1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tính thanh khoản của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố hồ chí minh

223 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tính thanh khoản của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Phương Hà
Người hướng dẫn GS.TS. Trương Bá Thanh
Trường học Đại học Đà Nẵng - Trường Đại học Kinh tế
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Gary và Kenneth 1982, đo lường thanh khoản là một nội dung không thể thiếu khi phân tích tình hình tài chính của một công ty, nhất là trong việc định giá tín dụng, và các tỷ số than

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi Tất cả dữ liệu và trích dẫn trong luận án đề có nguồn gốc rõ ràng Kết quả phân tích của luận án chưa được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

NGHIÊN CỨU SINH

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án Tiến sĩ này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TS Trương Bá Thanh - Người hướng dẫn Khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện công trình nghiên cứu này

Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS TS Đặng Tùng Lâm - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình xử lý số liệu của luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Quý Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kế toán - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã tham gia quản lý, giảng dạy, quan tâm động viên và giúp đỡ chuyên môn để tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Trường Đại học Tài chính - Kế toán, nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận án

Cuối cùng, trong sâu thẳm tận đáy lòng mình, tôi xin gửi lời cảm ơn và yêu thương đến Gia đình, nơi đã tạo mọi điều kiện vật chất, tinh thần để tôi thực hiện công việc học tập, nghiên cứu luận án này

Xin chân thành cảm ơn!

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Phương Hà

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận án 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp mới của luận án 5

7 Kết cấu của luận án 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH THANH KHOẢN CÔNG TY 8

1.1 Tính thanh khoản công ty và đo lường tính thanh khoản công ty 8

1.1.1 Khái niệm về tính thanh khoản công ty 8

1.1.2 Ý nghĩa của tính thanh khoản công ty 10

1.1.3 Đo lường tính thanh khoản công ty 11

1.2 Tính thanh khoản cổ phiếu và đo lường tính thanh khoản cổ phiếu của công ty 27

1.2.1 Khái niệm về tính thanh khoản cổ phiếu 27

1.2.2 Đo lường tính thanh khoản cổ phiếu 27

1.3 Các lý thuyết liên quan đến tính thanh khoản công ty 30

1.3.1 Lý thuyết ưa thích thanh khoản (Liquidity Preference Theory) 30

1.3.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry Theory) 32

1.3.3 Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking-order Theory) 34

1.3.4 Lý thuyết đánh đổi (Trade-off Theory) 34

1.4 Tổng quan nghiên cứu 36

1.4.1 Tổng quan nghiên cứu về đo lường tính thanh khoản công ty 36

1.4.2 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty 39

Trang 6

1.4.3 Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến

tính thanh khoản cổ phiếu 66

1.5 Khoảng trống nghiên cứu 70

1.5.1 Khoảng trống nghiên cứu về đo lường tính thanh khoản công ty 70

1.5.2 Khoảng trống nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoảng công ty 71

1.5.3 Khoảng trống nghiên cứu về ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 74

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 75

2.1 Khung nghiên cứu 75

2.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 77

2.2.1 Giả thuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty 77

2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty 87

2.3 Xây dựng mô hình phân tích 89

2.3.1 Mô hình đo lường và phân loại tính thanh khoản công ty 89

2.3.2 Mô hình phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty 94

2.3.3 Mô hình phân tích hồi quy ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu 95

2.4 Đo lường các biến 95

2.4.1 Đo lường tính thanh khoản công ty 95

2.4.2 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty 97

2.4.3 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty 99

2.5 Kỹ thuật phân tích 101

Trang 7

2.5.1 Phân tích tách biệt (Discriminant Analysis) 101

2.5.2 Phân tích mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty 105

2.5.3 Phân tích mô hình hồi quy ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty 107

2.6 Mẫu và dữ liệu nghiên cứu 109

2.6.1 Mẫu nghiên cứu 109

2.6.2 Dữ liệu nghiên cứu 109

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 110

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 111

3.1 Thực trạng tính thanh khoản công ty và phân loại tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên HOSE 111

3.1.1 Khái quát về các công ty niêm yết trên HOSE 111

3.1.2 Thực trạng tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên HOSE 113

3.1.3 Kết quả phân tích tách biệt phân loại tính thanh khoản công ty 115

3.2 Kết quả phân tích các mô hình hồi quy 120

3.2.1 Thống kê mô tả các biến 120

3.2.2 Phân tích tương quan giữa các biến 124

3.2.3 Kết quả về các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty 127

3.2.4 Kết quả về ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty 143

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 149

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, HÀM Ý CHÍNH SÁCH 151

4.1 Bàn luận kết quả nghiên cứu 151

4.1.1 Về đo lường và phân loại tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên HOSE 151

Trang 8

4.1.2 Về các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty của các công ty

niêm yết trên HOSE 152

4.1.3 Về ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu của các công ty niêm yết trên HOSE 160

4.2 Hàm ý chính sách 161

4.2.1 Hàm ý lý thuyết 161

4.2.2 Hàm ý quản trị 162

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 169

KẾT LUẬN 170 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh

AGE Thời gian hoạt động của doanh

ATD Số ngày vòng quay nợ phải thu Receivables Turnover Days CAPEX Chi tiêu tài sản cố định Capital Expenditure

CaR Tỷ số thanh toán tức thời Cash Ratio

CCC Chu kỳ chuyển đổi tiền Cash Conversion Cycle

CF Tỷ số dòng tiền hoạt động kinh

CNTT Công nghệ thông tin

CR Tỷ số thanh toán hiện tại Current Ratio

FEM Mô hình dữ liệu bảng hiệu ứng cố

GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product

GMM Phương pháp ước lượng GMM Generalized Method of

Moments

HNX Sở Giao dịch chứng khoán thành

HOSE Sở Giao dịch khoán thành phố Hồ

ICP Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho Inventory Conversion Period

Trang 10

Từ viết tắt Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh

ITD Số ngày vòng quay hàng tồn kho Inventory Turnover Days

LIQ Tính thanh khoản công ty Liquidity

MB Tỷ số giá thị trường trên giá trị

MC Giá trị vốn hoá thị trường Market Capitalization

OLS Phương pháp ước lượng bình

phương bé nhất Ordinary Least Squares PDP Kỳ thanh toán nhà cung cấp Payable Deferral Period

RCP Kỳ thu tiền khách hàng Receivable Conversion Period

REM Mô hình dữ liệu bảng hiệu ứng

ROA Tỷ số sinh lời trên tài sản Return On Assets

ROE Tỷ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu Return On Equity

SLIQ Thanh khoản cổ phiếu Stock Liquidity

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về đo lường, so sánh tính thanh

Bảng 1.2 Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của

các nhân tố đặc thù công ty đến tính thanh khoản công ty 54

Bảng 1.3 Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của

các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tính thanh khoản công ty 61

Bảng 1.4 Tổng hợp các nghiên cứu tại Việt Nam về các nhân tố ảnh

Bảng 1.5 Tổng hợp các nghiên cứu về ảnh hưởng của tính thanh

khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu 69

Bảng 3.1 Cơ cấu các ngành nghề của các công ty niêm yết được lựa

Bảng 3.2 Thống kê mô tả thời gian hoạt động của công ty 112 Bảng 3.3 Thống kê mô tả tính thanh khoản công ty 113 Bảng 3.4 Thống kê mô tả các nhóm được phân loại 116

Bảng 3.8 Thống kê mô tả giá trị LS của hai nhóm được phân loại 118

Bảng 3.12 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 126

Bảng 3.13 Kết quả phân tích mô hình hồi quy của tỷ số thanh toán

hiện tại với các nhân tố đặc thù công ty 127 Bảng 3.14 Kết quả phân tích mô hình hồi quy OLS của tỷ số thanh

toán hiện tại với các nhân tố kinh tế vĩ mô 130

Trang 12

Ký hiệu Tên Trang

Bảng 3.15 Kết quả phân tích mô hình hồi quy FEM của tỷ số thanh

toán hiện tại với các nhân tố kinh tế vĩ mô 131

Bảng 3.16 Kết quả hồi quy mô hình hồi quy Sys-GMM của tỷ số

thanh toán hiện tại với các nhân tố kinh tế vĩ mô 132

Bảng 3.17 Kết quả phân tích mô hình hồi quy của chu kỳ chuyển đổi

Bảng 3.18 Kết quả phân tích mô hình hồi quy OLS của Chu kỳ

chuyển đổi tiền với các nhân tố kinh tế vĩ mô 135

Bảng 3.19 Kết quả phân tích mô hình hồi quy FEM của Chu kỳ

chuyển đổi tiền với các nhân tố kinh tế vĩ mô 136

Bảng 3.20 Kết quả hồi quy mô hình hồi quy Sys-GMM của Chu kỳ

chuyển đổi tiền với các nhân tố kinh tế vĩ mô 137

Bảng 3.21 Kết quả phân tích mô hình hồi quy của tỷ số dòng tiền hoạt

động kinh doanh với các nhân tố đặc thù công ty 138

Bảng 3.22 Kết quả phân tích mô hình hồi quy OLS của tỷ số dòng tiền

hoạt động kinh doanh với các nhân tố kinh tế vĩ mô 141

Bảng 3.23 Kết quả phân tích mô hình hồi quy FEM của tỷ số thanh

toán hiện tại với các nhân tố kinh tế vĩ mô 142

Bảng 3.24 Kết quả hồi quy mô hình hồi quy Sys-GMM của tỷ số

thanh toán hiện tại với các nhân tố kinh tế vĩ mô 143 Bảng 3.25 Tỷ số thanh toán hiện tại và tính thanh khoản cổ phiếu 144 Bảng 3.26 Chu kỳ chuyển đổi tiền và tính thanh khoản cổ phiếu 145

