phần nào thâm hụt Điều đó làm giảm lượng tiết kiệm của chính phủ nên làm giảm tiết kiệm quốc gia

3.6 Ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội

Hằng năm NSNN dành ra một khoản chi rất lớn để thực hiện phúc lợi xã hội như chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật… Các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí của các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống cho nhân dân Chi cho sự

Trang 12

nghiệp y tế, công tác phòng bệnh chữa bệnh nhằm nâng cao mức sống cho người dân trong xã hội Việc nâng cao chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh và tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền y học hiện đại đòi hỏi cần thêm nhiều nguồn vốn nữa Khoản chi cho các vấn

đề xã hội nhằm đảm bảo đời sống của người lao động khi gặp khó khăn, tai nạn, già yếu, những người không có khả năng lao động, đồng thời giải quyết những vấn đề xã hội nhất định, hỗ trợ cho đồng bào khi xảy ra

lũ lụt, thiên tai Để bù đắp thâm hụt NSNN trong thời gian dài, nhà nước phải cắt giảm các khoản chi tiêu của chính phủ làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện phúc lợi xã hội nhằm hỗ trợ và cải thiện đời sống cho người dân

II.THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH & TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỚI SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

1 THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GIAI

ĐOẠN 2010-2015

Trong những năm gần đây, với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã và đang theo đuổi những chính sách thâm hụt ngân sách có định hướng Phân tích về thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam trong thời gian qua cũng đã chỉ ra một số vấn đề cần lưu ý, cụ thể là:

Thứ nhất, mặc dù thu NSNN liên tục tăng, nhưng chi luôn vượt

thu, điều này dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách triền miên và có mức

độ ngày càng gia tăng Thâm hụt ngân sách (theo cách tính của Việt Nam) giai đoạn 2010 - 2015 ở mức cao (trung bình 5.2% GDP) Việc kéo dài tình trạng này sẽ làm giảm niềm tin vào chính sách và tiềm ẩn nhiều rủi ro kinh tế vĩ mô

Trang 13

Bảng 1: Bảng thu chi NSNN giai đoạn 2010-2015

Thâm hụt NSNN (tỷ đồng)

Tỷ lệ thâm hụt NSNN so với GDP (%)

Trang 14

Bảng 2: Các khoản chi chính trong cân đối ngân sách nhà nước

so với tổng chi (%)

Tỷ lệ chi thường xuyên

Thứ hai, thâm hụt ngân sách liên tục đã kéo theo sự gia tăng của

nợ công Tổng nợ công của Việt Nam đã tăng từ khoảng 51.7% GDP vào năm 2010 lên 54.9%GDP vào năm 2011, lên 55.7% vào năm 2012, 56.2% GDP năm 2013, 60.3% GDP vào cuối năm 2014 và khoảng 64% GDP vào cuối năm 2015 Mặc dù, mức nợ công này vẫn trong giới hạn quy định an toàn cho phép theo Nghị quyết của Quốc hội (không quá

Trang 15

65%) nhưng đây là vấn đề đáng quan tâm, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế

Biểu đồ 1: Nợ công Việt Nam giai đoạn 2010-2013 (triệu tỷ đồng)

(Nguồn: Bản tin nợ công số 3)

Nhìn chung, chi ngân sách có xu hướng tăng cao và luôn vượt thu ngân sách Nguyên nhân một phần là do chính sách tăng chi ngân sách để thực hiện các gói kích cầu nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế Kết quả là bội chi NSNN năm 2010 đã tăng tới mức cao nhất là 6,2% GDP Một nguyên nhân khác là do yêu cầu đảm bảo nguồn lực thực hiện các chủ trương của Nhà nước trong việc tăng chi cho công tác an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo trong những năm gần đây Năm 2014 là năm thứ 4 Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 Trong năm 2014, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam diễn ra trước bối cảnh thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp Kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn so với dự báo Xung đột mâu thuẫn xảy ra ở nhiều nơi đặc biệt căng thẳng trên biển Đông Trước tình hình đó, mặc

dù thống kê cho thấy kinh tế Việt Nam đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi,

Trang 16

nhưng năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế vẫn chưa mấy được cải thiện, tỷ lệ thâm hụt tăng lên 5.3%

Tuy nhiên, theo những con số thâm hụt ngân sách này thì hiện tại vẫn chưa phản ánh đúng bản chất của thâm hụt ngân sách, việc thống kê về thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện có nhiều nguồn khác nhau Điều này sẽ dẫn tới những khó khăn nhất định trong việc so sánh chỉ tiêu và đưa ra những chính sách tài chính phù hợp với tình hình thực tế

2 TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH TỚI SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

2.1 Tác động tới GDP

Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng những yếu kém nội tại, Nhà nước phải sử dụng NSNN để giải quyết những vấn đề khó khăn Giai đoạn 2010-2015, kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại, mức độ tăng trưởng trung bình khoảng 5.97% (trước đó giai đoạn 2006-2010 là 7%)

Bảng 3: Bảng số liệu tăng trưởng GDP (%) Việt Nam

Ngày đăng: 25/12/2022, 15:47

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w