1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình môn Giải phẫu sinh lý vật nuôi (Nghề: Thú y - Trình độ: Cao đẳng) - Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Bạc Liêu

75 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải phẫu sinh lý vật nuôi
Trường học Trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Bạc Liêu
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Giáo trình môn học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bạc Liêu
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Hệ vận động (5)
  • Chương 2: Hệ tiêu hóa (20)
  • Chương 3: Hệ hô hấp (40)
  • Chương 4: Hệ tuần hoàn (48)
  • Chương 5: Hệ nội tiết (53)
  • Chương 6: Hệ tiết niệu (57)
  • Chương 7: Hệ sinh dục (68)
  • Chương 8: Hệ thần kinh (0)

Nội dung

Giáo trình môn Giải phẫu sinh lý vật nuôi (Nghề: Thú y - Trình độ: Cao đẳng) - Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Bạc Liêu được biên soạn nhằm giúp các em sinh viên nêu chính xác vị trí, hình thái của từng cơ quan tổ chức trong cơ thể gia súc, gia cầm. Trình bày đặc điểm cấu tạo, chức năng sinh lý của các cơ quan tổ chức trong cơ thể gia súc, gia cầm. Mời các bạn cùng tham khảo giáo trình tại đây.

Hệ vận động

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về đặc điểm, vị trí, cấu tạo và hoạt động sinh lý của các cơ quan trong hệ vận động của gia súc và gia cầm, giúp hiểu rõ chức năng và vai trò của từng bộ phận trong quá trình chuyển động và duy trì hoạt động sống của chúng.

Mục tiêu: Học xong chương này người học có khả năng:

- Trình bày được hình thái, cấu tạo, chức năng sinh lý và phân loại xương trong cơ thể động vật

- Mô tả được cấu tạo, chức năng sinh lý và phân loại khớp xương, cơ trong hệ vận động của động vật

- Xác định được vị trí, hình thái, cấu tạo, màu sắc các cơ và xương chính trong cơ thể vật nuôi

Xương đầu gồm: Xương sọ và xương mặt

Có 6 xương hợp thành sọ não gồm xương trán, đỉnh, chẩm, bướm, sàng và xương thái dương Các xương này mỏng, dẹp, rỗng ở giữa và liên kết với nhau bằng các khớp bất động, tạo thành các xoang sọ chứa não Phía sau, sọ liên kết với đốt sống cổ số 1, cho phép cử động dễ dàng của phần cổ.

Trong cơ thể, có tổng cộng 10 xương cranial và mặt, bao gồm xương mũi, xương lệ, xương gò má, xương hàm trên, xương liên hàm, xương khẩu cái, xương lá mía, xương ống cuộn, xương cánh và xương hàm dưới Các xương này đều mỏng, dẹp, đa dạng về hình dạng, tạo thành các hốc như hốc mắt, hốc mũi, hốc miệng, cùng với các xoang bên trong Các xương này dính liền với nhau để hình thành các khối chắc chắn, bảo vệ các cấu trúc quan trọng của đầu mặt.

Xương hàm dưới khớp với xương thái dương của hộp sọ, tạo thành khớp toàn động duy nhất ở vùng đầu

Xương sống là cấu trúc gồm nhiều đốt sống nối tiếp nhau, trong đó đốt sống cổ số 1 khớp với lồi cầu xương chẩm để tạo thành khớp toàn động, cho phép đầu quay về mọi phía Phía sau các đốt sống dần thoái hóa hình thành đuôi Cột sống được chia thành 5 vùng chính: cổ, ngực, hông, khum và đuôi, đóng vai trò quan trọng trong sự linh hoạt và nâng đỡ cơ thể.

Xương sườn là xương dài cong, mỏng, dẹp có hai đầu (trên, dưới), phần giữa là thân

- Đầu trên: Lồi tròn, khớp với đài khớp của đốt sống ngực cùng số

Đầu dưới của xương sườn nối tiếp với một đoạn sụn ngắn, tạo thành phần quan trọng của cấu trúc xương sườn Ở một số xương sườn, đoạn sụn này gắn lên mặt trên của xương ức, được gọi là xương sườn thật, giúp cố định chắc chắn vị trí của xương sườn trong khung ngực Xương sườn có các đoạn sụn liên kết tạo thành vòng cung sụn sườn, gọi là xương sườn giả, góp phần mở rộng và bảo vệ các cơ quan quan trọng trong khoang ngực.

