BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT DÂN SỰ Đề tài Hãy sưu tập một bản án sơ thẩm của tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định tài sản là di sản thừa kế mà th.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT DÂN SỰ
Đề tài: Hãy sưu tập một bản án sơ thẩm của tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định tài sản là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù
hợp với quy định của pháp luật
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
1 TÓM TẮT BẢN ÁN DƯỚI DẠNG TÌNH HUỐNG 2
2 CHỈ RA PHÁN QUYẾT MÀ TÒA ÁN ĐƯA RA CHƯA PHÙ HỢP
VÀ GIẢI THÍCH 3 2.1 Quyết định của tòa án về việc đồng ý trừ 380 triệu đồng vào tài sản chung của cụ L và cụ V để hoàn lại cho con gái là bà T 3 2.2 Quyết định cụ V có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Thanh T2 là 91.421.250đ (chín mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng) 5
PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 5
4 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN THỪA KẾ 6
III KẾT LUẬN 12
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội - kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, khối lượng tài sản thuộc sở hữu tư nhân có giá trị ngày càng cao và quyền sở hữu cá nhân được luật pháp công nhận và bảo vệ, Điều 58 Hiến Pháp năm 1992 quy định:
“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.”
Từ pháp lệnh thừa kế năm 1990 đến BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 -chia tài sản luôn là một trong những vấn đề gây tranh cãi do xung đột quyền lợi giữa các bên tham gia trong vấn đề này nên cần tìm hiểu, xử lý thỏa đáng
vì các đối tượng góp mặt trong vấn đề trên đều có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng
Qua đề tài nêu ở trên, chúng em chọn bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 17-7-2018 về việc xác định di sản thừa kế, chia di sản thừa kế và đòi lại tài sản
Từ bản án sơ thẩm bọn em tìm hiểu được, chúng em sẽ làm rõ và giải quyết đề tài theo yêu cầu như sau:
Một là, tóm tắt bản án dưới dạng tình huống;
Hai là, chỉ ra phán quyết mà Tòa án đưa ra chưa phù hợp ở một số nội
dung và làm rõ những nội dung chưa phù hợp đó;
Ba là, quan điểm của nhóm 4 về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với
quy định của pháp luật hiện hành;
Cuối cùng, sau khi phân tích bản án, nhóm 4 có một số kiến nghị để có
thể hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành
Bài tiểu luận có thể còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được
sự đánh giá và góp ý của thầy cô!
Trang 4II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
SƠ ĐỒ PHẢ HỆ
Lê Văn L + Nguyễn Thị V Lê Xuân T ( Liệt sĩ, không có vợ
con) Lê Thanh T2
Lê Thị T1
Lê Thị T
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T; Đăng ký hộ khẩu: Số 13 B, phường T,
thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở: Số nhà 15 T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định
Bị đơn: Cụ Nguyễn Thị V; cư trú tại: Số nhà 15 T, phường T, thành
phố N, tỉnh Nam Định
Ngươ ꄀ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan:
1) Bà Lê Thị T1; hiện đang cư trú tại Cộng hòa Séc Người đại diện theo
ủy quyền của bà T1: Bà Lê Thị T; Đăng ký hộ khẩu: Số 13 B, phường
T, thành phố N, tỉnh Nam Định
2) Ông Lê Thanh T2; cư trú tại: Khóm 6, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau 3) Bà Lê Thị B; cư trú tại: Số 13 B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam
Định
4) Anh Mai Trường G; cư trú tại: Số 2A Khu tập thể Đ, phường L, thành
phố N
Từ đó, có thể tóm tắt bản án như sau:
