Nội dung của môn học có 5 Chương gồm Chương 1: Giới thiệu chung về bệnh hại cây trồng Chương 2: Tác nhân và triệu chứng bệnh hại cây trồng Chương 3: Chẩn đoán bệnh hị cây trồng Chươn
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
(Ban hành kèm theo Quy ết định Số:…./QĐ-CĐCĐ-ĐT ngày… tháng… năm 2017
của Hiệu trưởng Trường Trung cấp Cộng đồng Đồng Tháp)
Đồng Tháp, năm 2017
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Từ cuối thế kỷ thứ 20 đến nay, nông nghiệp thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn, sản lượng và năng suất cây trồng không ngừng ổn định và ngày một nâng cao Tuy vậy, những tác động của biến đổi khí hâu và thâm canh đã ảnh hưởng nhiều đến sự phát sinh và phát triển các loài bệnh hại gây ảnh hưởng nghiêm t rong đến năng suất, chất lượng sản phẩm, gây thiệt hại rất lớn cho người nông dân Khoa học bệnh cây nghiên cứu về cây bị bệnh, ba yếu tố mầm bệnh, cây trồng và môi trường luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Môn học nghiên cứu về bản chất, nguyên nhân gây ra bệnh và các biện pháp cơ bản trong chẩn đoán và phòng trừ bệnh
Giáo trình “Bệnh cây đại cương” được biên soạn theo chương trình khung ngành Bảo vệ Thực Vật, trình độ trung cấp được Lãnh đạo Trường CĐCĐ Đồng Tháp phê duyệt năm 2017 Nội dung của môn học có 5 Chương gồm
Chương 1: Giới thiệu chung về bệnh hại cây trồng
Chương 2: Tác nhân và triệu chứng bệnh hại cây trồng
Chương 3: Chẩn đoán bệnh hị cây trồng
Chương 4: Sự lưu tồn, lan truyền và xâm nhiễm của mầm bệnh
Chương 5: Các biện pháp phòng trị bệnh hại cây trồng
Giáo trình Môn học “Bệnh cây đại cương” kết hợp giữa kiến thức lý thuyết cơ bản và kỹ năng thực hành về nhận dạng các triệu chứng bệnh, các tác gây bệnh cây trồng và thực hiện phương pháp chẩn đoán bệnh hại và tìm hiểu thực tế về cách phòng trừ nhằm củng cố và ứng dụng cụ thể phần lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng tay nghề về bảo vệ thực vật
Giáo trình được biên soạn nhằm phục vụ cho việc giảng dạy trình độ trung cấp ngành, nghề Bảo Vệ Thực Vật tại trường CĐCĐ Đồng Tháp Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của anh chị em đồng nghiệp và bạn đọc để chúng tôi bổ sung, chỉnh sửa cho giáo trình ngày càng hoàn thiện, góp phần vào sự nghiệp đào tạo nghề Bảo vệ thực vật trong tỉnh được tốt hơn
Xin bày t ỏ lòng biết ơn với Lãnh đạo trường CĐCĐ Đồng Tháp, Hội Đồng thẩm định đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để hoàn chỉnh giáo trình Cảm ơn các tác giả biên soạn những tài liệu tôi tham khảo và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, cung cấp nhiều tài liệu để tôi hoàn thành giáo trình này
Đồng Tháp, ngày 26 tháng 5 năm 2017
Chủ biên Nguyễn Thị Quế Phương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1.Giới thiệu chung về bệnh hại cây trồng 1
1.1 Tác hại của bệnh lên mùa màng 3
1.1.1 Bệnh làm giảm năng suất cây trồng 3
1.1.2 Bệnh làm giảm phẩm chất sản phẩm nông nghiệp 5
1.1.3 Bệnh gây ngộ độc người và gia súc 5
1.2 Đối tượng của môn học 6
Chương 2 Các tác nhân gây bệnh cây trồng 8
2.1 Các tác nhân phi sinh vật 8
2.1.1 Do đất 8
2.1.2.Chất dinh dưỡng 10
2.1.3 Chất độc 17
2.1.4 Thời tiết 19
2.2 Các tác nhân sinh vật 21
2.2.1 Nấm 22
2.2.2 Vi khuẩn 24
2.2.3 Xạ khuẩn 26
2.2.4 Virus 26
2.2.5 Mycoplasma và MLO 27
2.2.6 Tuyến trùng 28
2.2.7 Thực vật thượng đẳng ký sinh 30
2.2.8 Tảo 32
Chương 3 Triệu chứng và chẩn đoán bệnh cây trồng 35
3.1.Triệu chứng bệnh 35
3.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh hại cây trồng 47
3.3 Phương pháp giám định bệnh lạ hại cây trồng 50
Trang 5Chương 4 Sự lưu tồn, lan truyền và phân bố của mầm bệnh 52
1 Sự lưu tồn của mầm bệnh 54
1.1 Các bộ phận lưu tồn 54
1.2 Vị trí lưu tồn 55
2 Sự lan truyền của mầm bệnh 57
2.1 Gió 58
2.2 Mưa và dòng chảy 58
2.3 Côn trùng 59
2.4 Giống 59
2.5 Cơ học 60
2.6 Con người 60
3 Sự xâm nhiễm của mầm bệnh 60 ờ ờ 3.1 Giai đoạn tiền xâm nhiễm 60
3.2 Giai đoạn xâm nhập vào trong mô ký chủ 61
3.3 Giai đoạn phát triển bên trong mô ký chủ 65
3.4 Giai đoạn hình thành và phát tán bào tử 66
4 Sinh lý cây nhiễm bệnh 66
4.1 Mô cây bị huỷ hoại 67
4.2 Ảnh hưởng lên sự phát triển cảu ký chủ 68
4.3 Ảnh hưởng lên sự sinh sản và phát triển của cây ký chủ 69
4.4 Ảnh hưởng lên sự hấp thu nước và cận chuyển các chất dinh dưỡng 69
4.5 Ảnh hưởng lên sự hô hấp 70
4.6 Ảnh hưởng lên sự quang hợp 70
4.7 Ảnh hưởng lên năng suất 71
5 Thực hành 72
Chương 5: các biện pháp phòng trị bệnh hại cây trồng 75
1 Mục đích 75
2 Những nguyên tắc xây dựng biện pháp phòng trừ bệnh cây 75
3 Các biện pháp phòng trừ bệnh cây 76
Trang 63.1 Biện pháp canh tác 76
3.2 Biện pháp sinh học 79
3.3 Biện pháp kích kháng 82
3.4 Biện pháp hoá học 84
4 Thực hành 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: BỆNH CÂY ĐẠI CƯƠNG
Thời gian thực hiện môn học: 40 giờ; (Lý thuyết: 19 giờ; Thực hành, thí nghiệm,
thảo luận, bài tập: 19 giờ; Kiểm tra 2 giờ)
II Mục tiêu môn học:
Sau khi học xong, sinh viên được trang bị:
- Về kiến thức: Có kiến thức cơ bản về các tác nhân và cơ chế gây bệnh, sự lưu tồn, lan truyền bệnh của mầm bệnh, sự xâm nhiễm của mầm bệnh, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh
- Về kỹ năng: Thực hiện được các phương pháp chẩn đoán bệnh hại cây trồng và các phương pháp phòng trị bệnh hại
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: biết tự nghiên cứu, tìm tài liệu phục vụ công tác có liên quan đến việc chẩn đoán bệnh, nghiên cứu các tác nhân gây bệnh hại trên cây trồng
III Nội dung môn học:
1 Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian:
Kiểm tra
1
bệnh hại cây trồng
1 Tác hại của bệnh lên mùa màng
2 Các yếu tố ảnh hưởng lên sức khỏe
Trang 8và xâm nhiễm của mầm bệnh
1 Sự lưu tồn của mầm bệnh
2 Sự lan truyền của mầm bệnh
3 Sự xâm nhiễm của mầm bệnh
4 Cơ chế gây hại của mầm bệnh
5 Sinh lý của cây mắc bệnh
Trang 9Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH HẠI CÂY TRỒNG
MH12-01
Gi ới thiệu
Bài h ọc giới thiệu về lịch sử ra đời của ngành học bệnh cây, những tác
h ại do bệnh cây gây ra và các yếu tố ảnh hưởng lên sức khoả thực vật như đất, dinh dưỡng, môi trưởng, cỏ dại, sâu bệnh hại, ngộ độc và các dạng triệu chứng do bệnh trên cây trồng, làm cơ sở để thực hiện chẩn đoán bệnh
M ục tiêu
Ki ến thức:
+ Phát bi ểu được lịch sử ra đời của bệnh cây