- Trâu bò có 8 đôi xương sườn thật và 5 đôi xương sườn giả

- Ngựa có 8 đôi xương sườn thật, 10 đôi xương sườn giả

- Heo có từ 7 - 9 đôi xương sườn thật, từ 5 - 8 đôi xương sườn giả

Là xương lẻ hình cái thuyền, mỏng, xốp nắm dưới lồng ngực, làm chỗ tựa cho các sụn sườn

Xương ức có một thân hai đầu, được tạo thành từ các đốt xương ức: bò, ngựa có 7 đốt, heo có 6 đốt nối với nhau bởi các đĩa sụn

- Đầu trước: Gọi là mỏm khí quản (vì khí quản đi sát mặt trên của đầu trước) Hai bên có hai hố để khớp với đôi xương sườn số 1

- Đầu sau hay mỏm kiếm xương ức: là đốt ức cuối cùng, gần giống 1/2 hình tròn Sụn này rất mỏng và không cốt hóa thành xương được

Lồng ngực được cấu thành bởi các đốt sống ngực phía trên, hai bên là các xương sườn, sụn sườn và các cơ liên sườn, phía dưới là xương ức, trước là cửa vào lồng ngực và sau là cơ hoành Xoang ngực chứa các cơ quan quan trọng như tim, phổi, thực quản, khí quản và các mạch máu lớn của tim, đóng vai trò bảo vệ và hỗ trợ hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp.

Gồm các xương bả vai, xương cánh tay, xương cẳng tay, xương cổ tay (xương cườm), xương bàn tay và xương ngón tay

Xương bả vai của gia súc gồm hai xương không khớp với xương sống, được gắn vào hai bên lồng ngực bằng các cơ và tổ chức liên kết Xương bả vai có hình tam giác, mỏng và dẹp, với đầu trên lớn được gắn với mảnh sụn, còn đầu dưới nhỏ khớp với xương cánh tay Xương nằm chéo từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, đảm bảo linh hoạt và hỗ trợ cho các chuyển động của chi trên.

- Xương cánh tay: là xương ống (xương dài) có một thân và hai đầu

+ Đầu trên to, phía trước nhô cao, phía sau lồi tròn gọi là lồi cầu để khớp với hố lõm đầu dưới của xương bả vai

Xương quay có đầu dưới nhỏ hơn, phía trước có các lồi tròn khớp với đầu trên của xương trụ, giúp kết nối chắc chắn Thân xương quay được mô tả là trơn nhẵn, mặt ngoài có các mấu lồi gọi là u delta dưới, nằm cạnh rãnh xoắn giúp định hình và hỗ trợ chức năng vận động của chi trên.

Xương cánh tay nằm từ trên xuống dưới, từ trước ra sau

- Xương cẳng tay: gồm hai xương là xương quay và xương trụ

+ Xương quay: tròn hơn nằm ở phía trước, là xương dài, hơi cong, lồi về phía trước

Xương trụ là xương nhỏ, nằm sát mặt sau cạnh ngoài của xương quay, có đầu trên có mỏm khuỷu giúp ổn định khớp khuỷu Phần dưới của xương trụ thon nhỏ, kéo dài đến nửa xương quay ở ngựa hoặc đến đầu dưới của xương quay ở trâu, bò, heo, góp phần cấu tạo và chức năng của khớp khuỷu trong hệ xương chân các loài này.

Xương cổ tay, hay còn gọi là xương cườm, gồm hai xương nhỏ nằm giữa xương cẳng tay và xương bàn tay, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc bàn tay Ở heo và ngựa, xương cổ tay gồm hai hàng xương: hàng trên có bốn xương lần lượt là xương đậu, xương tháp, xương bán nguyệt và xương thuyền; hàng dưới cũng gồm bốn xương là xương mấu, xương cả, xương thê và xương thang, giúp cấu tạo linh hoạt và chịu lực cho bàn tay.

- Xương bàn tay: số lượng xương khác nhau tùy thuộc vào từng loại gia súc

Ngựa có một xương bàn chính và một xương bàn phụ rất nhỏ, giúp hỗ trợ cấu trúc bàn chân Trâu bò có hai xương bàn chính dính liền nhau và được phân cách bởi một rãnh dọc ở mặt trước, cùng với 1-2 xương bàn phụ để cân bằng trọng lượng Trong khi đó, heo có bốn xương bàn chân, góp phần vào khả năng di chuyển linh hoạt và vững chắc.