Bảng 3.27 Tỷ số dòng tiền hoạt động kinh doanh và tính thanh khoản

Bảng 3.28 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng

Bảng 3.29 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của tính thanh

khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu 151

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Thanh khoản là một trong những chỉ số quan trọng nhất trong việc đánh giá tình hình tài chính của công ty Theo Gary và Kenneth (1982), đo lường thanh khoản là một nội dung không thể thiếu khi phân tích tình hình tài chính của một công ty, nhất là trong việc định giá tín dụng, và các tỷ số thanh khoản thường được

sử dụng khi tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm trong kế toán Subhanij (2010) tin rằng rủi ro thanh khoản trở nên phức tạp hơn do những phát triển ngày càng mạnh trên thị trường tài chính Một công ty nên duy trì tính thanh khoản đầy đủ để đối mặt với các điều kiện bất ngờ như nhu cầu theo mùa vì nó có thể không có khả năng huy động được các quỹ tài chính từ các nguồn bên ngoài Nếu xảy ra tình trạng thiếu hụt thanh khoản, công ty có thể không đáp ứng được các nghĩa vụ với nhà cung cấp, dẫn đến việc nhà cung cấp ngừng giao hàng, nguyên vật liệu gây cản trở quá trình sản xuất kinh doanh, không đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô và tăng chi phí sản xuất Từ đó, có thể mất thị phần do khan hiếm sản phẩm, hàng hoá trên thị trường Ngoài ra, các ngân hàng sẽ tính lãi suất cao hơn do công ty bị giảm doanh thu hoặc không có đủ tài sản thanh khoản, từ đó có thể dẫn đến phá sản Như vậy việc phân tích tình hình thanh khoản giúp các nhà quản lý đánh giá được chính xác tình hình tài chính của công ty ở hiện tại và nhận biết các dấu hiệu trong tương lai để kịp thời ngăn chặn công ty rơi vào tình huống mất thanh khoản dẫn đến phá sản Do đó, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tính thanh khoản công ty luôn là đề tài thu hút đối với nhiều nhà kinh tế học và đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở nhiều quốc gia với điều kiện kinh tế xã hội khác nhau

Trên thế giới, việc nghiên cứu về tính thanh khoản công ty, chủ yếu nghiên cứu riêng lẻ hoặc tính thanh khoản công ty được đo lường bằng các chỉ tiêu khác nhau (xem Richards và Laughin, 1980; Ryu và Jang, 2004; Kirkham, 2012; Atieh, 2014; Lin và cộng sự, 2014; Billah và cộng sự, 2015, v.v), hoặc các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty (xem Kim và Sherman, 1998; Bruinshoofd và Kool, 2004; Uyar, 2009; Bhutto và cộng sự, 2011; Denčič-Mihajlov và Malenović,

Trang 15

2015, v.v), hoặc tính thanh khoản công ty ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công

ty (xem Saleem và Rehman, 2011; Garanina và Petrova, 2015; Akinleye và Ogunleye, 2019, v.v), hoặc mối quan hệ giữa tính thanh khoản của tài sản mà công ty đang nắm giữ và tính thanh khoản cổ phiếu của công ty đó Mặt khác, khi nghiên cứu

về tính thanh khoản công ty hầu hết các tác giả chỉ thực hiện nghiên cứu dựa trên từng phương pháp đo lường tính thanh khoản cụ thể, mà chưa có sự tổng hợp các phương pháp để có thể đánh giá tính thanh khoản công ty ở đầy đủ khía cạnh và tổng quát nhất

Tại Việt Nam, nghiên cứu về tính thanh khoản công ty cũng dần được các học giả quan tâm trong những năm gần đây Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai nội dung, hoặc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty (xem Nguyễn Phương Hà, 2014; Trương Hồng Trình và Phan Thị Thuý Mai, 2016; Hà Thị Kim Phượng, 2018; Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Nam Tài, 2018…), hoặc kiểm tra

sự khác biệt về tính thanh khoản công ty khi sử dụng các chỉ tiêu đo lường khác nhau (xem Phạm Quang Tín và cộng sự, 2017) Các nghiên cứu này được đã có đóng góp bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực tính thanh khoản công ty ở Việt Nam, tuy nhiên, các nghiên cứu còn khá rời rạc, tính thanh khoản công ty được xem xét riêng biệt với các chỉ tiêu đo lường khác nhau và chưa có nghiên nào xây dựng một phương pháp đo lường có thể đánh giá tính thanh khoản công ty một cách tổng quát và đầy đủ các khía cạnh Ngoài ra, hiện nay khi nói đến tính thanh khoản của một công ty, đặc biệt là đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, thì các nhà quản trị hay các nhà đầu tư sẽ quan tâm đến hai nội dung là tính thanh khoản công ty (thể hiện khả năng thanh toán trong ngắn hạn) và tính thanh khoản cổ phiếu mà công ty phát hành đang được giao dịch trên thị trường chứng khoán Trên thế giới đã có một số học giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai loại thanh khoản này của công ty, tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này

Bên cạnh những khoản trống của một số nghiên cứu điển hình đã được trình bày

ở trên, thực trạng hoạt động kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến phá sản và giải thể của các doanh nghiệp trên cả nước gia tăng hàng năm là vấn đề rất đáng quan tâm Theo

Trang 16

Tổng cục Thống kê, trong năm 2019 cả nước có hơn 28.731 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (tăng 5,9%), 43.711 doanh nghiệp chờ giải thể (tăng 41,7%), 16.840 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể (tăng 3,2%) Trung bình mỗi tháng có 7.440 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến việc công ty giải thể, trong đó có hai nguyên nhân chính: Một là, do sự yếu kém trong việc quản lý hoạt động kinh doanh, bên cạnh một số ít công ty kịp thời thích nghi với tình hình kinh tế thị trường thì nhiều công

ty không có những phương án hoạt động kinh doanh phù hợp dẫn đến thua lỗ; Hai

là, do dự yếu kém trong việc quản lý tài chính, chủ yếu do sử dụng tài sản không hiệu quả, rủi ro thanh khoản có thể phát sinh, đây được xem là rủi ro khó khăn nhất

so với các rủi ro tài chính khác Ngoài ra, đối với những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thì ngoài tính thanh khoản công ty thì tính thanh khoản cổ phiếu cũng là vấn đề luôn được nhà quản lý cũng như các nhà đầu tư rất quan tâm Các công ty có hoạt động kinh doanh kém hiệu quả liên tục trong ba năm sẽ rơi vào diện yêu cầu huỷ niêm yết bắt buộc Theo công bố của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, trong năm 2019 có đến 25 công ty niêm yết trên cả hai Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội bị yêu cầu huỷ niêm yết bắt buộc

Xuất phát từ những lý do trên, trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi tại Việt Nam thì vấn đề đặt ra là cần có một nghiên cứu nhằm đánh giá được thực trạng tính thanh khoản công ty một cách đầy đủ các khía cạnh nhất, xác định xem tính thanh khoản công ty chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nào và tính thanh khoản công ty có ảnh hưởng đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty đó hay không là hết sức cần thiết

Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu tính thanh khoản của các doanh

nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận

án tiến sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu chính:

Trang 17

- Thứ nhất, đo lường và đánh giá thực trạng tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

- Thứ hai, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên HOSE

- Thứ ba, xác định ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu của các công ty niêm yết trên HOSE

3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện để trả lời các câu hỏi:

- Thực trạng tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên HOSE như thế nào và các công ty được phân loại là công ty có tính thanh khoản công ty tốt hay kém như thế nào?

- Tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên HOSE chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố nào?

- Tính thanh khoản công ty có ảnh hưởng như thế nào đến tính thanh khoản cổ phiếu của các công ty niêm yết trên HOSE?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tính thanh khoản công ty, các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty, và sự ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án như sau:

- Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu trên mẫu là 3411 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2010-2019

- Về nội dung: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu về thực trạng tính thanh khoản công ty cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty xét trên phương diện thanh khoản tài chính về khả năng thanh toán trong ngắn hạn, và tính

Trang 18

thanh khoản công ty ảnh hưởng như thế nào đến tính thanh khoản cổ phiếu của công

ty đó

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính Cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phân tích định lượng thông qua phân tích tách biệt để đo lường thực trạng tính thanh khoản công ty và đồng thời phân loại những công ty có thanh khoản tốt và những công ty có thanh khoản kém Ngoài

ra, luận án cũng thực hiện phân tích mô hình hồi quy dữ liệu bảng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty cũng như ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu Số liệu nghiên cứu là 341 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn từ 2010-2019

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp cơ sở lý thuyết, tổng hợp và phân tích các kết quả của các nghiên cứu trước về

đo lường tính thanh khoản công ty, các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty và ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu Qua đó xác định khoảng trống nghiên cứu về tính thanh khoản công ty, làm nền tảng hình thành khung nghiên cứu của luận án

6 Những đóng góp mới của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có một số đóng góp về phương diện lý thuyết

và học thuật trong bối cảnh của Việt Nam như sau:

6.1 Về phương diện lý thuyết

Thứ nhất, luận án đã tổng hợp và hệ thống hoá đầy đủ các lý thuyết nền tảng

về đo lường tính thanh khoản công ty, tính thanh khoản cổ phiếu, các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty và sự ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu Qua đó, luận án đã chỉ ra được hạn chế trong đo lường tính thanh khoản công ty của các công trình nghiên cứu trước

Trang 19

Đóng góp mới nổi bật của luận án là đã xây dựng phương pháp đo lường tính điểm thanh khoản công ty kết hợp các chỉ tiêu đo lường thể hiện các phương diện khác nhau của tính thanh khoản công ty, đồng thời luận án cũng xây dựng được hàm phân tích tách biệt để phân loại công ty có tính thanh khoản công ty tốt và tính thanh khoản công ty kém

Ngoài ra, khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty của các công ty niêm yết trên HOSE, luận án đã xem xét đồng thời tác động của cả hai nhóm nhân tố đặc thù công ty và nhóm nhân tố kinh tế vĩ mô

Bên cạnh đó, luận án cũng xem xét tính thanh khoản công ty có ảnh hưởng như thế nào đến tính thanh khoản cổ phiếu của các công ty niêm yết trên HOSE Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp bằng chứng về thực trạng tính thanh khoản công ty một cách đầy đủ các khía cạnh hơn, các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty bao gồm cả các nhân tố đặc thù doanh nghiệp và các nhân tố kinh tế vĩ mô, cũng như ảnh hưởng của tính thanh khoản công ty đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty đó trong bối cảnh điều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam Qua đó, làm phong phú thêm kho tàng học thuật về các vấn đề liên quan đến phân tích tài chính nói chung và tính thanh khoản công ty nói riêng trên thế giới

6.2 Về phương diện thực tiễn

Luận án này là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về tính thanh khoản công ty, bởi luận án thực hiện trên cả ba nội dung liền mạch không thể tách rời, đó là: đặc điểm tính thanh khoản công ty trên phương diện tài chính như thế nào, những đặc điểm đó chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nào và chúng ảnh hưởng đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty ra sao Ngoài ra, khác với những nghiên cứu trước, luận án này không xem xét tính thanh khoản công ty trên từng góc độ riêng lẻ

mà dựa trên sự liên kết các chỉ tiêu đo lường tính thanh khoản công ty để có thể đánh giá thực trạng tính thanh khoản công ty một cách đầy đủ nhất, đồng thời xây dựng được hàm phân biệt nhằm phân loại công ty có thanh khoản tốt và công ty có thanh khoản kém Đây là một đóng góp khá quan trọng của luận án trên phương diện thực tiễn, bởi sau khi đo lường được tính thanh khoản công ty, thì nhà quản trị

Trang 20

cũng như các nhà đầu tư cần có một cơ sở để căn cứ vào, từ đó có thể nhận định được công ty mà mình quan tâm có vị thế thanh khoản tốt hay xấu, đây là nội dung hầu như các nghiên cứu trước chưa thực hiện được

Với phương pháp nghiên cứu định lượng phù hợp với các đặc điểm của dữ liệu tài chính, kết quả nghiên cứu được tìm thấy trong luận án này giúp các nhà quản trị công ty cũng như các nhà đầu tư phân tích kỹ lưỡng thực trạng thanh khoản của từng công ty, cũng như nắm bắt được tính thanh khoản công ty chịu ảnh hưởng như thế nào bởi các nhân tố bên trong và bên ngoài, đồng thời có một cái nhìn mới hơn

về mối quan hệ giữa tính thanh khoản công ty và tính thanh khoản cổ phiếu của công ty, từ đó các nhà quản trị có thể đưa ra những quyết định về các chính sách tài chính phù hợp với công ty mình, các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn

và hợp lý

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận án được xây dựng như sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tính thanh khoản công

ty

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách

Trang 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH THANH KHOẢN CÔNG TY

Chương này hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết liên quan đến tính thanh khoản bao gồm tính thanh khoản công ty và tính thanh khoản cổ phiếu, các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản công ty và mối quan hệ giữa tính thanh khoản công ty

và tính thanh khoản cổ phiếu, được cấu trúc theo bốn phần Phần một trình bày về các vấn đề chung của tính thanh khoản công ty, trong đó hệ thống hoá khái niệm tính thanh khoản công ty, ý nghĩa của tính thanh khoản công ty, và các phương pháp

đo lường tính thanh khoản công ty Phần hai trình bày các vấn đề chung và đo lường tính thanh khoản cổ phiếu của công ty Phần ba trình bày về các lý thuyết trọng điểm liên quan đến tính thanh khoản công ty, gồm lý thuyết ưa thích thanh khoản, lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết đánh đổi Phần bốn trình bày tổng quan các nghiên cứu trước về tính thanh khoản công

ty

1.1 Tính thanh khoản công ty và đo lường tính thanh khoản công ty

1.1.1 Khái niệm về tính thanh khoản công ty

Thanh khoản là một trong những chỉ số quan trọng nhất khi phân tích tài chính

và đánh giá vị thế hiện tại của một công ty Gitman và Zutter (2010) đánh giá cao tầm quan trọng của việc đo lường tính thanh khoản công ty, bởi họ cho rằng tính thanh khoản công ty thể hiện tình hình tài chính chung, cụ thể hơn là khả năng thanh toán, hay nói cách khác chính là việc công ty đó giải quyết được các khoản nợ của mình dễ dàng như thế nào

Theo Horne và David (1968), thanh khoản có thể được diễn tả như khả năng nhận ra giá trị của phương tiện được chấp nhận trong sự trao đổi giữa nó với phương tiện khác

Brealey, Myers và Marcus (2001) bổ sung cho khái niệm về tính thanh khoản

đó là “khả năng của một tài sản có thể chuyển đổi thành tiền một cách nhanh chóng với chi phí thấp”

Trang 22

Subramanyam và Wild (2009) đưa ra một khái niệm hẹp hơn về tính thanh khoản Theo họ, “tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền hoặc

có được tiền để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn” Thật vậy, là phương tiện được chấp nhận để trao đổi, tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất và cũng là một chuẩn mực cho việc kiểm soát giá trị của các loại tài sản khác được so sánh như mức độ thay thế của nó

Gitman và Zutter (2010) cho rằng tính thanh khoản công ty thể hiện tình hình tài chính chung, cụ thể hơn là khả năng thanh toán, hay nói cách khác chính là việc công ty đó giải quyết được các khoản nợ của mình dễ dàng như thế nào

Bragg (2011) định nghĩa tính thanh khoản “là khả năng của một thực thể để thanh toán các khoản nợ của mình một cách kịp thời, theo các điều khoản thanh toán ban đầu”

Với quan điểm nghiên cứu tính thanh khoản của một công ty dựa trên năng lực tài chính và giá trị của công ty đó, kế thừa cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu đi trước về tính thanh khoản, khái niệm về tính thanh khoản công ty theo tác giả là