Bố bà Lê Thị T là cụ Lê Văn L và mẹ là cụ Nguyễn Thị V, hai cụ sinh được 4 người con gồm ông Lê Xuân T là liệt sỹ không có vợ con, ông Lê Thanh T2, bà Lê Thị T1 và bà Lê Thị T Cụ L chết ngày 11-11-2014 không để lại di chúc Tài sản
Trang 5của hai cụ gồm: Nhà đất số 13 B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; hai quyển sổ tiết kiệm: 01 quyển sổ tiết kiệm có kỳ hạn số IE 4501195 trị giá 101 triệu đồng gửi tại Ngân hàng Agribank; 01 quyển sổ tiết kiệm số HA00027008TGKH/TCB gửi tại Ngân hàng Techcombank trị giá 100 triệu đồng
và 03 cây vàng 9999 Năm 2007 do hai cụ đã già và hay ốm đau nên bà Lê Thị T
đã bán căn hộ 36M ô 18 H và bán chiếc xe máy Honda được tổng là 200 triệu đồng giao cho cụ L vào ngày 1-9-2008 để được về ở nhà 13 B Năm 2010 căn hộ 13 B xuống cấp, bà thay mặt bố mẹ bỏ ra 180 triệu đồng để sửa chữa lại toàn bộ Năm
2014 cụ L mất, bà phải thuê người giúp việc 24/24 giờ để trông nom chăm sóc cụ
V.Mỗi tháng bà phải chi phí sinh hoạt, thuốc thang cho cụ V hết trên dưới 10 triệu đồng, nay bà không còn khả năng chi trả người giúp việc, bà đề nghị các thành viên trong gia đình bán căn hộ 13 B lấy tiền trang trải chi phí thêm cho cụ V nhưng anh trai là Lê Thanh T2 chưa đồng thuận nên chưa bán được Nay bà khởi kiện đề nghị Tòa án xác định di sản của cụ L để lại và chia di sản của cụ L theo quy định của pháp luật Buộc cụ L và cụ V phải trả lại bà 380 triệu đồng gồm 200 triệu đồng (bán căn hộ 36M ô 18 H và bán xe máy Honda) và 180 triệu đồng bà sửa chữa nhà 13B
VÀ GIẢI THÍCH.
2.1 Quyết định của tòa án về việc đồng ý trừ 380 triệu đồng vào tài sản
chung của cụ L và cụ V để hoàn lại cho con gái là bà T
Quyết định này của Tòa án là không hợp lý vì:
Thứ nhất, khoản tiền 180 triệu đồng về việc bà T bỏ tiền sửa chữa
lại căn nhà đã xuống cấp là điều hiển nhiên chứ không phải là thay mặt bố
mẹ vì trước đó bà T có bán nhà, bán xe được 200 triệu đồng để góp tiền mua chung với bố mẹ căn nhà 13 B trị giá ít nhất 800 triệu đồng Nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 21-11-2003 mang tên cụ L và cụ V,
Trang 6vì vậy có căn cứ xác định nhà đất 13 B, phường T, thành phố N thuộc quyền
sở hữu của cụ L và cụ V Chính vì vậy bà B không phải chủ sở hữu chung của nhà 13 B, tuy nhiên vẫn được hai cụ L và V cho quyền hưởng dụng căn nhà 13B
Trong Khoản 3 và Khoản 4 Điều 262 BLDS 2015 có quy định về nghĩa vụ của người hưởng dụng được nêu như sau:
“3 Giữ gìn, bảo quản tài sản như tài sản của mình.
4 Bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ để bảo đảm cho việc
sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và khắc phục các hậu quả xấu đối với tài sản do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo quản tài sản.”
Khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai 2013 có quy định: “Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những
người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.”
Thứ hai, Khoản 1 Điều 219 BLDS 2015 có quy định: “Trường hợp
sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung” Khoản tiền 200 triệu đồng mà bà T bán xe, bán nhà
để về ở chung với bố mẹ là tiền góp mua nhà chung với bố mẹ tuy nhiên giấy chứng nhận quyền sở hữu đất lại đứng tên cụ L và cụ V chứ không hề
có tên bà T Theo đó, bà T chỉ có quyền cũng như nghĩa vụ của người hưởng dụng chứ không có quyền sở hữu Cho nên, khi bán nhà 13 B được 800 triệu đồng thì số tiền này hoàn toàn thuộc về hai cụ L và cụ V chứ bà T hoàn toàn
Trang 7không có quyền hay nghĩa vụ gì với số tiền này Hơn nữa theo như nghĩa vụ
là con, chuyện bà T góp tiền mua nhà với bố mẹ nhằm mục đích chăm lo phụng dưỡng là hoàn toàn tự nguyện và theo Khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình: “Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.”
2.2 Quyết định cụ V có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Thanh T2 là
91.421.250đ (chín mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng)
Quyết định này của Tòa án là không hợp lí vì:
Theo như Điểm b Khoản 1 Điều 621 BLDS 2015 quy định: " Những người sau đây không được quyền hưởng di sản - Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản"
Ông T2 đã bỏ đi và không hề có trách nhiệm với gia đình cũng như bố mẹ mình là 2 cụ L và cụ V Ông không quan tâm chăm sóc cũng như góp tiền phụng dưỡng cha mẹ cùng mọi người trong gia đình trong hơn 40 năm Đặc biệt là sau khi cụ L mất, tiền thuê giúp việc chăm sóc cùng với chi phí sinh hoạt, tiền thuốc thang cho cụ V ông T2 chưa từng trợ giúp chi trả
Vì thế ông T2 không nằm trong diện những người có quyền hưởng di sản do
cụ L chết để lại
CHẤP PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH
Căn cứ các quy định của BLDS 2015, Luật Đất đai 2013, và Luật Hôn nhân và gia đình 2014 mà nhóm 4 chúng em đã nêu trên trong mục 2, Toà không nên chấp nhận yêu cầu của bà T là đòi cụ V trả lại 380 triệu đồng:
Trang 8Xác định di sản chia thừa kế sau khi đã thanh toán các chi phí có liên quan của cụ L là ½ tổng giá trị tài sản 1.111.370.000đ : 2 = 555.685.000đ (năm trăm năm mươi lăm triệu sáu tram tám mươi lăm nghìn đồng)
Kỷ phần mỗi đồng thừa kế được hưởng là 555.685.000đ : 3 = 185.228.000 (một trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng) Cụ thể cụ V được chia là 185.228.000 (một trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng), bà T được chia là 185.228.000 (một trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng), bà T1 được chia là 185.228.000 (một trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng)
→ Bà T không thể đòi cụ V trả lại 380 triệu đồng
→ Ông T2 không được chia di sản thừa kế của cụ L để lại
Căn cứ vào Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bà T phải chịu án phí sơ thẩm là 185.228.000đ x 5% =
9.261.400đ Ông T2 không phải chịu án phí sơ thẩm
SẢN THỪA KẾ
Thứ nhất, cần ban hành văn bản hướng dẫn tiêu chí xác định ai là người
sẽ nhận di sản bằng hiện vật, theo hướng phải xác định được ai là người thật
sự có nhu cầu cấp bách về chỗ ở để nhận di sản bằng hiện vật Khi di sản có thể chia bằng hiện vật cho những người có nhu cầu cấp bách thì tòa án phải tiến hành chia bằng hiện vật Khi xác định người nhận di sản bằng hiện vật, tòa án cần tuyên bố người nhận bằng hiện vật là chủ sở hữu tài sản để đảm bảo quyền lợi cho họ (Trừ trường hợp chia di sản bằng hiện vật ảnh hưởng đến giá trị tài sản thì không chia bằng hiện vật)
Trang 9Quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật của người thừa kế: Khoản 2 Điều 660 BLDS 2015 về phân chia di sản theo pháp luật
Ví dụ: Bản án số 173/2017/DS-PT ngày 22/9/2017 về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng nhà, đất và tài sản Người viết tóm tắt bản án như sau: Vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng nhà và đất giữa nguyên đơn: Trịnh Ái D với bị đơn Thị D và Trịnh Ái H.1
Quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm: Trịnh Ái D yêu cầu được nhận hiện vật là nhà đất là không có căn cứ chấp nhận được bởi lẽ: phần nhà và đất có diện tích là ngang 4,5 mét, dài 13,5 mét, chiều dài còn lại là 12,5m là phần lấn chiếm sông đất tọa lạc tại ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang
là của bà Thị D và ông Trịnh Ích T tạo lập được mà có Khi ông T chết thì theo nguyên tắc 1/2 phần nhà, đất nêu trên là của bà Thị D, còn lại 1/2 phần nhà và đất sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất Vậy nên, bà Thị D, Trịnh Ái D và Trịnh Ái H - thuộc hàng thừa kế thứ nhất - được hưởng mỗi phần ngang nhau trong 1/2 số tài sản nhà và đất còn lại Do đó, việc Trịnh Ái D yêu cầu được chia 1/2 nhà và đất là không có cơ
sở chấp nhận
Quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm: Căn cứ Chứng thư định giá ngày 27/11/2015 của Công ty cổ phần Bất động sản Kiên Giang, trị giá nhà và đất
là 179.359.320 đồng Trong đó, giá trị phần di sản của ông Trịnh Ích T để lại
là 89.679.660 đồng nên phần thừa kế của Trịnh Ái D là 29.893.220 đồng