Xương ngón của ngựa gồm một ngón duy nhất gồm ba đốt là đốt cầu, đốt quán và đốt móng, giúp chúng di chuyển linh hoạt và mạnh mẽ Trong khi đó, trâu bò có hai ngón chính, mỗi ngón gồm ba đốt, cùng với hai ngón phụ có từ 1 đến 2 đốt, hỗ trợ khả năng gầm guề và bám đất vững chắc trong hoạt động hàng ngày.

Heo có hai ngón chính mỗi ngón có ba đốt, có hai ngón phụ mỗi ngón có hai đốt

Xương chi sau gồm xương chậu, xương đùi, xương cẳng chân, xương cổ chân, xương bàn chân và xương ngón chân

Xương chậu của gia súc gồm hai xương chậu phải và trái, khớp với nhau ở phía dưới bằng khớp bán động hang và bán động ngồi, giúp ổn định cấu trúc pelvis Phía trên, xương chậu liên kết với cột sống vùng thắt lưng và cùng xương tạo thành xoang chậu, nơi chứa các cơ quan tiết niệu và sinh dục Mỗi xương chậu được cấu thành từ ba xương chính, góp phần vào sự chắc chắn và chức năng của hệ sinh dục và tiết niệu.

Xương cánh chậu nằm phía trước và phía trên xương háng cùng xương ngồi, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc xương chậu Phía trước dạng hình tam giác hơi lõm chính là nơi bám của các cơ mông, giúp duy trì sự ổn định và chuyển động của vùng hông Góc trong của xương cánh chậu giáp với xương khum tạo thành góc mông, trong khi góc ngoài tạo thành góc hông, góp phần hình thành hai lõm hông hình tam giác ở trên và sau bụng của con vật Những đặc điểm này không chỉ giúp xác định cấu trúc và chức năng của xương chậu mà còn ảnh hưởng đến khả năng vận động và sự phát triển của động vật.

Phía sau xương cánh chậu cùng với xương háng, xương ngồi hợp thành một hố lõm sâu gọi là ổ cối để khớp với chỏm khớp ở đầu trên xương đùi

+ Xương háng: hai xương háng nhỏ nằm dưới xương cánh chậu, khớp nhau bởi khớp bán động háng, hai bên khớp có hai lỗ bịt

+ Xương ngồi: hai xương ngồi nằm sau xương háng, khớp nhau bởi khớp bán động ngồi ở giữa, từ đó kéo dài về phía sau thành hai u ngồi

- Xương đùi: là xương dài nằm ở dưới xương chậu, chéo từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, có một thân và hai đầu

+ Đầu trên to, phía ngoài nhô cao là mẩu động lớn, phía trong là chỏm khớp hình lồi cầu, khớp vào ổ cối của xương chậu

+ Đầu dưới nhỏ, phía trước có ròng rọc để khớp với xương bánh chè Phía sau là hai lồi cầu để khớp với xương chày

+ Thân tròn, trơn, trên to, dưới nhỏ

Xương chày là xương dài, hình khối lăng trụ, gồm thân và hai đầu rõ rệt Đầu trên của xương chày lớn, chính giữa nổi bật gai chày, phân chia gò ngoài và gò trong, trong khi đầu dưới nhỏ với hai rãnh song song giúp khớp với xương sên của cổ chân Thân xương chày có ba mặt; hai mặt bên phía trước gặp nhau tại mào chày bị uốn cong, còn mặt sau mang hình chữ nhật nhỏ, có các đường xoắn để các cơ kheo dễ bám vào.

Hệ tiêu hóa

Giới thiệu: Chương này giới thiệu về đặc điểm, vị trí, cấu tạo và hoạt động sinh lý hệ tiêu hóa ở gia súc, gia cầm

Mục tiêu: Học xong chương này người học có khả năng:

- Trình bày được hình thái, cấu tạo, chức năng sinh lý của bộ máy tiêu hóa động vật

- Mô tả được cấu tạo, chức năng sinh lý của bộ máy tiêu hóa động vật

- Áp dụng cách cho ăn, uống phù hợp với đặc điểm sinh lý tiêu hóa của từng loài và từng loại gia súc, gia cầm

1 Giải phẫu hệ tiêu hóa

Xoang miệng là khoảng rỗng nằm giữa hàm trên và hàm dưới, đảm bảo chức năng nhai và phát âm quan trọng Phía trước của khoang miệng là môi, hai bên là má, trên là vòm khẩu cái giúp bảo vệ và cấu tạo cho khoang miệng, trong khi dưới là xương hàm dưới hỗ trợ quá trình nhai và biểu lộ cảm xúc Phía sau của khoang miệng là màng khẩu cái, tạo thành phần phân tách với khoang mũi, đồng thời trong miệng có lưỡi và răng đóng vai trò quan trọng trong quá trình ăn uống và vệ sinh răng miệng.

