ii LỜI GIỚI THIỆU Nhằm cấp cung kiến thức về đánh giá chất lượng thức ăn, vai trò của chất dinh dưỡng trong đời sống động vật, sự tiêu thụ và chuyển hoá các chất dinh dưỡng trong cơ thể
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: CHĂN NUÔI ĐẠI CƯƠNG
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quy ết định Số:…./QĐ-CĐCĐ-ĐT ngày… tháng… năm
2017 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp)
Đồng Tháp, năm 2017
Trang 2i
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 3ii
LỜI GIỚI THIỆU
Nhằm cấp cung kiến thức về đánh giá chất lượng thức ăn, vai trò của chất dinh dưỡng trong đời sống động vật, sự tiêu thụ và chuyển hoá các chất dinh dưỡng trong cơ thể động vật, nhu cầu dinh dưỡng của gia súc gia cầm; từ đó chúng tôi tiến hành biên soạn giáo trình Dinh dưỡng để giúp cho sinh viên ngành chăn nuôi, ngành dịch vụ thú y trình độ Cao Đẳng học tập, tham khảo, làm nền tảng cho các môn học chuyên ngành trong chương trình đào tạo
Giáo trình có 5 chương: Chương 1: Cấu tạo hoá học của cơ thể động vật và của thức ăn; Chương 2: Tiêu hoá và hấp thu; Chương 3: Nước, cacbohydrate, lipid, protein, khoáng và vitamin; Chương 4: Năng lượng sinh học; và Chương 5: Nhu cầu dinh dưỡng Đây là lần đầu xuất bản quyển giáo trình Dinh dưỡng Trong quá trình biên soạn tác giả đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản, hữu ích cho người đọc Trong quá trình thực hiện cũng không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Chúng tôi rất trân trọng sự góp ý kiến của các đọc giả để xuất bản lần sau được hoàn thiện hơn
Đồng Tháp, ngày… tháng năm 2017
Chủ biên Lâm Kim Yến
Trang 4iii
MỤC LỤC
Trang
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN i
LỜI GIỚI THIỆU ii
MỤC LỤC iii
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC vi
CHƯƠNG 1 1
CẤU TẠO HOÁ HỌC CỦA CƠ THỂ ĐỘNG VẬT VÀ CỦA THỨC ĂN 1
1 Cấu tạo hoá học của cơ thể động vật và của thức ăn 1
2 Xác định hàm lượng dưỡng chất của thức ăn 4
3 Thực hành: Phương pháp lấy mẫu thức ăn 6
CHƯƠNG 2 7
TIÊU HOÁ VÀ HẤP THU 7
1 Định nghĩa 7
2 Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở thú độc vị 7
2.1 Tiêu hóa ở miệng 8
a Tiêu hóa cơ học 8
b Tiêu hóa hóa học 9
2.2 Tiêu hóa ở dạ dày 10
a Tiêu hóa cơ học 10
b Tiêu hóa hóa học 10
2.3 Tiêu hóa ở ruột non 11
a Tiêu hóa cơ học 11
b Tiêu hóa hóa học 11
c Quá trình hấp thu 15
3 Sự tiêu hoá và hấp thu ở thú nhai 15
3.1 Tiêu hoá và hấp thu ở miệng 16
3.2 Tiêu hoá và hấp thu ở dạ cỏ 17
3.3 Tiêu hoá và hấp thu ở dạ tổ ong 24
3.4 Tiêu hoá và hấp thu ở dạ lá sách 25
Trang 5iv
3.5 Tiêu hoá và hấp thu ở dạ múi khế: 25
3.6 Tiêu hoá và hấp thu ở ruột 25
CHƯƠNG 3 27
NƯỚC, CACBOHYDRATE, LIPID, PROTEIN, KHOÁNG VÀ VITAMIN27 1 Nước 27
1 1 Tính chất và chức năng của nước 27
1 2 Nguồn nước cung cấp và nước bài thải 29
1.3 Ảnh hưởng của sự thiếu nước và nhu cầu nước 33
2 Cacbohydrate 36
2.1 Phân phoại cacbohydrate 36
2.2 Cacbohydrate của thức ăn 37
3 Lipid 40
3.1 Chức năng của chất béo 40
3.2 Tác dụng của chất béo trong khẩu phần 42
4 Protein 44
4 1 Phân loại protein trong thức ăn gia súc 44
4.2 Acid amin 45
4.3 Sử dụng Acid amin và đạm phi protein 46
5 Khoáng 49
5.1 Chức năng của chất khoáng 49
5.2 Khoáng vi lượng thiết yếu và khoáng đa lượng 50
6 Vitamin 53
6.1 Khái niệm 53
6.2 Vai trò của Vitamin trong cơ thể động vật 54
7 Thực hành: Xác định hàm lượng dưỡng chất của thức ăn 57
CHƯƠNG 4 58
NĂNG LƯỢNG SINH HỌC 58
1 Đại cương 58
2 Năng lượng thô 59
3 Năng lượng tiêu hoá 60
Trang 6v
4 Năng lượng trao đổi 61
5 Năng lượng nhiệt gia tăng 62
6 Năng lượng thuần 63
2.Tính được nhu cầu năng lượng của gia súc, gia cầm CHƯƠNG 5 63
NHU CẦU DINH DƯỠNG 64
1 Giới thiệu 64
2 Các phương pháp xác định nhu cầu dinh dưỡng 65
3 Nhu cầu duy trì 68
4 Nhu cầu tăng trưởng 68
5 Nhu cầu sinh sản 69
6 Nhu cầu sản xuất sữa, thịt, trứng 70
7 Thực hành: Xác định nhu cầu dinh dưỡng của gia súc, gia cầm 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7vi
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên m ôn học: CHĂN NUÔI ĐẠI CƯƠNG
Mã môn học: MH10
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí: là môn học cơ sở trong chương trình đào tạo trình độ Cao đẳng Dịch
vụ thú y, được bố trí giảng dạy trước các môn học chuyên môn trong chương trình đào tạo
- Tính chất: Môn dinh dưỡng là môn học cơ sở tự chọn trong ngành Dịch vụ thú y
-Ý nghĩa và vai trò của môn học: Kiến thức của môn Dinh dưỡng giúp sinh viên ứng dụng tốt trong thực tế sản xuất, chăn nuôi; ngoài ra chúng còn góp phần hỗ trợ, phát triển việc tiếp thu các kiến thức chuyên ngành khác như Thức
ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc nhai lại, chăn nuôi heo, chăn nuôi gia cầm
Có khái niệm về quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng; Giải thích được quá trình tiêu hóa và hấp thu protein, béo ở gia súc nhai lại, gia súc độc vị
Hiểu được kiến thức cơ bản về vai trò, nguồn gốc của các chất dinh dưỡng Hiểu rõ về các nguồn năng lượng trong cơ thể động vật
Hiểu rõ về nhu cầu về các chất dinh dưỡng của vật nuôi
- Về kỹ năng:
Trình bày, phân tích được thành phần hóa học của thức ăn;
Giải thích được quá trình tiêu hóa và hấp thu protein, chất béo ở gia súc nhai lại, gia súc độc vị
Phân biệt được các loại chất dinh dưỡng cần thiết cho vật nuôi; Vận hành được các trang thiết bị trong quá trình phân tích dinh dưỡng
Tính được nhu cầu năng lượng của gia súc, gia cầm
Trang 8vii
Tính toán được nhu cầu dinh dưỡng của gia súc, gia cầm
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tự tin, có trách nhiệm với công việc,
có khả năng tự học
Nội dung môn học:
1 Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian:
Thực hành, thí nghiệm, thảo luận, bài tập
Kiểm tra
1 Chương 1: Cấu tạo hoá học của cơ
2 Chương 2: Tiêu hoá và hấp thu 4 4
3 Chương 3: Nước, Cacbohydrate,
Lipid, Protein, khoáng và Vitamin 16 4 12
5 Chương 5: Nhu cầu dinh dưỡng 10 2 8
Trang 91
CHƯƠNG 1 CẤU TẠO HOÁ HỌC CỦA CƠ THỂ ĐỘNG VẬT VÀ CỦA THỨC ĂN
MH 32- 01 Giới thiệu: Nội dung Chương 1 cung cấp kiến thức cơ bản về cấu tạo hóa
học của cơ thể động vật và thức ăn; phương pháp phân tích các thành phần hoá học của thức ăn
Mục tiêu:
-Kiến thức: Hiểu rõ những kiến thức cơ bản về cấu tạo hóa học của cơ thể động vật và thức ăn để có cơ sở cung cấp các chất dinh dưỡng đúng với nhu cầu của vật nuôi
-Kỹ năng: Trình bày, phân tích được thành phần hóa học của thức ăn;
-Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tự tin, có trách nhiệm với công việc, có khả năng tự học
1 Cấu tạo hoá học của cơ thể động vật và của thức ăn
Thức ăn chiếm 65-70% chi phí cho sản phẩm chăn nuôi và là chìa khóa về lợi ích kinh tế của ngành (Lã Văn Kính, 2003) Sử dụng thức ăn hiệu quả là nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm và tăng tính cạnh tranh của ngành chăn nuôi trên thị trường trong nước và thế giới Để đạt được mục đích này, điều quan trọng nhất là hiểu biết và đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn
và các yếu tố ảnh hưởng cũng như nhu cầu vật nuôi về các chất dinh dưỡng mà thức ăn cung cấp
Các nhu cầu của vật nuôi bao gồm: nhu cầu cho duy trì, nhu cầu tăng trưởng, nhu cầu sản xuất thịt, trứng, sữa… Do đó, để đáp ứng nhu cầu trên thì thức ăn phải có đầy đủ những chất dinh dưỡng Chất dinh dưỡng có trong thức
ăn là thành phần chính để trực tiếp tạo nên sản phẩm và ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm vật nuôi Chất dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi vì ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất vật nuôi và chi phí cho sản xuất, vì vậy ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
- Một số định nghĩa:
Thức ăn là gì? Thức ăn là sản phẩm của động vật, thực vật, vi sinh vật những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cho con vật, những chất dinh dưỡng này phải phù hợp với đặc tính sinh lý và cấu tạo của bộ máy tiêu hoá để con vật có thể ăn được, tiêu hoá, hấp thu được giúp con vật sống bình thường trong một thời gian dài
Trang 102
Ví dụ: Sản phẩm thực vật: Cám, tấm là thức ăn cho heo,gà, vịt; Cỏ voi là thức ăn cho trâu, bò Sản phẩm động vật: bột thịt, bột cá, bột huyết…; khoáng vật như: Canxi, Phospho, Đồng, Sắt…
Chất dinh dưỡng là gì? là các nguyên tố hay hợp chất hóa học có trong khẩu phần làm thỏa mãn sự sinh sản, sinh trưởng, tiết sữa hay duy trì quá trình sống bình thường của vật nuôi Sáu nhóm chất dinh dưỡng đã được phân loại như sau: nước, protein và acid amin, carbohydrate,lipit, vitamin, và các nguyên tố khoáng Năng lượng mà tất cả gia súc đều cần được lấy từ mỡ, carbohydrate và
từ các sản phẩm khử amin của các amino axit Các chất dinh dưỡng cung cấp cho tế bào: nước, các vật liệu, các hợp chất cấu trúc (da, cơ, xương, thần kinh, mỡ) và chất điều chỉnh quá trình trao đổi chất trong cơ thể
Gia súc cần hơn 40 chất dinh dưỡng khác nhau và được lấy từ khẩu phần thức ăn và có những chất bản thân cơ thể không tổng hợp được gọi là ”chất dinh dưỡng thiết yếu”, và một số chất bản thân có thể tổng hợp được gọi là “chất dinh dưỡng không thiết yếu”
Chất dinh dưỡng trong thức ăn mà vật nuôi cần:
1) Sáu chất dinh dưỡng cơ bản:
Trang 113
f) Vitamin
- Các chất hữu cơ cần cho các mô động vật với số lượng rất nhỏ Là nhóm các chất cần thiết trong chế độ ăn cuối cùng được công nhận
Các chất dinh dưỡng mà gia súc, cây trồng và con người yêu cầu
Gia súc và thực vật đều chứa các nhóm hợp chất hóa học tương tự nhau:
Các chất dinh dưỡng
Con người
Gia súc
Cây trồng
Trang 124
2 Xác định hàm lượng dưỡng chất của thức ăn
Bảng 1.1: Thành phần hoá học một số thực vật và sản phẩm động vật
(Nguồn: suc/ )
https://caytrongvatnuoi.com/thuc-an-cho-vat-nuoi/thuc-an-giau-nang-luong-cho-gia Hàm lượng nước trong cơ thể gia súc rất khác nhau tùy theo theo tuổi Gia súc non chứa 750-800 g nước/kg thể trọng, nhưng ở gia súc trưởng thành thì giá trị này còn 500 g Hàm lượng nước trong cơ thể luôn luôn ổn định và gia súc sẽ chết nhanh khi thiếu nước hơn là thiếu thức ăn Nước giữ chức năng vô cùng quan trọng là dung môi để hòa tan các chất dinh dưỡng đến nuôi mô cơ, và chuyển chất thải từ mô cơ đến các cơ quan bài tiết Nước còn giúp cơ thể điều nhiệt độ nhiệt riêng của nước cao Ngoài ra, nước cũng bị bốc hơi khỏi cơ thể
Trang 135
qua phổi và qua da, chính vì vậy nó cũng góp thêm chức năng điều hòa nhiệt độ
cơ thể
Hàm lượng nước (độ ẩm) là tỷ lệ nước có trong thức ăn, được xác định bởi
tỷ số giữa lượng nước có trong mẫu thức ăn và khối lượng mẫu Lượng nước có trong mẫu được xác định thông qua phương pháp sấy ở 1050C đến khi có khối lượng không đổi Tỷ lệ nước (%) = khối lượng nước có trong thức ăn/khối lượng thức ăn x 100
- Vật chất khô (VCK) được chia thành hai nhóm: chất hữu cơ và chất vô cơ, tuy nhiên đối với một cơ thể sống khó để tách biệt hai nhóm này Rất nhiều chất hữu cơ có chứa các chất vô cơ như là một thành phần cấu tạo của chúng Ví dụ, protein chứa lưu huỳnh, lipit và carbohydrate chứa phospho
Hàm lượng chất khô được xác định thông qua hàm lượng nước, bằng cách tính đơn giản (vật chất khô, % = 100% – % nước)
Tỷ lệ vật chất khô (DM, %) = (khối lượng thức ăn – khối lượng nước)/khối lượng thức ăn x 100
- Hàm lượng mỡ cơ thể gia súc cũng rất khác nhau và liên quan tới tuổi: gia súc già chứa nhiều mỡ hơn gia súc non Hàm lượng lipit trong thực vật rất thấp,
ví dụ trong cỏ 40-50 g/kg VCK
Chất chiết hữu cơ (EE) hay còn gọi là lipit thô (chất béo thô) được xác định bằng cách chiết suất mẫu thức ăn trong dung môi hữu cơ, thường là ethyl ether hay petroleum ether trong thời gian nhất định trong dụng cụ chiết suất Soxhlet
Tỷ lệ mỡ thô (EE, %) = khối lượng mỡ thô /khối lượng thức ăn x 100
- Hàm lượng protein: Ở cả động và thực vật, protein là chất chứa nitơ chủ yếu và lượng nitơ chiếm 16% trong protein Ở thực vật, hầu hết protein có ở các enzyme (trừ các loại hạt cây bộ đậu) và hàm lượng protein cao ở cây còn non và giảm dần theo tuổi Ở động vật thì cơ, da, lông, móngvà lông len chứa chủ yếu protein Giống như protein, các axit nucleic là những hợp chất chứa nitơ và đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein trong cơ thể sống Chúng mang thông tin di truyền của tế bào Các axit hữu cơ có trong tế bào thực và động vật chủ yếu gồm: axit citric, malic, succinic và pyruvic Mặc dù các axit này có mặt với lượng nhỏ nhưng chúng luôn luôn đóng vai trò quan trọng như là chất trung gian trong quá trình trao đổi chất của tế bào Ngoài ra, quá trình lên men ở dạ cỏ, manh tràng (ngựa) và ruột già hoặc trong thức ăn ủ chua hình thành một số axit hữu cơ khác như: axit acetic, propionic, butyric, và lactic
Lượng nitơ này được xác định bởi phương pháp Kjeldahl
Tỷ lệ protein (CP, %) = khối lượng protein /khối lượng thức ăn x 100
Trang 146
- Các vitamin có trong thực và động vật với một lượng cực kỳ nhỏ nhưng rất nhiều vitamin là thành phần quan trọng của hệ thống enzyme Sự khác nhau giữa động và thực vật ở chỗ, thực vật có khả năng tổng hợp vitamin cần cho quá trình trao đổi chất nhưng động vật thì không hoặc rất hạn chế, chúng cần lấy vitamin
từ thức ăn
- Các chất vô cơ trong thực và động vật gồm hai nhóm chính – phân theo hàm lượng có trong thức ăn: khoáng đa lượng (canxi, phốt pho, kali, natri, clo ) và vi lượng sắt, đồng, mangan, coban…
Hàm lượng khoáng tổng số hay còn gọi là tro là tỷ lệ khoáng có trong thức
ăn, được xác định bởi lượng còn lại sau khi khoáng hóa mẫu thức ăn ở 5500C đến khi loại hết chất hữu cơ
Tỷ lệ khoáng (Ash, %) = khối lượng khoáng tổng số / khối lượng thức ăn x
Tỷ lệ xơ thô (CF, %) = khối lượng xơ thô/ khối lượng thức ăn x100
3 Thực hành: Phương pháp lấy mẫu thức ăn
Câu hỏi ôn tập
1 Mối liên quan giữa cấu tạo hóa học của cơ thể động vật và của thức ăn
2 Phương pháp lấy mẫu thức ăn?
3 Trình bày phương pháp xác định hàm lượng các chất dinh dưỡng trong
thức ăn?
Trang 157
CHƯƠNG 2 TIÊU HOÁ VÀ HẤP THU
MH 32-02
Giới thiệu: Nội dung Chương 2 giới thiệu về quá trình tiêu hóa và hấp thu
các chất dinh dưỡng; giải thích được quá trình tiêu hóa và hấp thu ở vật nuôi
Mục tiêu:
-Kiến thức: Có khái niệm về quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng; Giải thích được quá trình tiêu hóa và hấp thu protein, béo ở gia súc nhai lại, gia súc độc vị
-Kỹ năng: Giải thích được quá trình tiêu hóa và hấp thu protein, béo ở gia súc nhai lại, gia súc độc vị
-Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tự tin, có trách nhiệm với công việc, có khả năng tự học
1 Định nghĩa
Tiêu hoá là gì?
Tiêu hóa là sự phân hủy phân tử thức ăn không hòa tan lớn thành phân tử thức ăn tan trong nước nhỏ để có thể được hấp thu vào huyết tương Trong cơ quan nhất định, các chất nhỏ được hấp thu qua ruột non vào hệ tuần hoàn Tiêu hóa là một hình thức trao đổi chất, thường được chia thành ba quá trình: tiêu hóa
cơ học, tiêu hóa hóa học và tiêu hoá vi sinh vật Giai đoạn tiêu hóa cơ học đề cập đến sự phá vỡ vật lý phần lớn thức ăn thành miếng nhỏ mà sau đó có thể được enzyme tiêu hóa phân giải Trong quá trình tiêu hóa hóa học, enzym phá
vỡ thức ăn thành các phân tử nhỏ mà cơ thể có thể hấp thu; Quá trình tiêu hoá vi sinh vật nhờ vào hệ si sinh vật (chủ yếu xảy ra ở dạ cỏ của bò)
Hấp thu là gì?
Các phân tử thức ăn đã tiêu hóa được hấp thu ở ruột non Điều này có nghĩa
là chúng đi qua thành ruột non và vào máu Khi đó, các phân tử thức ăn đã được tiêu hóa sẽ được đưa đi khắp cơ thể đến nơi cần thiết Chỉ những chất hòa tan, nhỏ mới có thể đi qua thành ruột non Các chất không tan có kích thước lớn không thể đi qua
2 Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở thú độc vị
Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở heo
Trang 168
Hình 2.1: Hệ tiêu hoá ở Heo
Tiêu hoá ở miệng
Heo mới sinh những ngày đầu hoạt tính amilaza nước bọt cao Tách mẹ sớm, hoạt tính amilaza nước bọt cao nhất ở ngày thứ 14, còn heo con do mẹ nuôi phải đến ngày thứ 21 Nước bọt ở tuyến mang tai chứa 0,6 – 2,26% vật chất khô Khả năng tiêu hoá 16 – 500 đơn vị vongemut, pH = 7,6 – 8,1 Tuỳ lượng thức
ăn, lượng nước bọt tiết khác nhau Thức ăn có phản ứng axit yếu và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng thì giảm hoặc ngừng tiết dịch Vì vậy, cần lưu ý không cho heo con ăn thức ăn lỏng
Lượng nước bọt thay đổi tùy theo số lần cho ăn, chất lượng thức ăn Ăn chỉ một loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ cho một tuyến, gây ức chế, heo ít thèm ăn Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, ăn đổi bữa thì cả hai tuyến hoạt động, không gây ức chế, heo con sẽ thèm ăn, tiết nước bọt liên tục, giúp tiêu hóa tốt thức ăn
2.1 Tiêu hóa ở miệng
Tiêu hóa là quá trình xảy ra trên khắp các đoạn của ống tiêu hóa nhằm lấy thức ăn, biến đổi, phân giải thức ăn thành các chất đơn giản dễ hấp thu
a Tiêu hóa cơ học
Bao gồm lấy thức ăn, nhai, nuốt
- Cách lấy thức ăn, nước uống: tùy từng loài gia súc mà có cách lấy thức ăn
và nước uống khác nhau
+ Heo dùng mõm cứng (hàm trên) cày ũi đất tìm kiếm thức ăn, dùng hàm dưới, lưỡi đưa thức ăn vào miệng
- Nhai:
+ Ở heo: nhai là sự vận động lên xuống của hàm dưới, còn hàm trên đưa qua lại sang phải và sang trái
Trang 179
- Nuốt: thức ăn sau khi nghiền nát và trộn với nước bọt được nuốt thẳng xuống thực quản, rồi vào dạ dày Nuốt là một phản xạ phức tạp có sự phối hợp của 3 bộ phận: màng khẩu cái, cơ yết hầu, sụn tiểu thiệt của thanh quản Đầu tiên thức ăn sau khi nhai lại được lưỡi nâng lên áp sát vòm khẩu cái và mặt trên gốc lưỡi Khi nuốt màng khẩu cái uốn cong lên trên, về phía sau để đóng kín đường lên mũi và ngừng thở Sụn tiểu thiệt uốn cong về phía sau đóng kín đường thanh quản và không cho thức ăn rơi xuống Cơ yết hầu co rút đẩy thức
ăn rơi xuống thực quản Động tác nuốt là hoạt động theo ý muốn đưa thức ăn từ miệng đến yết hầu Khi thức ăn đến yết hầu để xuống thực quản lại là hoạt động không theo ý muốn và là phản xạ có điều kiện
b Tiêu hóa hóa học
- Đặc điểm tuyến nước bọt: Lượng tiết: Nước bọt tiết nhiều nhất khi heo ăn, ngoài bữa ăn lượng tiết ít hơn Số lượng và tính chất nước bọt: phụ thuộc và số lượng và thành phần, tính chất của thức ăn Ví dụ: ăn thức ăn khô nước bọt tiết
ra nhiều hơn Heo một ngày đêm tiết ra 15 lít
- Vai trò của nước bọt: Tính chất, thành phần hóa học:
- Nước bọt là dịch trong, không màu, tỷ trọng bằng 1,002 – 1,009, có độ pH khác nhau tùy từng loại gia súc Ví dụ: ở heo pH = 7,32; chó, ngựa pH = 7,36 Nước bọt trâu, bò có tính kiềm mạnh hơn pH = 8,1 Nước bọt chứa 99% là nước, chỉ có 1% là chất khô gồm: chất nhầy muxin, men phân giải tinh bột như amilaza, maltaza; một số chất vô cơ như muối clorua, sulphat, cacbonat của Na,
K, Mg, Ca Tác dụng của nước bọt: Tẩm ướt làm mềm thức ăn, dễ nuốt Làm trơn và bảo vệ xoang miệng Phân giải tinh bột chín thành đường mantose, từ đường mantose thành glucose
Trang 1810
2.2 Tiêu hóa ở dạ dày
a Tiêu hóa cơ học
Dạ dày là nơi chứa thức ăn, cũng là nơi biến đổi thức ăn về mặt cơ học và hóa học
Tiêu hóa cơ học: thức ăn khi xuống dạ dày sẽ được nghiền nát, nhào trộn và thấm đều vào dịch vị do sự co bóp của các cơ dạ dày và tiết dịch vị của các tuyến Sau đó nó được đưa xuống tá tràng từng đợt do sự đóng mở của van hạ vị (lớp cơ vòng bao quanh lỗ hạ vị) Van này đóng mở có điều kiện chủ yếu do sự thay đổi độ pH môi trường xung quanh lỗ hạ vị Cụ thể như sau: Khi thức ăn xuống dạ dày kích thích niêm mạc tiết dịch Vài giọt axit HCl (do khu hạ vị tiết ra) qua lỗ hạ vị xuống tá tràng làm độ pH ở đây giảm đi kích thích làm đóng van
hạ vị Sau đó do dịch ruột, dịch tụy, dịch mật đổ vào tá tràng, trung hòa lượng axit vừa rơi xuống và làm tăng pH Nhờ đó van hạ vị lại được mở ra Lúc đó dạ dày co bóp đẩy thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng
- Khi thức ăn xuống đến tá tràng có kèm theo một lượng axit nhất định gây giảm độ pH lại kích thích làm đóng van hạ vị Cứ như vậy quá trình diễn ra tuần
tự và liên tục cho đến khi thức ăn được chuyển hết từ dạ dày xuống tá tràng
b Tiêu hóa hóa học
Bản chất tiêu hóa hóa học ở dạ dày là sự tác động của các chất hóa học trong dịch vị, do các tuyến của dạ dày tiết ra với các chất từ dạng phức tạp trong thức
ăn nhằm biến đổi chúng thành chất đơn giản hơn, đưa xuống ruột để cơ thể có thể hấp thụ được
- Thành phần, tính chất lý – hóa học của dịch vị: Dịch vị là chất lỏng trong suốt, có tính axit (ở bò pH = 2,17; ở chó pH = 1,5 – 2,0; heo pH = 2,5 – 3,0) Trong dịch vị có 99,5% là nước, 0,5% là vật chất khô gồm: axit hidrocloric (HCl) dưới dạng HCl; chất khoáng NaCl, CaCl2, Ca3(PO4)2; các enzyme (men)
pepxinogen, pepxin, lipaza, chất nhày muxin
- Tác dụng của HCl: Axit HCl do tuyến hạ vị tiết ra có các chức năng sau: Hoạt hóa enzyme pepxinogen thành pepxin Giúp đóng mở van hạ vị Giúp bài tiết dịch tụy, dịch ruột Diệt vi khuẩn có lẫn trong thức ăn
- Tác dụng của các enzyme: Trong dịch vị men pepxin đầu tiên dưới dạng pepxinogen, dưới tác dụng hoạt hóa của H+ Cl- biến thành pepxin Pepxin phân giải protein thành các polypeptit
Trang 19để men pepxin tác dụng phân giải
+ Cơ chế điều hòa tiết dịch vị: Dịch vị được tiết ra do thần kinh điều khiển dưới dạng các cung phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện Phản xạ không điều kiện: khi thức ăn xuống dạ dày chạm vào lớp niêm mạc sẽ kích thích các tuyến của niêm mạc tiết dịch Phản xạ có điều kiện: đây là sự tiết dịch xảy ra khi chưa có thức ăn tác động vào niêm mạc dạ dày Cụ thể là khi ngửi thấy mùi thức ăn, nhìn thấy thức ăn hoặc tiếng va đập của dụng cụ cho ăn thì dịch vị tiết
ra Trong trường hợp này, dịch vị tiết ra sẽ chứa một lượng enzym tiêu hóa nhiều hơn Trong chăn nuôi gia súc tập trung người ta đặc biệt chú ý thành lập loại phản xạ này để làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu của vật nuôi Kết quả tiêu hóa ở dạ dày đơn: Sau khi chịu tác động cơ học, hóa học, thức ăn trong dạ dày được biến thành chất lỏng gọi là nhũ trấp Nhũ trấp có chứa: Nước, khoáng, vitamin Gluxit: gồm mantose và các gluxit chưa tiêu hóa Lipit: gồm một ít glyxerin, axit béo và lipit chưa tiêu hóa Protein: gồm polypeptit và protein chưa tiêu hóa Như vậy, thức ăn ở dạ dày chưa được tiêu hóa hoàn toàn (vì chưa bị phân giải triệt để) Nó được chuyển xuống ruột non để tiếp tục bị phân giải và hấp thụ
2.3 Tiêu hóa ở ruột non
a Tiêu hóa cơ học
Vách ruột non được cấu tạo bởi cơ vòng trong, cơ dọc ở ngoài Sự co rút của hai lớp này tạo điều kiện vận động hình sin gọi là nhu động giống như sóng lan truyền trên mặt nước Nhu động làm thức ăn nhỏ ra, trộn đều với dịch ruột, dịch tụy, dịch mật và đi dần suốt chiều dài của ruột từ trước ra sau
b Tiêu hóa hóa học
Thức ăn (chưa được tiêu hóa hoàn toàn ở dạ dày) xuống ruột non dưới tác động của các enzyme chứa trong dịch mật, dịch tụy, dịch ruột sẽ bị phân giải hoàn toàn thành các chất đơn giản nhất để hấp thu qua biểu mô niêm mạc ruột, vào máu đi nuôi cơ thể
* Dịch mật
Trang 2012
+ Thành phần cấu tạo của dịch mật: Mật do tế bào gan sinh ra liên tục được tích trữ trong túi mật, theo ống dẫn mật đổ vào tá tràng 10 – 15 phút trước khi
ăn Ở ngựa, chuột, lạc đà, bồ câu không có túi mật thì theo ống dẫn đổ thẳng vào
tá tràng Dịch mật hơi nhớt, vị đắng, màu vàng sẫm ở gia súc ăn cỏ, vàng xanh ở gia súc ăn thịt do sắc tố mật tạo nên Dịch mật có độ pH = 7,5; chứa 90% nước, 10% chất khô quan trọng (muối mật, axit mật)
+ Tác dụng: mật tuy không chứa enzyme tiêu hóa song có vai trò quan trọng vì: Kích thích ruột nhu động Trung hòa axit trong thức ăn từ dạ dày xuống Cắt
mỡ thành các hạt nhỏ (nhũ tương hóa mỡ) để men lipaza tác động có hiệu quả Làm tăng tác dụng của các enzyme tiêu hóa lipaza, amilaza, proteaza Axit mật
có khả năng hấp thu trên bề mặt những hạt mỡ nhỏ Khi cơ thể hấp thụ axit mật thì hấp thụ luôn các hạt mỡ đó Axit mật + axit béo tạo phức chất tan giúp cho việc hấp thụ axit béo ở ruột được dễ dàng Mật giúp hấp thu vitamin hòa tan trong dầu
+ Lượng mật tiết ra trong một ngày đêm ở gia súc như sau: Ngựa: 6,0 – 7,8 lít; bò: 7,0 – 9,5 lít; dê, cừu: 1 – 1,5 lít; heo: 2,4 – 3,8 lít
* Dịch tụy
- Thành phần, tính chất và tác dụng của dịch tụy:
+ Dịch tụy là chất lỏng, trong suốt không màu tỉ trọng: 1,008 – 1,010 độ pH
có tính kiềm nhẹ Ngựa pH = 7,3 – 7,58; bò pH = 8, do có muối NaHCO3 Dịch tụy có chứa 90% nước, 10% chất khô gồm các muối vô cơ: NaCl, CaCl2, Na2HPO4 trong đó NaHCO3 chiếm nhiều nhất Chất hữu cơ: các enzyme như tripxin, chymotripxin, saccaroza, lipaza
- Tác dụng của các enzyme dịch tụy:
Men tripxin được tiết dưới dạng tripxinogen, dưới tác dụng hoạt hóa của enzyme enterokinaza do dịch ruột tiết ra thành tripxin hoạt động, phân giải protein thành polypeptit cuối cùng thành aminoaxit Đây là enzyme rất mạnh và chủ yếu của dịch tụy để phân giải protein Enzyme chymotripxin: có tác dụng như tripxin nhưng yếu hơn Lúc đầu ở dạng chymotripxinogen không hoạt động, nhờ tripxin hoạt hóa thành chymotripxin hoạt động
Trang 2113
+ Enzym polypeptidaza phân giải polypeptit thành các amino axit
Polypeptidaza
Polypeptit amino axit
+ Enzym tiêu hóa gluxit: Các enzyme phân giải tinh bột, đường thành đường đơn theo sơ đồ sau:
Saccarose Glucose + Fructose
+ Enzym tiêu hóa lipit: lipaza
Lipaza, H2O
Lipit Glixerin + axit béo
Các enzyme phân giải đường, tinh bột và lipit của dịch tụy mạnh hơn nhiều lần so với các enzyme này có trong nước bọt và dịch dạ dày
* Dịch ruột
- Thành phần, tính chất và tác dụng của dịch ruột Dịch ruột do hai loại tuyến ở niêm mạc ruột tiết ra đó là tuyến tá tràng, chỉ có ở niêm mạc tá tràng và tuyến ruột phân bố ở niêm mạc toàn bộ ruột non Dịch ruột là chất lỏng nhớt, không màu, pH = 8,2 – 8,7 Trong dịch ruột chứa 99% là nước, 1% là chất khô gồm có: muối vô cơ, các cholesterol và protein của dịch ruột chủ yếu là các enzyme Hỗn hợp dịch ruột với thức ăn tạo thành một huyễn dịch gọi là dưỡng chất Lượng này khác nhau tùy thuộc vào ruột non của gia súc Nếu tính lượng dưỡng chất theo 1 kg chất khô của thức ăn thì tương đương nhau: Ở ngựa: 14,7 lít; Bò: 14,5 lít; Cừu: 14 lít; Heo: 15 lít
- Tác dụng tiêu hóa của các enzym dịch ruột:
+ Các enzyme tiêu hóa protein và axit nucleic Gồm các enzym sau: erepxin, aminopetidaza, dipeptidaza, enterokinaza, nucleaza, nucleotidaza Các enzyme này phân giải các chất theo các sơ đồ phản ứng sau:
Trang 22Lipit Glyxerin + Axit béo
+ Enzyme tiêu hóa gluxit (tinh bột và đường) Gồm các enzyme giống như trong dịch tụy: amilaza, mantaza, lactaza, saccaraza…
- Chất nhầy muxin: chất này ở dạ dày do tuyến thượng vị, ở ruột do tế bào hình đài của biểu mô ruột tiết ra và được bao phủ hoàn toàn bề mặt niêm mạc dạ dày và ruột để bảo vệ, chống lại tác dụng phân giải của HCl trong dạ dày và các men tiêu hóa protein
- Kết quả tiêu hóa ở ruột non Thức ăn trong ruột non hầu như được tiêu hóa hoàn toàn biến thành những chất đơn giản nhất Những chất này tạo thành một huyễn dịch gọi là dưỡng chất chứa các đường đơn như glucose, galactose, các amino axit (sản phẩm phân giải protein), glyxerin và axit béo (sản phẩm phân giải lipit), nước, một số muối khoáng và vitamin… sẵn sàng được hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu để đi nuôi cơ thể
Trang 23- Ruột già: ruột già hấp thu được nước, muối khoáng, glucose
* Đường vận chuyển chất dinh dưỡng
- Tĩnh mạch giữa lông nhung hấp thu và vận chuyển nước, khoáng, vitamin tan trong nước, đường đơn, amino axit, 30% axit béo và glyxerin
- Ống bạch huyết giữa lông nhung hấp thu vitamin tan trong dầu, 70% axit béo và glyxerin
- Các tĩnh mạch giữa lông nhung thu chất dinh dưỡng tập trung lại thành các tĩnh mạch ruột, ở dạ dày thành tĩnh mạch dạ dày, các tĩnh mạch này đổ vào tĩnh mạch cửa vào gan để được lọc sạch, khử độc, tiêu diệt vi khuẩn rồi đổ vào tĩnh mạch chủ sau về tim đi nuôi cơ thể Đường bạch huyết cuối cùng đổ về tim
* Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa, hấp thu
Quá trình tiêu hóa, hấp thu ở gia súc chịu ảnh hưởng các yếu tố sau:
- Tình trạng sức khỏe của con vật: vật khỏe mạnh, không có tổn thương bệnh lý đường tiêu hóa sẽ tiêu hóa, hấp thu tốt
- Chất lượng thức ăn và kỹ thuật chế biến tốt
- Thành lập các phản xạ có điều kiện khi cho ăn sẽ tăng tính thèm ăn, kích thích tiết dịch
Ví dụ: đánh kẻng khi ăn, ăn tinh trước, thô sau Kết hợp cho ăn và uống nước đầy đủ Ăn đúng giờ, đúng bữa, có thời gian nghỉ ngơi hợp lý
(Nguồn:http://caodangthanglong.edu.vn/wp-content/uploads/2017/05/M%C4%90-1-Gi%E1%BA%A3i-ph%E1%BA%ABu-sinh-l%C3%BD-l%E1%BB%A3n-.pdf )
3 Sự tiêu hoá và hấp thu ở thú nhai
Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở trâu, bò
Trang 2416
Hình 2.2: Hệ tiêu hoá ở Bò
(Nguồn:https://www.quangvanhai.net/2017/11/qua-trinh-tieu-hoa-o-dong-vat-an-thuc-vat-nhai-lai.html)
3.1 Tiêu hoá và hấp thu ở miệng
Cách lấy thức ăn, nước uống: tùy từng loài gia súc mà có cách lấy thức ăn
và nước uống khác nhau
+ Dê, cừu: lấy thức ăn giống ngựa và môi trên có khe hở giúp gặm được cỏ ngắn hơn
+ Trâu bò: lưỡi cứng, nhám dùng để vơ cỏ, rơm đưa vào miệng, sau đó ngậm miệng cắt đứt cỏ
+ Ở trâu bò: nhai là đưa hàm dưới gặp hàm trên và sang hai bên để nghiền nát thức ăn Khi thức ăn được tẩm nước bọt đã mềm, động tác nuốt đưa thức ăn xuống dạ cỏ Nước bọt ở trâu bò được phân tiết và nuốt xuống dạ cỏ tương đối liên tục, một ngày đêm tiết ra khoảng 60 lít Nước bọt có kiềm tính (tính kiềm mạnh hơn pH = 8.1) nên có tác dụng trung hoà các sản phẩm axit sinh ra trong
dạ cỏ Nó còn có tác dụng quan trọng trong việc thấm ướt thức ăn, giúp cho quá trình nuốt và nhai lại được dễ dàng Nước bọt còn cung cấp cho môi trường dạ
cỏ các chất điện giải như Na+, K+, Ca++, Mg++ Đặc biệt trong nước bọt còn có urê và phospho, có tác dụng điều hoà dinh dưỡng N và P cho nhu cầu của VSV
dạ cỏ, đặc biệt là khi các nguyên tố này bị thiếu trong khẩu phần
Sự phân tiết nước bọt chịu tác động bởi bản chất vật lý của thức ăn, hàm lượng vật chất khô trong khẩu phần, dung tích đường tiêu hoá và trạng thái tâm-sinh
lý Trâu bò ăn nhiều thức ăn xơ thô sẽ phân tiết nhiều nước bọt Ngược lại, trâu
bò ăn nhiều thức ăn tinh, thức ăn nghiền quá nhỏ sẽ giảm tiết nước bọt nên tác dụng đệm đối với dịch dạ cỏ sẽ kém và kết quả là tiêu hoá thức ăn xơ sẽ giảm xuống
Trang 2517
3.2 Tiêu hoá và hấp thu ở dạ cỏ
Hình 2.3: Cấu tạo dạ dày kép của gia súc nhai lại (De Laval, 2002)
Đường tiêu hoá của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi, trong đó ba túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung là là dạ dày trước, không có tuyến tiêu hoá riêng Túi thứ 4, gọi là dạ múi khế, tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hoá phát triển mạnh Đối với gia súc non bú sữa dạ cỏ và dạ tổ ong kém phát triển, còn sữa sau khi xuống qua thực quản được dẫn trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế qua rãnh thực quản Rãnh thực quản gồm có đáy và hai mép Hai mép này khi khép lại sẽ tạo ra một cái ống để dẫn thức ăn lỏng Khi bê bắt đầu ăn thức ăn cứng thì
dạ cỏ và dạ tổ ong phát triển nhanh và đến khi trưởng thành thì chiếm đến khoảng 85% tổng dung tích dạ dày nói chung Trong điều kiện bình thường ở gia súc trưởng thành rãnh thực quản không hoạt động nên cả thức ăn và nước uống đều đi thẳng vào dạ cỏ và dạ tổ ong
Dạ cỏ là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu Dạ cỏ chiếm 85-90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và chuyển hoá thức ăn Dạ cỏ không có tuyến tiêu hoá mà niêm mạc có nhiều núm hình gai Sự tiêu hoá thức ăn trong đó
là nhờ hệ vi sinh vật cộng sinh Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho VSV lên men yếm khí: yếm khí, nhiệt độ tương đối ổn định trong khoảng 38-42oC, pH từ 5,5-7,4 Hơn nữa dinh dưỡng được bổ sung đều đặn từ thức ăn, còn thức ăn không lên men cùng các chất dinh dưỡng hoà tan và sinh khối VSV được thường xuyên chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá
Có tới khoảng 50-80% các chất dinh dưỡng thức ăn được lên men ở dạ cỏ Sản phẩm lên men chính là các axit béo bay hơi (ABBH), sinh khối vi sinh vật và các khí thể (metan và carbonic) Phần lớn ABBH được hấp thu qua vách dạ cỏ trở thành nguồn năng lượng chính cho gia súc nhai lại Các khí thể được thải ra ngoài qua phản xạ ợ hơi Trong dạ cỏ còn có sự tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K Sinh khối vi sinh vật và các thành phần không lên men được chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá
Trang 2618
Sự nhai lại
Thức ăn sau khi ăn được nuốt xuống dạ cỏ và lên men ở đó Phần thức ăn chưa được nhai kỹ nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong thỉnh thoảng lại được ợ lên xoang miệng với những miếng không lớn và được nhai kỹ lại ở miệng Khi thức
ăn đã được nhai lại kỹ và thấm nước bọt lại được nuốt trở lại dạ cỏ
Sự nhai lại được diễn ra 5-6 lần trong ngày, mỗi lần kéo dài khoảng 50 phút Thời gian nhai lại phụ thuộc vào bản chất vật lý của thức ăn, trạng thái sinh lý của con vật, cơ cấu khẩu phần, nhiệt độ môi trường Thức ăn thô trong khẩu phần càng ít thì thời gian nhai lại càng ngắn Trong điều kiện yên tĩnh gia súc sẽ bắt đầu nhai lại (sau khi ăn) nhanh hơn Cường độ nhai lại mạnh nhất vào buổi sáng và buổi chiều Hiện tượng nhai lại bắt đầu xuất hiện khi bê được cho ăn thức ăn thô
- Vi khuẩn phân giải cenlulose Vi khuẩn phân giải cenlulose có số lượng rất lớn trong dạ cỏ của những gia súc sử dụng khẩu phần giàu cenlulose Những loài
vi khuẩn phân giải cenlulose quan trọng nhất là Bacteroides succinogenes, Butyrivibrio fibrisolvens, Ruminoccocus flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium cellulosolvens
- Vi khuẩn phân giải hemicenlulose Hemicenlulose khác cenlulose là chứa
cả đường pentoza và hexoza và cũng thường chứa axit uronic Những vi khuẩn
có khả năng thuỷ phân cenlulose thì cũng có khả năng sử dụng hemicenlulose Tuy nhiên, không phải tất cả các loài sử dụng được hemicenlulose đều có khả
năng thuỷ phân cenlulose Một số loài sử dụng hemicenlulose là Butyrivibrio fibrisolvens, Lachnospira multiparus và Bacteroides ruminicola Các loài vi khuẩn phân giải hemicenlulose cũng như vi khuẩn phân giải cenlulose đều bị ức chế bởi pH thấp
- Vi khuẩn phân giải tinh bột Trong dinh dưỡng carbohydrat của loài nhai lại, tinh bột đứng vị trí thứ hai sau cenlulose Phần lớn tinh bột theo thức ăn vào
dạ cỏ, được phân giải nhờ sự hoạt động của vi sinh vật Tinh bột được phân giải bởi nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ, trong đó có những vi khuẩn phân giải cenlulose
Trang 2719
Những loài vi khuẩn phân giải tinh bột quan trọng là Bacteroides amylophilus, Succinimonas amylolytica, Butyrivibrio fibrisolbvens, Bacteroides ruminantium, Selenomonas ruminantium và Steptococcus bovis
- Vi khuẩn phân giải đường Hầu hết các vi khuẩn sử dụng được các loại polysaccharid nói trên thì cũng sử dụng được đường disaccharid và đường monosaccharid Celobioza cũng có thể là nguồn năng lượng cung cấp cho nhóm
vi khuẩn này vì chúng có men bêta- glucosidaza có thể thuỷ phân cellobioza
Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira multiparus, Selenomonas ruminantium
đều có khả năng sử dụng tốt hydratcacbon hoà tan
- Vi khuẩn sử dụng các axit hữu cơ Hầu hết các vi khuẩn đều có khả năng
sử dụng axit lactic mặc dù lượng axit này trong dạ cỏ thường không đáng kể trừ trong những trường hợp đặc biệt Một số có thể sử dụng axit succinic, malic, fumaric, formic hay acetic Những loài sử dụng axit lactic là Veillonella gazogenes, Veillonella alacalescens, Peptostreptococcus elsdenii, Propioni bacterium và Selenomonas lactilytica
- Vi khuẩn phân giải protein Trong số những loài vi khuẩn phân giải protein
và sinh amoniac thì Peptostreptococus và Clostridium có khả năng lớn nhất Sự phân giải protein và acid amin để sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt cả về phương diện tiết kiệm nitơ cũng như nguy cơ dư thừa amoniac Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng, đồng thời một số vi khuẩn đòi hỏi hay được kích thích bởi acid amin, peptit và isoaxit có nguồn gốc từ valine, leucine và isoleucine Như vậy cần phải có một lượng protein được phân giải trong dạ cỏ
để đáp ứng nhu cầu này của vi sinh vật dạ cỏ
- Vi khuẩn tạo metan Nhóm vi khuẩn này rất khó nuôi cấy trong ống nghiệm, cho nên những thông tin về những vi sinh vật này còn hạn chế Các loài
vi khuẩn của nhóm này là Methano baccterium, Methano ruminantium và
- Vi khuẩn tổng hợp vitamin Nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K
Vai trò Protozoa như sau:
- Tiêu hoá tinh bột và đường Tuy có một vài loại protozoa có khả năng phân giải cenlulose nhưng cơ chất chính vẫn là đường và tinh bột, vì thế mà khi gia súc ăn khẩu phần nhiều bột đường thì số lượng protozoa tăng lên
- Xé rách màng tế bào thực vật Tác dụng này có được thông qua tác động cơ học và làm tăng diện tích tiếp xúc của thức ăn, do đó mà thức ăn dễ dàng chịu tác động của vi khuẩn
Trang 2820
- Tích luỹ polysaccarit Protozoa có khả năng nuốt tinh bột ngay sau khi ăn
và dự trữ dưới dạng amylopectin Polysaccarit này có thể được phân giải về sau hoặc không bị lên men ở dạ cỏ mà được phân giải thành đường đơn và được hấp thu ở ruột Điều này không những quan trọng đối với protozoa mà còn có ý nghĩa dinh dưỡng cho gia súc nhai lại nhờ hiệu ứng đệm chống phân giải đường quá nhanh làm giảm pH đột ngột, đồng thời cung cấp năng lượng từ từ hơn cho nhu cầu của bản thân vi sinh vật dạ cỏ trong những thời gian xa bữa ăn
- Bảo tồn mạch nối đôi của các axit béo không no Các axit béo không no mạch dài quan trọng đối với gia súc (linoleic, linolenic) được protozoa nuốt và đưa xuống phần sau của đường tiêu hoá để cung cấp trực tiếp cho vật chủ, nếu không các axit béo này sẽ bị làm no hoá bởi vi khuẩn
Tuy nhiên gần đây nhiều ý kiến cho rằng protozoa trong dạ cỏ có một số tác hại nhất định :
- Protozoa không có khả năng sử dụng NH3 như vi khuẩn Nguồn nitơ đáp ứng nhu cầu của chúng là những mảnh protein thức ăn và vi khuẩn Nhiều nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein bản thân từ các amit được Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ cao thì một tỷ lệ lớn vi khuẩn bị protozoa thực bào Mỗi protozoa có thể thực bào 600-700 vi khuẩn trong một giờ ở mật
độ vi khuẩn 109/ml dịch dạ cỏ Do có hiện tượng này mà protozoa đã làm giảm hiệu quả sử dụng protein nói chung Protozoa cũng góp phần làm tăng nồng độ amoniac trong dạ cỏ do sự phân giải protein của chúng
- Protozoa không tổng hợp được vitamin mà sử dụng vitamin từ thức ăn hay
do vi khuẩn tạo nên nên làm giảm rất nhiều vitamin cho vật chủ
Vai trò của Nấm (Fungi):
Nấm trong dạ cỏ thuộc loại yếm khí Những loài nấm được phân lập từ dạ
cỏ cừu gồm: Neocallimastix frontalis, Piramonas communis và Sphaeromonas communis
- Mọc chồi phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này, góp phần làm tăng sự phá vỡ các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại Sự phá vỡ này tạo điều kiện cho bacteria và men của chúng bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải cenlulose
- Mặt khác, nấm cũng tiết ra các loại men tiêu hoá xơ Phức hợp men tiêu hoá xơ của nấm dễ hoà tan hơn so với men của vi khuẩn Chính vì thế nấm có khả năng tấn công các tiểu phần thức ăn cứng hơn và lên men chúng với tốc độ nhanh hơn so với vi khuẩn
Như vậy, nấm giúp làm tăng tốc độ tiêu hoá xơ Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc tiêu hoá thức ăn xơ thô bị lignin hoá
Trang 2921
Tác động tương hỗ của vi sinh vật trong dạ cỏ
Vi sinh vật dạ cỏ, cả ở thức ăn và ở biểu mô dạ cỏ, kết hợp với nhau trong quá trình tiêu hoá thức ăn, loài này phát triển trên sản phẩm của loài kia Sự phối hợp này có tác dụng giải phóng sản phẩm phân giải cuối cùng của một loài nào
đó, đồng thời tái sử dụng những yếu tố cần thiết cho loài sau Ví dụ, vi khuẩn phân giải protein cung cấp amôniac, acid amin và isoaxit cho vi khuẩn phân giải
xơ
Quá trình lên men dạ cỏ là liên tục và bao gồm nhiều loài tham gia Trong điều kiện bình thường giữa vi khuẩn và protozoa cũng có sự cộng sinh có lợi, đặc biệt là trong tiêu hoá xơ Tiêu hoá xơ mạnh nhất khi có mặt cả vi khuẩn
và protozoa Một số vi khuẩn được protozoa nuốt vào có tác dụng lên men trong
đó tốt hơn vì mỗi protozoa tạo ra một kiểu “dạ cỏ mini” với các điều kiện ổn định cho vi khuẩn hoạt động Một số loài ciliate còn hấp thu ôxy từ dịch dạ cỏ giúp đảm bảo cho điều kiện yếm khí trong dạ cỏ được tốt hơn Protozoa nuốt và tích trữ tinh bột, hạn chế tốc độ sinh axit lactic, hạn chế giảm pH đột ngột, nên
có lợi cho vi khuẩn phân giải xơ
Tuy nhiên giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn của nhau Chẳng hạn, khi gia súc ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải cenlulose sẽ giảm và do đó
mà tỷ lệ tiêu hoá xơ thấp Đó là vì sự có mặt của một lượng đáng kể tinh bột trong khẩu phần kích thích vi khuẩn phân giải bột đường phát triển nhanh nên sử dụng cạn kiệt những yếu tố dinh dưỡng quan trọng (như các loại khoáng, amoniac, acid amin, isoaxit) là những yếu tố cũng cần thiết cho vi khuẩn phân giải xơ vốn phát triển chậm hơn
Vai trò của vi sinh vật dạ cỏ đối với vật chủ
Phân giải gluxit: Gluxit của thức ăn được phân giải bởi vi sinh vật trong dạ
cỏ Quá trình phân giải này của vi sinh vật rất quan trọng bởi vì 60-90% gluxit (carbohydrat) của khẩu phần, kể cả vách tế bào thực vật, được lên men trong dạ
cỏ
Vách tế bào là thành phần quan trọng của thức ăn xơ thô được phân giải một phần bởi vi sinh vật nhờ có men phân giải xơ (cenlulaza) do chúng tiết ra Quá trình phân giải các carbohydrat phức tạp sinh ra các đường đơn Đối với gia súc
dạ dày đơn thì đường đơn, như glucoza, là sản phẩm cuối cùng được hấp thu, nhưng đối với gia súc nhai lại thì đường đơn được vi sinh vật dạ cỏ lên men để tạo ra các ABBH
Như vậy, sản phẩm cuối cùng của sự lên men carbohydrat thức ăn bởi vi sinh vật dạ cỏ gồm:
Trang 3022
- Các axit béo bay hơi, chủ yếu là a axetic (C2), a.propyonic (C3), a butyric (C4) và một lượng nhỏ các axit khác (izobytyric, valeric, izovaleric) Các ABBH này được hấp thu qua vách dạ cỏ vào máu và là nguồn năng lượng chính cho vật chủ Chúng cung cấp khoảng 70-80% tổng số năng lượng được gia súc nhai lại hấp thu Trong khi đó gia súc dạ dày đơn lấy năng lượng chủ yếu từ glucoza và lipit hấp thu ở ruột Tỷ lệ giữa các ABBH phụ thuộc vào bản chất của các loại gluxit có trong khẩu phần
Các ABBH được sinh ra trong dạ cỏ được cơ thể bò sữa sử dụng vào các mục đích khác nhau:
- Axít acetic (CH3COOH ) được bò sữa sử dụng chủ yếu để cung cấp năng lượng thông qua chu trình Creb sau khi được chuyển hoá thành axetyl-CoA Nó cũng là nguyên liệu chính để sản xuất ra các loại mỡ, đặc biệt là mỡ sữa
- Axít propionic (CH3CH2COOH ) chủ yếu được chuyển đến gan, tại đây nó được chuyển hoá thành đường glucoza Từ gan glucoza sẽ được chuyển vào máu nhằm bảo đảm sự ổn định nồng độ glucoza huyết và tham gia vào trao đổi chung của cơ thể Đường glucoza được bò sữa sử dụng chủ yếu làm nguồn năng lượng cho các hoạt động thần kinh, nuôi thai và hình thành đường lactoza trong sữa Một phần nhỏ axit lactic sau khi hấp thu qua vách dạ cỏ được chuyển hoá ngay thành axit lactic và có thể được chuyển hoá tiếp thành glucoza và glycogen
- Axít butyric (CH3CH2CH2COOH) được chuyển hoá thành hydroxybutyric khi đi qua vách dạ cỏ, sau đó được sử dụng như một nguồn năng lượng bởi một số mô bào, đặc biệt là cơ xương và cơ tim Nó cũng có thể được chuyển hoá dễ dàng thành xeton và gây độc hại cho bò sữa khi có nồng độ hấp thu quá cao
bêta-Hoạt động lên men gluxit của vi sinh vật dạ cỏ còn giải phóng ra một khối lượng khổng lồ các thể khí, chủ yếu là CO2 và CH4 Các thể khí này không được
bò sữa lợi dụng, mà chúng đều được thải ra ngoài cơ thể thông qua phản xạ ợ hơi
Chuyển hoá các hợp chất chứa nitơ
Các hợp chất chứa nitơ, bao gồm cả protein và phi protein, khi được ăn vào
dạ cỏ sẽ bị VSV phân giải Mức độ phân giải của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là độ hoà tan Các nguồn nitơ phi protein (NPN) trong thức ăn, như urê, hoà tan hoàn toàn và nhanh chóng phân giải thành amôniac Trong khi tất cả NPN được chuyển thành amoniac trong dạ cỏ, thì có một phần - nhiều hay ít tùy thuộc vào bản chất của thức ăn - protein thật của khẩu phần được vi sinh vật dạ cỏ phân giải thành amoniac Amôniac trong dạ cỏ là yếu tố cần thiết cho sự tăng sinh của hầu hết các loài vi khuẩn trong dạ cỏ Các vi
Trang 3123
khuẩn này sử dụng amôniac để tổng hợp nên acid amin của chúng Nó được coi
là nguồn nitơ chính cho nhiều loại vi khuẩn, đặc biệt là những vi khuẩn tiêu hoá
xơ và tinh bột
Sinh khối vi sinh vật sẽ đến dạ múi khế và ruột non theo khối dưỡng chấp Tại đây một phần protein vi sinh vật này sẽ được tiêu hoá và hấp thu tương tự như đối với động vật dạ dày đơn Trong sinh khối protein vi sinh vật có khoảng 80% là protein thật có chứa đầy đủ các acid amin không thay thế với tỷ lệ cân bằng Protein thật của vi sinh vật được tiêu hoá khoảng 80-85% ở ruột Nhờ có vi sinh vật dạ cỏ mà gia súc nhai lại ít phụ thuộc vào chất lượng protein thô của thức ăn hơn là động vật dạ dày đơn bởi vì chúng có khả năng biến đổi các hợp chất chứa N đơn giản, như urê, thành protein có giá trị sinh học cao Bởi vậy để thỏa mãn nhu cầu duy trì bình thường và nhu cầu sản xuất ở mức vừa phải thì không nhất thiết phải cho gia súc nhai lại ăn những nguồn protein có chất lượng cao, bởi vì hầu hết những protein này sẽ bị phân giải thành amôniac; thay vào đó amôniac có thể sinh ra từ những nguồn nitơ đơn giản và rẻ tiền hơn Khả năng này của vi sinh vật dạ cỏ có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với sản xuất vì thức ăn chứa protein thật đắt hơn nhiều so với các nguồn đạm phi protein Chuyển hoá lipit
Trong dạ cỏ có hai quá trình trao đổi mỡ có liên quan với nhau: phân giải lipit của thức ăn và tổng hợp mới lipit của vi sinh vật Triaxylglycerol và galactolipit của thức ăn được phân giải và thuỷ phân bởi lipaza vi sinh vật Glyexerol và galactoza được lên men ngay thành ABBH Các axit béo giải phóng ra được trung hoà ở pH của dạ cỏ chủ yếu dưới dạng muối canxi có độ hoà tan thấp và bám vào bề mặt của vi khuẩn và các tiểu phần thức ăn Chính vì thế tỷ lệ mỡ quá cao trong khẩu phần thường làm giảm khả năng tiêu hoá xơ ở
dạ cỏ
Trong dạ cỏ còn xảy ra quá trình hydrogen hoá và đồng phân hoá các axit béo không no Các axit béo không no mạch dài (linoleic, linolenic) bị làm bão hoà (hydrogen hoá thành axit stearic) và sử dụng bởi một số vi khuẩn Một số mạch nối đôi của các axit béo không no có thể không bị hydrogen hoá nhưng được chuyển từ dạng cis sang dạng trans bền vững hơn Các axit béo có mạch nối đôi dạng trans này có điểm nóng chảy cao hơn và hấp thu (ở ruột non) và chuyển vào mô mỡ làm cho mỡ của gia súc nhai lại có điểm nóng chảy cao
Vi sinh vật dạ cỏ còn có khả năng tổng hợp lipit có chứa các axit béo lạ (có mạch nhánh và mạch lẻ) do sử dụng các ABBH có mạch nhánh và mạch lẻ được tạo ra trong dạ cỏ Các axit này sẽ có mặt trong sữa và mỡ cơ thể của vật chủ Như vậy, lipit của vi sinh vật dạ cỏ là kết quả của việc biến đổi lipit của thức ăn
và lipit được tổng hợp mới
Trang 3224
Khả năng tiêu hoá mỡ của vi sinh vật dạ cỏ rất hạn chế, cho nên khẩu phần nhiều mỡ sẽ cản trở tiêu hoá xơ và giảm thu nhận thức ăn Tuy nhiên, đối với phụ phẩm xơ hàm lượng mỡ trong đó rất thấp nên dinh dưỡng của gia súc nhai lại ít chịu ảnh hưởng của tiêu hoá mỡ trong dạ cỏ
bị ngộ độc như lá khoai mì, hạt bông
Nhận xét chung về tiêu hoá ở gia súc nhai lại
+ Phân huỷ protein chất lượng cao gây lãng phí
+ Hydrrogen hoá một số axit béo không no quan trọng cần cho vật chủ + Khí metan sinh ra gây hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng xấu đến môi trường 3.3 Tiêu hoá và hấp thu ở dạ tổ ong
Dạ tổ ong là túi nối liền với dạ cỏ, niêm mạc có cấu tạo giống như tổ ong
Dạ tổ ong có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách Dạ
Trang 333.5 Tiêu hoá và hấp thu ở dạ múi khế:
Dạ múi khế là dạ dày tuyến gồm có thân vị và hạ vị Các dịch tuyến múi khế được tiết liên tục vì dưỡng chấp từ dạ dày trước thường xuyên được chuyển xuống Dạ múi khế có chức năng tiêu hoá men tương tự như dạ dày đơn nhờ có HCl, pepsin, kimozin và lipaza
3.6 Tiêu hoá và hấp thu ở ruột
Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại cũng diễn ra tương tự như ở gia súc dạ dày đơn nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột, dịch tuỵ
và sự tham gia của dịch mật
Trong ruột già có sự lên men vi sinh vật lần thứ hai Sự tiêu hoá ở ruột già
có ý nghĩa đối với các thành phần xơ chưa được phân giải hết ở dạ cỏ Các ABBH sinh ra trong ruột già được hấp thu và sử dụng, nhưng protein vi sinh vật thì bị thải ra ngoài qua phân mà không được tiêu hoá sau đó như ở phần trên
Tóm lại:
– Đặc tính cơ bản của gia súc nhai lại có dạ dày gồm 4 túi, trong đó đặc biệt là dạ cỏ, nơi chứa đựng và lên men phân giải thức ăn với sự hoạt động cộng sinh của vi sinh vật dạ cỏ
– Gia súc nhai lại bắt buộc phải nhai lại để làm nhuyễn thức ăn và tiết nước bọt trung hòa môi trường dạ cỏ Như vậy, phải cung cấp đầy đủ thức ăn thô xanh để quá trình nhai lại được thực hiện
– Do vi sinh vật phân giải tinh bột và vi sinh vật phân giải thức ăn thô xanh hoạt động tốt ở hai môi trương pH khác nhau Vì vậy, làm thế nào để cung cấp thức ăn tinh và thức ăn thô xanh để hai nhóm vi sinh vật này không ức chế cạnh tranh nhau
– Tốt nhất nên cung cấp thức ăn tinh làm nhiều lần trong ngày để cân bằng pH dạ cỏ và không nên cho ăn thức ăn tinh trước khi cho ăn thức ăn thô xanh
– Có thể bổ sung nguồn đạm phi protein như urê cho quá trình sinh tổng hợp của vi sinh vật, có hiệu quả tốt mà lại là nguồn thức ăn rẻ tiền
Trang 3426
Câu hỏi ôn tập
1 Quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng ở gia súc độc vị?
2 Giải thích được quá trình tiêu hóa và hấp thu protein, lipid ở gia súc nhai lại
Trang 3527
CHƯƠNG 3 NƯỚC, CACBOHYDRATE, LIPID, PROTEIN, KHOÁNG VÀ VITAMIN
MH34-03
Giới thiệu: nội dung Chương 3 cung cấp kiến thức cơ bản về vai trò, nguồn
gốc của các chất dinh dưỡng
1 1 Tính chất và chức năng của nước
Vai trò của nước trong sự sống
Tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn:
Các dịch tiêu hóa đều có chứa nước, nước bọt và dịch vị có tới 98% nước Nhờ có nước mà các chất dinh dưỡng trong thức ăn trương phồng lên và hòa tan Các men tiêu hóa trong môi trường nước xúc tác phản ứng thủy phân, biến các hợp chất đơn giản như đường glucose, acid amin hòa tan rồi hấp thu qua niêm mạc
Vận chuyển vật chất:
Nước có tác động lớn đến quá trình vận chuyển và trao đổi chất Nhờ có hệ thống tuần hoàn, nước chảy đi khắp nơi trong cơ thể và mang theo các chất dinh dưỡng để cung cấp cho các tế bào sống Mặt khác nó cũng chở đi các chất cặn
bã từ tế bào đem đi đào thải ra ngoài các cơ quan bài tiết Nước trong vòng tuần hoàn còn mang theo các kích thích tố để điều tiết hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Thú ở lứa tuổi càng nhỏ, quá trình trao đổi chất càng mạnh thì hàm lượng nước trong cơ thể càng cao Trong cơ thể gia súc non, hàm lượng nước rất cao và giảm dần theo lứa tuổi tăng lên (Nước trong bào thai bê: 95%, trong cơ thể bê sơ sinh: 80%, trong cơ thể bò trưởng thành: 60%)
Tham gia vào những phản ứng hóa học:
Ngoài nhiệm vụ là thành phần cấu tạo của tế bào cơ thể, là môi trường để tế bào hoạt động, nước còn là thành viên tham gia phản ứng hóa học Những phản
Trang 36Giữ thể hình sinh vật ổn định:
Nước trong tế bào làm cho tế bào phồng to, nhờ vậy mà giữ được thể hình con vật Mặt khác nước rất dễ chuyển dịch nên làm cho cơ thể có tính đàn hồi, giảm nhẹ tác dụng cơ học vào cơ thể Sự già cỗi khô héo thực chất là quá trình mất nước của tế bào Thú tiêu chảy hay bị stress nhiệt có thể làm cho tế bào mất nhiều nước
Làm giảm tác dụng ma sát:
Giữa 2 khớp nối trong cơ thể có bao dịch khớp, nhờ loại dịch này mà khi cơ thể vận động làm giảm tác dụng ma sát
Tham gia tích cực trong quá trình điều tiết thân nhiệt:
Cứ 1 gram nước trên da khi bay hơi đi thì mang theo 580 calo Nhờ vậy mà khi cơ thể sản sinh nhiệt thặng dư được thải ra ngoài ngay khi thời tiết nóng bức, không làm gia tăng thân nhiệt Điều này có thể quan sát rõ khi trời nóng thì thú uống nước nhiều và thải nhiều nước
Vai trò của nước trong chăn nuôi
Trong chăn nuôi, nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng Nước ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cũng như hiệu quả sản xuất trên gia súc, gia cầm Ngoài việc liên quan đến mọi quá trình trao đổi chất, điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp tiêu hóa thức ăn và loại bỏ chất cặn bã (đã trình bày ở phần trên) thì nước còn có những ảnh hưởng trong chăn nuôi như sau:
Tham gia tạo thành sản phẩm chăn nuôi:
Thịt có tỷ lệ nước: 70 – 80 %
Sữa có tỷ lệ nước: 85%
Trứng có tỷ lệ nước: 70%
Trang 3729
Vai trò đối với chất lượng quầy thịt:
Nước trong cơ thể tồn tại dưới hai trạng thái: trạng thái tự do và trạng thái kết hợp Hàm lượng nước trong cơ thể ở cả hai trạng thái trên đều có ảnh hưởng quan trọng đến phẩm chất thịt, nước trong thịt nhiều sẽ làm thịt trở nên mềm nhão, rỉ nước làm giảm chất lượng thịt
Trạng thái tự do: dễ mất mát trong quá trình chế biến thực phẩm, vì lẽ
đó có một số nơi đã xem việc xác định hàm lượng nước tự do trong thịt là một
chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng thịt Nước tự do trong thịt động vật còn chịu ảnh hưởng bởi thức ăn, nhất là kích thích tố ACTH của tuyến thượng thận có tác dụng như là một glucocorticoid giúp tăng cường tái hấp thu nước ở thận từ đó làm giữ lại nước trong thịt nhiều hơn Cho nên khi giết thịt thú, quầy thịt trở nên mềm nhão, rĩ nước làm giảm chất lượng thịt
Trạng thái kết hợp: là loại nước mà trong cơ thể có thể liên kết rất chặt chẽ với các hợp chất như protein, glucogen và các phosphatid (ví dụ như lecitin) hoặc choline, betain Nước này làm trương phồng các hợp chất nói trên tạo thành dạng keo Loại nước này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trao đổi chất giữa tế bào và dịch thể, nước kết hợp làm cho thịt trở nên mềm, có ý nghĩa lớn trong chế biến thịt
1 2 Nguồn nước cung cấp và nước bài thải
Những ảnh hưởng từ chất lượng nước:
Nước dùng trong chăn nuôi kém chất lượng sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của gia súc cũng như năng suất chăn nuôi Yêu cầu nước mát, sạch, không chứa khoáng độc, vi sinh vật có hại Ở những vùng nước bị nhiễm mặn, nhiễm phèn (phèn sắt, phèn nhôm) sẽ có ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và sức kháng bệnh của heo nuôi, pH thích hợp là từ 6,8 – 7,2, quá kiềm (>8) hay quá axit (<6) đều có hại
Nếu sử sụng nguồn nước mặt thì phải quan tâm đến khía cạnh vi sinh vật có hại vốn từ đầu nguồn sông ngòi, ao đầm Ở những vùng nước mặt có nhiều phù
sa thì cần thêm thiết bị gạn lắng phù sa trước khi sát trùng nước
Nếu nguồn nước nhiễm vi khuẩn E coli: Heo nái đẻ bị tắt sữa hoặc
không có sữa, heo con của những nái này sẽ bị tiêu chảy Đối với nái mang thai
gây nhiễm trùng huyết và sẩy thai Đối với heo con cai sữa nhiễm E coli sẽ tiêu
Trang 3830
Hình 3.1: Minh hoạ Bò uống nước
Nếu sử dụng nguồn nước ngầm thì phải chú trọng tới chất khoáng hòa tan trong nước, nếu hàm lượng khoáng độc quá nhiều thì không dùng để nuôi
heo Mặt khác, nước giếng cũng có thể bị ô nhiễm (thông với nguồn nước mặt)
do vậy phải định kỳ kiểm tra chất lượng nước Nước mặt hay nước ngầm bị ô
nhiễm chứa nhiều vi sinh vật có hại thì có thể sử dụng hóa chất khử trùng nước
để diệt mầm bệnh trước khi dùng nuôi heo
Nước mưa cũng là nguồn thiên nhiên cần quan tâm sử dụng, nhưng cũng phải chú trọng khía cạnh nhiễm vi sinh vật có hại từ bụi lẫn trong không khí nhiễm vào giọt nước mưa Muốn sử dụng nguồn nước này cần kinh phí xây dựng bồn, bể chứa rất tốn kém
Bảng 3.1: Danh mục tiêu chuẩn của nước sạch
TT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Giới hạn tối đa Phương pháp thử Mức độ kiểm
Trang 397 Nitrat (tính theo
TCVN 6180 -1996 (ISO 7890 -1988) I
8 Nitrit (tính theo
TCVN 6178 -1996 (ISO 6777 -1984) I
Trang 40Nguồn: Quyết định của Bộ Trưởng Bộ Y Tế 1329/2002/BYT/QĐ
b) Mức độ II: Bao gồm các chỉ tiêu cần trang thiết bị hiện đại để kiểm tra và ít biến động theo thời tiết Những chỉ tiêu này được kiểm tra khi:
trong thiên nhiên
(**) Riêng đối với chỉ tiêu pH: giới hạn cho phép được quy định trong khoảng từ 6,0 đến 8,0