“khả năng mà một công ty chuyển đổi các tài sản ngắn hạn thành tiền để có thể giải quyết được các khoản nợ đến hạn hoặc trong tương lai gần theo chi phí tương ứng nhưng không làm giảm đi giá trị của công ty”

Khái niệm này bao hàm những ý sau:

Thứ nhất, một công ty có thanh khoản tốt là một công ty có khả năng thanh

toán các khoản nợ của mình khi đến hạn

Thứ hai, mức độ nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao (tài sản ngắn

hạn) thường tỷ lệ nghịch với lợi nhuận, bởi khi công ty nắm giữ quá nhiều tiền đồng nghĩa với việc mất cơ hội cho các khoản đầu tư sinh lời khác Mặt khác, đầu tư nhiều vào tài sản ngắn hạn nghĩa là các công ty phải chấp nhận chi phí cơ hội cho việc đầu tư vào tài sản dài hạn Do đó, một công ty đảm bảo được đủ tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn nhưng phải đồng thời không làm giảm đi lợi nhuận của mình

Trang 23

Thứ ba, tất cả các khoản thanh toán của công ty không đến cùng một thời

điểm, do đó công ty không nhất thiết phải dự trữ đủ tiền để thanh toán hết các khoản

nợ trong kỳ Vấn đề của tính thanh khoản lúc này là khoảng thời gian từ lúc công ty chi tiền ra để đầu tư vào tài sản ngắn hạn đến khi thu hồi lại tiền từ chính các tài sản ngắn hạn đó có đảm bảo cho công ty kịp thời thanh toán lần lượt các khoản nợ của mình khi đến hạn hay không

1.1.2 Ý nghĩa của tính thanh khoản công ty

Thanh khoản được xem là huyết mạch của bất kỳ công ty nào, không phân biệt quy mô, cho dù đó là công ty nhỏ, vừa, lớn hay cực lớn

Trong phân tích tài chính, tính thanh khoản công ty là một chỉ tiêu quan trọng

để đo lường sức khỏe tài chính của một công ty, xem xét liệu rằng công ty đó có đủ khả năng để đáp ứng các khoản nợ đến hạn hay không Rủi ro thanh khoản có thể xảy ra nếu công ty sử dụng tài sản không hiệu quả, đây rõ ràng là rủi ro thách thức nhất so với các rủi ro tài chính khác Hơn nữa, một công ty rơi vào tình trạng khủng hoảng còn có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các công ty khác (Billah và cộng sự, 2015)

Khi công ty không có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn, điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty và trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nhiều đến uy tín của công ty Nếu thiếu hụt thanh khoản phát sinh, công ty không thể đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán cho nhà cung cấp, dẫn đến việc các nhà cung cấp sẽ ngừng cung cấp nguyên vật liệu làm cản trở việc sản xuất của công ty, không sản xuất sẽ không tạo ra được sản phẩm để cung cấp ra thị trường, từ đó công

ty có thể bị mất thị phần

Oliveira và Fortunato (2006) cho rằng sự sẵn có và chi phí tài chính là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển của công ty Thiếu tiền hoặc tài sản ngắn hạn trong tay sẽ làm cho công ty bỏ lỡ những ưu đãi được đưa ra bởi các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và hàng hóa Mất ưu đãi như vậy có thể dẫn đến chi phí cao hơn do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty

Trang 24

Tất cả các bên liên quan đều quan tâm đến khả năng thanh toán của một công

ty Các nhà cung cấp tín dụng, hàng hóa và dịch vụ sẽ kiểm tra tính thanh khoản công ty trước khi cho công ty vay hay bán chịu Tính thanh khoản công ty đôi khi được yêu cầu bởi các ngân hàng khi họ đánh giá một khoản cho vay Nếu một công

ty cần một khoản vay, ngân hàng có thể sẽ yêu cầu công ty đó duy trì tính thanh khoản ở mức tối thiểu nhất định, như một phần của thỏa thuận cho vay Vì lý do đó, các bước cải thiện tính thanh khoản công ty là cần thiết

Một công ty với thanh khoản đầy đủ có sự linh hoạt tài chính lớn hơn nên có

cơ hội đàm phán với các nhà cung cấp hàng và tài chính dễ dàng hơn

Đối với một cổ đông của công ty, việc thiếu thanh khoản có thể báo trước sự mất kiểm soát của chủ sở hữu hoặc mất vốn đầu tư Khi các chủ sở hữu có trách nhiệm vô hạn với công ty, nếu công ty rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản sẽ gây nguy hiểm cho tài sản cá nhân của họ (Subramanyam và Wild, 2009)

Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động kinh doanh, thì tính thanh khoản công ty được xem như là mạch máu duy trì sự sống của công ty đó Một khi công ty

bị mất tính thanh khoản thì sẽ không thể thanh toán được các khoản nợ và tất nhiên

sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ Lúc này khoảng cách giữa vỡ nợ và phá sản chỉ là vấn

đề về thời gian nếu công ty không kịp thời khôi phục được tính thanh khoản Do đó, việc hiểu rõ về tính thanh khoản công ty giúp cho các nhà quản lý kinh doanh tránh được các rủi ro thanh khoản trong tương lai

1.1.3 Đo lường tính thanh khoản công ty

1.1.3.1 Tầm quan trọng của việc đo lường tính thanh khoản công ty trong phân tích tài chính

Theo lý thuyết tài chính hiện đại, đối với các chủ sở hữu thì việc tối đa hóa giá trị công ty là mục đích chính của công ty đó Nó cũng chính là mục tiêu tài chính của công ty Quản lý tài chính cố gắng đưa ra các quyết định nhằm giúp công ty đạt được sự xuất sắc trong kinh doanh, chủ yếu là về mặt nâng cao giá trị của công ty Các mô hình kinh doanh xuất sắc phổ biến nhất trên thế giới, bao gồm Mô hình Quản trị chất lượng của Châu Âu (EFQM Excellence Model), Giải thưởng chất

Trang 25

lượng quốc gia Malcolm Baldrige và Giải thưởng Deming, đều dựa trên một số bộ tiêu chí phân tích kết nối giữa các biến quan trọng nhất là: con người, quy trình kinh

doanh và hiệu suất của công ty (Alfirevic và cộng sự, 2013, trích theo Hiadlovský

và cộng sự, 2016, trang 801) Như vậy có thể thấy rằng một công ty xuất sắc luôn

tối đa hóa giá trị của mình và đạt được hiệu suất cao Trong khi đó, thanh khoản là một trong những lĩnh vực phản ánh hiệu suất của công ty Quản lý thanh khoản duy trì cân bằng tài sản ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn ở mức phù hợp là điều kiện quan trọng để cải thiện hiệu suất của công ty và nâng cao giá trị của công ty đó (Hiadlovský và cộng sự, 2016) Vì vậy có thể khẳng định rằng quản lý thanh khoản

là một bước quan trọng trong quản lý tài chính, từ đó góp phần nâng cao quá trình hoạt động kinh doanh của công ty, nhằm đạt được hiệu suất tốt nhất và tối đa hóa giá trị công ty

Ngoài ra, một công ty luôn phải đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán thường xuyên nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh được thực hiện liên tục Vì vậy, điều quan trọng là công ty có thể chuyển các tài sản của mình trong thời gian ngắn

để có thể giải quyết các khoản nợ đến hạn hay không Nếu công ty không có khả năng thanh toán các khoản nợ này trong một thời gian ngắn có thể gây ra các điều kiện hình thành nợ xấu và gặp rủi ro phá sản (Lin và cộng sự, 2014) Một vấn đề được thừa nhận phổ biến rằng ngay cả khi công ty có lợi nhuận cao cũng có thể bị phá sản nếu không có các chính sách quản lý thanh khoản phù hợp (Blach và cộng

sự, 2014) Luburic và cộng sự (2015) cho rằng các công ty muốn tồn tại và phát triển thì cần thiết phải kịp thời nhận ra đầy đủ các rủi ro đa dạng và phức tạp, bao gồm các rủi ro do thiếu hụt dòng tiền Các công ty cần có đủ dòng tiền để thực hiện các hoạt động của mình với mục đích giảm thiểu rủi ro không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và đáo hạn, hay nói cách khác, chính là rủi ro thanh khoản Khả năng này là thước đo thanh khoản của công ty

Như vậy có thể thấy rằng, đo lường và phân tích tính thanh khoản là một phần quan trọng trong phân tích tài chính công ty, đặc biệt là trong định giá tín dụng ngắn hạn, nó như là một thành phần để đánh giá giá trị tín dụng và khả năng thanh toán

Trang 26

ngắn hạn của công ty Do đó, việc đo lường chính xác thanh khoản của một công ty rất quan trọng đối với cả nhà quản trị công ty và các chủ nợ cũng như các nhà đầu

tư khi họ xem xét rủi ro vỡ nợ trong việc tính toán các chi phí vay ngắn hạn, giá trị tín dụng, chi tiêu tài sản cố định và định giá

1.1.3.2 Đo lường tính thanh khoản công ty

Mục đích của phân tích tính thanh khoản của một công ty là cung cấp cho nhà quản lý, nhà đầu tư, các chủ nợ một dấu hiệu cho thấy sự đầy đủ của dự trữ thanh khoản trong công ty đó Để hoàn thành mục tiêu này, một biện pháp đo lường tính thanh khoản tài chính phải có ít nhất hai đặc điểm sau: Thứ nhất, biện pháp này cần truyền đạt được chính xác thông tin về khả năng mà công ty sẽ có thể đáp ứng các yêu cầu về tiền mặt của mình, nghĩa là, một công ty có giá trị thước đo thanh khoản cao thì sẽ có khả năng cao đáp ứng các nghĩa vụ tiền mặt của mình Thứ hai, nó phải là sự kết hợp chỉ từ các nguồn tài nguyên thực sự thanh khoản, nói cách khác, những tài sản trong nguồn tài nguyên đó phải nhanh chóng và dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt và việc sử dụng chúng không làm gián đoạn các hoạt động của công

ty

Thực tế các nghiên cứu trước cho thấy có rất nhiều cách thức đo lường tính thanh khoản tài chính được các nhà nghiên cứu khác nhau sử dụng, các biện pháp được sử dụng theo quan điểm nhìn nhận thanh khoản tài chính khác nhau và tập trung vào các quan điểm sau: (i) Đo lường thanh khoản công ty dựa trên mối quan

hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn; (ii) Đo lường thanh khoản công ty dựa trên mức độ nắm giữ tiền; (iii) Đo lường thanh khoản công ty dựa trên thời gian thu và chi tiền từ quá trình hoạt động kinh doanh thường xuyên; và (iv) Đo lường thanh khoản công ty dựa trên dòng tiền hoạt động kinh doanh

(i) Đo lường tính thanh khoản công ty dựa trên mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn

Biện pháp đo lường tính thanh khoản này chỉ ra mối quan hệ của tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, nó cho thấy công ty có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để trang trải cho một đồng nợ ngắn hạn tại một thời điểm nhất định Các tỷ số thanh

Trang 27

khoản này là biện pháp đo lường tính thanh khoản phổ biến nhất hiện nay và luôn được các nhà phân tích cũng như các chủ nợ, các nhà đầu tư quan tâm khi đánh giá tính thanh khoản của một công ty Bởi tính phổ biến của nó và là thông tin quan trọng được nhiều đối tượng quan tâm nên các tỷ số này thường được trình bày trên báo cáo tài chính thường niên của công ty Subramanyam và Will (2009) cho rằng những nguyên nhân khiến cho các tỷ số truyền thống được sử dụng rộng rãi như một thước đo thanh khoản là do khả năng đo lường của chúng, bao gồm: (1) Khả năng bảo đảm các khoản nợ phải trả ngắn hạn, giá trị tài sản ngắn hạn so với nợ phải trả ngắn hạn càng cao thì càng bảo đảm cho khả năng thanh toán các khoản nợ này của công ty; (2) Bộ đệm chống thua lỗ, các tỷ số này cho thấy biên độ an toàn

có sẵn để bù đắp sự giảm sút giá trị của các tài sản ngắn hạn phi tiền tệ khi buộc phải thanh lý chúng để phục vụ cho việc thanh toán của công ty Đại diện cho biện

pháp đo lường này là các tỷ số thanh khoản truyền thống gồm: tỷ số thanh toán hiện tại, tỷ số thanh toán nhanh, tỷ số thanh toán tức thời

- Tỷ số thanh toán hiện tại (Current ratio - CR)

Tỷ số thanh toán hiện tại là thước đo sức khỏe tài chính của bất kỳ công ty nào

Nó đưa ra một đánh giá tổng thể về tính thanh khoản của một công ty, cho thấy một đồng nợ ngắn hạn của công ty được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Theo các tài liệu phân tích tài chính (Webster, 2003; Friedlob và Schleifer, 2003; Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, 2007; Subramanyam và Will, 2009; Robinson và cộng sự, 2009; Gitman và Zutter, 2010), tỷ số thanh toán hiện tại được xác định bằng cách lấy thương số giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán hiện tại =

Trang 28

ngắn hạn hiện có, công ty còn phải sử dụng thêm các nguồn tài trợ từ bên ngoài để thanh toán cho các nghĩa vụ hiện tại của mình (Robinson và cộng sự, 2009) Webster (2003) xem xét giá trị tiêu chuẩn cho tỷ số thanh toán hiện tại là 2:1 Với tỷ

lệ 2:1 cho thấy rằng cho dù giá trị tài sản ngắn hạn của công ty bị thu hẹp đến 50% thì công ty vẫn đảm bảo được việc đáp ứng các nghĩa vụ hiện tại của mình Tuy nhiên, một tỷ lệ cao hơn nhiều so với 2:1 lại cho thấy rằng có thể công ty đang không sử dụng nguồn tài nguyên của mình hiệu quả và tỷ lệ hoàn vốn bị giảm (Webster, 2003)

Ưu điểm của phương pháp này là tính toán đơn giản, dữ liệu dùng để tính toán luôn sẵn có và dễ hiểu

Tuy nhiên, hạn chế của chỉ tiêu này là nó dựa trên khái niệm thanh lý toàn bộ tài sản ngắn hạn của công ty, kể cả những tài sản khó hoán chuyển thành tiền để đáp ứng tất cả các khoản nợ ngắn hạn Trong thực tế, điều này là không thể xảy ra Nhà quản trị, nhà đầu tư cũng như các bên liên quan khác phải nhìn một công ty như là một hoạt động liên tục Thời gian để chuyển đổi tài sản vốn lưu động của công ty thành tiền để thanh toán các nghĩa vụ hiện tại mới chính là chìa khóa cho thanh khoản tài chính của công ty Do đó, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh toán hiện tại không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty Nói một cách khác, đôi khi tỷ số này sẽ “gây hiểu nhầm” về tính thanh khoản thực sự của công ty Subramanyam và Will (2009) cho rằng khi sử dụng tỷ số thanh toán hiện tại cần lưu

ý hai điểm: Một là, chất lượng của tài sản ngắn hạn (tức tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn) và thành phần nợ phải trả là quan trọng hơn trong đánh giá tỷ số thanh toán hiện tại Chẳng hạn như khi hai công ty có tỷ lệ hiện tại như nhau có thể có rủi

ro thanh khoản khác nhau do chất lượng của các thành phần vốn lưu động; Hai là, yêu cầu về vốn lưu động thay đổi theo điều kiện ngành và độ dài của chu kỳ giao dịch của công ty (là từ khi công ty chi tiền ra để đầu tư vào hàng tồn kho, sau đó bán hàng tồn khođi, thu tiền về đến khi thanh toán cho các nhà cung cấp)

- Tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio - QR)

Trang 29

Tỷ số thanh toán nhanh là một chỉ số thanh khoản thận trọng hơn so với tỷ số thanh toán hiện hành, bởi nó đo lường tổng các tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản nhất có thể trang trải nợ ngắn hạn, bằng cách loại trừ chỉ tiêu hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác ra khỏi tử số vì chúng có thời gian hoán chuyển thành tiền không chắc chắn nhất Giải thích cho tính thanh khoản thấp của hàng tồn kho, Gitman và Zutter (2010) đưa ra 2 lý do chính như sau:

 Nhiều loại hàng tồn kho không thể được bán dễ dàng vì chúng là bán thành phẩm, hoặc là các bộ phận cấu thành trong một sản phẩm hoàn thành, hoặc là các sản phẩm chuyên dụng

 Hàng tồn kho thường được bán tín dụng, do đó nó phải trở thành một khoản phải thu trước khi được chuyển đổi thành tiền mặt

Robinson và cộng sự (2009) cũng cho rằng, trong trường hợp hàng tồn kho là kém thanh khoản, tỷ lệ thanh toán nhanh là một chỉ số tốt hơn để đánh giá tính thanh khoản công ty so với tỷ lệ thanh toán hiện tại

Trong khi đó, chi phí trả trước là những khoản hầu như công ty không thu hồi lại được bằng tiền do đó khả năng sử dụng những khoản này để đáp ứng các khoản

nợ phải trả của công ty là điều khó thực thi, vì vậy chi phí trả trước cũng được loại trừ ra khỏi tỷ số thanh toán nhanh cùng với hàng tồn kho

Theo các tài liệu phân tích tài chính (Webster, 2003; Friedlob và Schleifer, 2003; Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, 2007; Subramanyam và Will, 2009; Robinson và cộng sự, 2009; Gitman và Zutter, 2010), công thức xác định tỷ

số thanh toán nhanh như sau:

Trang 30

ngắn hạn Trái lại, nếu một công ty có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn Mặt khác, họ cũng cho rằng với giá trị lớn hơn 3:1 có thể là biểu hiện của một cấu trúc không hợp lý mà nguyên nhân có thể do vòng quay vốn đầu tư vào hàng tồn kho chậm hoặc gia tăng quá nhiều các khoản nợ phải thu Hơn nữa, nếu tỷ số thanh toán hiện tại nằm trong phạm vi chấp nhận được trong khi tỷ số thanh toán nhanh nằm ngoài vùng được chấp nhận, điều đó có nghĩa là công ty có thể phục hồi khả năng thanh toán kỹ thuật của mình thông qua việc thanh lý hàng tồn kho, tuy nhiên điều này có thể làm cho công ty mất cơ hội hoạt động bình thường Ngoài ra, cần phải so sánh tỷ số thanh toán nhanh của năm nay so với những năm trước để nhận diện xu hướng biến động, và so sánh với tỷ số thanh toán nhanh của các công ty cùng ngành

để đánh giá tương quan cạnh tranh

Tỷ số thanh toán nhanh đưa ra một góc nhìn thận trọng hơn khi đánh giá tính thanh khoản công ty, trong trường hợp hàng tồn kho chiếm tỷ trọng quá cao trong tài sản ngắn hạn và có vòng quay chậm thì tỷ số cho một giá trị về mức thanh khoản chính xác hơn so với tỷ số thanh toán hiện tại

Tuy nhiên, việc loại trừ hàng tồn kho đôi khi cũng chính là hạn chế của chỉ tiêu này, bởi hàng tồn kho đối với một số công ty lại có tính thanh khoản cao hơn là các khoản phải thu chậm hoặc không thu hồi được, nói cách khác, nếu các khoản phải thu có thời gian chuyển đổi sang tiền mặt là một vài tháng chứ không phải vài ngày, thì lúc này thuộc tính “nhanh” của chỉ số này là một vấn đề cần xem xét lại

Vì tỷ số thanh toán nhanh cũng tương tự như tỷ số thanh toán hiện tại (chỉ loại bỏ hàng tồn kho và chi phí trả trước) nên việc giải thích sự phù hợp cũng như hạn chế của tỷ số này tương tự như tỷ số thanh toán hiện tại

- Tỷ số thanh toán tức thời (Cash ratio - CaR)

Đây là tỷ số thậm chí còn khắt khe hơn cả tỷ số thanh toán nhanh khi đo lường tính thanh khoản của một công ty Điều này là do ngoài chỉ tiêu hàng tồn kho và chi phí trả trước thì nợ phải thu cũng bị loại bỏ không được xem xét trong tính toán tỷ

số này Nghĩa là, tỷ số thanh toán tức thời chỉ đo lường khả năng công ty giải quyết

Trang 31

các khoản nợ trong ngắn hạn chỉ bằng tiền, các khoản tương đương tiền và chứng khoán kinh doanh mà công ty đang nắm giữ

Theo các tài liệu phân tích tài chính (Webster, 2003; Friedlob và Schleifer, 2003; Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, 2007; Subramanyam và Will, 2009; Robinson và cộng sự, 2009; Gitman và Zutter, 2010), tỷ số thanh toán tức thời được xác định như sau:

Theo Brealey và cộng sự (2001), tỷ số thanh toán tức thời phải có mức giá trị

ở gần tỷ lệ 1:1 hoặc cao hơn là tốt, giá trị này cho thấy công ty có khả năng trang trải tất cả các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải thanh lý các tài sản phi tiền tệ khác và vẫn còn tiền mặt nắm giữ trong tay Nếu tỷ số thanh toán tức thời có giá trị nhỏ hơn 1 có nghĩa là nợ ngắn hạn của công ty có giá trị cao hơn so với lượng tài sản tiền công ty đang nắm giữ Mặc dù vậy, đôi khi đây không nhất thiết là một tin xấu nếu công ty có vòng quay hàng tồn kho nhanh và rất ít tín dụng mở rộng cho khách hàng

Trang 32

Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy rằng tỷ số thanh toán tức thời hiếm khi được

sử dụng trong báo cáo tài chính và trong phân tích tài chính cơ bản của một công ty Việc một công ty nắm giữ các tài sản tiền mặt có chủ ý cao để trang trải các khoản

nợ hiện tại là điều không hợp lý Với một giá trị của tỷ số thanh toán tức thời cao có thể chỉ ra rằng công ty sử dụng nguồn tiền mặt của mình không có hiệu quả và không tối đa hóa lợi ích tiềm năng của các khoản vay có chi phí thấp: Thay vì đầu

tư vào các dự án có lợi nhuận thì công ty lại để tiền của mình bị đình trệ trong tài khoản ngân hàng Do đó, mặc dù tỷ số thanh toán tức thời cung cấp một góc nhìn thanh khoản thú vị nhưng tính hữu ích của tỷ số này bị hạn chế

(ii) Đo lường tính thanh khoản công ty dựa trên mức độ nắm giữ tiền

Biện pháp đo lường dựa trên cơ sở tiền đánh giá tính thanh khoản tài chính của công ty căn cứ vào lượng tiền, tương đương tiền và các chứng khoán thị trường mà công ty đang nắm giữ tại thời điểm đó Biện pháp đo lường tính thanh khoản trên cơ

sở tiền thường được sử dụng thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền Với biện pháp này, công ty nắm giữ tiền càng nhiều thì tính thanh khoản được xem là càng cao Một số nghiên cứu điển hình như Kim, Mauer và Sherman (1999), Opler và cộng sự (1999), Dittmar và cộng sự (2003), Anjum và Malik (2013) đo lường tính thanh khoản công ty bằng tỷ lệ nắm giữ tiền (Cash Holding - CH) theo công thức như sau:

Trang 33

cơ hội, nghĩa là ngay cả khi mức độ nắm giữ tiền rất thấp thì một công ty vẫn có thể huy động vốn để tiếp tục đầu tư với chi phí bằng không Do đó, lợi ích của cổ đông vẫn không thay đổi cho dù công ty đầu tư nhiều vào tài sản thanh khoản Tuy nhiên, trong thị trường thực tế tồn tại các chi phí như chi phí giao dịch, chi phí đại diện…

và sự bất đối xứng thông tin dẫn đến một sự tốn kém đáng kể nếu công ty nắm giữ tài sản thanh khoản dưới mức cần thiết Câu hỏi đặt ra ở đây mức độ nắm giữ tiền như thế nào là hợp lý Bởi mặc dù tiền là tài sản thanh khoản cao nhất nhưng nó cũng chính là tài sản ít lợi nhuận nhất Lý thuyết đánh đổi đòi hỏi rằng các nhà quản trị công ty cần quyết định được mức độ nắm giữ tiền của công ty mình bằng cách cân bằng lợi nhuận biên với chi phí biên của việc nắm giữ tiền

(iii) Đo lường tính thanh khoản công ty dựa trên thời gian thu và chi tiền từ quá trình hoạt động kinh doanh thường xuyên

Theo Richards và Laughlin (1980), khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của một công ty thông qua thanh lý tài sản trong trường hợp vỡ nợ phải được xem như là một tuyến phòng thủ thứ hai, họ cho rằng các nhà đầu tư nên tập trung mối quan tâm của mình vào việc tránh các tình huống mặc định bằng cách nhấn mạnh khả năng của công ty trong việc trang trải các nghĩa vụ của mình với dòng tiền từ việc

sử dụng hàng tồn kho và các khoản phải thu trong kỳ hoạt động kinh doanh bình thường của công ty; và độ nhạy của các dòng tiền hoạt động này đến việc giảm doanh thu và thu nhập trong thời kỳ kinh tế khó khăn Bảo đảm dòng tiền hoạt động kinh doanh, thay vì giá trị thanh lý tài sản, là yếu tố quan trọng hơn trong phân tích tính thanh khoản công ty Do đó, Richards và Laughlin (1980) đã giới thiệu một biện pháp đo lường tính thanh khoản công ty năng động hơn so với biện pháp đo lường dựa trên mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn và dựa trên mức

độ nắm giữ tiền, đó là chỉ tiêu chu kỳ chuyển đổi tiền Chỉ tiêu này phản ánh khoảng thời gian ròng từ lúc công ty chi tiêu tiền thực tế cho việc mua nguyên liệu sản xuất đến khi thu lại bằng tiền từ việc bán sản phẩm Nói cách khác, phương pháp đo lường này thiết lập khoảng thời gian cần thiết để chuyển một đồng tiền

Trang 34

được giải ngân thành một đồng tiền được thu vào từ quá trình hoạt động kinh doanh thường xuyên của công ty: Sản xuất - Bán hàng - Thu nợ

Chu kỳ chuyển đổi tiền được Richards và Laughlin (1980) xác định như sau:

Chu kỳ chuyển đổi tiền

= ICP + RCP – PDP (Cash Conversion Cycle - CCC)

Trong đó:

* ICP: Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (Inventory Conversion Period)

Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho đo lường mức độ nhanh chóng của lưu chuyển hàng tồn kho từ khi công ty mua đến khi bán ra, nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết công ty mất bao nhiêu ngày để bán được hàng tồn kho của mình ICP được tính như sau:

Vòng quay hàng tồn kho Với:

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán

Giá trị hàng tồn kho bình quân

Để đảm bảo tính nhất quán nên giá vốn hàng bán được lựa chọn sử dụng trong tính toán vòng quay hàng tồn kho, vì giá vốn hàng bán được báo cáo theo giá gốc như hàng tồn kho, trong khi doanh thu bán hàng lại bao gồm một khoản lợi nhuận tăng thêm Giá trị hàng tồn kho bình quân được tính bằng cách lấy trị số trung bình của tổng giá trị tồn đầu kỳ và giá trị tồn cuối kỳ của hàng tồn kho

* RCP: Kỳ thu tiền khách hàng (Receivable Conversion Period)

RCP tính toán số ngày mà công ty cần để thu thập các khoản phải thu Nếu như mua bán chỉ qua tiền thì RCP sẽ bằng không, nhưng hầu hết các công ty đều cho phép khách hàng mua tín dụng nhằm tăng doanh số RCP càng nhỏ chứng tỏ công ty nhanh thu hồi được các khoản tín dụng, như vậy sẽ càng tốt cho công ty RCP được tính như sau:

Vòng quay nợ phải thu

Trang 35

Với:

Vòng quay nợ phải thu = Doanh thu thuần

Số dư bình quân nợ phải thu

Số dư bình quân

Số dư nợ phải thu đầu kỳ +

Số dư nợ phải thu cuối kỳ

2

* PDP: Kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (Payable Deferral Period)

PDP tính toán số ngày trung bình mà một công ty cần để thanh toán bằng tiền cho các khoản nợ đến hạn của mình Một công ty có thể nắm giữ tiền càng lâu thì sẽ tốt hơn cho tiềm năng đầu tư của mình Trong trường hợp này, số ngày càng lâu sẽ càng tốt, bởi như vậy nghĩa là công ty có khoảng thời gian dài giữa hoạt động mua

và thanh toán cho nhà cung cấp, điều này làm tăng thanh khoản của công ty PDP được tính như sau:

Vòng quay nợ phải trả Với:

Vòng quay nợ

phải trả =

Giá vốn hàng bán + HTK cuối kỳ - HTK đầu kỳ

Số dư bình quân nợ phải trả

Số dư bình quân

nợ phải trả =

Số dư phải trả đầu kỳ + Số dư phải trả cuối kỳ

2 Theo thông lệ, giá trị của chu kỳ chuyển đổi tiền càng thấp sẽ càng tốt Điều này là do, khi chu kỳ chuyển đổi tiền được rút ngắn, tiền trở thành miễn phí cho một công ty đầu tư vào thiết bị mới hay cơ sở hạ tầng hoặc các hoạt động khác để thúc đẩy đầu tư trở lại Nói cách khác, khi chu kỳ chuyển đổi tiền càng dài thì nhu cầu tài trợ bên ngoài với chi phí cao càng lớn, do đó, bằng cách giảm thời gian tiền bị ứ đọng trong vốn luân chuyển, công ty có thể hoạt động hiệu quả hơn vì giảm được chi phí trong điều kiện doanh số của công ty không đổi Tuy nhiên, việc làm giảm

Trang 36

giá trị chu kỳ chuyển đổi tiền không nên được thực hiện bằng cách cơ học, tức là giảm lượng hàng tồn kho hay thắt chặt chính sách bán hàng tín dụng hết mức, mà mục tiêu của công ty là rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền càng nhiều càng tốt nhưng không gây nguy hiểm cho hoạt động của công ty (Ebben và Johnson, 2011)

Kể từ sau giới thiệu của Richards và Laughin (1980) đã có nhiều nhà khoa học vận dụng chu kỳ chuyển đổi tiền vào nghiên cứu của mình để đánh giá tính thanh khoản công ty và được đề xuất là biện pháp thanh khoản phù hợp hơn các tỷ số truyền thống như: Moss và Stine (1993); Lyroudi và McCarty (1993); Gallinger (1997); Uyar (2009); Bhutto và cộng sự (2011); Al-Shubiri và Aburumman (2013); Lin và cộng sự (2014); Garanina và Petrova (2015); Bolek và Grosicki (2015) Kết quả của các nghiên cứu này đều cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền đưa ra một cái nhìn năng động hơn, phản ánh chân thực hơn về tính thanh khoản thực sự của một công

ty

Điểm mạnh của phương pháp này về khả năng dự đoán sức khoẻ tài chính của việc tạo ra dòng tiền vốn lưu động nằm ở việc nó sử dụng các khoản mục trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để đánh giá riêng biệt giữa các chính sách tín dụng và thu hồi nợ của công ty với tình hình thực tế về phân phối hàng hoá và thanh toán tín dụng thương mại của công ty đó Cũng chính vì chu kỳ chuyển đổi tiền được tính toán từ các giá trị lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nên nó trở

thành một phép đo động (Moss và Stine, 1993) Schilling (1996, theo Katerina và Lazaridis, 2000) ủng hộ rằng chu kỳ chuyển đổi tiền là một kỹ thuật đánh giá vốn

lưu động mô tả vị thế thanh khoản trung bình của một công ty, ưu điểm của kỹ thuật này là nó có thể được sử dụng để đánh giá những thay đổi trong vốn luân chuyển và

do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát và kiểm soát các thành phần của nó

Từ những lý do này mà hiện nay, chu kỳ chuyển đổi tiền cũng được các nhà phân tích trên thế giới ưa chuộng sử dụng như một chỉ tiêu năng động để đánh giá tính thanh khoản công ty bởi nó sử dụng cả bảng cân đối kế toán cũng như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kết hợp với kích thước thời gian Các nhà nghiên cứu đã khuyến nghị các công ty nên chú trọng đến việc sử dụng chu kỳ chuyển đổi tiền như

Trang 37

một phép đo tính thanh khoản công ty so với các chỉ số tĩnh về khả năng thanh toán (Lin và cộng sự, 2014)

Hạn chế của chỉ số này là đôi khi dữ liệu để tính toán không có sẵn cho người dùng bên ngoài, những người không phải là nhà quản lý của công ty Khác với các

tỷ số thanh khoản truyền thống hay tỷ lệ nắm giữ tiền, số liệu được trích xuất trực tiếp từ bảng cân đối kế toán, chu kỳ chuyển đổi tiền yêu cầu thông tin từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong khi thông tin về giá vốn hàng bán thông thường không có sẵn cho nhà đầu tư hoặc người cho vay Ngoài ra, trong công thức xác định chu kỳ chuyển đổi tiền có sự tham gia của kỳ chuyển đổi hàng tồn kho nên đôi khi sẽ phản ánh sai lệch đối với các công ty kinh doanh theo thời vụ