Môi gồm môi trên và môi dưới gặp nhau ở mép, bao quanh bởi lông xúc giác Đặc biệt, dê và ngựa có môi dài và linh hoạt, giúp dễ dàng cử động để lấy thức ăn một cách dễ dàng.

Má là cấu trúc kéo dài từ hàm trên xuống hàm dưới, tạo thành mặt bên của xoang miệng và đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhai, giúp đẩy thức ăn vào giữa hai mặt răng Trong loài nhai lại, niêm mạc má còn có những gai thịt nhọn hướng vào trong, hỗ trợ quá trình nghiền nát thức ăn một cách hiệu quả.

Vòm khẩu cái, còn gọi là khẩu cái cứng, là thành phần ngăn cách giữa xoang mũi ở phía trên và xoang miệng ở phía dưới, nằm sau môi trên và giữa hai hàm trên Cấu tạo của vòm khẩu cái gồm mô sợi bị sừng hóa, có đường sọc dọc chính giữa cùng với 15-20 gờ ngang bên cạnh Vòm khẩu cái đóng vai trò là điểm tựa cho lưỡi khi nuốt, góp phần quan trọng trong quá trình tiêu hóa và phát âm.

Màng khẩu cái (khẩu cái mềm) là một màng mỏng giống đầu lá cây, được tạo thành bởi niêm mạc khẩu cái nằm ở phía sau miệng, đứng giữa miệng và yết hầu Màng này đóng vai trò quan trọng trong quá trình thở và nuốt, hạ xuống khi thở để mở đường khí quản và uốn cong lên phía sau nhằm đóng kín đường lên mũi khi nuốt, giúp ngăn chặn thức ăn và dịch lỏng đi vào khoang mũi.

+ Lưỡi: Lưỡi giống một hình khối tháp dẹp nằm trong miệng giữa hai xương hàm dưới Lưỡi chia làm hai phần và ba mặt:

- Gốc lưỡi ở phía sau được gắn chặt vào xương lưỡi trước yết hầu

- Thân và đỉnh lưỡi ở phía trước có thể cử động tự do

Mặt trên của mặt ngực lưỡi được phủ bởi niêm mạc có bốn loại gai chính: gai hình sợi để xúc giác, gai hình nấm, gai hình đài và gai hình lá đảm nhiệm chức năng vị giác Hai bên mặt lưỡi có mặt nhẵn trơn với các gai nhọn, là nơi các ống dẫn nước bọt của tuyến dưới lưỡi đổ ra, thúc đẩy quá trình tiết nước bọt và hỗ trợ tiêu hóa.

- Cấu tạo: lưỡi chính là một khối cơ gồm nhiều bó sợi sắp xếp theo nhiều chiều hướng khác nhau khó tách rời

- Tác dụng: lấy thức ăn (ở trâu bò), và đưa thức ăn vào thực quản và phát ra âm thanh

+ Răng: là bộ phận cứng nhất trong xoang miệng dùng để cắt, xé và nghiền nát thức ăn Tùy theo chức phận có thể chia làm 3 loại răng:

Răng cửa (C) có đặc điểm mỏng dẹt và chỉ gồm một chân răng dùng để cắt và cắn thức ăn Đặc biệt, các loài nhai lại không có răng cửa trên, mà thay vào đó là phiến sừng chắc khỏe để phù hợp với chế độ ăn cỏ của chúng.

- Răng nanh (N) hình tháp, chắc khỏe, nhọn, dùng để xé thức ăn Loài nhai lại không có răng nanh Một số loài chỉ có con đực có răng nanh

Răng hàm được chia thành răng hàm trước (HT) và răng hàm sau (HS), với 2 đến 3 chân răng cắm chắc vào trong xương hàm, đảm bảo sự ổn định Chức năng chính của răng hàm là nghiền nát thức ăn, giúp tiêu hóa dễ dàng hơn.

