Trong điều kiện Việt Nam và đặc biệt các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trong nước phải chịu những ảnh hưởng không nhỏ do sự suy thoái của các nền kinh tế., nhận thức rõ được vấn đề v
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa là một đòi hỏi tất yếu đối với các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không thể là một trường hợp ngoại lệ Hòa vào xu hướng hội nhập ấy, để có thể tiến nhanh và tiến kịp thời đại thì Việt Nam cần phải phát huy được những lợi thế vốn có của mình Từ lâu, xuất khẩu đã trờ thành hoạt động kinh doanh thế mạnh của Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng Đây là lĩnh vực kinh doanh đã thu về một lượng ngoại tệ lớn cho đất nước, góp phần không nhỏ trong công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước Vì vậy vai trò của hoạt động xuất khẩu đã được Đảng và nhà nước ta nhận thức được từ rất sớm và nhấn mạnh từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm
1986
Hoạt động xuất khẩu phát triển là cơ sở cho hoạt động nhập khẩu tăng trưởng góp phần đẩy mạnh cho sự phát triển của nền kinh tế Với tư duy đổi mới “ Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các quốc gia và dân tộc trên thế giới” đã tạo điều kiện cho sự mở rộng thị trường xuất nhập khẩu và tìm kiếm các đối tác thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam
Với dân số khoảng trên 80 triệu, và đặc biệt là những ưu thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới gió mùa và cả yếu tố con người Tận dụng triệt để lợi thế này, Việt Nam đã và đang phát triển được những loại cây có giá trị xuất khẩu như lúa, cao su, cà phê, chè, hạt điều, hạt tiêu… Đây là những mặt hàng góp phần không nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu nói chung của đất nước cũng như kim ngạch xuất khẩu nông sản nói riêng Trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, xuất khẩu hạt tiêu thứ nhất trên thế giới, xuất khẩu cà phê thứ ba trên thế giới…
Trang 3
Trong điều kiện Việt Nam và đặc biệt các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trong nước phải chịu những ảnh hưởng không nhỏ do sự suy thoái của các nền kinh tế., nhận thức rõ được vấn đề và diễn biến phức tạp của nền kinh tế cũng như trước những đòi hỏi thực tế trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản, cùng với những kiến thức được trang bị tại nhà trường và những thực tế tìm hiểu được trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tổng hợp I -VN, tác giả nhận thấy việc mở rộng thị trường xuất khẩu là giải pháp cần thiết cho hoạt động kinh doanh của Công ty trong giai đoạnh hiện nay Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài:
“Hoạt động xuất khẩu nông sản tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng nông sản tại công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I - VN
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở việc xuất khẩu nông sản trên các thị trường truyền thống của Công ty trong khoảng từ năm 2005 cho đến nay
Trang 4
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, so sánh số liệu của các mặt hàng được xuất khẩu chủ đạo trong những năm gần đây tại công ty Đề tài còn kết hợp phương pháp tổng hợp, phân tích đánh giá đồng thời vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước cũng như của Công ty để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp I - VN
Trang 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
TỔNG HỢP I - VN 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
1.1.1 Lịch sử hình thành
Đầu những năm 1980 Nhà nước ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm đẩy mạnh công tác xuất khẩu, nhờ đó hoạt động xuất khẩu trong cả nước trở nên khá sôi động và cũng vì vậy mà hoạt động xuất nhập khẩu đã đạt được những kết quả khả quan
Tuy nhiên bên cạnh những dấu hiệu tích cực, đã nảy sinh nhiều vấn đề như là tình trạng cạnh tranh không lành mạnh hay phá giá thị trường, các doanh nghiệp trong nước chịu nhiều thiệt hại, lợi nhuận thấp, uy tín bị giảm nghiêm trọng trên thị trường thế giới Trước tình hình đó, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho hoạt động xuất nhập khẩu là bên cạnh việc khuyến khích phát triển công tác xuất nhập khẩu, Nhà nước phải đồng thời chấn chỉnh và từng bước lập lại trật tự, kỷ cương ban hành chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn
Trong hoàn cảnh đó, Công ty Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp I – VN ra đời, nhận nhiệm vụ góp phần giải quyết những vấn đề này bằng các biện pháp kinh tế dựa trên tình hình thực tế của thị trường xuất nhập khẩu
Công ty được thành lập vào ngày 15/12/1981 theo quyết định số 1365/TTCB của Bộ Ngoại Thương ( nay là Bộ Công thương) nhưng phải đến tháng 3/1982 Công
ty mới đi vào hoạt động
Năm 1993, Công ty Promexim được sát nhập vào Công ty và hình thành Công
ty mới nhưng vẫn lấy tên cũ là Công ty Xuất Nhập khẩu Tổng Hợp I – VN Theo quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà nước số 340/BTM-TCBB ngày 31/03/1993, Công ty là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Thương Mại, có tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, được mở tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ tại Ngân hàng, được sử dụng con dấu riêng theo mẫu Nhà nước quy định
Trang 6
Đầu năm 2006, theo quyết định số 3014/QĐ-BTM và số 0417/QĐ-BTM của
Bộ Thương Mại về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước, Công ty Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp I – VN chính thức cổ phần hóa lấy tên là Công ty cổ phần Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp I – VN
Tên giao dịch của Công ty: THE VIETNAM NATIONAL GENERAL EXPORT- IMPORT JOINT STOCK COMPANY NO I (GENERALEXIM)
Trụ sở chính và các chi nhánh của công ty:
Trụ sở chính: Tại Hà Nội
Địa chỉ: 46 Ngô Quyền
Xí nghiệp may Hải Phòng
1.1.2 Quá trình phát triển của công ty cổ phần xuất nhập khẩu