+ Trình bày được những tác hại của bệnh đối với cây trồng và những yếu ảnh hưởng lên sức khỏe của cây trồng
+ Phát bi ểu được các triệu chứng bệnh hại cây trồng
K ỹ năng:
+ Xác định được tình trạng sức khoẻ của cây trồng;
+ Nhận dạng được yếu tố ảnh hưởng lên sức khoẻ cây trồng
+ Nh ận dạng được đặc điểm triệu chứng bệnh cây
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nhận dạng và mô tả được các triệu
ch ứng bệnh để vận dụng vào công tác chẩn đoán bệnh cây
Bệnh cây là một động thái phức tạp đặc trưng của một quá trình bệnh lý, do ký sinh vật hay do môi trường hay do môi trường không thuận lợi gây ra dẫn đến sự phá vỡ chức năng sinh lý bình thường, làm biến đổi phẩm chất và giảm năng suất cây trồng Quá trình đó phụ thuộc vào bản chất của ký sinh và môi trường sống (Vũ Triệu Mân, 2003)
Bệnh hại thực vật đã được phát hiện từ rất lâu trên thế giới Từ khi con người chuyển từ hình thức sống du canh du cư sang định canh định cư, bắt đầu biết trồng trọt, chăn nuôi Nhiều vùng sản xuất chuyên canh cây trồng ra đời và nông sản đã trở thành hàng hóa quan trọng Khi đó, cây trồng cũng đã bị nhiều loài vi sinh vật
Trang 10ký sinh gây hại nên bệnh hại thực vật được quan tâm phát hiện và nghiên cứu Tuy nhiên, do kiến thức của loài người thời bấy giờ còn hạn hẹp, nên mãi đến khi xã hội loài người đã hoàn thiện họ mới để ý đến hiện tượng bệnh hoạn của cây trồng và tìm cách khắc phục Trong sử liệu cổ, Democrate khuyên nông dân dùng dầu ô liu phun lên cây để hạn chế sự lan tràn của các bệnh do nấm gây ra
Vào giữa thế kỷ thứ 17, với sự chế tạo thành công kính hiển vi quang học đầu tiên, đơn giản và sự phát hiện ra vi sinh vật của Antony Von Leeuwenhoek (1675) khoa vi sinh vật bắt đầu phát triển đồng thời cũng lôi kéo theo sau đó sự phát triển của khoa bệnh cây 1729, Pier Antonio Micheli, nhà thực vật Ý, lần đầu tiên quan sát nấm và các bào tử của nấm
Đến năm 1755, Tillet, nhà thực vật Pháp, công bố công trình tìm hiểu về bệnh than đen hạt lúa mì Trong đó ông cho rằng các hạt lúa có bao phủ bởi phấn đen (đông bào tử của nấm) sẽ mắc bệnh nhiều hơn những hạt không có phấn đen Ông cũng cho rằng bệnh than đen hạt lúa mì là một bệnh truyền nhiễm và có liên hệ đến nấm Đây có thể xem là một báo cáo mở đầu cho ngành học bệnh cây trồng Tiếp theo đó, năm 1767, Felice Fontana và Giovanni Targioni-Tozzetti nghiên cứu độc lập nhau về bệnh rỉ của lúa mì nhơn đợt dịch bệnh trầm trọng ở Ý Cả hai ông đều
đi đến kết luận bệnh rỉ của lúa mì do nấm ký sinh gây ra Năm 1801, C.H Persoon ,
ấn hành quyển Synopsis methodica fungorum, là người mở đầu cho việc phân loại nấm Năm 1821-1832, E.M Fries ấn hành quyển Systema mycologicum phân loại
tất cả nấm đã biết đến lúc bấy giờ
Năm 1876, Louis Pasteur (nhà bác học vĩ đại người Pháp được coi là người khai sinh ra môn khoa học vi sinh vật thế giới) và Robert Koch chứng minh bệnh than đen của bò do một loài vi khuẩn gây ra Koch cũng hình thành phương pháp xác định tác nhân gây bệnh cho động vật với bốn bước, ngày nay chúng ta biết dưới tên là "định đề Koch" (Koch's Postulates) Định đề Koch cũng được các nhà bệnh cây trồng đương thời và cả ngày nay tuân thủ
Trang 11Năm 1878, T.J Burrill, nhà bệnh cây trồng Hoa Kỳ, lần đầu tiên báo cáo bệnh cháy lá cây táo tây do vi khuẩn gây ra, mở đầu cho việc phát hiện ra nhiều bệnh do
vi khuẩn tiếp sau đó
Năm 1885, Pierre Marie Alexis Millardet, nhà khoa học Pháp, tìm ra hỗn hợp Bordeaux, hỗn hợp giữa sulfat đồng và vôi bột, có hiệu quả trị bệnh phấn trắng lá
nho do nấm Plasmopara viticola một bệnh đã gây thiệt hại trầm trọng cho công
nghệ làm rượu nho của Pháp Phát minh này mở đầu cho các tìm tòi tiếp sau để sử dụng các chất như lưu huỳnh và các dẫn chất của thủy ngân trị bệnh cây
Năm 1892, Dmitrii Ivanopski, nhà khoa học Nga, chứng minh bệnh khảm của cây thuốc lá được lan truyền bởi chất độc sống trong dịch trích từ lá thuốc mắc bệnh Chất độc sống này qua được lọc nước bằng sứ xốp (trong khi vi khuẩn bị giữ lại) Cũng trong khoảng thời gian đó, M.W Beijerinck, nhà vi sinh vật học Đức, cũng có cùng kết quả Beijerinck cho là nguyên nhân gây bệnh không phải là vi
khuẩn mà là do "contagium vivum fluidum", sau này được gọi là virus
Năm 1895-1895, Hashimoto cho rằng bệnh lúa lùn có liên quan đến rầy xanh
Nephotettis apicalis var cinticeps Mãi cho đến 1900, người ta vẫn còn cho rầy xanh chính là tác nhân gây nên bệnh lúa lùn Tuy nhiên các nghiên cứu về sau chứng minh lại rầy xanh chỉ là tác nhân lan truyền bệnh, nguyên nhân gây bệnh chính là virus Từ 1904 đến 1935 các nghiên cứu về các bệnh cây trồng do virus được tiến hành mặc dù chưa có phương tiện thấy được hình dạng của virus Mãi đến năm 1936, kính hiển vi điện tử đầu tiên được chế tạo, nhơn loại mới biết được hình dạng và kích thước của virus Và cũng kể từ thời điểm này các nghiên cứu về các bệnh cây do virus cũng được phát triển mạnh
Đến năm 1967, Doi và ctv chứng minh bệnh vàng lá của cây cúc tây
(Asteraceae) do một loại vi sinh vật giống như mycoplasma (mycoplasma like organism) gây ra, mở đầu cho việc phát hiện ra nhiều bệnh vàng lá trên cây trồng là
do MLO (vi sinh vật giống mycoplasma)
Ở Việt Nam chúng ta, Lê Quí Đôn có ghi nhận đến các bệnh trên lúa và người nông dân thời ấy đã dùng tỏi để đối phó với một số bệnh của cây trồng
Trang 12Ngày nay, với phương tiện ngày càng hiện đại hơn các nghiên cứu về bệnh cây
đã có một bước tiến dài và rất chuyên sâu Bệnh hại thực vật ngày càng được thế giới quan tâm chính là do những tác hại to lớn của bệnh
Một số bệnh trên cây trồng thường xảy ra thành dịch, gây thiệt hại trầm trọng cho mùa màng, cũng như có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng cho loài người Các trận dịch hại lớn do bệnh gây ra trên thế giới như: Bệnh sương mai do nấm
Phytophthora infestans gây ra đã phá hại toàn bộ khoai tây ở Island vào những năm 1845-1847 mà khoai tây lại là lương thực chính của dân nghèo đã làm một triệu người chết đói và hai triệu người phải bỏ xứ di cư sang Bắc Mỹ để tìm đường sống
Năm 1878, bệnh rỉ sắt trên cà phê (Hemileia vastatrix) ở Srilanka đã làm
giảm năng suất trầm trọng và làm giảm đến 93% lượng cà phê xuất khẩu của nước này gây thiệt hại đến 50 triệu Franc và sau đó 10 năm thiệt hại đến 150 triệu Franc
Bệnh than đen hạt lúa mì (Tilletia lewis) gây thiệt hại trầm trọng cho việc sản