Hình thái và cấu tạo răng:

Mỗi răng chia làm 3 phần: vành, cổ và chân răng

+ Vành răng là phần trắng nhô ra ngoài xương hàm

+ Cổ răng là phần tiếp giáp xương hàm được lợi ôm lấy chân răng (rễ răng) cắm vào trong xương hàm, bên trong chứa tủy răng

Răng được cấu tạo gồm ngà răng giống như xương chắc, giúp bảo vệ cấu trúc bên trong Men răng là lớp cứng nhất, bao phủ bên ngoài để làm răng trắng bóng và bền chắc Vỏ răng, còn gọi là xi măng, nằm ở kẽ giữa các răng, giúp cố định răng chắc chắn trong hàm Bên trong, tủy răng nằm trong ống tủy ở chân răng, chứa mạch máu và dây thần kinh cung cấp dinh dưỡng và cảm giác cho răng.

Yết hầu là một xoang ngắn, hẹp nằm sâu trong xoang miệng và màng khẩu cái, nằm trước thực quản và thanh quản, dưới hai lỗ thông lên mũi Đây chính là nơi giao nhau giữa đường tiêu hóa và đường hô hấp, đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn khí từ xoang mũi xuống thanh quản và dẫn thức ăn từ miệng xuống thực quản.

Là ống dẫn thức ăn từ yết hầu xuống dạ dày Thực quản chia làm 3 đoạn: cổ, ngực và bụng

Đoạn cổ từ yết hầu đến cửa vào lồng ngực nằm phía trước đôi xương sườn số 1 và có cấu trúc gồm hai phần chính Hai phần này gồm 2/3 phía trước đi trên khí quản, giúp bảo vệ và hỗ trợ chức năng nuốt và thở, trong khi 1/3 phía sau bẻ cong xuống dưới sang trái, đi song song bên trái khí quản để duy trì sự liên kết và linh hoạt của hệ hô hấp cổ.

- Đoạn ngực: thực quản đi lên khí quản, giữa hai lá phổi đến cơ hoành

- Đoạn bụng: sau khi xuyên qua cơ hoành, thực quản bẻ cong xuống dưới sang trái đổ vào đầu trái dạ dày

Cơ thực quản của các loại gia súc có cấu trúc khác nhau tùy thuộc vào loài Ở ngựa, các đoạn cổ và nửa trước của đoạn ngực gồm cơ vân, trong khi nửa sau của đoạn ngực và đoạn bụng là cơ trơn Ở heo, đoạn cổ và ngực cũng gồm cơ vân, còn đoạn bụng lại là cơ trơn Trong khi đó, trâu, bò, chó và mèo có toàn bộ chiều dài thực quản gồm cơ vân, giúp tăng khả năng vận chuyển thức ăn hiệu quả.

Dạ dày là bộ phận phình to, hình túi của ống tiêu hóa, có vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa thức ăn của gia súc Tùy thuộc vào từng loài gia súc, dạ dày có hình thái, cấu tạo và chức năng khác nhau, phù hợp với chế độ ăn uống và hệ tiêu hóa đặc thù của mỗi loài Gia súc gồm hai loại dạ dày chính, giúp chúng phân hóa thức ăn một cách hiệu quả để hấp thụ chất dinh dưỡng tối đa.

Dạ dầy đơn ( người, heo, chó, mèo…) và dạ dày kép (trâu, bò, dê, cừu )

Dạ dày là cơ quan chứa thức ăn, có hình dạng giống túi hình trăng khuyết nằm trong khoang bụng, sau cơ hoành và gan, phía trước khối ruột, hơi lệch về bên trái bụng Dạ dày có cấu tạo gồm hai đầu, hai cạnh và hai mặt, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa thức ăn.

- Đầu trái dạ dày thông với thực quản ở lỗ thượng vị

- Đầu phải thon nhỏ thông với tá tràng qua lỗ hạ vị

- Cạnh trên là đường cong nhỏ có dây chằng gắn chặt dạ dày vào rốn gan (mặt sau gan) và mặt sau cơ hoành

- Cạnh dưới là đường cong lớn có màng treo gắn chặt vào dưới thành bụng

Dạ dày được cấu tạo bởi 3 lớp:

- Lớp ngoài cùng: là tương mạc

- Lớp giữa: lớp cơ trơn gồm: cơ vòng ở trong, cơ chéo ở giữa và cơ dọc ở ngoài

- Lớp trong: là niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra dịch tiêu hóa và HCl

Tiêu hóa cơ học là chính (tích trữ, nhào trộn, nghiền nát thức ăn) một phần tiêu hóa hóa học (nhờ men do tuyến dạ dày tiết ra)

Dạ dày kép ở loài nhai lại như trâu, bò, dê, cừu, lạc đà chiếm nửa bên trái của xoang bụng Cấu tạo của dạ dày này gồm 4 túi chính, trong đó có dạ cỏ, dạ tổ ong và dạ múi khế Hệ thống dạ dày đặc biệt này giúp các loài nhai lại tiêu hóa xenlulo hiệu quả, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa thức ăn.