Căn cứ vào những biến động của môi trường kinh doanh bên ngoài, sự thay đổi của cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước và của Công ty Quá trình phát triển của Công ty có thể chia làm 3 giai đoạn, đó là:
1.1.2.1 Giai đoạn I ( 12/1981-12/1992)
Đây là giai đoạn công ty gặp nhiều khó khăn trong việc xác định phương hướng phát triển và đặt nền móng về mọi mặt cho việc xây dựng lại Công ty Với biên chế gồm 50 cán bộ công nhân viên có trình độ nghiệp vụ không cao, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, số vốn ban đầu Nhà nước cấp là 139.000VND Trong thời gian này, cơ chế chính sách quan liêu, đường lối đổi mới đang ở mức tư duy, chưa cụ thể hóa bằng văn bản nhất là đối với lĩnh vực quản lý kinh tế Tuy gặp rất nhiều khó khăn
Trang 7Về xây dựng bộ máy, đào tạo cán bộ: Với nhận thức con người là nhân tố quyết định, do đó việc làm đầu tiên của công ty là đã xây dựng được mô hình bộ máy phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Công ty Công ty thực hiện đào tạo đội ngũ cán bộ và ổn định lực lượng lao động thông qua việc thực hiện phát triển yếu tố con người, chăm lo mọi mặt của đời sống lao động, cử người đi đào tạo ở nước ngoài khi có tiêu chuẩn Công tác quy hoạch, đề bạt cán bộ được quan tâm thường xuyên Trong 11 năm, Công ty đã đề bạt tại chỗ 25 trường hợp vào các vị trí: Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng/phó phòng, Giám đốc chi nhánh… Đến năm
1992, Công ty có tổng số lao động là 140 người
1.1.2.2 Giai đoạn II (1/1993-12/2004)
Đây là thời kỳ tiếp tục xây dựng và phát triển Công ty trên nền hợp nhất giữa Công ty XNK tổng hợp và Công ty phát triển sản xuất và xuất nhập khẩu, gắn với thời kỳ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta đã được định hình, tiếp tục phát triển mạnh mẽ với nhiều thành phần kinh tế tham gia và những ưu đãi dành cho doanh nghiệp Nhà nước dần dần bị thu hẹp và hầu như không còn áp dụng được Nhà nước có nhiều cơ chế chính sách tạo điều kiện cho các chủ thể có hình thức sử hữu khác nhau tham gia vào hoạt động kinh tế cũng như xuất nhập khẩu… như ban hành luật khuyến khích đầu tư từ nước ngoài Các cơ chế quản
lý trực tiếp kinh tế và xuất nhập khẩu không ổn định, thay đổi hàng năm nhiều khi đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hoạch định kế hoạch dài hạn
Trang 8
Trong nội bộ từ 7/1993, công ty có biến động lớn trong công tác tổ chức cán
bộ, số lượng lao động tăng từ 146 lên thành 389 người và Công ty có 3 lần thay đổi người đứng đầu doanh nghiệp Trong giai đoạn này, Công ty đã thực hiện và hoàn thành được các hoạt động xuất nhập khẩu và tổ chức thành công bộ máy nguồn lực lao động dựa vào những thành tựu của thời kỳ trước
Trong thời kỳ này, danh mục mặt hàng xuất khẩu của Công ty rất phong phú
và luôn biến động, hình thức kinh doanh cũng luôn biến động, bám sát thị trường và
cơ chế Từ thực tiễn đó, Công ty đã thu được nhiều kinh nghiệm quý báu làm tiền đề cho việc phát triển kinh doanh XK sau này, đảm bảo sự cân đối hợp lý với hoạt động nhập khẩu cũng như các hoạt động khác Từ năm 1990-1995 là giai đoạn tình hình trong nước có nhiều biến động lớn ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế Thị trường lớn Đông Âu và Liên Xô không còn những biến động về chính trị, trong khi khu vực thị trường tư bản thì bị các đơn vị khác cạnh tranh khá dữ dội Các mặt hàng
ủy thác xuất khẩu của Công ty không còn nhiều Trong giai đoạn này Công ty hoạt động trong tình trạng chung diễn biến khác phức tạp nên việc giữ vững phát triển và thoát khỏi vòng bế tắc là một nỗ lực lớn của Công ty Từ năm 1996-2004, tiếp theo
đà tăng trưởng của giai đoạn trước, năm 1997 kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty lên đến 78.4 triệu đôla cao nhất từ khi thành lập đến năm 1997 Tuy nhiên năm 1998 tổng kim ngạch của Công ty giảm xuống còn 44.5 triệu đô la bằng 82.17% tổng kim ngạch năm 1997 Sự giảm xuống này là do môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty nói riêng và của cả nước nói chung có nhiều biến động xấu Nền kinh tế trong nước giảm sút do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Châu Á và thảm họa thiên tai xảy ra liên tiếp Thị trường trong nước giao dịch kém sôi động, nhiều sản phẩm tồn đọng khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn
Từ sau giai đoạn khó khăn đó, Công ty đã có nhiều hướng đi mới như mở rộng phạm vi kinh doanh ra các đơn vị bán lẻ, các quận, huyện kể cả các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh, chuyển dần từ ủy thác sang tư doanh Triển khai gia công các
Trang 9
mặt hàng, khai thác việc nhập hàng phi mậu dịch cho đối tượng người Việt Nam học tập và công tác tại nước ngoài được hưởng chế độ miễn thuế Bên cạnh đó Công ty còn tham gia khai thác địa sản, khai thác dịch vụ cho thuê kho bãi
1.1.2.3 Giai đoạn III ( từ 2004 đến nay)
Trong những năm gần đây, mặc dù phải đối mặt với nguy cơ khủng bố, thiên tai và dịch bệnh, nền kinh tế và các hoạt động mậu dịch trên thế giới vẫn phát triển khá ổn định Trong nước, tình hình an ninh chính trị được đảm bảo, kinh tế phát triển với tốc độ khá cao với nhiều đỉnh cao mới về đầu tư nước ngoài, xuất khẩu, phát triển thị trường vốn, các ngành sản xuất khác cũng đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra Quan hệ ngoại giao và kinh tế đối ngoại được mở rộng, hầu như không còn giới hạn về không gian và mức độ, với việc trở thành thành viên chính thức của WTO và việc Hoa Kỳ chập nhận PNTR bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam cuối 2006
Nhận thấy tiềm lực có khả năng đứng vững trên thị trường, Công ty đã làm đơn gửi lên Bộ Thương Mại để yêu cầu cho cổ phần hóa nhằm mở rộng hơn quy mô
về vốn hoạt động cũng như nguồn nhân lực Đến đầu năm 2006, Công ty chính thức
cổ phần hóa, tách khỏi Bộ Thương Mại và trở thành một Công ty độc lập lấy tên mới
là Công ty CP Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp I - VN với số vốn điều lệ là 70 tỷ đồng
Đến nay, Công ty đã thực hiện cổ phần hóa được 4 năm và đạt được nhiều thành tựu và kết quả tốt đẹp đem lại lợi nhuận cao cho toàn thể Công ty