xuất lúa mì ở Mỹ trong những năm 1914 -1948 Theo Nelchers (1950), riêng ở bang Kansas, mỗi năm đã bị thất thu vào khoảng 300 triệu lít lúa mì
Vào năm 1943, dịch bệnh đốm nâu lá lúa (Helminthosporium oryzae) đã gây
thất thu và làm cho xứ Bengal phải rơi vào nạn đói trầm trọng Trong những năm
70, nước Mỹ đã mất mỗi năm khoảng 3 tỉ đôla do bệnh hại thực vật Theo thống kê của tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), hàng năm thế giới mất khoảng 34% tổng sản lượng lương thực do bệnh cây và côn trùng gây hại
Ở Việt Nam, đặc biệt năm 1964-1966 bệnh đã phá hoại trên hàng triệu ha lúa Bệnh vàng lá greening trên cây có múi, bệnh virus hại chuối, đu đủ, virus hại khoai tây, cà chua, thuốc lá làm giảm năng suất nặng nề
Vi khuẩn hại bông vải, bệnh héo xanh trên trên cây cà, ớt, vi khuẩn gây bệnh cháy bìa lá lúa, hại rau, đậu phá hoại trên nhiều vùng
Trang 13Nấm gây bệnh đạo ôn trên lúa, bệnh đốm vằn trên lúa, bắp, bệnh thán thư, bệnh héo vàng trên ớt… cũng gây thiệt hại nặng nề về sản lượng
Tuyến trùng Ditylenchus angustus gây bệnh tiêm đọt sần trên lúa mùa dài
ngày từng là mối lo âu của người nông dân các huyện ngoại thành Thành Phố Hồ Chí Minh Vụ lúa mùa năm 1990-1991, riêng huyện Thủ Đức có đến 10.000 ha lúa mùa mắc bệnh tiêm đọt sần, trong đó có 1.000 ha được xem là mất trắng do bệnh gây ra
Dịch bệnh lùn xoắn lá lúa đã bộc phát bất ngờ và gây thiệt hại trầm trọng cho
vụ lúa đông xuân 1992-1993 tại các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Vỉnh Long, Trà Vinh
và Đồng Tháp Chỉ riêng tỉnh Cần Thơ, thiệt hại được ước lượng đến 200 ngàn tấn lúa (tương đương với 200 tỉ đồng VN)
Bệnh làm giảm năng suất cây trồng còn là nguyên nhân gây nên sự khan hiếm các mặt hàng nông sản theo mùa vụ Ớt trồng trong mùa mưa thường bị bệnh
thối trái do nấm Colletotrichum capsicum Bệnh gây thiệt hại rất trầm trọng trong
mùa mưa nên là nguyên nhân chính hạn chế việc trồng ớt trong những tháng mưa nhiều
Các loại nông sản trên những vụ nhiễm bệnh nặng thường có phẩm chất kém như hình dạng bên ngoài xấu xí, không giữ được màu sắc, hương vị đặc trưng của sản phẩm nên không thể xuất khẩu được và bị mất giá trầm trọng hoặc không bán
được Thí dụ như sau vụ mùa bị bệnh cháy lá nặng (Pyricularia oryzae), hạt gạo
xay ra thường bị gãy nát, tỉ lệ tấm cao nên không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Chuối già của nước ta do không được bảo vệ tốt, nên trái chuối thường có chấm đen do nấm bệnh gây ra Do đó chúng ta không thể xuất chuối tươi sang các nước phương tây Vi khuẩn gây loét trên vỏ cam, quýt là vỏ trái sần sùi giảm giá trị thương phẩm Các loại rau cải khi mắc bệnh ở lá, rau ăn quả nhiễm bệnh ở trái đều làm cho sản phẩm mất vẽ mỹ quan và bị mất giá đáng kể khi đưa ra thị trường
Trang 14Ngoài ra, sản phẩm nông nghiệp bị nhiễm bệnh không còn giá trị là nguyên liệu của công nghiệp nhẹ và công nghệ thực phẩm như: cà chua, khóm, dưa leo không đủ giá trị dinh dưỡng để sản xuất đồ hộp xuất khẩu Lá trà, lá thuốc lá nhiễm bệnh thường bị giòn nát và mất hương vị khi sấy và chế biến, hàm lượng nicotin, tanin giảm
Phần lớn mầm bệnh không độc đối với người và gia súc nhưng sản phẩm thu được từ các cây nhiễm bệnh dễ chứa các chất độc do mầm bệnh tiết ra có thể gây nên ngộ độc cho gia súc hoặc cả cho người khi ăn phải Có hàng trăm chất độc khác nhau tiết ra từ nấm bệnh có tác động gây độc cho người và gia súc Thí dụ như
Aflatoxin là chất độc gây ung thư có ở nấm Aspergillus flavus trên hạt đậu phộng, đậu nành, bắp… Ngoài ra các nấm Fusarium sp và Phiales temulenta cũng có thể
gây ngộ độc cho người ăn phải các nông sản nhiễm nấm gây bệnh
Ngoài ra bệnh còn gây những thiệt hại khác: Vào các năm 1914-1948, lúa mì
tại bang Washington của Mỹ bị bệnh than đen hạt do nấm Tilletia lewis gây ra Dịch
bệnh xảy ra rất trầm trọng trong nhiều năm liền và gây nhiều thiệt hại đáng kể về mặt kinh tế Bên cạnh đó, trong mùa gặt năm 1916 có rất nhiều vụ nổ và cháy máy đập lúa mì xảy ra (169 vụ), gây thiệt hại đáng kể về tài sản cũng như làm cho nhiều nông dân bị thương Lý do là hạt lúa mì mắc bệnh có chứa rất nhiều bào tử đông của nấm gây bệnh Trong bào tử đông của nấm bệnh có chứa nhiều chất béo (4%)
và ẩm độ thích hợp Trong quá trình đập lúa bằng máy, do sự ma sát mạnh của máy, nhiệt độ bên trong máy tăng lên, cộng thêm với sự tích tụ tĩnh điện trong máy, đã làm cho chất béo trong bào tử bùng nổ, gây cháy máy và lúa mì chất đống chung quanh máy
Ngành học bệnh cây trồng hay còn gọi là bệnh lý thảo mộc (Plant pathology hoặc phytopathology) là một ngành trong nghề trồng cây Ngành học quan tâm đến bệnh trạng của cây, nguyên nhân gây ra bệnh, các điều kiện ảnh hưởng lên bệnh, sự
Trang 15thiệt hại do bệnh gây ra và các biện pháp đối phó với bệnh Đây là một ngành học tương tự như ngành y khoa của con người và ngành thú y của vật nuôi
Ngành học bệnh cây trồng theo đuổi các mục tiêu sau đây:
- Tìm hiểu các nguyên nhân gây nên bệnh của cây trồng,
- Tìm hiểu cơ nguyên gây bệnh của mầm bệnh,
- Tìm hiểu mối tương tác qua lại giữa cây và mầm bệnh,
- Tìm hiểu ảnh hưởng của môi trường lên mối tương tác giữa cây và mầm bệnh,
- Tìm các biện pháp khống chế bệnh và giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra Người làm công tác bệnh cây trồng phải hiểu biết các mục tiêu trên, không phải chỉ tìm cách tiêu diệt mầm bệnh mà còn phải giúp cây chống lại sự tấn công của mầm bệnh và tạo điều kiện tối hảo cho cây phát triển để đạt được năng suất cao Người làm công tác bệnh cây phải thường xuyên tiếp cận thực tế chứ không phải chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Đồng ruộng và vườn cây là nơi nghiên cứu, trau dồi kinh nghiệm mới có thể phát huy được tài năng của mình Người chỉ ở trong phòng giấy và phòng thí nghiệm sẽ không thể trở thành "thiện thủ" trong nghề được
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Văn Kim (2000) Các Nguyên Lý về Bệnh Hại Cây Trồng Trường Đại
Học Cần Thơ
2 Phạm Văn Lầm (2005) Kỹ thuật bảo vệ thực vật Nhà xuất bản Lao động
3 Vũ Triệu Mân (2003) Chẩn đoán nhanh bệnh hại thực vật Hội sinh học phân tử bệnh lý thực vật Việt Nam Nhà xuất bản nông nghiệp
Trang 16+ Trình bày được các tác nhân gây bệnh cây trồng
+ Trình bày được triệu chứng bệnh do từng nhóm tác nhân gây ra
ký sinh) và nhóm tác nhân sinh vật (nhóm tác nhân ký sinh)