To nhất trong số 4 túi, chiếm gần hết nửa trái bụng, dung tích 200 – 300 lít

Khi vật ăn no dạ cỏ sẽ áp sát lõm hông bên trái, nên có thể kiểm tra dạ cỏ ở lõm hông trái

- Cấu tạo: gồm 3 lớp: lớp ngoài là lớp tương mạc, giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là niêm mạc, không có tuyến tiết dịch

Hệ hô hấp

Giới thiệu: Chương này giới thiệu về đặc điểm, vị trí, cấu tạo và hoạt động sinh lý của các cơ quan trong hệ tuần hoàn ở gia súc

Mục tiêu: Học xong chương này người học có khả năng:

- Trình bày được hình thái, cấu tạo, chức năng sinh lý của tim, mạch máu, máu ở gia súc, gia cầm

- Mô tả được cấu tạo, chức năng sinh lý của tim, mạch máu và máu ở gia súc, gia cầm

Việc xác định chính xác vị trí của tim và các mạch máu chính trong cơ thể gia súc và gia cầm là rất quan trọng để đánh giá tình trạng sức khỏe của chúng Đồng thời, kiểm tra tần số tim đập, mạch đập cũng như các chỉ tiêu sinh lý máu khác giúp theo dõi hoạt động sinh lý và đảm bảo sự ổn định của các hệ thống cơ thể Đây là những bước căn bản trong kiểm tra sức khỏe, hỗ trợ chẩn đoán và chăm sóc đại trà hoặc chuyên sâu cho vật nuôi.

- Vận dụng cơ chế đông máu vào việc cầm máu cho gia súc, gia cầm

I Giải phẫu hệ tuần hoàn

1 Vị trí, hình thái, cấu tạo của tim

1.1 Vị trí và hình thái tim

Tim hình nón lộn ngược (đáy trên, đỉnh dưới) nằm trong lồng ngực, lệch về phía dưới của lá phổi trái, và được che phủ bởi hai lá phổi Vị trí của tim theo chiều từ trên xuống dưới, trước sau, từ phải sang trái, nằm trong khoảng xương sườn 3-6 bên trái Đỉnh tim gần sát mỏm kiếm xương ức, cho thấy vị trí trung tâm của cơ quan này trong ổ ngực.

Mặt ngoài tim có một rãnh ngang chia tim thành hai nửa không bằng nhau

+ Phần trên nhỏ hơn là khối tâm nhĩ gồm tâm nhĩ phải và tâm nhĩ trái

Tâm nhĩ phải ở phía trước, tiếp nhận tĩnh mạch chủ trước và tĩnh mạch chủ sau đổ về

Tâm nhĩ trái nằm phía sau, nhận máu từ 5-8 tĩnh mạch phổi đổ về, đóng vai trò quan trọng trong chu trình tuần hoàn Hai tâm nhĩ nằm ôm lấy các động mạch chính như động mạch phổi và động mạch chủ gốc, bắt nguồn từ hai tâm thất đi lên, đảm bảo sự lưu thông máu hiệu quả trong cơ thể.

+ Phần dưới lớn hơn là khối tâm thất gồm thất phải và thất trái

Thất phải ở phía trước, dưới nhĩ phải Từ đáy thất phải xuất phát động mạch phổi dẫn máu lên phổi để trao đổi khí

Thất trái nằm ở phía sau, dưới nhĩ trái, là vị trí quan trọng trong hệ tuần hoàn Từ đáy thất trái, động mạch chủ gốc xuất phát và dẫn máu đỏ tươi lên nuôi dưỡng toàn bộ cơ thể Động mạch chủ sau và trước là hai nhánh chính của động mạch chủ, đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển máu giàu oxy đến các cơ quan, giúp duy trì chức năng sinh lý của cơ thể.