1.2.1 Chức năng của Công ty
Trực tiếp xuất khẩu hoặc nhận ủy thác xuất khẩu các mặt hàng nông sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ, các mặt hàng gia công chế biến tư liệu sản xuất và hàng tiêu dung phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống theo kế hoạch, theo yêu cầu của địa
Trang 10Sản xuất và gia công chế biến hàng hóa để xuất khẩu và làm các dịch vụ khác liên quan đến nhập khẩu
1.2.2 Nhiệm vụ của Công ty
Xây dựng và thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ
kể cả xuất nhập khẩu tự doanh cũng như ủy thác xuất nhập khẩu và các kế hoạch có liên quan
Tự tạo nguồn vốn, quản lý, khai thác sử dụng một cách có hiệu quả, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước
Tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý kinh tế, quản lý xuất khẩu và giao dịch đối ngoại
Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng kinh tế có liên quan
Nâng cao chất lượng, gia tăng lượng hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường nước ngoài, thu hút ngoại tệ và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
Đào tạo cán bộ lành nghề, có kinh nghiệm phục vụ lâu dài cho công ty
Làm tốt mọi nghĩa vụ và công tác xã hội khác
1.2.3 Quyền hạn
Đề xuất với Bộ Thương mại về việc xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch có liên quan đến hoạt động của Công ty
Được phép vay vốn bằng ngoại tệ và tiền mặt
Được ký kết các hợp đồng kinh tế trong nước và quốc tế
Được mở rộng buôn bán các sản phẩm hàng hóa theo quy định của nhà nước
Trang 11
Dự các hội chợ triển lãm để giới thiệu các sản phẩm của công ty trong và ngoài nước
Đặt đại diện và chi nhánh ở nước ngoài
Tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, kỷ luật cán bộ, công nhân viên
1.2.4 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Công ty tuy đã cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn là đối tác nắm cổ phần nhiều nhất Vì vậy nên cơ cấu tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng gồm những phòng ban với các chức năng chuyên ngành riêng biệt dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc Mối quan hệ giữa các phòng ban trong Công ty là mối quan hệ bình đẳng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đã được giao để cùng thực hiện tốt những nhiệm vụ chung của Công ty
Mô hình này rất hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với hoạt động kinh doanh của Công ty, vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng phòng ban vừa mang tính thống nhất chung trong hoạt động của toàn Công ty
a Mô hình tổ chức bộ máy quản trị của Công ty
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp I - VN tổ chức cơ cấu hoạt động của mình theo mô hình trực tuyến chức năng dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty
Trang 12
Nguồn:Trang web www.generalexim.com.vn
Mô hình cơ cấu tổ chức của Công ty được xây dựng theo mô hình doanh nghiệp cổ phần, vì vậy các bộ phận cấu thành bộ máy quản lý được tổ chức theo đúng quy định của Nhà nước:
BAN GIÁM ĐỐC
Các phòng quản lý
Các phòng kinh doanh
Các CN &
XN trực thuộc
Các đơn vị liên doanh
Công ty Phát triển Đệ Nhất
Ngân hàng TMCP XNK Eximbank
Trang 13
Đại hội cổ đông: Quyết định các vấn đề lớn liên quan đến tổ chức, quản lý và
hoạt động của Công ty
Hội đồng quản trị: Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh
hàng năm của Công ty, các vấn đề liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động của Công ty, chịu trách nhiệm báo cáo lại tình hình của Công ty với Đại hội cổ đông
Ban kiểm soát: Kiểm tra toàn bộ hoạt động quản lý điều hành hoạt động kinh
doanh của Công ty về tính hợp lý, hợp pháp Đồng thời kiến ghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành, báo cáo kết quả kiểm soát với đại hội cổ đông, hội đồng quản trị
Ban giám đốc:
Tổng giám đốc: Người đứng đầu Công ty, quản lý mọi hoạt động của các
phòng ban, chi nhánh và là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Công ty, đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty trước Nhà nước
Các phó tổng giám đốc: Có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc hoặc quản lý
một lĩnh vực nào đó do giám đốc ủy quyền Phó tổng giám đốc chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước tổng giám đốc
Khối phòng ban nghiệp vụ: Tham mưu cho giám đốc gồm:
Phòng tài chính kế toán: Nhiệm vụ chính của phòng là hạch toán kế toán,
đánh giá toàn bộ về hoạt động kinh doanh của Công ty Ngoài ra phòng còn có nhiệm
vụ lập bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo tài chính theo yêu cầu trình ban giám đốc
Trang 14
Tiến hành xây dựng tài chính, quyết toán tài chính với các cơ quan cấp trên và các cơ quan hữu quan theo quy định
Phòng tổ chức cán bộ: Phòng nắm toàn bộ nhân lực của Công ty, tham mưu
cho giám đốc, sắp xếp, tổ chức bộ máy, lực lượng lao động trong mỗi phòng ban sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao Phòng cũng có nhiệm vụ xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn, ngắn hạn, đào tạo lại nguồn lực của Công ty, đưa ra các chính sách, chế
độ lao động và tiền lương của các cán bộ công nhân viên đồng thời tuyển dụng lao động và điều tiết lao động phù hợp với các mục tiêu, tình hình kinh doanh của công
ty
Phòng tổng hợp: Phòng có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch kinh doanh, lập báo
cáo cho các hoạt động kinh doanh từng tháng, quý, năm trình lên Ban giám đốc Ngoài ra, phòng còn phải tiến hành nghiên cứu thị trường, đàm phán giao dịch với khách hàng và lập các chiến lược khuyến mại của Công ty
Phòng hành chính: Chức năng của phòng này là phục vụ văn phòng phẩm của
Công ty, tiếp khách và quản lý toàn bộ tài sản của Công ty Bên cạnh đó phòng có trách nhiệm theo dõi, sửa chữa lớn, nhỏ và sửa chữa thường xuyên đồng thời giải quyết các vấn đề liên quan đến hành chính sự nghiệp
Phòng nghiệp vụ: Có tổng cộng 7 phòng nghiệp vụ có chức năng kinh doanh
tổng hợp hoặc đi sâu vào các mặt hàng có thế mạnh của mình như:
Phòng nghiệp vụ 1: Khoáng sản, thủ công mỹ nghệ
Phòng nghiệp vụ 2: Thiết bị máy móc, hóa chất, thuốc thú y
Phòng nghiệp vụ 3: Quần áo, gia công may
Phòng nghiệp vụ 4: Ô tô, xe máy, đồ điện gia dụng
Phòng nghiệp vụ 5: Vải sợi, nông sản (chủ yếu là gạo và cà phê)
Phòng nghiệp vụ 6: Nhập khẩu vật tư cho sản xuất các loại máy móc, thiết bị đồ điện, thiết bị văn phòng
Trang 15Bảng 1.1: Sự đóng góp của các phòng nghiệp vụ vào doanh thu của Công ty
Nguồn: Báo cáo kết quả hàng năm của Công ty
1.3.1 Lĩnh vực kinh doanh
a Kinh doanh thương mại
- Xuất khẩu: Các sản phẩm nông sản: cà phê, hạt tiêu, gạo, lạc nhân, hành đỏ, hạt điều, chè, hoa hồi, quế, sắn lát,các loại đậu ; các sản phẩm gỗ; hàng may mặc; hàng công nghiệp nhẹ; khoáng sản; hàng thủ công mỹ nghệ,
- Nhập khẩu: Thiết bị công nghiệp (máy cán thép, băng tải ), máy móc, phân bón, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu cho các ngành sản xuất và xây dựng
Trang 16
(sắt, thép, nhôm, đồng, bột thức ăn gia súc, gia cầm, nguyên liệu sản xuất thuốc thú y ), các loại hoá chất (theo quy định nhà nước cho phép), hàng tiêu dùng
1.3.2 Thị trường của Công ty
Tính đến năm 2009, Công ty xuất khẩu sang 32 thị trường trong đó thị trường xuất khẩu chính là EU, châu Á đặc biệt là các nước ASEAN
Thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu bao gồm tất cả các nước có quan hệ với Việt Nam, chủ yếu là các nước trong khu vực ASEAN Đây là nơi tiêu thụ khoảng 70% hàng xuất khẩu và là nguồn cung cấp chính hàng nhập khẩu của Công ty trong những năm qua Các bạn hàng Châu Á chủ yếu là HongKong, Đài Loan, Thái Lan và Singapore Công ty cũng mở rộng quan hệ với Trung Quốc, đây là một thị trường đầy tiềm năng với chi phí vận chuyển thấp Bên cạnh đó, một số bạn hàng khác như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Canada cũng trao đổi mua bán với Công ty một lượng hàng hóa không nhỏ
Với thành tích trong hoạt động kinh doanh của mình, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I – VN đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba Và đặc biệt, thương hiệu của Công ty đã được khẳng định khi Công ty được trao giải thưởng Sao Vàng Đất Việt, một giải thưởng giành cho các thương hiệu xuất sắc của Việt Nam trong quá trình hội nhập
1.3.3 Vốn và nguồn lực tài chính
Trang 17
1.3.3.1 Nguồn vốn và cơ cấu vốn của Công ty:
Vào những năm đầu mới thành lập, nguồn vốn của Công ty là vốn của Nhà nước với 913.179 đồng Trong quá trình phát triển, Công ty đã chủ động xin phép tự kinh doanh hàng nhập khẩu thu ngoại tệ thông qua lập và kinh doanh “ Quỹ hàng hóa” để tạo thêm vốn Đồng thời với việc phát triển vốn, Công ty có ý thức bảo toàn vốn, lấy gốc ngoại tệ làm cơ sở tính toán, hạch toán nội bộ để tránh rủi ro do biến động tỷ giá Sau đây là cơ cấu nguồn vốn của Công ty trong năm 1991 với ba thành
phần chính là vốn Nhà nước, vốn VinaCapital và vốn của các cổ đông khác
Biểu đồ 1.2 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty năm 1991
Nguồn: http://www.generalexim.com.vn
Đến tháng 12/1992, Công ty đã có tổng số vốn chủ sở hữu khoảng 18 tỷ đồng Bằng chính nỗ lực, khả năng của mình đến nay Công ty đã có:
Tổng vốn kinh doanh: 51.310 triệu đồng
Ngân sách nhà nước cấp: 22 triệu đồng
Công ty tự huy động vốn: 26.204 triệu đồng
Các quỹ:
Quỹ phát triển kinh doanh: 5.071 triệu đồng
Quỹ dự trữ : 253 triệu đồng
Quỹ phúc lợi khen thưởng: 1.420 triệu đồng
Quỹ trợ cấp thất nghiệp : 126 triệu đồng
Trang 18
Năm 2008, Công ty đã hoạt động và đăng ký vốn điều lệ ở mức 75 tỷ đồng trong đó tỷ lệ vốn Nhà nước là 43,25%, vốn cổ đông khác 36,75%, quỹ Vinacapital là 20% Trong hoạt động kinh doanh Công ty đã sử dụng nguồn vốn vay của các tổ chúc tín dụng với tỷ lệ khá lớn Do vậy, Công ty đã nhanh chóng cơ cấu lại nguồn vốn kinh doanh theo hướng giảm ty lệ vốn vay từ các tổ chức tín dụng và tăng tỷ lệ vốn huy động từ các nguồn khác – nhất là từ các cổ đông, dưới hình thức phát hành thêm cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi
1.3.3.2 Khả năng tài chính
Bảng 1.2 Tình hình tài chính của Công ty
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty
Qua bảng số liệu 1.2 thấy rằng mức đầu tư của Nhà nước cho Công ty chỉ là một mức hỗ trợ phần nào, chủ yếu vẫn là nguồn vốn mà Công ty tự huy động Điều này đã chứng minh được khả năng và năng lực cũng như sự chủ động, năng động của Công ty trong lĩnh vực kinh doanh Với mức vốn hơn 90 tỷ đồng, Công ty sẽ có nhiều phương án, nhiều hình thức kinh doanh để mang lại hiệu quả cao và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường
1.3.4 Nguồn nhân lực của Công ty
Cán bộ ban đầu của Công ty chỉ bao gồm 50 người, trong đó đa số là cán bộ, công nhân từ các công ty xuất nhập khẩu và chuyển khẩu bị chuyển sang, do đó số cán bộ có trình độ về việc kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu không nhiều Năm 1992, Công ty có 140 cán bộ công nhân viên, nhưng hiện nay tổng số cán bộ của Công ty đã lên tới trên 600 người và bộ máy lao động đang dần được kiện toàn cho phù hợp với tình hình mới Trong tổng số trên, 600 cán bộ thì có 90% là có trình
độ đại học Điều này cho thấy đội ngũ lao động của Công ty ngày càng đảm bảo về
Trang 19
chất lượng nhằm đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới Để đạt được kết quả như vậy, Công ty đã phải nỗ lực và chú trọng trong công tác tuyển dụng đầu vào, luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ cho toàn thể công nhân viên bằng các hoạt động như gửi cán bộ đi đào tạo chính trị cao cấp, tiếng Anh nâng cao, đại học tại chức hoặc văn bằng II Bên cạnh đó, Công ty còn thực hiện chế độ tăng lương, tặng thưởng, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác nhau theo đúng quy định của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để công nhân viên có thể yên tâm công tác, phấn khởi hoàn thành tốt công việc được giao và đem lại kết quả cao cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty
Bảng 1.3 Cơ cấu lao động trong Công ty Chỉ tiêu phân bổ lao
Chuyên viên quản trị
Chuyên viên tác nghiệp
3
150
463
0.5 24.4 75.1 Phân theo trình độ:
Đại học và trên đại học
Nguồn: báo cáo tổng hợp hàng năm của công ty XNK Tổng hợp I
Cơ sở chính của Công ty đặt tại 46 Ngô Quyền - Hà Nội với diện tích là 484,92m2, trang bị gần như đầy đủ thiết bị văn phòng và thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
Công ty đã xây dựng và đưa vào sử dụng 20.000m2 kho và 1.500m2 nhà xưởng để đầu tư sản xuất hàng may mặc tại Đoan Xá – Hải Phòng, xây dựng và cho thuê khu văn phòng 18 tầng tại 53 Quang Trung với diện tích khai thác trên
Trang 20
10.000m2, cho thuê dài hạn tòa nhà 8 tầng tại Triệu Việt Vương Công ty cũng đã hoàn thành và đưa vào khai thác hai khu kho tại Khánh Hòa – Đà Nẵng và Liên Phương – Hà Tây với tổng diện tích là 5.600m2/kho, 27.000m2/đất sử dụng
Công ty là một trong những công ty đầu tiên tham gia hoạt động sản xuất theo
cơ chế thị trường nên Công ty luôn thể hiện rõ vai trò người dẫn đầu của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước, nhờ vậy mà uy tín của Công ty ngày càng được khẳng định
Nền tảng khách hàng: Thành lập từ năm 1981 đến nay, Công ty đã có quan hệ với rất nhiều bạn hàng tại nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, EU, Nhật Bản, Đức,
Bỉ, Nga…
Trong kế hoạch phát triển chung, Công ty tự nhận thức được việc phải xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm của mình và đã có các sản phẩm được đăng kí thương hiệu như: Water, Lexim, Juara…
Hệ thống thông tin của Công ty bao gồm máy tính, điện thoại, máy fax được trang bị đầy đủ cho các phòng Việc trang bị trên đảm bảo cho mỗi nhân viên đều có điều kiện thuận lợi làm việc nhanh chóng và hiệu quả
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của ban giám đốc cùng với sự nỗ lực hết mình của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty, hoạt động kinh doanh của Công ty đã được mở rộng và phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Công ty đã phát huy được những lợi thế của một Công ty Nhà nước để nhanh chóng khẳng định vị trí của mình ở thị trường trong
và ngoài nước Mặc dù xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn do thị trường thế giới biến động và không ổn định nhưng kim ngạch xuất khẩu của Công ty vẫn có những bước phát triển vượt bậc với tốc độ cao và vững chắc, đạt mức tăng trưởng từ 9-10%
Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động xuất khẩu của Công ty với hai mặt hàng chủ lực là cà phê và hạt tiêu Đây chính là hai mặt hàng xuất khẩu truyền thống chiếm đến 70% tổng kim ngạch xuất
Trang 21
khẩu của Công ty với các thị trường chủ yếu như Mỹ, Pháp, Thụy Sỹ, Nhật, Malaysia, Trung Quốc, Đông Âu … nên Công ty đã lựa chọn chiến lược đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh những thị trường là khách hàng truyền thống, Công ty cũng tập trung mở rộng và phát triển các thị trường tiềm năng khác tại một số nước ở Châu Phi hay khu vực Mỹ La Tinh Song song với nó,một số danh mục hàng nông sản xuất khẩu mới được tìm kiếm, nghiên cứu phát triển để đưa vào khai thác như dưa chuột bao tử, cơm dừa…Đây là những sản phẩm hứa hẹn sẽ đem lại nguồn thu hiệu quả trong hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty
Đi đôi với hoạt động xuất khẩu, Công ty tiếp tục thực hiện định hướng phát triển nhập khẩu các nhóm hàng vật tư, nguyên liệu và máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước Đối với hàng tiêu dùng, Công ty tập trung vào việc nhập khẩu các mặt hàng phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh siêu thị hoặc các cửa hàng chuyên doanh, đại lý và các nhu cầu khác của thị trường Việt Nam Hoạt động kinh doanh trong nước được coi trọng hơn khi mà hiện nay nền kinh tế thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hoảng và khó có khả năng phục hồi như ban đầu một cách nhanh chóng
1.4.1 Tốc độ phát triển
Hầu hết các chỉ tiêu về tốc độ phát triển của Công ty đều tăng qua các năm, tuy nhiên tốc độ này tăng không đồng đều Các chỉ tiêu đó được thể hiện dưới bảng
số liệu sau đây:
Bảng 1.4: Bảng số liệu về tốc độ phát triển của Công ty năm 2006-2009
Trang 22an toàn trước tình thế sụp đổ của rất nhiều doanh nghiệp cùng ngành khác
Biểu đồ 1.3 : Tốc độ phát triển của Công ty năm 2006-2009
Đơn vị : Tỷ đồng
Trang 23
70
912 853.152
9.236
70
1376 1400
33 88.9
1408 1412
35 120
1.4.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty
Giai đoạn từ năm 2005-2009 là thời kì hưng thịnh của các Công ty xuất nhập khẩu và điều này cũng không phải là ngoại lệ so với Công ty CP xuất nhập khẩu Tổng Hợp I – VN Những con số tăng dần qua từng năm trong bảng số liệu về kim ngạch xuất khẩu theo từng mặt hàng của Công ty đã chứng minh rõ hơn về đặc điểm này Từ những mặt hàng chủ đạo như cà phê, hạt tiêu, hạt điều đến các sản phẩm công nghệ hay sản phẩm dệt may, Công ty luôn chứng tỏ vị trí của mình trên thị trường trong nước cũng như uy tín của Công ty đối với các đối tác nước ngoài
Bảng 1.5 : Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của Công ty (2005-2009)
Đơn vị: USD
Trang 24Nguồn: Phòng tổng hợp công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I
Các số liệu của bảng 1.5 cho thấy rằng, nhìn chung, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Công ty đều có sự tăng mạnh qua các năm, đặc biệt từ năm 2006-2007, tuy nhiên, tốc độ này đã chững lại vào năm 2008 với rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu, rủi ro về tỷ giá, sự chênh lệch của đồng USD và VND, chính sách XNK thay đổi, giá cả thị trường thế giới đối với các mặt hàng xuất khẩu liên tục giảm dần dẫn đến việc cung cấp hàng hóa càng trở nên khó khăn Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Công ty là nhóm hàng nông sản và đứng đầu là cà phê với sự phát triền vượt bậc từ 25.562.800 USD năm 2006 tới 28.238.000 USD năm
2007 và giảm nhẹ còn 24.662.607,78 USD năm 2008
Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh về các mặt hàng xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu của Công ty cũng được chú trọng, tùy theo thị hiếu khách hàng mà các loại mặt hàng được tập trung phát triển và mang quy mô lớn không kém so với hoạt động xuất khẩu
Bảng 1.6: Kim ngạch nhập khẩu theo mặt hàng của Công ty 2006-2009
Đơn vị: USD
Trang 25
Nguồn: Phòng tổng hợp công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I
Hoạt động nhập khẩu của Công ty đã đạt được mức tăng trưởng đáng kể vào năm 2009, hoàn thành mục tiêu đã đề ra và phần nào khắc phục được khó khăn mà cuộc khủng hoảng kinh tế đã gây ra, cũng như tổn thất của những năm trước đó Năm
2008 đạt 38.238.520 USD, có tăng so với kế hoạch đặt ra do mặt bằng giá nhập khẩu thấp và khối lượng tăng cao, các tháng cuối năm, cả khối lượng và giá trị có giảm sút nhưng tổng kim ngạch cả năm vẫn tăng so với kế hoạch và thực hiện năm 2007 là gần 3 triệu USD Cơ cấu của nhập khẩu vẫn tập trung vào các mặt hàng vật liệu xây dựng và thiết bị máy móc, tiếp theo là các phụ liệu gia công may mặc, và hóa chất các loại Những thành tích mà Công ty đạt được là nhờ Công ty đã thay đổi mạng lưới đối tác nên đã thu hút được rất nhiều mặt đơn hàng có giá trị cao và các khách hàng tiềm năng từ các nước khác nhau trên thế giới Điều này càng khẳng định rõ hơn vị thế của Công ty trên thị trường trong nước nói riêng và thị trường nước ngoài nói chung
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU TỔNG HỢP I - VN
Trang 26
2.1 Tình hình xuất khẩu nông sản của Công ty Cp Xuất nhập khẩu Tổng hợp I -
VN
2.1.1 Danh mục hàng nông sản xuất khẩu
Công ty CP xuất nhập khẩu Tổng hợp I - VN là Công ty cổ phần hoạt động rất hiệu quả trong lĩnh vực xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng nông sản với các sản phẩm chủ yếu là cà phê, cao su, gạo, lạc, hạt điều…Thương hiệu của Công ty đã
và đang được biết đến như một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực xuất khẩu
Do thị trường xuất khẩu nông sản luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nên Công ty đã chủ trương thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng xuất khẩu sang những thị trường tiềm năng khác bên cạnh những thị trường truyền thống lâu đời của Công ty Kim ngạch cũng như sản lượng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Công ty từ năm 2005-2009 được thể hiện rõ trong bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản
của Công ty Mặt
hàng
xuất
Trang 27Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Công ty hàng năm
Số liệu từ bảng 2.1 cho thấy rằng, với vị trí là mặt hàng chủ đạo, cà phê luôn dẫn đầu cả về số lượng lẫn trị giá mặt hàng trong 4 năm liền từ năm 2005 đến 2008 trong khi đó mặt hàng gạo là mặt hàng đứng thứ hai tuy nhiên vẫn kém mặt hàng cà phê khoảng 12 lần về số lượng và 11 lần về trị giá Đối với các mặc hàng khác như hành, lạc thì sự chênh lệch khoảng 2 lần, đây là những mặt hàng tiềm năng của Công
ty và được tăng cường phát triển trong những năm tiếp theo Bột gừng, hồi và hạt tiêu lại là những mặt hàng mới được đưa vào xuất khẩu nên vẫn còn một số hạn chế, chính vì vậy mà sản lượng và trị giá mà các mặt hàng này đạt được không cao so với các mặt hàng khác Tuy nhiên, Công ty quyết định thử sức để đưa ra một định hướng,
kế hoạch mở rộng nhằm đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu của mình để thu hút được nhiều đối tác cả trong và ngoài nước
2.1.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty CP xuất nhập khẩu Tổng hợp I-
VN
Với các bạn hàng lâu năm và các mối quan hệ mới được thiết lập trong vài năm gần đây, Công ty đã có những chiến lược cụ thể cũng như các kế hoạch rõ ràng
Trang 28
cho việc phát triển mở rộng uy tín của mình ra hầu khắp các nước trên thế giới, trong
đó thị trường EU và Đông Bắc Á là hai thị trường được chú trọng nhiều nhất Do nắm bắt được thị hiếu của khách hàng, Công ty không chỉ ngày càng trở nên uy tín hơn mà còn nâng cao được vị thế của mình trên thị trường quốc tế
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Công ty Cp xuất nhập khẩu
Tổng Hợp I – VN vào một số thị trường giai đoạn 2005-2008
Thị
trường
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
Nguồn: Báo cáo xuất khẩu qua các năm của Công ty
Dựa vào bảng số liệu trên, sau đây là biểu đồ tăng trưởng về tình hình xuất khẩu sang các thị trường khác nhau của Công ty trong giai đoạn 2005-2009
Trang 29
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tăng trưởng về tình hình xuất khẩu sang các thị
trường của Công ty từ năm 2005-2009
22.4
36.7 37.1
35.1
37.2 36.4
22.4 22.6
Nguồn: Tác giả tự thu thập từ các thông tin từ Phòng xuất nhập khẩu nông sản Công
Nguồn: Báo cáo xuất khẩu qua các năm của Công ty
Công ty CP xuất nhập khẩu Tổng hợp I có quan hệ xuất khẩu lâu dài với nhiều quốc gia trên thế giới Thông qua bảng số liệu trên, có thể thấy rằng giai đoạn từ năm
Trang 30 Thị trường ASEAN: Đây là thị trường xuất khẩu tiềm năng của Công ty với các mặt hàng nông sản như: hạt tiêu và cà phê Kim ngạch xuất khẩu của Công ty vào thị trường này luôn dao động, trị giá xuất khẩu của các mặt hàng nông sản có sự tăng đều và ổn định qua các năm Năm 2005 tỉ trọng đạt được tại thị trường này là 5 triệu USD với 5.229 tấn nông sản Trong khi đó vào năm 2006 số lượng đã vượt lên hơn
2000 tấn chỉ trong một năm và trị giá tăng lên là 2.848 nghìn USD Vào năm 2007 và năm 2008, mặc dù có ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng số lượng xuất
Trang 31
khẩu hàng hóa và thị trường này vẫn tăng đều vì Công ty đã có những biện pháp để khắc phục được những ảnh hưởng đó Với mức sản lượng 8.813 tấn năm 2007 và 8.826 tấn năm 2008 ta đã nhận thấy rõ được mức tăng trưởng này Ở thị trường này, các quốc gia như Singapore, Indonesia, Malaysia là những nước rất ưa chuộng các hàng nông sản đặc biệt là mặt hàng gạo, lạc và hành của Công ty Tới năm 2009, thị trường ASEAN đã chiếm tới 21,3%, hơn hẳn so với các thời kì đầu trước đó Trong những năm tới, Công ty sẽ tiếp tục duy trì và phát triển mạnh hơn nữa tại thị trường này
Thị trường Đông Nam Á: Bao gồm hai thị trường chính là Hàn Quốc và Trung Quốc, đây là thị trường đứng thứ hai sau thị trường EU với khởi điểm là 12,8% vào năm 2005 nhưng đến năm 2009 giảm xuống chỉ còn 9,4%, mặc dù trong suốt thời kì từ năm 2005-2007, con số này đã tăng dần đều nhưng bắt đầu từ năm
2008 và năm 2009, thị phần của các nước Đông Nam Á sụt giảm do ảnh hưởng lớn từ
sự hội nhập và sự gia tăng mức độ cạnh tranh với các thị trường tiềm năng khác Trung Quốc và Hàn Quốc là hai quốc gia có mối quan hệ gần gũi với Việt Nam và việc tấn công vào thị trường này dường như dễ dàng hơn so với các thị trường khó tính khác Với sản lượng là 6.149 tấn năm 2005 và tăng lên gần gấp đôi chỉ sau 3 năm vào năm 2008 con số này đạt mức 11.756 tấn với 11.950 nghìn USD Cà phê là mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc còn hạt tiêu và tinh bột là hai mặt hàng được thị trường Hàn Quốc ưa chuộng Dự đoán trong những năm tới, cà phê và hạt tiêu vẫn là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực vào thị trường này trong
đó Nhật Bản là thị trường mà Công ty có những chiến lược để đẩy mạnh trở thành thị trường chủ lực
Thị trường Bắc Mỹ: đây là thị trường xuất khẩu mà trong đó Mỹ và Mexico là hai quốc gia nhập khẩu cà phê nhiều nhất Nếu như năm 2005, sản lượng nông sản xuất khẩu đạt 4.228 tấn với trị giá gần 5 triệu USD thì đến năm 2006, sản lượng này tăng lên hơn 1000 tấn và đạt trị giá là 5.147 nghìn USD, trong khi đó vào hai năm
Trang 32
tiếp theo, năm 2007 và 2008 sản lượng và trị giá xuất khẩu của công ty vào thị trường này đề tăng và Công ty vẫn luôn duy trì tỉ trọng xuất khẩu vào thị trường này
Thị trường khác: Bao gồm một số quốc gia tại Trung Đông, Châu Phi và Châu
Mỹ La Tinh Các mặt hàng được xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu là cơm dừa
và hạt tiêu Tuy sản lượng này còn thấp so với các thị trường khác và đặc biệt là có suy giảm một chút về sản lượng vào năm 2009 so với năm 2008 nhưng sự suy giảm này vẫn là không đáng kể so với trị giá đã đạt được là 6.554 tăng so với 6.535 nghìn USD của 1 năm trước đó
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo xuất khẩu qua các năm của Công ty
Bảng 2.4: Tình hình xuất khẩu nông sản của Công ty sang một số nước
Trị giá ( Nghìn USD)
Trang 33Nguồn: Báo cáo xuất khẩu qua các năm của Công ty
Qua bảng 2.4, khối lượng hàng nông sản xuất khẩu của Công ty từ năm
2006-2009 đã có khá nhiều thay đổi, từ việc thay đổi về các thị trường tiềm năng tới khối lượng và kim ngạch đạt được Nhìn chung, Công ty tập trung vào năm thị trường chính là Thụy Sĩ, Mỹ, Anh, Đức và Singapore Trong đó Thụy Sĩ là thị trường có
Trang 34
nhiều khách hàng quen thuộc hơn cả với Noble, Ecom, Taloca trong đó Noble chiếm
vị trí cao nhất không chỉ tại thị trường Thụy Sĩ mà còn so với tất cả 4 thị trường còn lại với mức nhập khẩu lên tới 20.900 tấn năm 2006 và đạt 19.505 nghìn USD cho lượng tương ứng Sau nó là công ty Taloca cũng tại thị trường Thụy Sĩ với lượng hàng nhập khẩu là 7.800 tấn với 6.541 nghìn USD Đối với các thị trường khác thì năm 2006 là một khởi đầu tốt đẹp với mức sản lượng và kim ngạch là tương đương nhau tại các thị trường khác nhau
Năm 2007, vị trí của các thị trường đối với công ty vẫn không có gì thay đổi, tuy nhiên số lượng của công ty Ecom đã sụt giảm một cách đáng kể so với cách đó 1 năm, sự sụt giảm này gần 50% nhưng vẫn đảm bảo cho sức hút của Công ty đối với khách hàng này 10.600 tấn và 14.165 nghìn USD là con số đáng ấn tượng của đối tác
từ Taloca, con số này đã tăng lên nhanh chóng so với năm 2006 Bên cạnh đó, một số đối tác mới đã xuất hiện, trở thành nguồn khai thác lớn lao đối với Công ty như Volcafe của Thụy Sĩ thay thế cho Halcofo của Đức Nói tóm lại, trong thời điểm này, Thụy Sĩ vẫn là thị trường được khai thác nhiều nhất so với các thị trường khác, được thể hiện bởi số lượng khách hàng cũng như số lượng mặt hàng nhập khẩu cùng với trị giá mà Công ty đã thu được từ đối tác này
Năm 2008 và năm 2009, ở giai đoạn này, Ecom đã sụt giảm và đứng sau Noble với mức sản lượng là 24.428 tấn cho năm 2008 và 18.245 vào năm 2009 Mặc
dù có sự suy giảm từ 2008 đến 2009 do bị tác động của khủng hoảng kinh tế, nhưng
so với các thị trường khác thì con số này cũng là con số cao Sau Ecom là sự vượt trội của Công ty khi thâm nhập vào thị trường Anh tại công ty Armaljaro từ 6.500 tấn lên 7.120 tấn vào năm 2009 với giá trị kim ngạch từ 6.978 nghìn USD tới 9.102 nghìn USD, và đây là một sự tăng mạnh về kim ngạch
2.1.3 Các hình thức xuất khẩu hàng nông sản của Công ty
Trong giai đoạn từ 2005-2009 xuất khẩu là hoạt động kinh doanh chủ lực của Công ty Các hợp đồng xuất khẩu được ký kết một cách liên tục và đều đặn vào tất cả các thời điểm trong năm tuy nhiên các hợp đồng đó chủ yếu là hợp đồng vừa và nhỏ
Trang 35
và Công ty đã tiến hành hoạt động xuất khẩu hàng nông sản thông qua hai hình thức chính đó là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu ủy thác Điều đó thể hiện ở trong bảng sau:
Bảng 2.5: Cơ cấu hình thức xuất khẩu hàng nông sản của Công ty CP xuất nhập
khẩu Tổng hợp I – VN giai đoạn 2005-2009
Giá trị
TT (%)
Giá trị
TT (%)
Giá trị
TT (%) Trực
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005-2009
Bảng số liệu trên đã cho thấy rằng trực tiếp là hình thức xuất khẩu chủ yếu, chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong các hình thức xuất khẩu Tỉ trọng của hình thức xuất khẩu tăng dần qua các năm từ 67,7% năm 2005 tới 74,8% năm 2006 và giảm một chút còn 73,7% vào năm 2007 nhưng đã kịp lấy lại vị trí khi đạt 87,1% năm
2008 và 85% năm 2009 Những mặt hàng mà Công ty xuất khẩu trực tiếp là những mặt hàng chủ lực của Công ty là cà phê và hạt tiêu, điều này cho thấy rõ công tác xuất khẩu của Công ty đang trở nên ngày càng chủ động hơn, không còn bị phụ thuộc nhiều vào các nhà phân phối nước ngoài về việc thâm nhập hay đưa mặt hàng này vào thị trường nước ngoài
Trái lại, hình thức ủy thác xuất khẩu lại giảm dần qua thời kì 4 năm từ