(iv) Đo lường tính thanh khoản công ty dựa trên dòng tiền hoạt động kinh doanh

Dòng tiền hoạt động kinh doanh là sự chuyển động của tiền đi vào và ra khỏi công ty liên quan đến các hoạt động kinh doanh thường xuyên của công ty Dòng tiền đi vào thể hiện các khoản thu được của công ty (chủ yếu từ hoạt động bán hàng), dòng tiền đi ra thể hiện các khoản chi phí công ty phải chi trả phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Thông thường, một công ty có một lưu chuyển tiền được coi là thuận chiều nếu dòng tiền đi vào lớn hơn (hoặc ít nhất là bằng) dòng tiền đi ra Trong khi đó, bản chất tính thanh khoản công ty là có thể thanh toán được khi cần phải chi trả cho một hoạt động nào đó Do đó, quản lý lưu chuyển tiền tiền

và quản lý thanh khoản công ty luôn có ảnh hưởng qua lại với nhau

Khác với quan điểm ủng hộ chu kỳ chuyển đổi tiền, một số nhà nghiên cứu khác cho rằng mặc dù chu kỳ chuyển đổi tiền là một chỉ tiêu linh động hơn so với các tỷ số truyền thống nhưng cả hai phương pháp đo lường này đều bị ảnh hưởng bởi kế toán dồn tích Theo Subramanyam và Will (2009), do cơ sở dồn tích, các giao dịch tài chính dưới cả hình thức tín dụng hay tiền mặt đều được ghi nhận khi chúng phát sinh thay vì chỉ tập trung vào khi nhận tiền mặt và thanh toán bằng tiền mặt Hơn nữa, kế toán dồn tích xác định thu nhập ròng dựa trên ước tính, trả chậm, phân bổ và định giá, những cân nhắc này đôi khi mang tính chủ quan hơn so với các

Trang 38

yếu tố xác định dòng tiền Ngoài ra, các quan điểm phản đối cũng chỉ ra rằng dữ liệu trên Bảng Cân đối kế toán là tĩnh, chỉ đo lường tại một thời điểm duy nhất, trong khi Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì lại có những khoản phân bổ phi tiền mặt (chẳng hạn như chi phí khấu hao) Ngược lại, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ghi lại những thay đổi trong các báo cáo khác và nằm ngoài sổ sách, tập trung vào vấn đề mà các cổ đông thực sự quan tâm: tiền có sẵn cho các hoạt động kinh doanh

và đầu tư của công ty (Jagels và Coltman, 2004) Mills và Yamamura (1998) cũng tuyên bố rằng Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy thông tin đáng tin cậy hơn để phân tích tính thanh khoản so với Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Do những hạn chế này, trong những năm gần đây, các tỷ số dòng tiền được xác định dựa vào dữ liệu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dần được các nhà phân tích tài chính, nhà quản trị cũng như các nhà đầu tư quan tâm

Phương pháp đo lường này được thể hiện qua chỉ tiêu: Tỷ số dòng tiền hoạt động kinh doanh (Operating Cash Flow ratio - CF), được xác định bởi tỷ lệ giữa dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh và nợ ngắn hạn (Friedlob và Schleifer, 2003; Subramanyam và Will, 2009; Pancawardani, 2009):

Tỷ số dòng tiền hoạt động

kinh doanh (CF) =

Dòng tiền thuần từ HĐKD Tổng Nợ ngắn hạn

Tỷ số dòng tiền hoạt động kinh doanh là thước đo số lần mà công ty có thể trả hết các khoản nợ ngắn hạn của mình bằng tiền được tạo ra trong cùng một kỳ hoạt động Với một giá trị lớn hơn 1 của tỷ số này cho thấy công ty đã tạo ra nhiều tiền hơn so với mức cần thiết để chi trả cho các khoản nợ cần phải thanh toán trong cùng

kỳ Ngược lại, nếu có giá trị nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đã không tạo ra đủ tiền để trang trải cho các khoản nợ cần phải thanh toán trong kỳ Đối với các nhà đầu tư và phân tích, tỷ lệ thấp có nghĩa là công ty cần nhiều vốn hơn Tuy nhiên, đôi khi đây cũng chưa hẳn là một dấu hiệu kém của thanh khoản, bởi có thể công ty đang đầu tư vào một dự án lớn làm tổn hại dòng tiền tạm thời nhưng đem lại giá trị lợi nhuận lớn trong tương lai Theo đề xuất của Ryu và Jang (2004), công ty nên duy trì tỷ số này ở mức thấp nhất là 0,4, trong khi Pancawardani (2009) cho rằng tỷ số này nên

Trang 39

bằng hoặc lớn hơn 1 để đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ đến hạn của công ty

Sự hữu dụng của phương pháp đo lường này là các thông tin về dòng tiền giúp người sử dụng có được thông tin để biết được việc sử dụng và nguồn của toàn bộ nguồn lực tài chính của công ty trong một khoảng thời gian nhất định (Ross và cộng

sự, 2014)

Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một vài hạn chế nhất định Số dư tiền được trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cụ thể trong trường hợp này là số dư tiền của dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, có thể không đại diện cho vị thế thanh khoản thật sự của công ty, vì nó có thể bị ảnh hưởng bởi các quyết định quản

lý bằng cách thực hiện một số khoản thanh toán trước hoặc thanh toán sau

Tỷ số dòng tiền hoạt động kinh doanh được xác định dựa trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, trong khi Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chỉ cho thấy dòng tiền vào và dòng tiền ra của công ty, lượng tiền ròng dư thừa trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đôi khi không thể hiện hết vị thế thanh khoản thực sự của công ty, bởi vị thế thanh khoản thực sự bị che khuất do việc loại trừ các khoản mục tương đương tiền hoặc các chứng khoán kinh doanh có giá trị thị trường cao và nhanh chóng bán được mà công ty đang nắm giữ

Mặt khác, tỷ số dòng tiền hoạt động kinh doanh thể hiện tính thanh khoản công ty dựa trên lưu lượng tiền thuần của công ty trong một kỳ hoạt động kinh doanh, do đó khó có thể được sử dụng để đánh giá tính thanh khoản công ty trong trường hợp khẩn cấp vì không thể hiện được giá trị tài sản thanh khoản thật sự công

ty đang nắm giữ là bao nhiêu để có thể đáp ứng các khoản nợ phải trả tại thời điểm

đó

Có nhiều học giả trên thế giới sử dụng tỷ số dòng tiền hoạt động kinh doanh trong nghiên cứu thực nghiệm về tính thanh khoản công ty như: Ryu và Jang (2004); Kirkham (2012); Atieh (2014); Billah và cộng sự (2015); Barua và Saha (2015); Phạm Quang Tín và cộng sự (2017) Các nghiên cứu này tập trung đi vào so sánh tính thanh khoản công ty khi đo lường bằng các tỷ số thanh khoản truyền

Trang 40

thống (gồm tỷ số thanh toán hiện tại, tỷ số thanh toán nhanh) và tỷ số dòng tiền dòng tiền hoạt động kinh doanh, xem xét xem biện pháp nào đánh giá tính thanh khoản hiệu quả hơn Các tác giả đều tìm ra kết luận rằng các tỷ số dòng tiền hoạt động kinh doanh phản ánh một bức tranh tốt hơn về thực trạng tính thanh khoản công ty so với các tỷ số truyền thống

1.2 Tính thanh khoản cổ phiếu và đo lường tính thanh khoản cổ phiếu của công ty

1.2.1 Khái niệm về tính thanh khoản cổ phiếu

Theo Kyle (1985), tính thanh khoản cổ phiếu được thể hiện ở bốn khía cạnh gồm: Thời gian giao dịch của cổ phiếu, khoảng thời gian này càng ngắn thì tính thanh khoản cổ phiếu càng cao; Độ chặt là khả năng cổ phiếu được mua bán ngay nhưng không có sự thay đổi lớn về giá; Độ sâu thể hiện khối lượng sẵn có trên thị trường về người mua và người bán cổ phiếu đó; Khả năng phục hồi thể hiện khả năng phục hồi giá về giá trị nội tại của cổ phiếu sau những cú sốc của thị trường Sarr và Lybek (2002) bổ sung thêm khía cạnh “tính tức thời” trong tính thanh khoản cổ phiếu, ngoài bốn khía cạnh đã được chỉ ra bởi Kyle (1985) Theo Sarr và Lybek (2022), tính tức thời thể hiện tốc độ xử lý và khớp lệnh giao dịch của một cổ phiếu

Theo Harris (2003), tính thanh khoản cổ phiếu được xác định là khả năng mà một cổ phiếu được giao dịch với một khối lượng lớn trong thời gian ngắn với chi phí thấp

Theo Amihud và cộng sự (2002), tính thanh khoản cổ phiếu được hiểu đơn giản là sự dễ dàng giao dịch một cổ phiếu mà không ảnh hưởng đến giá trong thời gian ngắn

Như vậy có thể thấy rằng, tính thanh khoản cổ phiếu liên quan đến sự sẵn lòng mua hoặc bán với một khối lượng giao dịch xác định mà không mất nhiều thời gian khớp lệnh và không bị ảnh hưởng lớn đến giá của cổ phiếu đó

1.2.2 Đo lường tính thanh khoản cổ phiếu

Có nhiều thước đo tính thanh khoản cổ phiếu được sử dụng trong các nghiên

Ngày đăng: 24/12/2022, 07:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w