Bổ dọc tim ta thấy:

Ở chính giữa tim là một vạch ngăn dọc bằng cơ phân chia thành hai nửa rỗng chứa máu Nửa tim phải (xoang tim phải) chứa máu đỏ sẫm, trong khi nửa trái (xoang trái) chứa máu đỏ tươi, giúp đảm bảo quá trình tuần hoàn máu hiệu quả trong cơ thể.

Xoang tim phải gồm phần trên là xoang thất phải, vách cơ dày hơn vách tâm nhĩ phải

Trong giải phẫu tim, nơi tiếp giáp giữa nhĩ phải và thất phải có hai lỗ chính, gồm lỗ nhĩ thất phải lớn hơn có van 3 lá nhằm dẫn dòng máu từ nhĩ phải xuống thất phải, và lỗ nhỏ hơn là lỗ động mạch phổi, có chức năng thông máu lên phổi để trao đổi oxy.

Xoang tim trái gồm 2 phần:

- Phần trên là xoang nhĩ trái, vách mỏng có các lỗ tĩnh mạch phổi đổ về

- Phần dưới: thất trái vách cơ rất dày

Nơi tiếp giáp giữa nhĩ trái và thất trái có hai lỗ chính, trong đó lỗ lớn hơn là lỗ nhĩ-thất trái, đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn lưu máu từ nhĩ trái xuống thất trái qua van hai lá Lỗ nhỏ hơn là lỗ động mạch chủ gốc, có van tổ chim giống như lỗ động mạch phổi, giúp điều chỉnh dòng máu ra vào động mạch chủ một cách hiệu quả.

Vách ngăn dọc giữa tim gồm hai phần chính: phần trên là vách liên nhĩ, ngăn cách hai xoang nhĩ trái và phải, còn phần dưới là vách liên thất, chia cách hai xoang tâm thất trái và phải Trong các vách này, đặc biệt là vách liên nhĩ, liên thất, và các vách giữa tâm nhĩ và tâm thất, có sự hiện diện của các hạch thần kinh giúp điều phối hoạt động tự động của tim Những cấu trúc này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nhịp điệu và chức năng của tim, đồng thời cũng là các điểm quan trọng trong các nghiên cứu về bệnh lý tim mạch.

Màng bao tim bao phủ toàn bộ trái tim và các mạch lớn, gồm hai lớp chính: lớp ngoài là màng sợi và lớp trong là màng ngoại tâm mạc phủ mặt ngoài của cơ tim.

Giữa hai màng hình thành xoang bao tim chứa chút dịch trong nhằm giảm ma sát khi tim hoạt động, giúp quá trình co bóp diễn ra trơn tru và hiệu quả Ở đỉnh tim, màng bao tim kéo dài và dính vào chân cơ hoành, góp phần cố định vị trí trái tim trong lồng ngực và duy trì sự ổn định của hệ thống mạch máu.

Cơ tim có cấu tạo giống như cơ vân và đóng vai trò chính trong việc tạo thành vách giữa các buồng tim, gồm vách tâm nhĩ và tâm thất Vách thất trái có độ dày lớn hơn giúp bơm máu hiệu quả hơn, còn bên trong các sợi cơ còn xen kẽ các sợi cơ pha thần kinh, tạo nên khả năng tự động co bóp của tim Những đặc điểm này giúp cơ tim hoạt động liên tục, bền bỉ để duy trì quá trình tuần hoàn máu trong cơ thể.

Màng trong tim là lớp màng mỏng lót ở bên trong các xoang tim tiếp xúc với máu, hình thành các chân cầu của van tim

2 Vị trí, hình thái, cấu tạo của mạch máu

Mạch máu là hệ thống ống dẫn máu trong cơ thể, gồm 3 loại mạch: động mạch, tĩnh mạch và mao mạch

2.1 Động mạch Động mạch là những mạch quản dẫn máu từ tim đến các phần của cơ thể

Trong cơ thể người, tất cả các động mạch ngoài động mạch phổi đều mang máu đỏ tươi chứa oxy và chất dinh dưỡng từ tim đến các cơ quan, mô bào Điều này thể hiện rõ vai trò quan trọng của hệ tuần hoàn trong việc cung cấp oxy và dưỡng chất cho toàn bộ cơ thể Chỉ duy nhất động mạch phổi mang máu chứa khí cacbonic từ các mô về phổi để thở ra, còn lại, các động mạch đều vận chuyển máu giàu oxy đến các bộ phận khác nhau của cơ thể.