2005-2009, con số này đã sụt giảm một cách đáng kể do sự phổ biến của hình thức trực tiếp, chỉ chiếm 32,3% vào năm 2005 với 3.718 nghìn USD, bằng một nửa của hình thức trực tiếp Năm 2006 thị phần của hình thức này giảm xuống chỉ còn 25,2% mặc
Trang 36ty Những mặt hàng nông sản mà Công ty nhận ủy thác xuất khẩu là các mặc hàng như hồi, quế, cao su vì đây là những mặt hàng chiếm tí trọng nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Công ty Tuy hình thức này không phải hình thức chủ lực của Công ty nhưng với hình thức này, Công ty đã có thêm điều kiện để mở rộng hoạt động xuất khẩu cũng như phát triển mối quan hệ với bạn hàng
Trong giai đoạn từ năm 2005-2009, các mặt hàng nông sản luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của công ty khoảng từ 78%-90%
2.1.4 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu của Công ty
Trong vài năm trở lại đây, việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản gặp phải khá nhiều khó khăn khi xuất hiện rất nhiều quy định về thuế quan, hạn ngạch cũng như các tiêu chuẩn về chất lượng đặc biệt khi hàng hóa được xuất khẩu sang EU, một trong những đối tác thân thiết của Công ty Chính vì vậy, việc xuất khẩu mặt hàng nông sản nào, tập trung chiến lược ra sao được Công ty hết sức chú trọng và cẩn thận trong các khâu xuất khẩu hàng hóa Sau đây là bảng số liệu về cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản của Công ty giai đoạn từ năm 2005-2009
Trang 37Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2005-2009
Theo bảng số liệu trên, ta thấy rõ từ năm 2005 đến năm 2009, mặc dù có chút dao động vào khoảng giữa thời kì nhưng kim ngạch xuất khẩu nông sản gần như chiếm trọn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty với thị phần thấp nhất là 86,88% năm 2007 và đạt cao nhất vào năm 2006 với 94,26% trên tổng số, như vậy đối với các mặt hàng khác thì chỉ dao động trong thị phần là khoảng từ 14%-15%, tức chỉ khoảng 3/20 trên tổng số kim ngạch mà Công ty thu được từ các mặt hàng xuất khẩu
Bên cạnh đó, bảng số liệu 2.1 ở trên đã cho thấy chi tiết về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản của Công ty trong giai đoạn 2005-2008
Mặt hàng cà phê:
Đây là mặt hàng chủ lực của Công ty, được tập trung phát triển và mở rộng ra hầu khắp các vùng trong và ngoài nước Tuy không phải là doanh nghiệp có sản lượng cà phê được xuất khẩu lớn nhất, nhưng Công ty cũng đứng trong hàng ngũ những doanh nghiệp hàng đầu về xuất khẩu cà phê, cả về uy tín lẫn số lượng
Trang 38TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghìn USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Công ty hàng năm
Công ty CP xuất nhập khẩu Tổng hợp I là Công ty có uy tín và thế mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê của Việt Nam Từ bảng số liệu cho thấy, sản lượng cà phê xuất khẩu có sự tăng mạnh qua các năm 31.500 tấn của năm 2005 đạt trị giá là 22.560 nghìn USD, tới năm 2006, mặc dù sản lượng giảm xuống chỉ còn 25.672 tấn nhưng trị giá lại tăng nhiều hơn so với năm 2005, điều này chứng tỏ rằng giá trị cà phê ngày càng tăng trên thị trường thế giới Điều này giúp cho hoạt động xuất khẩu của Công ty thu được lợi nhuận cao
Trong hai năm 2007 và 2008, sản lượng có giảm đi chút ít và kéo theo sự suy giảm về trị giá vào năm 2008 do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, trị giá năm 2007 là 28.238 trong khi năm 2008 con số này chỉ còn 25.500 quay trở lại với thời điểm năm 2006
Nguồn:Tổng hợp từ các báo cáo xuất khẩu của Công ty hàng năm
Mặt hàng hạt tiêu:
Đến năm 2007, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu hạt tiêu hàng đầu trên thế giới với sản lượng xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 2.000 tấn, Công ty CP XNK Tổng hợp I-VN là doanh nghiệp góp phần lớn vào thành tựu đó của Việt Nam
Trang 39TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghìn USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Công ty hàng năm
Năm 2007 là thời kì đỉnh cao của việc xuất khẩu hạt tiêu ra nước ngoài, với trị giá 3.375 nghìn USD cho 2.200 tấn hạt tiêu đã khẳng định được vị thế của không chỉ Công ty mà còn nâng cao giá trị xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam Tuy nhiên, con số này vào năm 2008 đã giảm đi và bằng với năm 2006 nhưng giá trị tương ứng thì vẫn giữ được ở mức cao với 2.630 nghìn USD
Arap, Philipines, Yemen là những thị trường nhập khẩu hạt tiêu lớn nhất của Công
ty, chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu của Công ty
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo xuất khẩu của Công ty hàng
năm
Mặt hàng gạo
Việt Nam là một trong những quốc gia có sản lượng gạo được xuất khẩu thuộc vào hàng lớn nhất thế giới, với các thị trường tiềm năng như Philipines, Indonesia, Công ty CP xuất nhập khẩu Tổng hợp I đã coi mặt hàng này là thế mạnh của mình bên cạnh mặt hàng cà phê, lạc hay hạt tiêu Vì là mặt hàng thế mạnh nên sản lượng
Trang 40TG (Nghìn USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
SL (tấn)
TG (Nghì
n USD)
Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Công ty hàng năm
Năm 2005, số tấn gạo được xuất khẩu là 4.690 nhưng chỉ thu được giá trị là 3.471 nghìn USD, như vậy tính trung bình ra 1 tấn gạo Công ty nhận được là 740 USD trong khi đó, vào năm 2006, cứ mỗi 1 tấn gạo 823 USD, mức giá này còn tăng lên nhiều vào những năm sau như năm 2007 là 1.123 USD/tấn, năm 2008 là 1.133 USD/tấn
Về sản lượng thì từ năm 2005-2009, sản lượng tăng dần đều, tuy có chững lại
và giảm vào năm 2006 so với năm 2005, nhưng tới năm 2007, thì Công ty đã tự khắc phục được những khó khăn và tiếp tục tăng sản lượng cũng như giá trị của mặt hàng này lên cao Cao nhất là năm 2008 với 7.890 tấn tương ứng với 8.943 nghìn USD trong khi thấp nhất là năm 2006 chỉ đạt được 3.900 tấn và 3.210 nghìn USD, con số này giảm đáng kể về số lượng nhưng chỉ thấp hơn một chút về trị giá so với năm
2005 Nói chung, sự chênh lệch về mức độ giảm trong hoạt động xuất khẩu mặt hàng