2.1 Các tác nhân phi sinh vật
Các tác nhân phi sinh vật bao gồm các yếu tố ngoại cảnh tạo nên điều kiện sống của cây trồng như điều kiện dinh dưỡng, chế độ khí, nước trong đất, thời tiết, khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng… khi các điều kiện ngoại cảnh không thích hợp, cây bị suy yếu, ngừng sinh trưởng, còi cọc, năng suất giảm và nếu nặng cây có thể chết Những tác nhân thuộc nhóm này gây ra các bệnh gọi là bệnh không ký sinh hay là bệnh sinh lý và không mang tính truyền nhiễm
Đất ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cây trồng gồm: ẩm độ, cấu trúc đất, độ thoáng khí, pH và tình trạng dinh dưỡng của đất Các điều kiện này có ảnh hưởng
Trang 17lên nhau: một điều kiện bất lợi có thể lôi kéo theo làm cho một điều kiện thứ hai cũng trở nên không thuận lợi; và ngược lại khi cải thiện một điều kiện có thể có ảnh hưởng tốt cho một điều kiện bất lợi khác
Cây trồng cần ẩm độ thích nghi để phát triển bình thường Nhu cầu về ẩm độ
của mỗi loài cây trồng có khác nhau như cây lúa chịu được điều kiện ngập nước, nhưng cây đậu xanh thì không chịu được điều kiện bảo hòa nước của đất Khi ẩm độ của đất tụt thấp hơn điểm héo của cây thì cây thể hiện triêu chứng héo và rũ xuống,
và nếu nặng hơn thì cây bị khô hoàn toàn Ẩm độ đất quá cao thì cũng gây hại cho cây, nhất là ở vùng đất sét nặng khó thoát nước Cây đậu xanh không thể phát triển được ở đất sét nặng trong mùa mưa, vàng úa, rụng lá, còi cọc, lùn và chết dần Ngoài ảnh hưởng trực tiếp lên sinh lý của cây, điều kiện bảo hòa nước của đất còn tạo điều kiện cho các bệnh ký sinh khác tấn công mãnh liệt và giết chết cây Thí dụ như trường hợp trồng tiêu ở đất sét nặng, trong mùa mưa già (tháng 10 dl), do đất
thường xuyên trong tình trạng bảo hòa nước, dây tiêu suy yếu và bị nấm Fusarium solani tấn công Dây tiêu sẽ chết vì bệnh héo rũ
Cấu trúc của đất có ảnh hưởng lên độ ẩm và độ thoáng khí của đất Một đất
có cấu trúc với nhiều lổ hỗng to (cát) sẽ có độ thoáng tốt, tuy nhiên sẽ giữ nước rất kém nên thường thiếu độ ẩm Ngược lại, một đất có cấu trúc hạt quá mịn (đất sét nặng) thì lại có khả năng giữ nước tốt nhưng kém thoáng khí Ở đất sét nặng, qua quá trình trực di, các hạt mịn lắng đọng ở tầng đế cày làm thành một tầng đất nén chặt, không cho nước thoát qua Tầng này trở nên quá cứng, ngăn cản sự phát triển của rễ cây Ở một số loại cây trồng đã xảy ra hiện tượng chết đọt do rễ cây bị hại ở tầng đất quá chặc này
pH quá thấp (đất chua) hạn chế sự phát triển của cây trồng Ion H có ảnh hưởng trực tiếp lên mô của rễ cây và tác động lên các enzym của rễ Ở đất quá chua,
độ pH của đất còn ảnh hưởng làm cho các dưỡng liệu trong dịch của đất chuyển sang dạng không hấp thu được, đồng thời các chất độc như Al, Fe, Mn lại được chuyển sang dạng dễ hấp thu Tình trạng xì phèn ở các vùng đất phèn của nước ta cũng đưa đến ảnh hưởng này Cây trồng thường kém tăng trưởng, vàng vọt, và nếu
Trang 18nặng hơn, cây có thể chết hàng loạt Lúa bị xì phèn trở nên vàng vọt, kém phát triển,
đẻ nhánh ít, lùn, bộ rễ vàng khô
Trường hợp cấy lúa trên đất vừa trục để chôn vùi rơm rạ quá trình phân hủy rơm rạ trong điều kiện ngập nước sẽ sản sinh ra các acid hửu cơ làm cho pH của đất giảm thấp Trong điều kiện này bộ rễ lúa bị thối đen đi, lúa cũng vàng vọt, cằn cổi
và có thể chết hàng loạt nếu không được cải thiện kịp thời
Cả trong hai trường hợp trên đây chúng ta phải dùng nước sông để rửa chất độc và tháo ra khỏi ruộng, kết hợp với bón lân dễ tan, để cải thiện điều kiện sống của cây lúa
pH quá cao (ở các loại đất mặn hoặc đất kiềm) cũng có hại cho cây trồng Ở pH>9, cây trồng không phát triển được, cây có thể bị héo và chết
Cây cần có đủ dưỡng chất để sống và sản xuất Có những loại dưỡng chất cây cần rất nhiều, đó là các chất đa lượng, như N, P, K, Ca, S, Mg Trong khi đó cây cũng cần một số các chất khác với một lượng rất nhỏ, nhưng không thể thiếu được,
đó là các chất vi lượng như Fe, B, Zn, Mn, Cu và Mo
(1) Tình trạng thiếu dưỡng chất
Khi các dưỡng chất trên hiện diện trong đất dưới mức tối thiểu cần thiết, cây trồng sẽ trở nên suy yếu và thể hiện các triệu chứng đặc trưng Triệu chứng thiếu một dưỡng chất chứng tỏ một trong hai tình trạng sau: hoặc trong đất có không đủ dưỡng chất ấy, hoặc dưỡng chất ấy ở dưới dạng không hấp thu được Sau đây là các triệu chứng đặc trưng của tình trạng thiếu các dưỡng chất của cây trồng:
Thiếu đạm (N): Rễ cây bị ngắn lại, cây lùn, lá nhỏ lại Lá ngã màu vàng
nhợt nhạt Nếu tình trạng thiếu đạm kéo dài, lá ngã màu vàng, lá già bên dưới cuốn lại và héo khô Tình trạng thiếu đạm có thể do đất thiếu đạm, cũng có thể do đất bị
xì phèn, Fe và Al tự do cao, ức chế khả năng hấp thu đạm của rễ Do đó tùy theo trường hợp mà xử lý Trong trường hợp đầu xử lý bằng cách bón thêm phân đạm hóa học Trong trường hợp sau, phải rửa phèn kết hợp với bón lân và đạm
Trang 19Thiếu P: Thiếu lân lá cây ngã sang màu lục sậm, rồi sau đó ngã màu đỏ hoặc
tím do sự tích tụ bất bình thường các màu của anthocyanin Rìa lá đôi khi bị dợn sóng Trái thường mềm nhũn hơn bình thường và làm giảm phẩm chất đáng kể Hiện tượng thiếu lân thường xảy ra trên đất chua, trên đất đã bị bạc màu Ở vùng đất phèn hiện tượng thiếu lân thường kết hợp với thiếu đạm trầm trọng mà triệu chứng thiếu đạm lấn lướt và thể hiện rõ nét hơn Có thể bón phân super lân để giải quyết trường hợp thiếu P
Thiếu Kali (K): Thiếu kali làm cho lá ngã màu xanh sẫm, đọt lá cháy khô,
rìa lá dợn sóng, có nhiều đốm nâu trên phiến lá và phiến lá cuốn lại hoặc bị cong đùn Triệu chứng rõ nét ở các lá già Rễ cây bị cằn cỗi, thể hiện sự kém phát triển Các lóng ở cành cây ngắn lại làm giảm sự tăng trưởng của cây và cuối cùng làm giảm năng suất đáng kể Tình trạng thiếu kali thường xảy ra trên đất cát, đất đá vôi Đất sét ở Đòng bằng Sông Cửu Long thường ít khi thiếu kali
Thiếu Canxi (Ca): Triệu chứng thiếu Ca thể hiện trên các phần non của cây
Lá mọc ra không bình thường, bị dợn sóng, có nhiều đốm và rìa lá bị mất màu Mô của lá và các điểm tăng trưởng của cây thường bị chết đi và làm cho cây bị chết đọt
Rễ cây kém phát triển và thể hiện triêu chứng nhầy nhụa Triệu chứng thiếu vôi thường gặp ở đất chua Cần bón lượng vôi rất lớn để chạy chữa cho tình trạng thiếu vôi của đất
Thiếu lưu huỳnh (S): Thiếu lưu hùynh ít khi xảy ra, và thường chỉ xảy ra ở
đất bị xói mòn và bạc màu nặng Triệu chứng thiếu lưu huỳnh thể hiện ở các lá non ngã màu vàng Nặng hơn thì lá bị rụng và chết đọt các cành Có thể cung cấp lưu huỳnh bằng cách bón phân SA để cung cấp đạm thay vì bón phân urê
Thiếu magnê (Mg): Khi bị thiếu magnê, triệu chứng thường xảy ra trên lá
già Triệu chứng đặc trưng là các lá già bị vàng dọc theo các gân lá Với các cây đa niên, triệu chứng còn kèm theo rụng lá và giảm năng suất đáng kể Thiếu magnê thường xảy ra trong mùa nắng ở các vùng đất cát nhẹ, hoặc đất chua Có thể bón sulfat magnê hoặc tiện hơn là phun các loại thuốc dưỡng cây có chứa magnê
Trang 20Thiếu sắt (Fe): Triệu chứng thiếu Fe thường xuất hiện ở phần non nhất của
cây, từ dưới dạng mất màu dọc theo các gân lá cho đến toàn bộ phần non của cây ngã màu vàng vọt Lá không rụng nhưng rũ xuống Thường gặp triệu chứng thiếu sắt trên cây ăn trái hơn trên các loại hoa màu khác Tình trạng thiếu sắt thường xảy
ra trên đất đá vôi, đất kiềm Trên đất chua tình trạng này chỉ xảy ra khi trong đất có chứa quá nhiều Mn Đất ĐBSCL ít khi gặp tình trạng thiếu sắt
Thiếu Mangan (Mn): Mangan là chất cần thiết cho khoảng 30 enzym cần
thiết của cây trồng Nó rất cần thiết cho chu trình Kreb, cho sự hô hấp, sự quang tổng hợp và cho sụ thành lập lục diệp tố của cây trồng Mn và Fe ức chế tác dụng lẫn nhau trong cây Tình trạng dư thừa sắt tự do trong đất phèn ở ĐBSCL thường đưa đến hiện tượng thiếu Mn của cây trồng Triệu chứng thiếu Mn có khác nhau, từ
là các chấm màu xám hoặc màu vàng trên lá, đến cháy lá, tùy loài cây trồng
Thiếu đồng: Triệu chứng thiếu đồng thường xảy ra trên các loài cây ăn trái
Triệu chứng thường xuất hiện trên lá non với màu lục sậm bất thường, lá bị cuốn lại hoặc cong đùn hoặc vặn vẹo Tình trạng nặng hơn thì cây có thể bị chết đọt Tình trạng thiếu đồng ít gặp ở ĐBSCL
Thiếu kẽm (Zn): Kẽm là chất cần thiết để cây tổng hợp một số auxin và
IAA trong cây Khi thiếu kẽm, cây thể hiện triệu chứng mất màu dọc theo gân lá, kèm theo triệu chứng chết mô và màu tím Lá bị biến dạng, teo nhỏ lại, các lóng của cành ngắn lại, trái nhỏ, ít trái Để tránh tình trạng thiếu kẽm, có thể bón vôi, phân lân dễ tan cũng như thường xuyên phun dung dịch sulfat kẽm hoặc các thuốc dưỡng cây có chứa kẽm
Thiếu Boron (Bo): Bo giữ vai trò quan trọng trong sự hấp thu nước của cây,
trong tiến trình carbonhydrate và nitrogen hóa, trong sự phân cắt tế bào và sự thành lập chất pectin của vách tế bào Thiếu Bo các đỉnh tăng trưởng của cây bị chết lôi kéo theo sự đâm thêm các chồi bên Đỉnh tăng trưởng của các chồi mới lại chết và cây lại đâm thêm chồi bên Kết quả là cây lùn và có rất nhiều chồi Lá teo nhỏ lại, dầy lên và các gân lá nổi to lên Bên trong phần thân và rễ cây bị thối đen Có thể là
do tình trạng thiếu Bo, cây tiết ra các acid phênol và chính các acid phênol gây hoại
Trang 21tử cho mô cây Để chữa trị, có thể phun dung dịch Borax (phèn the hay hàn the) loãng lên lá
những điểm vàng úa và hoại tử, các lá thường đạt đến màu vàng cháy, gây nên hiện tượng héo đỉnh lá sau khi trên lá xuất hiện các đốm cuối cùng là có thể có màu đồng thau.Rễ trở nên ngắn về chiều dài nhưng trở nên to hay có dạng chùy gần chóp rễ Clo thì hiếm thấy thiếu trong tự nhiên, do tính hoà tan và độ hữu dụng cao của nó trong đất và vì nó cũng được chuyển vận trong bụi hay trong những giọt hơi nước tí hon bởi gió và mưa đến lá, nơi mà sự hấp thu xuất hiện
Thiếu Niken (Ni):Thực vật thiếu Ni tích luỹ nhiều Urê trong lá và do đó
xuất hiện bệnh hoại tử đỉnh lá Ngoài ra Fe2+ và Al3+ nếu dư thừa cũng gây ngộ độc cho cây giải quyết cấp bách là bón bằng bón phân sulphate mangan Biện pháp rửa chất độc đi vẫn là biện pháp cơ bản và có hiệu quả lâu dài hơn
Trang 22Hình 2 1 Tổng hợp những triệu chứng thiếu dinh dưỡng thể hiện trên lá
(Nguồn: Internet)
Trang 23
Hình 2.2 Một số hình ảnh biểu hiện thiếu dinh dưỡng của cây trồng (Nguồn: Internet)
Thiếu lưu huỳnh Thiếu Magne
Thiếu canxi
Thi ếu canxi
Trang 24
Hình 2.3 Triệu chứng thiếu Mn, Mo và Bo trên cây trồng (Nguồn Internet)
(2) Dư thừa dưỡng chất gây ngộ độc cho cây
Các chất vi lượng khi thiếu sẽ gây bệnh cho cây trồng, thế nhưng khi hiện diện với hàm lượng quá cao, các chất này cũng gây độc cho cây trồng Các chất như mangan, kẽm, đồng, boron, sắt, nhôm và selenium đều có thể gây ngộ độc cho cây nếu có trong đất với hàm lượng cao hơn nhu cầu Hiện tượng dư thừa dinh dưỡng thường do bà con nông thường sử dụng quá nhiều các nguyên tố vi lượng như: Cu,
Zn, B, Mn,…Hiện tượng này thường xảy ra trên đất có hàm lượng axit cao Triệu chứng: thường xuất hiện những đốm chấm nhỏ về phía của rìa lá, nghiêm trọng hơn
là toàn bộ rìa lá héo quăn lại như triệu chứng thiếu kali
Thiếu Mn
Thiếu Mo
Thiếu Bo
Trang 25Thừa đạm: Bón thừa đạm do cây phải hút nhiều nước để giải độc amon nên
tỉ lệ nước trong thân lá cao, thân lá vươn dài, mền mại, che bóng lẫn nhau, lại ảnh hưởng đến quang hợp Giống lúa truyền thống (giống cũ) cao cây, bón nhiều đạm
dễ bị đổ non Đạm hữu cơ hoà tan (amin, amit) trong nhiều cây dễ mắc bệnh Bón nhiều đạm làm tăng kích thước lá, nhất là về mặt diện tích lá; cây thường có hệ thống rễ kém phát triển và do đó có tỷ lệ lá / rễ cao Lá trở nên mỏng manh hấp thu năng lượng ánh sáng kém, tỉ lệ diệp lục trong lá có màu xanh tối lại hấp dẫn sâu bệnh nên thường bị sâu phá hại mạnh, đồng thời dễ đổ ngã Bón thừa đạm quá trình sinh trưởng (phát triển thân lá) bị kéo dài; quá trình phát triển (sinh trưởng sinh thực: hình hoa quả hạt) bị chậm lại Cây thành thục muộn
Ở các cây như lúa, cỏ alfalfa nếu bón nhiều đạm thì trị số C/N giảm, dẫn đến thời gian trổ bông chậm ảnh hưởng xấu đến năng suất Khoai tây sinh trưởng với nguồn đạm phong phú cho thấy sự tăng trưởng quá mức về thân lá và chỉ cho những
củ nhỏ (có thể do mất cân bằng về chất điều hòa sinh trưởng) Dư đạm trái cà chua
bị nứt Bón thừa đạm phẩm chất nông sản kém, giá trị sinh học thấp: tỉ lệ NO3- trong rau, quả dễ vượt quá ngưỡng cho phép, rau có vị nhạt, không ngon
Ngộ độc Bo: biểu hiện của ngộ độc thường xuất hiện trên các lá già Triệu
chứng bắt đầu từ mép lá lan dần vào trong các rìa lá và ngọn lá bị cháy xém hoặc bị biến thành màu vàng, nâu đôi khi phiến lá có thể xuất hiện các đốm màu nâu nhỏ Ngộ độc nghiêm trọng thì các lá có thể bị cháy khô và rụng hoặc bị héo cho tới khi chết
nâu, lá bị mất màu và chết khô từ rìa lá vào
mùa nắng, NaCl tích lũy trong đất với hàm lựơng rất cao và gây ngộ độc cho lúa và các loại cây trồng khác trong nhiều năm Các phiến sét trong đất có khuynh hướng giữ Na+ rất chặt, rất khó dùng nước rửa Những ruộng khô , nứt nẻ rồi sau đó lại bị nhiễm mặn thì lại càng khó rửa, hơn nữa vì nước mặn đã theo kẻ nứt xuống rất sâu
và tích lũy ở đó Khi đất đã bị nhiễm mặn chúng ta phải rửa mặn với nước ngọt,
Trang 26nước sông hoặc nước mưa, và tùy theo tình trạng nhiễm mặn nặng hay nhẹ, có khi phải rửa trong nhiều năm mới có thể canh tác được
Ngộ độc phèn (Al, Fe): do vùng có tầng phèn gần mặt đất, xa kênh gạch
hoặc nằm trong khu đê bao khép kín bị thiếu nước, có váng vàng trên mặt đất hoặc trên mặt nước bám vào gốc lúa Cây lúa bị lụn dần, bộ rễ có màu vàng nâu, quăn queo, không có rễ mới và vuốt trên ngón tay cảm thấy nhám, lá bị vàng và cháy khô
ở chóp lá, trên lá có những chấm nâu sét nhỏ Lúa cấy chậm bén rễ và chuyển sang màu nâu tía, không đẻ nhánh hoặc bị kéo dài thời gian sinh trưởng, khó trổ, nếu ngộ độc nặng có thể bị thất thu năng suất
Để giải quyết tình trạng ngộ độc vì dư thừa các chất vi lượng này, biện pháp tốt nhất là rửa đất bằng nước Đôi khi biện pháp sử dụng các chất có tính đối kháng với chất gây độc cũng đem lại kết quả trước mắt Thí dụ như tình trạng ngộ độc vì
dư thừa Fe và Al có thể giải quyết cấp bách bằng bón phân lân dễ tan để cố định các ion Fe++ và Al+++ tự do, hoặc phun lên lá dung dịch sulfat mangan để đối kháng lại với sự hấp thu sắt tự do Tuy nhiên, biện pháp rửa chất độc đi vẫn là biện pháp
cơ bản và có hiệu quả lâu dài hơn
Sau một thời gian dài dùng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu tuy đã mang lại năng suất cao cho lúa nhưng cũng để lại những hậu quả nặng nề, đất trồng trọt bị thoái hoá, độ chua ngày càng tăng gọi là hiện tượng axit hoá đất trồng trọt hay gọi một cách khác là đất bị “phèn nhân tạo” khi độ ph < 5,5 Một nguyên nhân khác do thâm canh kém, sử dụng chất hữu cơ tươi như việc dùng rơm, rạ sau thu hoạch bón trực tiếp cho lúa thời gian phân huỷ ngắn không đủ điều kiện khoáng hoá hữu cơ đã tạo ra một số độc tố như Fe2+, Al3+, SO42-, H2S, CO2 và các axit hữu cơ,…
Các loại nông dược đều có thể làm hại cho cây trồng nếu chúng ta sử dụng không đúng cách, đúng lúc cũng như đúng nồng độ cần thiết Thí dụ: Sulfat đồng (thanh phàn) là thuốc trừ nấm gây bệnh cho cây trồng, thế nhưng nếu chúng ta không trung hòa độ chua của thuốc bằng vôi hoặc trung hòa không đủ mức cần thiết
Trang 27thì thuốc sẽ làm ngộ độc cho dưa leo, bầu bí, cà chua, Khi phun thuốc trừ sâu, nông dân có thói quen, khi hết thuốc trong mỗi bình, trên đường đi lấy thuốc mới,
cố phun cho hết thuốc còn sót trong bình lên các hàng cây trên đường đi Phần thuốc cặn này thường có nồng độ khá cao, do đó thường làm cháy lá hoa màu dọc theo đường đi
thể sẽ diệt luôn cả hoa màu Khi phun thuốc diệt cỏ phải mở vòi phun to ra để phun
ra hạt thuốc to, không bay xa, ít gây hại cho cây trồng chung quanh Cây bị ngộ độc
vì thuốc diệt cỏ, lá quăn queo, rụng lá rồi chết
Trên lúa, biểu hiện ngộ độc thuốc diệt cỏ là các đọt non của lá lúa có màu xanh đậm, lá lúa bị úa tròn se lại giống như là lá hành Một bụi lúa có thể bị ngộ độc bình quân từ 1-3 đọt non
Các chất độc này tích lũy ngày càng nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến tiến trình khoáng hoá dưỡng liệu từ dạng hữu cơ sang dạng vô cơ để cung cấp cho rễ của cây lúa Đồng thời các axit hữu cơ và H2S sẽ gây nên tình trạng cạnh tranh Oxy ở vùng
rễ, làm cản trở quá trình hấp thụ dinh dưỡng và gây hại cho rễ của cây lúa
Triệu chứng: Rõ nhất là bộ rễ bị thối đen và có mùi hôi đặc trưng, trên lá có vết bệnh đốm nâu hoặc các lá bị vàng xỉn màu, lá không có khuynh hướng xòe ngang mà dựng đứng lên, cây lúa vàng và lùn, lúa phát triển kém, ít đẻ nhánh, không bắt phân Thường xuất hiện từ 15-30 ngày sau khi sạ, có nơi bị sớm hơn khi lúa mới sạ vài ngày và gây thiệt hại rất nặng Ngộ độc hữu cơ có thể xảy ra trong suốt quá trình sinh trưởng của cây lúa, đặc biệt là giai đoạn đầu nếu bị nặng có thể làm cho cây lúa bị cằn cỗi và có bón phân hoài thì cây lúa cũng không phát triển, ở
Trang 28giai đoạn trổ đồng mà bị ngộ độc hữu cơ kết hợp với các bệnh hại khác như bệnh đạo ôn, bệnh đốm vằn thì càng làm cho cây lúa bị bệnh nặng hơn, nếu có trổ thì cũng bị lem lép hạt
* Ngộ độc phân bón: một số trường hợp do điều kiện khách quan hay do
thói quen tăng liều sử dụng của nông dân khi bón phân qua gốc hay phun phân qua
lá đã làm cho cây trồng hấp thu một lượng dinh dưỡng lớn trong một khoảng thời gian ngắn đã làm cho cây bị ngộ độc
Triệu chứng: lá thường bị héo, vàng, trường hợp cây đang mang quả thì quả
bị vàng và rụng,… hiện tượng này có thể xảy ra một số khu vực hoặc bị nặng có thể
bị cả diện tích Đặc biệt là hiện tượng ngộ độc hay xảy ra khi phun phân bón qua lá quá liều Trong những trường hợp đó nếu không giải độc ngay sẽ làm mất mùa và trường hợp nặng cây sẽ bị chết Bón phân dư thừa có thể làm giảm năng suất và làm hại đến chất lượng quả Ví dụ, các quả từ cây được bón quá nhiều phân có thể nhỏ hơn bình thường Chúng có thể có vỏ dày hơn, hàm lượng đường thấp hơn và phát triển chậm hơn Lạm dụng phân bón còn làm ô nhiễm đất và nước tưới
Nhiệt độ: Nhiệt độ của không khí có ảnh hưởng lên sự phát triển của cây
trồng Mỗi loài cây có một khoảng nhiệt độ chịu đựng được và thích hợp khác nhau Ngoài phạm vi này, nhiệt độ cao hơn hoặc nhiệt độ thấp hơn đều có thể gây hại cho cây
Nhiệt độ cao tác động kéo dài gây hiện tượng chậm lớn, hạt lép, chín không đều, cháy xém Trái cà chua bị cháy nắng: trái có các vết thâm như bị thấm nước, sau đó vết bị nhăn nheo và khô đi, ngã màu trắng hoặc xám Ngoài ra trái cà chua còn có thể bị biến dạng, méo mó
Trang 29Hình 2.4 Trái cà chua bị biến dạng, méo mó do nhiệt độ cao
(Nguồn Internet)
Cây bắp khi gặp nắng nóng liên tục sẽ bị cuốn lá, khô phần trên của cây (cả hoa đực), không thụ phấn được, trái không có hạt Cây có thể chết nếu nắng nóng quá lâu
Nhiệt độ thấp quá cũng gây hại cho cây Tùy theo mức độ và loại cây có thể gây nên các triệu chứng, héo khô, vàng lá, trắng lá, nhăn nhúm Thân bị hại có hiện tượng nứt nẻ, bong vỏ Hoa giảm khả năng thụ phấn, hoa rụng, hạt lép, trái rụng… Cây chuối có thể chịu được nhiệt độ trên 100C Khi nhiệt độ xuống thấp hơn cây sẽ
bị hại do vỡ các mạch nhựa
Hình 2.5 Lá lúa bị tổn thương lạnh (Nguồn Internet)
Trang 30Ánh sáng: Ánh nắng gay gắt thường đi kèm với nhiệt độ cao cũng làm hại cây trồng Cây bị hại có thể cằn cổi, kém phát triển, giảm năng suất và giảm phẩm chất đáng kể Bị nặng thì cây có thể chết mau lẹ Ngược lại thiếu ánh sáng cây cũng suy yếu, cho năng suất kém, thậm chí cao lêu khêu, lá vàng nhợt
Ẩm độ không khí: Ẩm độ không khí khô quá làm tăng sự thoát hơi nước của
cây, làm tăng nhu cầu về nước Nếu ẩm độ không khí khô kết hợp với nhiệt độ cao
có thể làm cho cây chết
độ khô ráo (gió lào) Ở vùng gió mạnh, lá cây có thể có nhiều chấm nâu nhỏ li ti, đó
là do gió mang cát theo tạo nên vết thương trên lá Gió mạnh làm cho lá chuối rách tơi tả, làm giảm diện tích quan hợp của cây
không khí thường bị ố nhiễm trầm trọng Hơi SO2 là chất gây tai hại cho người và
cả cho cây trồng Khói do than đá bốc ra, nếu không được pha loãng ra trong không khí, sẽ tích tụ lại và làm cho lượng SO2 đạt đến nồng độ cao gây nhiều thiệt hại cho cây cối trong vùng Triệu chứng thường xảy ra là lá ngã màu vàng, đỏ, rồi rụng, cây
bị lùn đi vì không phát triển được
Sương mù trong vùng công nghiệp cũng chứa nhiều chất độc như SO2, ammônia, fluorit, vv có thể gây hại cho các loại hoa màu như: xà lách, rau dền, củ cải, cần tây, cỏ alfalfa,vv
Các trận mưa acid ở Bắc Âu là hậu quả của sự ô nhiễm không khí do các vùng công nghiệp gây ra Các trận mưa này tiêu diệt những cánh rừng rộng lớn ở Bắc Âu, và làm ô nhiễm cả nước của các hồ lớn nhỏ của vùng này và tiêu diệt hầu hết cá trong hồ
Trang 312.2 1 Nấm
Nấm là vi sinh vật nhân thực, không có diệp lục tố, đơn bào hoặc đa bào dưới dạng sợi nấm, sinh sản bằng sự phân cắt tế bào cũng như có sinh sản vô tính bằng bào tử và sinh sản hửu tính rõ ràng Trong mức thang tiến hóa, nấm có mức độ tiến hóa cao hơn vi khuẩn Nấm gây bệnh cây trồng có mức độ tiến hóa thấp nhất
thuộc lớp Plasmodiophoromycetes (ngành Nấm Nhầy) và lớp nấm có mức độ tiến
hóa cao nhất là lớp Nấm Đảm Bảng phân loại tổng quát các nấm gây bệnh cây trồng như sau:
Hình 2.6 Một số bệnh hại cây trồng do nấm gây ra (Nguồn Internet)
(a: bệnh thối gốc có tơ trên cải, bệnh thối trái non, c: bệnh chết cây con)
Trang 32
Hìn h 2.7 Hình dạng một số bào tử và ổ nấm gây bệnh cây trồng
(Nguồn: Nguyễn Thị Quế Phương, 2013)
Trang 33Nấm gây bệnh cây trồng lan truyền dưới dạng bào tử, hạch nấm hoặc bởi chính sợi nấm của chúng Các tác nhân giúp cho sự lan truyền là gió, nước, côn trùng và động vật, kể cả con người Nấm có thể lưu tồn, sau mùa vụ trồng, trên hạt giống, trong đất, trên xác bả của cây trồng, trên cỏ dại hoặc trên các loại ký chủ phụ
và ký chủ trung gian Phần lớn nấm gây bệnh cây trồng có đời sống ký sinh tùy ý (có thể ký sinh, nhưng cũng có thể hoại sinh), tuy nhiên có một nhóm nấm lại có đời sống ký sinh bắt buộc, như các nấm gây bệnh rỉ (bộ Uredinales, lớp Nấm Đảm) Nấm xâm nhập vào ký chủ qua các cửa ngõ tự nhiên như khí khẩu, thủy khẩu, hay xâm nhập trực tiếp xuyên qua vách tế bào cây ký chủ…
Vi khuẩn gây ra ít bệnh cho cây trồng hơn nấm, tuy nhiên một số bệnh do vi khuẩn gây ra thường rất trầm trọng và khó trị Thí dụ như bệnh cháy bìa lá lúa, bệnh héo rũ cà chua, thuốc lá, ớt; bệnh thối nhũn cải bắp, vv
Vi khuẩn là vi sinh vật đơn bào, kích thước rất nhỏ, có cấu tạo tế bào kém tiến hóa hơn so với nấm, đặc biệt là vi khuẩn chưa có nhân rõ ràng như nấm nên được xếp trong giới Nhân Nguyên
Vi khuẩn sinh sản vô tính bằng cách tự nhân đôi hoặc sinh sản hữu tính không hoàn toàn bằng các cách như tiếp hợp, tải nạp và biến nạp
Vi khuẩn gây bệnh cây phần lớn có hình que, có thể có roi hoặc không có roi tùy loài Nếu có roi thì có thể có một hoặc nhiều roi ở một đỉnh hoặc có nhiều roi ở chung quanh
Vi khuẩn gây bệnh cây trồng thường thuộc năm chi sau đây:
nổi u bướu ở thân, cành cây
- Erwinia: gram âm, hình que, có roi chung quanh, thường gây ra triệu chứng thối nhũn, có mùi rất thối
- Pseudomonas: gram âm, hình que có hoặc không có roi ở một đỉnh, khuẩn
lạc màu trắng sửa, thường xảy ra triệu chứng héo rũ cả cây, thối hạt, thối thân cây
Trang 34- Xanthomonas: gram âm, hình que, có roi ở một đỉnh, khuẩn lạc màu vàng, thường gây triệu chứng đốm ở lá
- Corynebacterium: gram dương, hình chùy, thường gây triệu chứng héo đọt
Vi khuẩn xâm nhập vào cây trồng qua các cửa ngõ tự nhiên như khí khẩu, bì khẩu và thủy khẩu hoặc qua các vết thương của cây trồng Các vết thương do côn trùng chích hút, cắn phá hoặc các vết thương do bão, lụt hoặc do con người gây ra đều là cửa ngỏ cho vi khuẩn xâm nhập vào cây và gây hại Trong đất, tuyến trùng chích hút rễ cây cũng tạo ra các vết thương, thuận tiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây hại sau đó
Úa cành Héo đọt Thối nhũn
Đốm lá u sưng Héo rũ panama Úa Ung thư
Đốm lá Chết gục Thối đen Thối thân Loét cành, trái
Hình 2.8 Một số chi vi khuẩn quan trọng gây bệnh cây trồng và triệu chứng gây ra
(Nguồn: Phạm Văn Kim và Trần Thị Thu Thủy, ĐHCT)
Trang 352.2.3 Xạ khuẩn
Rất ít loài xạ khuẩn gây hại cho cây trồng Chỉ một vài loài trong chi
Streptomyces có gây bệnh cho củ, rễ của một vài loài cây trồng mà thôi Xạ khuẩn
là vi sinh vật trung gian giữa vi khuẩn và nấm, có giai đoạn chúng ở dạng đơn bào, cũng như có giai đoạn chúng ở dưới dạng sợi, đa bào Sợi của xạ khuẩn có dạng xoắn ở ngọn
2.2.4 Virus
Virus gây ra khá nhiều bệnh cho cây trồng và có những bệnh rất trầm trọng, gây nhiều thiệt hại cho nhà nông Thí dụ như bệnh lùn xoắn lá lúa tại các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Vỉnh Long, Trà Vinh và Đồng Tháp, trong vụ lúa đông xuân 1992-
1993, gây thất thu trầm trọng cho nhà nông Chỉ riêng tỉnh Cần Thơ, thất thu ước lượng đến 200 tỉ đồng (thất thu 200.000 tấn lúa)
Bệnh do virus gây ra thường có các triệu chứng thuộc nhóm làm hư hỏng mô
và đôi khi làm chết tế bào Các triệu chứng do virus gây ra gồm có:
- Khảm, tức hư hỏng về màu sắc,
- Lá bị teo nhỏ hoặc nhăn nheo, biến dạng
- Hoại thư tức là mô cây bị chết (necrosis) Có thể hoại thư tại chỗ hoặc hoại
thư lưu dẫn (tức mô chết thành các chấm hoặc đốm trên lá, hoặc lan dần ra rồi chết
cả lá hoặc cả cây) Hầu hết virus gây bệnh cây chứa RNA ngoại trừ một vài virus gây bệnh chứa DNA
Về mặt hình dạng, virus gây bệnh cây có hình que ngắn và cứng, hình que dài mềm (hình sợi) và hình khối cầu nhiều mặt
Bệnh do virus gây ra trên cây trồng thường được lan truyền bởi côn trùng môi giới, bởi các tác nhân cơ học, qua nhân giống vô tính (chiết, tháp, hom, ), qua hạt giống, và cả bởi tuyến trùng và nấm trong đất
Chưa có thuốc trị được các bệnh do virus gây ra
Trang 36Đối phó với bệnh do virus gây ra rất khó khăn, chủ yếu là ngừa bệnh bằng các biện pháp như trị và ngừa côn trùng môi giới, vệ sinh đồng ruộng, chọn hạt
giống hoặc mắt tháp, cây chiết không có mầm bệnh
2.2.5 Mycoplasma và MLO
Mycoplasma (mycoplasma like organism) là nhóm vi sinh vật thuộc giới Nhân Nguyên, nhưng khác với vi khuẩn ở chỗ tế bào của chúng không có vách, nên chúng không có hình dạng nhất định và thường kéo dài ra nên kích thước khá nhỏ, không quan sát được qua kính hiển vi quang học Có thể quan sát chúng dễ dàng bằng kính hiển vi điện tử Việc nuôi cấy mycoplasma rất khó, vì chúng không có vách nên chỉ có thể sống trong môi trường đẳng trương mà thôi Do đó phần lớn việc phát hiện ra bệnh do nhóm mycoplasma gây ra chỉ dựa vào kết quả quan sát vi
phẫu thức của lá hoặc cành cây bệnh qua kính hiển vi điện tử Do đó các tác giả chỉ dùng từ MLO (mycoplasma like organism) tức là vi sinh vật giống như mycoplasma, để chỉ chúng Chỉ có một vài bệnh cây được xác định hẳn là do mycoplasma gây ra, sau khi tác giả nuôi cấy và định danh được chúng
Đến năm 1972, có khoảng bốn mươi bệnh cây được phát hiện là do mycoplasma hoặc MLO gây ra Các bệnh này có triệu chứng chủ yếu là lùn, vàng
lá, cây cằn cổi, kém phát triển
Mycoplasma và MLO được lan truyền bởi côn trùng chích hút, bởi các tác nhân cơ giới như xén tỉa cây, và bởi các biện pháp nhân giống vô tính như tháp, chiết và giâm cành Mycoplasma và MLO ký sinh bên trong mạch nhựa của cây
Có thể dùng các loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm tetracycline để trị các bệnh do mycoplasma và MLO gây ra
Tuyến trùng là loài động vật nhỏ trong đất, nước và cả trên không Chúng thuộc ngành Nemathelminthes Tuyến trùng có kích thước hơi nhỏ, mắt thường khó nhìn thấy được, nhưng có thể quan sát dưới kính phóng đại từ 7 đến 40 lần
Trang 37Tuyến trùng có hai nhóm hình dạng chính: hình sợi, nhọn ở hai đầu, giống như con giun kim và hình quả lê
Tuyến trùng ký sinh có mang kim ở đầu để chích hút chất dinh dưỡng từ cây Cách gây hại cho cây, chủ yếu, là chích hút làm cho mô cây bị hư hỏng Nếu ký sinh ở rễ thì làm cho rễ hư hỏng, không hút được đầy đủ dưỡng liệu từ đất nên cây
bị cằn cỗi, lá vàng, rụng lá, cây chết dần Triệu chứng bệnh do tuyến trùng gây ra thể hiện ra rất chậm Trên cây đa niên, bệnh có thể tiến triển trong nhiều năm trước khi làm chết cây nên rất khó nhận ra kịp thời
Tuyến trùng có ba cách ký sinh:
- Ngoại ký sinh: tuyến trùng chỉ bám bên ngoài mô bị hại, chọc kim vào
trong mô để hút chất dinh dưỡng
- Nội ký sinh: tuyến trùng chui hẳn vào bên trong mô cây, sống và sinh sản
ngay bên trong mô Với cách ký sinh này, tuyến trùng nội ký sinh thường làm cho
mô cây sưng phù lên, tạo thành các u hoặc bướu Thí dụ tuyến trùng Meloidogyne arenaeria ký sinh ở rễ cây tiêu
Hình 2.9 Tuyến trùng nội ký sinh trong rễ cây (Nguồn: Phạm Văn Kim)
- Bán nội ký sinh: tuyến trùng chui phần đầu vào trong mô cây, còn phần
thân mình thì còn bên ngoài mô cây bị ký sinh Thí dụ tuyến trùng Tylenchulus
semioenetrans có hình thức bán nội ký sinh ở rễ cây có múi làm thối rễ
Trang 38Hình 2.10 Tuyến trùng Hirchmaniella oryzae bán nội ký sinh ở rễ cây lúa và ổ
tr ứng bên trong mô của rể cây lúa (Nguồn: Phạm Văn Kim)
Tuyến trùng có thể ký sinh ở:
- Rễ cây (bệnh bướu rễ cây tiêu do Meloidogyne arenaeria)
- Lá cây (bệnh khô đầu lá lúa do Aphelenchoides besseyi)
- Thân cây (bệnh tiêm đọt sần lúa do Ditylenchus angustus)
- Gây thối rễ cây ( thối rễ cây lúa do Hirchmaniella oryzae)
- Ở hoa và cả ở hạt
Trong đất có rất nhiều loài tuyến trùng, trong đó có cả tuyến trùng hoại sinh (không có kim ở đầu, ăn xác bả thực vật) và cả tuyến trùng ký sinh gây hại cho cây trồng (có kim ở đầu)
Mật số tuyến trùng hiện diện trong đất là điều cần quan tâm, bởi vì không phải hễ có tuyến trùng ký sinh trong đất là cây trồng sẽ bị thiệt hại, mà chỉ khi nào mật số tuyến trùng đạt đến ngưỡng gây hại thì cây trồng mới bị hại
Tuyến trùng đẻ trứng, trứng nở ra ấu trùng (tuyến trùng con) Sau vài lần lột xác để lớn, tuyến trùng sẽ trưởng thành Tuyến trùng có con cái và con đực với bộ phận sinh dục khác nhau
Trang 39Trong đất, tuyến trùng nhân mật số lên chậm hơn nấm, vi khuẩn, mycoplasma và virus nhiều Tuy nhiên, nếu ký chủ thích hợp được trồng liên tục trong nhiều năm thì tuyến trùng sẽ nhân mật số lên dần cho đến lúc đạt mật số gây hại thì từ đó cây trồng sẽ bị hại và càng ngày mức độ thiệt hại càng tăng lên
Biện pháp đối phó với tuyến trùng hữu hiệu và rẻ tiền nhất là đừng tạo điều kiện cho tuyến trùng gia tăng mật số lên đến ngưỡng gây hại Như vậy, biện pháp luân canh với các loại hoa màu không bị cùng loài tuyến trùng gây hại, là biện pháp tốt nhất Trồng xen hoa màu chính với các loại cây có tính ức chế tuyến trùng như cây hoa vạn thọ (Tagetes errecta) cũng là biện pháp tốt Bón nhiều phân chuồng
hoai mục cũng là biện pháp giúp làm giảm bớt mật số tuyến trùng trong đất Bởi vì trong phân chuồng ủ thật hoai mục có chứa nhiều vi sinh vật gây hại cho tuyến trùng
Có một số thuốc trị được tuyến trùng như: Nemagon, DD, Furadan, Mocap, vv Tuy nhiên việc bơm thuốc vào trong đất rất khó và tốn kém
Các chi tuyến trùng thường gặp là: Ditylenchus, Aphelenchoides, Hirschmaniella, Meloidogyne, vv
có diệp lục tố nên không thể tự quang tổng hợp được mà phải lấy nhựa luyện của ký
chủ để sống Thí dụ như dây tơ hồng (Cuscuta spp.), hoặc dây tơ xanh (Cassytha filiformis, C capillaris)
Trang 40
Hình 2.11 Dây tơ hồng ký sinh trên cây cà tím
(Nguồn: Nguyễn Thị Quế Phương, 2014)
(a: Dây tơ hồng ký sinh trên cây cà tím, b: rễ dây tơ hồng, c: Mặt cắt cho thấy rễ như vòi hút xuyên qua lớp
vỏ vào nhựa luyện cây ký chủ)
Nhóm bán ký sinh, gồm các thực vật có lá hoàn chỉnh, có diệp lục tố, có khả năng quang hợp, nên chỉ lấy nhựa nguyên của cây ký chủ rồi tự tổng hợp Rễ biến thành vòi hút, đâm sâu vào phần gỗ của ký chủ, tiến đến bó mộc, chận lấy nhựa nguyên của ký chủ Thí dụ như cây chùm gửi (gồm nhiều chi và loài khác nhau như
Scurrula notothixaides, Helixanthera cylindrica, vv )
(a)
(b) (c)