Do phần thừa kế của Trịnh Ái D trong khối di sản của ông Trịnh Ích T để lại
là rất nhỏ Mặt khác, nhà, đất đang tranh chấp hiện nay bà Thị D và Trịnh Ái
H đang quản lý, sử dụng Ngoài nhà đất này, bà Thị D và Trịnh Ái H không còn nhà đất nào khác Còn về phía Trịnh Ái D hiện nay đang sinh sống ổn định tại căn nhà ở tổ 7, ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang từ năm 2011
1 https://congbobanan.toaan.gov.vn/3ta32178t1cvn/
Trang 10Vì vậy, không có căn cứ để chia cho Trịnh Ái D một phần nhà, đất tranh chấp
Người viết đồng ý với quan điểm của cấp sơ thẩm và phúc thẩm Mặt
dù cả hai cấp xét xử có những căn cứ khác nhau, tuy nhiên cả hai cấp đều chấp nhận chia di sản thừa kế bằng hiện vật cho bà Thị D là hoàn toàn có cơ
sở Trong vụ án trên, bà Thị D có nhu cầu cấp bách về chỗ ở nên chia nhà và đất cho bà Thị D là hợp tình, hợp lý
Chúng ta cũng cần lưu ý về trường hợp khả năng tài chính của người được chia bằng hiện vật khi trả lại giá trị di sản cho người không được chấp nhận chia bằng hiện vật (chia bằng giá trị) Trong vụ án này bà D đã trả lại cho anh D số tiền được chia giá trị, nếu như bà D không có khả năng tài chính thì khả năngg để bán trả lại giá trị cho anh D rất cao Ngoài ra, để không gây khó khăn cho thi hành án, cần phải xem xét về khả năng tài chính của các bên để tiến hành phân chia sao cho phù hợp
Từ những vụ án trên người viết cho rằng, hiện nay không có quy định, tiêu chí cụ thể rõ ràng nào để xác định chia bằng hiện vật hay giá trị cho các đồng thừa kế Do vậy, trong thời gian tới, vấn đề này Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) nên hướng dẫn trong trường hợp nào thì được nhận di sản bằng hiện vật, để thống nhất trong thực tiễn xét xử
Thứ hai, TANDTC nên ban hành văn bản hướng dẫn trong việc xác
định di sản bằng giá trị Hiện nay BLDS năm 2015 không quy định cụ thể phải xác định giá trị di sản như thế nào, dẫn đến thực tiễn xét xử mỗi nơi mỗi khác, tòa án có sự áp dụng không thống nhất pháp luật Có nơi, tòa án xác định giá trị của di sản để chia giá trị bằng cách áp giá trị quyền sử dụng đất bằng với khung giá đất của UBND trên cùng địa bàn; có nơi tòa án lại xác định theo giá thị trường bằng cách định giá trị di sản theo trình tự thủ tục
Trang 11tố tụng dân sự Từ đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các bên
Ví dụ: Bản án 04/2008/DSST ngày 21/02/2008 về tranh chấp di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Vũ và bị đơn ông Nguyễn Hồng Vân
Quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm: Xác định giá trị phần đất 142,3m2 trên có 01 ngôi nhà tầng bằng gạch cốt thép, một nhà trần trị giá 1.465.664.700 đồng là di sản của cụ Phúc và cụ Thịnh Ở đây cấp sơ thẩm xác định giá trị của di sản theo khung giá UBND tỉnh Bắc Ninh quy định
Quan điểm của phiên giám đốc thẩm: Tòa án cho rằng, theo biên bản định giá ngày 06/12/2007, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào khung giá của UBND tỉnh Bắc Ninh quy định và giá cả thị trường thực tế đất là 10.000.000đ/m2, giá trị đất tranh chấp là 142,3m2, là 1.420.300.000 đồng Quá trình giải quyết vụ án các cấp chưa thẩm định hiện trạng đất tranh chấp
mà chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để định giá và phân chia di sản là không chính xác Do đó, khi giải quyết lại vụ án cần xác định lại diện tích đất tranh chấp và tiến hành định giá đất theo giá thị trường Người viết đồng ý với quan điểm của phiên giám đốc thẩm, không đồng ý với quan điểm của hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm Việc Tòa án yêu cầu xác định diện tích đất tranh chấp và tiến hành định giá đất theo giá thị trường là hoàn toàn hợp lý Bởi vì đặc điểm, tính chất của loại tài sản mỗi nơi mỗi khác, cùng địa bàn nhưng nếu vị trí đất nằm mỗi nơi giá cũng khác
Do đó, di sản phải được định theo giá thị trường mới hợp lý Nếu định giá trị đất theo khung giá UBND sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của bên được chia di sản bằng giá trị, mức giá trên không phản ánh đúng giá trị tài sản tranh chấp, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người thừa kế không được chia