- Vách động mạch dày và cứng nên luôn căng tròn (ngay cả khi không chứa máu)

Động mạch lớn nằm sâu trong cơ thể, còn các động mạch nhỏ hơn đi nông gần bề mặt da, giúp phân phối máu hiệu quả đến các vùng khác nhau Khi đi cùng tĩnh mạch và thần kinh tương ứng, động mạch luôn nằm sâu hơn để bảo vệ và duy trì chức năng sinh lý của hệ tuần hoàn.

- Khi đi qua các cơ quan có hoạt động co bóp mạnh (dạ dày…) thì động mạch chạy ngoằn ngoèo để tránh bị căng, đứt

- Khi đi qua khớp xương động mạch đi ở mặt gấp

- Một số động mạch đi nông dưới da, sát xương thường dùng để bắt mạch

(động mạch hàm ở ngựa, động mạch đuôi ở trâu bò, động mạch khoeo ở chó) + Cấu tạo: thành động mạch gồm có 3 lớp:

- Lớp ngoài cùng: là lớp màng sợi

- Lớp giữa rất dày gồm các sợi cơ trơn và sợi chun (co giãn, đàn hồi)

- Lớp trong: hay lớp nội mạc chỉ có một tầng tế bào tiếp xúc với máu

Các mạch máu mang máu từ các tổ chức, cơ quan trong cơ thể về tim (tâm nhĩ) đóng vai trò quan trọng trong hệ tuần hoàn Thành tĩnh mạch có cấu tạo tương tự như động mạch, nhưng mỏng hơn, giúp dễ dàng dẫn máu trở về tim.

- Xẹp xuống khi không có máu nhưng căng phồng lên khi chứa nhiều máu

- Thường nằm nông dưới da, nên người ta thường lợi dụng để đưa thuốc qua đường tĩnh mạch

- Đường kính của tĩnh mạch lớn hơn đường kính của động mạch tương ứng

- Lòng tĩnh mạch lớn có van hướng tâm

Mạch mao mạch là nơi giao nhau giữa động mạch và tĩnh mạch, đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất giữa máu và mô bào Với thành mao mạch rất mỏng, quá trình vận chuyển khí oxy, dưỡng chất và các chất thải diễn ra hiệu quả, đảm bảo sự cân bằng và duy trì hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.

II Hoạt động sinh lý hệ tuần hoàn

1 Tần số tim đập (nhịp tim)

Tim co bóp đẩy máu đi nuôi cơ thể, hoạt động của tim mang tính tự động

Ngày đăng: 24/12/2022, 23:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vụ tuyên giáo, 2017. Bài giảng cơ thể sinh lý gia súc. NXB nông nghiệp [2] Trần Cừ và Cù Xuân Dần. Sinh lý học gia súc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng cơ thể sinh lý gia súc
Tác giả: Vụ tuyên giáo
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2017
[3] Lê Văn Thọ - Lê Xuân Cương, 2009. Kích tố ứng dụng trong chăn nuôi. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kích tố ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Lê Văn Thọ, Lê Xuân Cương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
[4] Trần Phúc Thành, 2001. Tranh vẽ giải phẫu bò. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh vẽ giải phẫu bò
Tác giả: Trần Phúc Thành
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
[5] Đặng Tất Nhiễm, 2007. Bài giảng giải phẫu gia súc. Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu gia súc
Tác giả: Đặng Tất Nhiễm
Nhà XB: Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc
Năm: 2007
[6] Vũ Hữu Nghị, 2005. Bài giảng giải phẫu sinh lý gia súc. Trường trung học nông nghiệp Hậu Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu sinh lý gia súc
Tác giả: Vũ Hữu Nghị
Nhà XB: Trường trung học nông nghiệp Hậu Giang
Năm: 2005
[7] Người dịch Cù Xuân Dần - Lê Khắc Thận, 2001. Sinh lý sinh sản gia súc. (A.A. Xuxoep). NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Người dịch Cù Xuân Dần, Lê Khắc Thận
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
[8] Nguyễn Xuân Hoạt - Phạm Đức Lộ, 2014. Tổ chức phôi thai học. NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phôi thai học
Tác giả: Nguyễn Xuân Hoạt, Phạm Đức Lộ
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 2014
[10] Nguyễn Thị Thành, 2005. Bài giảng giải phẫu sinh lý gia súc. Trường trung học Kỹ thuật và DN Bảo Lộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu sinh lý gia súc
Tác giả: Nguyễn Thị Thành
Nhà XB: Trường trung học Kỹ thuật và DN Bảo Lộc
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm