1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây nhãn thích ứng với biến đổi khí hậu

80 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây nhãn thích ứng với biến đổi khí hậu
Tác giả TS. Đào Quang Nghị, TS. Nguyễn Văn Dũng, ThS. Bùi Công Kiên, CVC. Đoàn Thị Phi Yến, ThS. Đào Kim Thoa
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật
Thể loại Sổ tay hướng dẫn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 18,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, kỹ thuật tưới tiêu,… đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển ngành nông nghiệp bền

Trang 2

TỔ CHỨC CHỦ TRÌ:

Cục Trồng trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Viện Nghiên cứu Rau quả

TẬP THỂ BIÊN SOẠN:

TS Đào Quang Nghị - Viện Nghiên cứu Rau quả

TS Nguyễn Văn Dũng - Viện Nghiên cứu Rau quả

ThS Bùi Công Kiên - Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường

CVC Đoàn Thị Phi Yến - Viện Nghiên cứu Rau quả

ThS Đào Kim Thoa

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học; suy giảm về số lượng và chất lượng nông sản do bão, lũ lụt, khô hạn, xâm nhập mặn,… làm tăng thêm nguy cơ tuyệt chủng của thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm Biến đổi khí hậu sẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mất an ninh lương thực

Trong những năm qua, Ngành Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được các thành tựu to lớn trong sản xuất nông sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, kỹ thuật tưới tiêu,… đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển ngành nông nghiệp bền vững, hiệu quả, hạn chế thiệt hại

do biến đổi khí hậu gây ra trong những năm gần đây Sản xuất nông nghiệp

thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (gọi tắt là CSA) - là một trong

những giải pháp để giảm nhẹ sự tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Tuy nhiên, hiện tại chưa có một tài liệu tổng hợp hướng dẫn thực hành CSA nào đối với từng cây trồng, bao gồm áp dụng tổng hợp các quy trình kỹ thuật canh tác như ICM, IPM, một phải năm giảm, ba giảm ba tăng, tưới khô ướt xen kẽ, tưới tiết kiệm,

Từ năm 2014 - 2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới (VIAIP) Mục tiêu là nâng cao tính bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp có tưới, trong đó Hợp phần 3 của Dự án đã hỗ trợ các tỉnh vùng Dự án thiết kế và thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu gồm: Áp dụng các gói kỹ thuật

về sản xuất giống cây trồng, gói kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật, đánh giá nhu cầu và áp dụng các phương pháp tưới tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng; sử dụng nước tiết kiệm và tăng hiệu ích sử dụng nước; tăng thu nhập cho nông dân; giảm tính dễ tổn thương với biến đổi khí

Trang 4

hậu, giảm phát thải khí nhà kính; tổ chức và liên kết sản xuất nông sản theo chuỗi giá trị gia tăng, giảm giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận cho người dân.Cục Trồng trọt được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhiệm vụ phối hợp với Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi và các tỉnh tham gia Dự án triển khai các nội dung liên quan đến nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu Trên cơ sở tổng kết các kết quả, tài liệu liên quan, Cục Trồng trọt xin giới thiệu Bộ tài liệu “Sổ tay Hướng dẫn gói

kỹ thuật canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA) cho một số cây trồng chủ lực như lúa, màu, rau, cây ăn quả có múi (cam, bưởi), chè, hồ tiêu, điều, cà phê, nhãn, vải, xoài, chuối, thanh long và sầu riêng” Bộ tài liệu này được xây dựng trên cơ sở thu thập, phân tích, tổng hợp, chuẩn hóa các kỹ thuật canh tác, kỹ thuật tưới, tiêu nước, để hoàn thiện Quy trình thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu cho các cây trồng nhằm phổ biến đến các tổ chức, cá nhân và các địa phương tham khảo

áp dụng rộng rãi trong sản xuất

Đây là một trong những tài liệu đầu tiên được chuẩn hóa về nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt, do vậy không tránh khỏi những thiếu sót, đơn vị chủ trì xin được lắng nghe các góp

ý của quý vị để tiếp tục hoàn thiện

Cục Trồng Trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng cảm ơn Ngân hàng Thế giới (WB) đã tài trợ Dự án VIAIP, tập thể đội dự án, tập thể biên soạn và các chuyên gia đã đồng hành trong việc xuất bản Bộ tài liệu này

CỤC TRỒNG TRỌT

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

CSA Nông nghiệp thông minh với biến đổi khí hậu

UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

VIAIP Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới Việt Nam

Trang 6

Nguồn ảnh: Internet

Trang 8

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Thực trạng sản xuất nhãn ở Việt Nam

Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour.), thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) là

một trong những loại cây ăn quả chủ lực của nước ta Năm 2019, diện tích nhãn của cả nước đạt 79.355 ha, sản lượng khoảng 507.900 tấn Trong đó, miền Bắc có khoảng 45.000 ha, sản lượng 193.400 tấn, tập trung tại các tỉnh: Sơn La 16.700 ha, Hưng Yên 4.500 ha, Bắc Giang 3.222 ha, Thái Nguyên 1.700 ha…; Miền Nam có diện tích 34.300 ha với sản lượng 315.000 tấn, tập trung tại các tỉnh: Tây Ninh 4.100 ha, Tiền Giang 7.000 ha, Bến Tre 2.100 ha, Vĩnh Long 6.200 ha, Đồng tháp 5.200 ha, Sóc Trăng 3.600 ha (Cục Trồng trọt, 2019)

Ở miền Bắc, Hưng Yên là tỉnh nổi tiếng với vùng nhãn đặc sản có từ lâu đời với diện tích đến thời điểm tháng 8/2020 đạt 4.800 ha, sản lượng đạt trên 50 ngàn tấn, cao hơn so với năm 2019 khoảng 18 ngàn tấn Các địa phương trồng nhãn tập trung là thành phố Hưng Yên (830 ha), Ân Thi (370 ha), Kim Động (350 ha), Khoái Châu (1.100 ha) (Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Bích Hồng, 2019; Sở Nông nghiệp và PTNT Hưng Yên, 2020).Tại Sơn La: Trong những năm gần đây, Sơn La là một tỉnh có diện tích cây

ăn quả phát triển rất nhanh Trong đó, diện tích cây nhãn tính đến hết tháng 6/2020 đạt 17.292 ha, sản lượng cả năm đạt 70.412 tấn; diện tích trồng nhãn

đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng các quy trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nhãn, được người tiêu dùng trong và ngoài nước chấp nhận Đến nay, toàn tỉnh Sơn La có khoảng gần 500

ha nhãn được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP Ngoài ra, diện tích nhãn được cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang các nước Mỹ, Úc,… là 92 mã số với diện tích 2.415,03 ha; trong đó mã số được cấp vùng trồng

là 34 mã với diện tích 207,6 ha; mã số vùng trồng được cấp để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là 58 mã với diện tích là 2.207,43 ha (Sở Nông nghiệp và PTNT Sơn La, 2020)

Ở miền Nam, nhiều địa phương trồng nhãn với diện tích lớn trong đó có Tiền Giang với diện tích hiện có khoảng 7.000 ha, năng suất bình quân 16

Trang 9

tấn/ha, sản lượng ước tính 114.000 tấn Vùng trồng chuyên canh nhãn tập trung tại các xã Tân Phong, Hiệp Đức, Hội Xuân thuộc huyện Cai Lậy; các xã Nhị Quý, Phú Quý, Tân Hội và phường Nhị Mỹ thuộc thị xã Cai Lậy; các xã Nhị Bình, Hữu Đạo, Tân Hương thuộc huyện Châu Thành; các xã Hòa Khánh, Hậu Thành, Đông Hòa Hiệp thuộc huyện Cái Bè (Sở Nông nghiệp và PTNT Tiền Giang, 2019)

Tại Đồng Tháp, tổng diện tích nhãn hiện tại vào khoảng hơn 5.200 ha với năng suất trung bình xấp xỉ 10 tấn/ha, tổng sản lượng đạt gần 50.000 tấn, tập trung với diện tích lớn tại huyện Châu Thành Hiện nay, diện tích trồng

ha nhãn trên địa bàn huyện Châu Thành đã đạt hơn 3.500 ha, trong đó nhãn Edor hơn 1.500 ha. Cây nhãn là một trong 5 ngành hàng chủ lực theo đề án tái cơ cấu nông nghiệp của huyện Châu Thành, Đồng Tháp Theo quy hoạch, đến hết năm 2020, tỉnh sẽ phát triển vùng trồng nhãn với diện tích 4.000 ha, tập trung tại huyện Châu Thành, sản lượng ước đạt 70.000 tấn/năm Theo kế hoạch của huyện, sẽ ưu tiên phát triển giống nhãn Edor lên 2.000 ha Vì đây là giống nhãn cho năng suất cao, ít nhiễm bệnh chổi rồng, đầu lân, chất lượng tốt, được thị trường ưa chuộng

1.2 Yêu cầu sinh thái của cây nhãn

Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho nhãn sinh trưởng và phát triển là từ

21 - 27oC; mùa hoa nở cần nhiệt độ cao 25 - 31oC; mùa đông cần một thời gian nhiệt độ thấp để phân hóa mầm hoa Đối với các giống nhãn ở miền Bắc, để cho cây phân hóa được mầm hoa tốt, từ tháng 12 dến tháng 1 năm sau cần một thời gian có nhiệt độ thấp trến dưới 10oC Nếu trong thời gian này, nhiệt

độ dao động từ 18 - 20oC sẽ không có lợi cho sự hình thành và phát triển chùm hoa Thời kỳ hoa nở, nhiệt độ thích hợp là 20 - 27oC (Trần Thế Tục, 1998).Đối với các giống nhãn ở miền Nam đòi hỏi phải có một mùa đông ngắn với nhiệt độ từ 17 - 22oC trong thời gian từ 8 - 10 tuần để kích thích sự ra hoa

và theo sau là nhiệt độ cao cho mầm hoa phát triển Như vậy, trong điều kiện khí hậu ở ĐBSCL, nhiệt độ thấp nhất vào ban đêm từ 19 - 20oC thường xuất hiện trong tháng 12 - 1 và sau đó tăng cao trong tháng 2 - 3 là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa nhãn Ngoài ra, thời điểm xuất hiện nhiệt độ

Trang 10

thấp cũng là mùa khô nên đây cũng là yếu tố hình thành nên mùa vụ ra hoa nhãn Nhiệt độ thấp và khô hạn là hai yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra hoa nhãn, tuy nhiên nếu nhiệt độ thấp hay khô hạn kéo dài mầm hoa sẽ không phát triển được (PROSEA, 1989) Nakasone và Paull (1998) cho biết nếu trong thời kỳ kích thích ra hoa nhiệt độ trên 22oC hoặc thời gian xuất hiện nhiệt độ thấp dưới 8 tuần cây sẽ không ra hoa.

Ánh sáng: Nhãn cần nhiều ánh sáng Ánh sáng chiếu được vào bên trong tán giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt Tuy nhiên, các giống nhãn ở miền Bắc

là cây ưa sáng nhưng lại sợ ánh sáng trực xạ, còn nhãn miền Nam nếu bị rợp bóng, cây sẽ cho ít quả, chỉ những cành nhận đầy đủ ánh nắng mới ra hoa, đậu quả tốt (Trần Thế Tục, 1998)

Lượng mưa và độ ẩm: Lượng mưa thích hợp cho nhãn từ 1.200 đến 1.600

mm Nhãn là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng và rất nhạy cảm với việc ngập nước kéo dài Ngược lại, nếu gặp khô hạn trong thời gian dài sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm, ra hoa và đậu trái khó khăn Trong thời gian ra hoa và sinh trưởng của quả, cây nhãn cần nhiều nước Ngược lại, trong các tháng mùa đông và trong thời gian quả vào chín, cây nhãn cần ít nước Trong thời kỳ nở hoa nếu mưa nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh của hoa,

tỷ lệ đậu quả sẽ thấp (Trần Thế Tục, 1998)

Gió: Gió có tác dụng hỗ trợ hoa thụ phấn, thụ tinh Tuy cây nhãn là cây có sức chống chịu gió bão tốt nhưng trong thời gian quả phát triển, gió to làm quả bị rụng, cành gãy, thậm chí đổ cây Gió Tây khô, nóng gây khô hạn ở một

số vùng trồng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của quả Chính vì vậy, khi thiết

kế chọn vườn cần có biện pháp bảo vệ vườn cây khi gió bão và gió nóng như: Che, chắn, chống giữ cây hay trong quá trình canh tác, cắt tỉa thường xuyên

để cây có bộ tán thấp

Đất: Nhãn có tính thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất từ vùng nước ngọt quanh năm đến vùng nhiễm mặn Tuy nhiên, đất trồng nhãn thích hợp nhất là đất cát, cát pha, cát, đất cồn và phù sa ven sông, đất có độ

pH từ 5,5 - 6,5 Nhãn không thích hợp trên đất sét nặng và quá ẩm ướt Nên trồng nhãn ở các vùng đất thấp, không trồng ở quá cao, nơi thiếu nước (Trần Thế Tục, 1998; Huỳnh Trí Đức, 2003)

Trang 11

1.3 Một số nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật

1.3.1 Kết quả nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống nhãn

Trước đây, cây nhãn được nhân giống chủ yếu bằng gieo hạt, rất lâu được thu hoạch và chất lượng vườn nhãn không đồng đều Vì thế, nhân giống bằng gieo hạt đã được thay thế dần bởi nhân giống bằng chiết cành và gần đây là phương pháp ghép Cho đến nay phương pháp nhân giống nhãn bằng ghép

đã và đang được áp dụng với quy mô lớn ở hầu khắp các nước và vùng trồng nhãn trên thế giới

Nhiều kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc đã khẳng định nhiệt độ khi ghép trong khoảng từ 20 - 30oC thích hợp đối với ghép nhân giống nhãn, tỷ lệ ghép thành công 70 - 80% và cây ghép sinh trưởng khoẻ Tuổi của cây gốc ghép có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả ghép Tỷ lệ cây ghép bật mầm đạt đến 75% nếu tuổi của gốc ghép là 6 tháng Trong trường hợp tuổi của gốc ghép già hơn, đến 18 tháng, tỷ lệ cây ghép bật mầm giảm đáng kể, chỉ còn 60% Thời

vụ ghép nhãn thích hợp nhất là vào vụ xuân và vụ thu Hiện vẫn còn nhiều ý kiến thảo luận về xác định giống cây gốc ghép Tuy nhiên, phần lớn các kết quả nghiên cứu đều khẳng định tốt nhất là sử dụng cây gốc ghép và cây cành ghép của cùng một giống Có rất nhiều phương pháp ghép nhãn nhưng đạt hiệu quả cao hơn cả là phương pháp ghép đoạn cành

Kỹ thuật ghép cải tạo giống: Với những vườn nhãn già cỗi hoặc giống cũ, muốn chuyển đổi sang giống mới, việc ghép cải tạo thay thế giống đã được nghiên cứu và áp dụng thành công tai nhiều địa phương, Đặc biệt ở Sơn La

đã áp dụng trên hàng trăm héc-ta Đến nay, các diện tích này đã cho hiệu quả kinh tế cao

1.3.2 Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa

Ở tất cả các nước trồng nhãn cũng như các đối tượng cây ăn quả thân gỗ khác trên thế giới đều có những nghiên cứu về các biện pháp cắt tỉa, tạo hình

và đều nhằm mục đích tạo cho cây có bộ khung tán cân đối, thuận lợi cho quang hợp, hạn chế sâu bệnh hại, dễ chăm sóc, quản lý, làm tăng năng suất, phẩm chất quả

Trang 12

Phương pháp cắt tỉa nhìn chung tương đối giống nhau Tùy theo từng loại cây mà phương pháp cắt tỉa có thể là tạo tán mở hình phễu hay tạo tán hình rẻ quạt Ngoài việc cắt tỉa cành, ở Trung Quốc còn sử dụng biện pháp cắt ngắn chùm hoa nhằm hạn chế tiêu hao dinh dưỡng, giúp cho quá trình đậu quả và phát triển của quả tốt hơn.

Việc cắt tỉa, tạo hình có thể coi như là các kỹ thuật điều chỉnh sinh trưởng

và phát triển của cây trồng nói chung và cây nhãn nói riêng Muốn biết cắt tỉa vào lúc nào, những cành nào nên cắt bỏ thì phải có những nghiên cứu cụ thể, dựa trên các nguyên lý chung sau đây:

+ Sự phát triển của các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất có sự cân bằng theo tỷ lệ nhất định đối với từng loài cây trồng Nếu phá vỡ sự cân bằng này, cây sẽ tự thiết lập lại một cân bằng mới, dựa vào đặc điểm này ta có thể thay lộc, cành mới hay phục tráng lại bộ rễ

+ Những cành ở trên mặt tán có hiện tượng ưu thế ngọn, kìm hãm sự phát triển của các cành phía dưới Phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn sẽ tạo điều kiện cho các cành phía dưới phát triển

+ Theo lý luận về giai đoạn phát dục của các vị trí cành trên cây, sự phát dục giảm dần từ cành ngọn xuống cành ở dưới Vì vậy, cần tạo cho cây có bộ tán phân bố đều Mặt khác, thông qua cắt tỉa sẽ làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của cây

Nguyên tắc cắt tỉa:

+ Đối với cây trẻ: Thời kỳ này cây mới cho quả nên cắt tỉa nhẹ, để lại nhiều

cành Nói chung, chỉ cắt bỏ những cành đã mất khả năng quang hợp, cành la sát mặt đất và một số ít cành mọc sít nhau, cành tăm, cành sâu bệnh Thời kỳ này chỉ cắt tỉa khoảng 10% số cành

+ Đối với cây trưởng thành: Giai đoạn này cây nhãn đã chuyển sang thời kỳ

sai quả, tiêu hao nhiều dinh dưỡng vì vậy nên cắt tỉa nặng, để dinh dưỡng tập trung cho những cành còn lại, thúc đẩy lộc thu phát triển, bảo đảm chắc chắn sang năm có quả Thời kỳ này cắt tỉa khoảng 20 - 30% số cành

Trang 13

+ Đối với cây nhãn đã nhiều năm tuổi, già cỗi: Căn cứ vào khả năng sinh

trưởng và tình hình ra quả vụ trước để xác định mức độ cắt tỉa nặng hay nhẹ Cây có nhiều cành, cành yếu thì cắt tỉa nặng, làm giảm sinh trưởng để tập trung dinh dưỡng ra lộc mới mập và khoẻ hơn Trọng tâm thời kỳ này là phục tráng và trẻ hóa bộ tán lá

Phương thức cắt tỉa:

+ Cắt tỉa cành: Thời gian cắt tỉa tiến hành trước khi nhú lộc xuân là thích

hợp Sau khi cắt tỉa, trong năm sẽ ra 2 - 3 đợt lộc để khôi phục tán Ở thời kỳ này, nếu cần phục tráng cây, có thể phải hủy bỏ 1 - 2 vụ quả tiếp theo để tập trung dinh dưỡng tái tạo lại thân, cành và bộ tán

+ Thay rễ mới: Việc thay rễ mới cũng được coi là một biện pháp cắt tỉa Bộ

rễ có tác dụng quyết định đối với sinh trưởng của cây Nếu bộ rễ già cỗi, năng lực hấp thu kém, lộc mới sinh trưởng cũng kém, mức độ nặng dẫn đến rụng

lá thậm chí cây bị chết khô Cắt đứt rễ cũ sẽ thúc đẩy phát sinh nhiều rễ mới, nâng cao khả năng hấp thu, tạo cơ sở vật chất cho cành sinh trưởng Biện pháp hữu hiệu nhất là làm đứt rễ đúng mức và cải tạo đất

Ở Thái Lan và Trung Quốc, cắt tỉa trên cây nhãn nhằm cải thiện bộ tán cây, kích thước quả và tính ổn định về năng suất. Ở Thái Lan, những cành khỏe mọc vượt ra ngoài tán và cành nhỏ ở bên trong của cây bị loại bỏ, tạo thành một bộ tán thông thoáng hình bán cầu Người trồng nhãn ở Trung Quốc thường cắt ngắn để loại bỏ 40% chùm hoa và 30% số quả non ở cây sai quả, chỉ để lại hơn 500 g quả trên mỗi chùm đến khi thu hoạch. Các chùm hoa được cắt tỉa vào thời điểm khi chúng có độ dài khoảng 10 - 12 cm Điều này làm tăng kích thước quả Thời gian tỉa quả vào thời điểm khi chúng có kích thước bằng hạt đậu.  Người trồng nhãn ở Thái Lan lại loại bỏ một nửa số hoa trên mỗi cành hoa trước khi đậu quả và tỉa bớt 10% số quả sau khi đậu quả vào những năm được mùa Những chùm quả nhỏ chỉ để khoảng 30 quả/chùm Những chùm lớn để tối đa 180 quả (Chritopher M Menzel, 2005)

Ở Việt Nam, việc cắt tỉa, tạo hình để tạo cho cây có bộ khung cân đối, tán cây có khả năng hấp thu tốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho

Trang 14

việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh, điều tiết sinh trưởng Những quy trình cắt tỉa được các cơ quan nghiên cứu và Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh khuyến khích áp dụng như sau:

Đối với sản xuất nhãn ở miền Bắc:

* Đốn tỉa tạo hình trong giai đoạn kiến thiết cơ bản:

- Đối với cây nhân giống bằng phương pháp ghép, sau khi trồng 40 - 45 ngày tiến hành cắt ngọn cành ghép cách mắt ghép 40 - 50 cm, khi cây bật mầm phải tỉa bớt mầm, chỉ để lại 3 - 4 mầm khoẻ và phân bố đều về các hướng (cành cấp 1) Khi cành cấp 1 dài 30 - 35 cm lại tiến hành bấm ngọn để tạo cành cấp 2, cứ như vậy tới hết năm thứ hai hoặc thứ ba

- Đối với cành chiết, chọn để lại 2 - 3 cành cấp 1 phân bố đều về các hướng Khi cành cấp 1 dài 45 - 50 cm, tiến hành bấm ngọn để tạo cành cấp 2 và các cấp cành tiếp theo như đối với cây nhân giống bằng phương pháp ghép

- Đối với những cây nhãn ra hoa sau hai năm trồng phải ngắt bỏ hoa để cho cây tập trung phát triển thân tán

* Cắt tỉa cho nhãn trong thời kỳ kinh doanh:

- Cắt tỉa cành: Sau khi thu hoạch, cắt tỉa toàn bộ những cành tăm, cành

bị sâu bệnh, cành trong tán, cành vượt, cành sát mặt đất tạo cho cây thông thoáng Ngoài ra trong quá trình sinh trưởng thường xuyên cắt tỉa những cành vô hiệu cho cây theo các đợt lộc

- Tỉa hoa: Thời gian tỉa hoa thích hợp là vào tháng 3 khi chùm hoa đã dài khoảng 12 - 15 cm, nụ hoa trông đã rõ nhưng chưa nở Tùy thuộc vào khả năng ra hoa của từng cây mà có thể tỉa bỏ 20 - 30% số chùm hoa, tỉa bỏ các chùm hoa bị sâu bệnh và các chùm hoa nhỏ Trong trường hợp hoa ra trên toàn bộ tán, mỗi đầu cành hình thành lộc thu cắt tỉa để lại 1 chùm hoa

- Tỉa quả: Sau khi kết thúc đợt rụng quả sinh lý lần 1, khi quả đã lớn bằng hạt đậu tương, tiến hành tỉa bỏ những quả bị sâu bệnh, quả dị hình Những chùm quả quá lớn cần tỉa bỏ bớt quả hoặc cắt bớt đầu chùm, những cây quá nhiều chùm quả cần tỉa bỏ bớt số chùm quả trên cây

Trang 15

1.3.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân cho nhãn

Bón phân được xem là khâu kỹ thuật quan trọng trong kỹ thuật thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng quả Bón phân dựa vào tính chất nông hoá - thổ nhưỡng, yêu cầu dinh dưỡng của cây, quy luật sinh trưởng, phát triển, năng suất dự kiến thu được và vào tuổi cây Một số nước đã ứng dụng kỹ thuật bón phân cho cây dựa trên phân tích chẩn đoán dinh dưỡng lá như ở Israel, Australia, Florida - Mỹ

Ở Trung Quốc, vườn nhãn cao sản 11 - 12 tấn quả/ha cần bón 22,5 tấn nước phân và 15 tấn phân chuồng kết hợp với 180 kg urê, 225 kg lân supe

và 300 kg kali clorua Khi phân tích 1000 kg quả tươi thì thấy rằng cây lấy đi của đất 4,01 - 4,08 kg N; 1,46 - 1,58 kg P2O5 và 7,54 - 8,96 kg K2O, tương ứng với tỷ lệ N : P : K là 1 : 1,28 - 1,37 : 1,76 - 2,15 Từ kết luận trên đây, người ta đề nghị liều lượng phân bón cho mỗi cây 2,7 kg urê, 3,5 kg lân supe và 3,0 kg kali clorua Trong sản xuất có thể căn cứ vào năng suất vụ quả trước để bón Thông thường, cứ thu hoạch 100 kg quả thì lượng phân bón sẽ là 2 kg N, 1

kg P2O5 và 2 kg K2O

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về bón phân cho nhãn đã được đúc kết thành quy trình Lượng phân bón theo các quy trình đã được khuyến cáo ở các địa phương cho vườn nhãn thời kỳ kinh doanh như sau:

- Ở Hưng Yên: Lượng phân bón cho cây theo độ tuổi

+ Cây 4 - 6 năm tuổi: 30 - 50 kg phân hữu cơ + 0,3 - 0,5 kg phân urê + 0,7

- 1,0 kg lân supe + 0,5 - 0,7 kg kali clorua

+ Cây 7 - 10 năm tuổi: 50 - 70 kg phân hữu cơ + 0,8 - 1,0 kg phân urê + 1,5 - 1,7 kg lân supe + 1,0 - 1,2 kg kali clorua

+ Cây trên 10 năm tuổi: 70 - 100 kg phân hữu cơ + 1,2 - 1,5 kg phân urê + 2,0 - 3,0 kg lân supe + 1,2 - 2,0 kg kali clorua

- Ở Sơn La: Mức độ có cao hơn so với ở Hưng Yên:

+ Cây 4 - 6 năm tuổi: 30 - 50 kg phân hữu cơ + 0,5 - 0,7 kg phân urê + 1,0

- 1,5 kg lân supe + 0,5 - 0,7 kg kali clorua

Trang 16

+ Cây 7 - 10 năm tuổi: 50 - 70 kg phân hữu cơ + 1,0 - 1,2 kg phân urê + 2,0 - 2,5 kg lân supe + 1,0 - 1,2 kg kali clorua.

+ Cây trên 10 năm tuổi: 70 - 100 kg phân hữu cơ + 1,5 - 1,7 kg phân urê + 3,0 - 3,5 kg lân supe + 1,5 - 1,7 kg kali clorua

- Ở các tỉnh phía Nam áp dụng theo quy trình của Viện Cây ăn quả miền Nam khuyến cáo và tiêu chuẩn ngành 10 TCN 480:2001 Cụ thể:

Bảng 1 Lượng phân bón cho cây nhãn ở thời kỳ kiến thiết cơ bản

Tương đương KCl

1 4 - 5 100 217 50 303 100 167

2 3 - 4 200 435 70 424 150 250

Đối với cây trên 3 năm tuổi, số lượng phân bón trên (thời kỳ kiến thiết

cơ bản) tăng dần từ 20 - 30% mỗi năm và số lần bón trong năm được chia ra như sau:

Lần 1: Sau khi thu hoạch quả một tuần bón: 60%N2O + 60%P2O5 + 25% K2O

Lần 2: Trước khi cây ra hoa 5 tuần bón: 40% P2O5 + 25% K2O

Lần 3: Đường kính quả khoảng 1 cm bón: 40% N2O + 25% K2O

Lần 4: Trước khi thu hoạch quả 1 tháng bón: 25% K2O

Hàng năm cần bón thêm phân chuồng hoai mục khoảng 10 - 20 kg/gốc/năm hoặc bón phân tro trấu, xác thân đậu, vỏ đậu Tùy tình hình sinh trưởng, năng suất nhãn của vụ trước mà điều chỉnh lượng phân bón NPK cho vụ nhãn

Trang 17

tổng số trên cành, tạo cơ sở thuận lợi cho việc hình thành mầm hoa và các bộ phận của hoa, hơn nữa còn có tác dụng làm giảm năng l ượng cung cấp cho

bộ rễ, giảm cơ năng hoạt động của bộ rễ, giảm hấp thu n ước, nâng cao nồng

độ dịch tế bào, từ đó kích thích việc phân hóa mầm hoa Khoanh vỏ trong giai đoạn nở hoa còn làm nâng cao tỷ lệ đậu quả do ức chế sinh trưởng của rễ làm mất khả năng cạnh tranh dinh dưỡng của rễ và quả Những nghiên cứu này đã được tiến hành thí nghiệm ở cả trong phòng thí nghiệm lẫn trên đồng ruộng và kết quả đã cho thấy, khoanh vỏ đã ngăn cản C14 tổng hợp xuống

rễ Những cây khoanh vỏ tập trung tinh bột trong quả nhiều hơn những cây không khoanh vỏ (Huang, 2000)

Sử dụng KClO3 riêng rẽ hoặc kết hợp khoanh cây, cành xử lý cho nhãn ra hoa trái vụ hoặc ra hoa đồng loạt đã được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Cây ăn quả miền Nam và một số vùng trồng nhãn ở đồng bằng sông Cửu Long

Ở miền Bắc, sử dụng chất điều tiết sinh trưởng, trong đó có KClO3 kết hợp với các biện pháp khoanh vỏ đã góp phần quan trọng khắc phục hiện tượng

ra hoa, quả không ổn định ở cây nhãn

Biện pháp làm tăng khả năng đậu hoa, đậu quả cho nhãn tốt nhất là phun thuốc đậu quả Đó là các chất kích thích sinh trưởng như NAA, GA3, axit Boric Có thể dùng riêng rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên tố vi lượng với các chất kích thích sinh trưởng phun khi hoa bắt đầu nở và khi hoa nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả non

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hồng (2006) trên giống nhãn Hương Chi cho thấy việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cắt tỉa cành sau thu hoạch và khoanh cành vào khoảng thời gian từ giữa tháng 11 đến đầu tháng

12 khi bộ lá nhãn đã thành thục có tác dụng làm tăng tỷ lệ cây và cành ra hoa.Các loại phân vi lượng bón qua lá: Kích phát tố hoa trái Thiên nông, Atonic, Bayfolan, Orgamin, Spray-N-Grow (SNG), Bill’s perfect fertilize (BPF)

và FITO có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng cường phẩm chất quả một

số giống nhãn chín muộn ở Hà Tây cũ và Hưng Yên

Trang 18

Viện Cây ăn quả miền Nam sau khi tiến hành thí nghiệm “Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón NPK đến năng suất và phẩm chất nhãn tiêu da bò” đã kết luận: Năng suất nhãn tăng lên một cách có ý nghĩa ở công thức bón phân NPK cao 450 - 240 - 330; 350 - 180 – 270; (N - P2O5 - K2O g/cây/vụ) + phân hữu

cơ so với công thức đối chứng Các công thức bón lượng kali cao và bón thêm phân hữu cơ đã làm gia tăng độ Brix (%), màu sắc vỏ trái cũng sáng đẹp hơn

1.3.5 Phòng trừ sâu bệnh hại

Các biện pháp kỹ thuật phòng trừ, quản lý sâu bệnh hại cũng đã được các cơ quan nghiên cứu như Viện Bảo vệ thực vật, Viện Cây ăn quả miền Nam, Viện Nghiên cứu Rau quả và Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả Phủ Quỳ tiến hành ở các vùng trồng nhãn từ những năm 1997 - 1998 Kết quả đã phát hiện

12 loại bệnh và 38 loại sâu hại trên nhãn Các đối tượng gây thiệt hại đáng

kể nhất là bọ xít, rệp sáp, sâu đục quả, sâu đục thân, sâu tiện vỏ, bệnh sương mai Việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng và trừ các loại sâu bệnh đã mang lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, góp phần làm tăng năng suất và chất lượng của quả nhãn

1.3.6 Nghiên cứu về tưới nước cho cây nhãn

Tương tự như cây vải, tưới thường xuyên là điều cần thiết trong quá trình sinh trưởng của cây nhãn trong thời kỳ kiến thiết cơ bản. Trong thời gian khô hạn, có thể cần tưới các giai đoạn cách nhau 2 - 3 tuần. Đối với cây trong thời

kỳ kinh doanh, độ ẩm nên được hạn chế trong mùa thu và mùa đông để ngăn cản sự phát triển sinh dưỡng và thúc đẩy sự ra hoa

Một số nghiên cứu khác cho thấy hạn hán trong quá trình phát triển làm giảm sản lượng Khi cụm hoa đã xuất hiện và trong suốt quá trình phát triển của quả, duy trì độ ẩm thích hợp là cần thiết. Việc tưới nước sẽ được kết thúc trong một vài tuần trước khi thu hoạch. Trong thời kỳ quả đang phát triển,

sự căng thẳng về độ ẩm trong các tình huống không được tưới có thể gây ra hiện tượng quả ngừng phát triển. Sau khi thu hoạch, ngoài biện pháp cắt tỉa, bón phân, cần tưới nhiều để thúc đẩy hình thành chồi mới

Các nghiên cứu ở Ấn Độ, Úc và Nam Phi (Menzel C.M and Waite G.K, 2005)

đã chỉ ra rằng, cây có thể lấy nước ở độ sâu đáng kể trong hầu hết các loại đất

Trang 19

và tạo ra sản lượng chấp nhận được dưới chu kỳ tưới khá dài. Tưới 2 tuần/lần

là đủ trong đất mùn cát và 3 - 4 tuần/lần trong đất sét. Trên đất pha cát cần tưới trước khi 50% lượng nước sẵn có trong đất được sử dụng

Hệ thống tưới tiêu cho nhãn cần thiết kế có đủ khả năng cung cấp từ 2 đến 8 Ml/ha nước chất lượng tốt mỗi năm Nếu nước có tảo hoặc sắt vi khuẩn, cần có hệ thống lọc đặc biệt Hệ thống phải có khả năng cung cấp nước cho vùng rễ chính, có thể sâu 1,5 m trong hình chiếu của tán cây

Có thể thiết kế hệ thống tưới cho từng loại đất Vòi phun nước mini dưới gốc cây thường gặp ở Nam Phi và Úc, ngược lại bằng nhỏ giọt phổ biến ở Israel. Vòi phun nước mini với công suất tưới 80 - 250 l/h được khuyến nghị Hệ thống tưới nhỏ giọt tưới tiết kiệm nước hơn và làm ướt vùng rễ hiệu quả hơn

so với vòi phun mưa Tuy nhiên không thích hợp cho cát vì nước ngấm thẳng xuống dưới, chỉ ngấm sang xung quanh một chút Do đó cây có thể bị khô khi thời tiết nóng Hệ thống tưới tiêu phải cung cấp nước đồng đều cho từng cây trong vườn. Do đó, các vòi phun cần có thiết bị bù áp

Việc tính toán lượng nước tưới được dựa trên lượng bốc hơi của cây trồng

và diện tích bề mặt tán Tuy nhiên cũng cần căn cứ vào điều kiện vùng trồng

và nhu cầu của cây để có biện pháp tưới phù hợp

Ở Việt Nam, do các vùng trồng nhãn có lượng mưa tương đối thuận đối với sinh trưởng phát triển của cây nhãn nên không có nghiên cứu về tưới trên cây nhãn Tuy nhiên, thời điểm hiện nay, thời tiết thay đổi do biến đổi khí hậu Tình trạng nắng nóng, khô hạn trong mùa mưa thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây nhãn Các biện pháp tưới chủ yếu ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước được cải tiến phù hợp với từng vườn hộ Phương pháp tưới vẫn dựa trên kinh nghiệm

1.4 Luận giải về tính cấp thiết

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA)

Ngành Nông nghiệp đang phải giải quyết đồng thời 3 thách thức có liên quan mật thiết đến nhau: (i) đảm bảo an ninh lương thực (ANLT) và thu nhập

Trang 20

cho người dân; (ii) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH); và (iii) giảm nhẹ BĐKH.

Sự gia tăng dân số toàn cầu, theo ước tính của FAO, đến năm 2050, dân

số thế giới sẽ tăng thêm 1/3 so với hiện tại tương đương khoảng 2 tỷ người

và chủ yếu sống ở các nước đang phát triển Tăng dân số sẽ tạo áp lực cho nông nghiệp trong việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm, dẫn đến tăng nhu cầu về sử dụng đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Do đó, ANLT vẫn là thách thức lớn trong bối cảnh BĐKH đã và đang diễn ra ngày càng khắc nghiệt hơn trong tương lai

BĐKH sẽ gây ra các biến đổi thời tiết bất thường, cực đoan làm ảnh hưởng đến các mặt của đời sống và đặc biệt ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng Đồng thời, BĐKH còn làm suy giảm các nguồn tài nguyên nhất là đất canh tác, nước và đa dạng sinh học Mặt khác, BĐKH và nước biển dâng gây

ra hạn hán và ngập mặn gia tăng, đồng nghĩa với việc tăng diện tích đất bị sa mạc hóa hoặc nhiễm mặn, giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp Do vậy, trong các lĩnh vực nói chung và nông nghiệp nói riêng cần tăng cường áp dụng giải pháp nhằm thích ứng cao hơn nữa với các biến đổi bất thường đó.Tại Việt Nam, nông nghiệp đã và sẽ tiếp tục là một trụ cột chính của nền kinh tế Nông nghiệp đóng góp 16,23% GDP, 18,2% giá trị xuất khẩu và tạo việc làm cho khoảng 41,9% lao động (Tổng cục Thống kê, 2017) Vì vậy, nông nghiệp cần phải duy trì đà tăng trưởng để đảm bảo nhu cầu về lương thực và các nhu cầu khác về thực phẩm, năng lượng, thuốc chữa bệnh, nguyên nhiên liệu phục vụ nền kinh tế

Nông nghiệp thông minh với BĐKH:

Nông nghiệp thông minh với BĐKH (CSA) được FAO (2013) xác định như một cách tiếp cận nhằm đảm bảo ANLT cho hơn 9 tỷ người trên toàn cầu vào năm 2050 CSA là sản xuất nông nghiệp với bền vững về tăng năng suất, tăng cường khả năng chống chịu (thích ứng), giảm hoặc loại bỏ, tăng khả năng hấp thụ KNK (giảm nhẹ) bất cứ khi nào có thể và tăng khả năng đạt được mục

Trang 21

tiêu quốc gia về an ninh lương thực và mục tiêu phát triển bền vững Mục tiêu của CSA là đảm bảo tính sẵn có, đủ các chất dinh dưỡng của lương thực, thực phẩm trong khi giảm được tác động của BĐKH, cũng như đóng góp cho giảm phát thải KNK Tính “thông minh” của CSA nhằm đạt được 3 mục tiêu: (i) đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng; (ii) thích ứng bao gồm khả năng chống chịu và phục hồi với các điều kiện bất lợi của khí hậu, dịch hại

và sâu bệnh, ổn định năng suất ; và (iii) giảm lượng phát thải KNK cũng như hấp thụ/tích tụ các-bon Trong điều kiện Việt Nam, với cách tiếp cận “không hối tiếc” thì không nhất thiết ở mọi lúc, mọi nơi 3 mục tiêu này đều được đặt ngang nhau khi lựa chọn các thực hành CSA

An ninh lương thực, thích ứng và giảm nhẹ được xác định là 3 trụ cột quan trọng nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu cơ bản của CSA

An ninh lương thực: Tăng năng suất và thu nhập một cách bền vững từ trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản mà không tác động xấu tới môi trường, từ

đó đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng

Thích ứng: Giảm các rủi ro cho nông dân trong ngắn hạn, trong khi vẫn nâng cao khả năng chống chịu thông qua xây dựng năng lực thích ứng với

các tác động dài hạn của BĐKH Các dịch vụ hệ sinh thái góp phần quan trọng vào duy trì năng suất và khả năng thích ứng với BĐKH

Giảm nhẹ: Giảm hoặc loại bỏ phát thải KNK bất cứ khi nào có thể Ngăn chặn phá rừng, quản lý đất, cây trồng hiệu quả nhằm tối đa hóa khả năng dự

trữ và hấp thụ CO2 trong khí quyển

Các đặc điểm chính của CSA:

CSA giải quyết các thách thức của BĐKH: Khác với phát triển nông nghiệp

truyền thống, CSA lồng ghép yếu tố BĐKH một cách hệ thống vào các quy hoạch, phát triển của các hệ thống nông nghiệp bền vững

CSA lồng ghép cùng lúc nhiều mục tiêu và lựa chọn các giải pháp phù hợp:

Theo khái niệm được FAO, CSA phải hướng tới đồng thời 3 mục tiêu: tăng năng suất, nâng cao tính chống chịu và giảm phát thải Tuy nhiên, trên thực

tế rất khó để đạt được đồng thời cả 3 mục tiêu trên Trong quá trình triển khai

Trang 22

CSA, thường phải cân nhắc (đánh đổi) các lựa chọn Do đó cần phải xác định các yếu tố tổng hợp, cân nhắc về chi phí và lợi ích của từng lựa chọn dựa vào mục tiêu được xác định CSA phải được lựa chọn phù hợp với từng đối tượng (người sản xuất, cây, con, loại hình nông sản, loại hình thời tiết, khí hậu ), điều kiện (tự nhiên, kinh tế, xã hội) của từng vùng miền, địa phương, cộng đồng cụ thể Ví dụ, tại các khu vực kinh tế khó khăn, với các nhóm cộng đồng yếu thế thì trụ cột về năng suất, an ninh lương thực (ANLT) phải được ưu tiên hơn, trong khi với các doanh nghiệp/vùng miền phát triển có khả năng đầu

tư nông nghiệp công nghệ cao thì mục tiêu giảm phát thải KNK cần được đặt ngang hàng với các trụ cột khác

CSA duy trì dịch vụ hệ sinh thái: HST cung cấp cho con người các dịch vụ

cần thiết bao gồm các nguyên vật liệu, thực phẩm, thức ăn và không khí sạch CSA áp dụng cách tiếp cận cảnh quan dựa trên các nguyên tắc của nông nghiệp bền vững nhưng không dừng lại ở các cách tiếp cận theo các ngành hẹp mà là quản lý và quy hoạch tích hợp, đa ngành liên khu vực

CSA có nhiều cách tiếp cận và được xem xét ở các cấp độ khác nhau: CSA

không nên chỉ được coi là tập hợp của các thực hành hoặc công nghệ sản xuất CSA bao gồm cả một quá trình từ phát triển các công nghệ và thực hành tới thiết lập mô hình dựa trên các bối cảnh BĐKH khác nhau; tích hợp công nghệ thông tin, các cơ chế bảo hiểm hạn chế rủi ro, theo chuỗi giá trị

và thông qua bố trí thể chế và hệ thống chính sách Như vậy, CSA không chỉ

là công nghệ sản xuất mà là tổng hợp của nhiều giải pháp can thiệp về hệ thống sản xuất, cảnh quan, chuỗi giá trị hoặc chính sách mang tính bao trùm trong một vùng nhất định

CSA mang tính cụ thể: Nông nghiệp thông minh tại khu vực này có thể sẽ

không được coi là thông minh tại khu vực khác và không có giải pháp can thiệp nào là thông minh với khí hậu tại mọi lúc hoặc mọi nơi Các giải pháp can thiệp cần phải xem xét sự tương tác giữa các yếu tố khác nhau tại cấp độ cảnh quan, trong và giữa các hệ sinh thái cũng như là một phần của thực tế chính sách và thể chế

CSA có sự lồng ghép về giới và các nhóm yếu thế: Nhằm đạt được mục tiêu

ANLT và nâng cao tính chống chịu, các cách tiếp cận CSA phải có sự tham gia

Trang 23

của các nhóm dễ bị tổn thương nhất và đói nghèo Các nhóm này thường sống ở những vùng dễ bị tổn thương nhất đối với BĐKH như hạn hán và lũ lụt, do đó đây là nhóm chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH, với nhóm này, mục tiêu về đảm bảo ANLT phải được ưu tiên hàng đầu Giới là một cách tiếp cận quan trọng khác của CSA Phụ nữ ít có quyền và cơ hội tiếp cận về đất đai, hoặc các nguồn lực kinh tế và sản xuất khác Việc này đã làm cho phụ nữ

ít có khả năng xây dựng năng lực thích ứng với BĐKH như hạn hán, xâm nhập mặn và lũ lụt

CSA trong việc giải quyết các thách thức:

CSA đặt trọng tâm vào việc tăng năng suất/thu nhập và giảm nhẹ rủi ro của BĐKH và giảm phát thải KNK Các rủi ro về khí hậu đòi hỏi ngành nông nghiệp phải đổi mới công nghệ và cách tiếp cận Cách tiếp cận CSA giúp nông dân và các nhà hoạch định chính sách có thể chủ động xây dựng các

kế hoạch thích ứng với BĐKH cả trong ngắn và dài hạn Các giải pháp CSA cung cấp chiến lược nhằm tăng khả năng phục hồi của hệ thống sản xuất ở các quy mô

1.4.2 Luận giải về tính cấp thiết

Hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng là ngành gây phát thải lớn, chiếm 14% tiềm năng làm nóng lên toàn cầu, trong đó 17% CO2 tương đương từ quá trình sử dụng đất và thay đổi sử dụng đất trong nông nghiệp, 3% CO2tương đương từ quá trình quản lý chất thải trong nông nghiệp CH4 và N2O là nguồn khí nhà kính (KNK) phát thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Ủy

ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate

Change, viết tắt là IPCC) (2007) đã chỉ ra rằng các nước phát triển chỉ chiếm

chưa tới 20% về dân số nhưng lại gây phát thải tới 46,4% lượng KNK toàn cầu, trong khi các nước đang phát triển chỉ chiếm 53,6% về tổng lượng KNK nhưng chiếm trên 80% về dân số

Dựa trên các kết quả dự báo quốc tế cho thấy, nếu không có các chính sách can thiệp kịp thời, lượng phát thải khí nhà kính (KNK) toàn cầu sẽ tăng

từ 25 - 90% vào năm 2030 so với hiện trạng phát thải KNK năm 2000 Đặc biệt,

Trang 24

lượng phát thải KNK sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển như nước ta (dự báo KNK tăng lên gấp 4 lần vào năm 2030) Sự gia tăng KNK đòi hỏi các quốc gia cần nỗ lực hơn để giảm phát thải KNK nhằm ngăn chặn, hạn chế quá trình gia tăng biến đổi khí hậu toàn cầu (các hoạt động phát thải thấp) ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Trong đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp được đánh giá là một trong những nguồn phát thải KNK chủ yếu ở các quốc gia đang phát triển IPCC đã có hướng dẫn chi tiết (phương pháp, hệ số) để ước tính lượng phát thải KNK cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp (quá trình lên men ở động vật; quản lý hữu cơ và đất nông nghiệp).

Sản xuất nông nghiệp mặc dù được cho là ngành phát thải lớn nhưng cũng được đánh giá là ngành có tiềm năng giảm phát thải cao Những tính toán về phát thải KNK và chi phí cận biên giảm phát thải KNK của một số hoạt động sản xuất nông nghiệp cho thấy nhiều hoạt động sản xuất nông nghiệp

có tiềm năng lớn trong giảm phát thải KNK (Mai Văn Trịnh và cs., 2015) Tại

Indonesia, Ủy ban về Biến đổi khí hậu nước này đã dự báo rằng các hoạt động kinh tế có tiềm năng giảm phát thải KNK 164 triệu tấn CO2 tương đương (CO2e), trong đó chỉ tính riêng lĩnh vực nông nghiệp đã có tiềm năng giảm 105 triệu tấn CO2 tương đương thông qua các hoạt động cải thiện hệ thống tưới tiêu trong canh tác lúa nước, cải tiến quản lý giống cây trồng, giám sát và quản lý phân đạm, quản lý chất thải hữu cơ từ chăn nuôi và hệ thống cung cấp thức ăn chăn nuôi (mặc dù có chi phí rất cao)

Trong những năm gần đây Việt Nam chịu tác động nghiêm trọng bởi hiện tượng El Nino kéo dài nhất trong lịch sử từ cuối 2014 đến tháng 6 năm

2016, gây ra hiện tượng hạn hán và xâm ngập mặn nghiêm trọng tại các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long.  Năm 2016 đã có

18 tỉnh của Việt Nam tuyên bố tình trạng thiên tai Tổng thiệt hại do thiên tai, BĐKH gây ra trong năm 2016 ước khoảng  39.000 tỷ đồng, tương đương 1,7

tỷ đô la Mỹ (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016)

Ngành Nng nghiệp hiện đóng góp khoảng 16,23% GDP và tạo ra khoảng 47% việc làm (FAO, 2016), nhiều hộ gia đình vẫn dựa vào nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực Diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 35%

Trang 25

tổng diện tích của cả nước (FAO, 2016) Việt Nam là một trong những nước

dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu (BĐKH) Nước biển dâng và nhiễm mặn ở vùng ven biển, lũ lụt và hạn hán xảy ra thường xuyên và khắc nghiệt hơn Năng suất cây trồng (đặc biệt là lúa, ngô, sắn) được dự báo sẽ giảm đáng

kể vào năm 2030 và 2050 Theo kịch bản phát thải trung bình (WB, 2010), thì đến năm 2050, sản lượng lúa dự kiến sẽ giảm từ 10 - 20% Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy việc thiếu các biện pháp thích ứng BĐKH trong nông nghiệp sẽ gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam (GDP giảm hơn 2%, giá trị gia tăng trong nông nghiệp thấp hơn 13% so với đường cơ sở vào năm 2050), cũng như giảm thu nhập của nông

hộ và các nhóm dễ bị tổn thương ở nông thôn (WB, 2010)

Các thách thức do BĐKH đòi hỏi Ngành Nông nghiệp Việt Nam phải hành động ngay để tìm ra giải pháp ứng phó hiệu quả, phù hợp với điều kiện tự nhiên và hoạt động sinh kế của từng vùng, địa phương và của quốc gia.Đối với sản xuất nhãn ở nước ta, là loại cây trồng được coi là có tính thích ứng rộng Có nhiều giống khác nhau, thích ứng với những vùng sinh thái nhất định Tuy nhiên, không ngoại lệ, cây nhãn cũng chịu các tác động của biến đổi khí hậu gây ra

Trong điều kiện hiện nay, biến đổi khí hậu ảnh hưởng không nhỏ đến lĩnh vực sản xuất nhãn Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng 0,5 - 0,7oC, mực nước biển dâng khoảng 20 cm Biến đổi khí hậu khiến các quy luật mùa bị phá vỡ Mùa xuân ngắn lại, mùa hè dài ra Nóng, lạnh bất thường Các cực trị thay đổi, bão nhiều lên ở một số vùng Lượng mưa giảm nhưng mưa rất lớn, không mưa là hạn khốc liệt Ngoài ra, tác động tiêu cực của BĐKH làm giảm lượng mưa, giảm nguồn nước tưới trong thời kỳ cây nhãn mang quả cũng ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển, năng suất cũng như chất lượng quả nhãn tại các vùng trồng

Trong điều kiện thực tế ở miền Bắc, không như cây vải, cây nhãn không yêu cầu điều kiện nhiệt độ lạnh vào mùa đông Tuy nhiên, các điều kiện bất thường như: nhiệt độ tăng cao, nắng nóng kéo dài, mưa bão thất thường đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng

Trang 26

của cây nhãn Đặc biệt ở các tỉnh miền núi như Sơn La - vùng có diện tích nhãn lớn nhất cả nước, trong những năm gần đây, điều kiện khí hậu của Sơn

La không tránh được những biến đổi theo xu hướng chung Nhiệt độ trung bình năm cả giai đoạn 2008 - 2017 trên toàn tỉnh là 22,2oC; cao nhất tại trạm Phù Yên và Yên Châu; thấp nhất tại trạm Mộc Châu Nhiệt độ tối cao trung bình năm cả giai đoạn 2008 - 2017 là 37oC; nhiệt độ tối thấp trung bình năm

cả giai đoạn là 5,3oC Lượng mưa năm trên toàn tỉnh tập trung chủ yếu vào tháng 4 đến tháng 9, với lượng mưa cực đại xảy ra vào tháng 7 là 285,7 mm.Các hiện tượng thời tiết cực đoan thường diễn biến phức tạp, nắng nóng tương đối thấp ở các trạm Sơn La, Bắc Yên, Cò Nòi Ở các trạm còn lại, số ngày nắng nóng tương đối cao, cao nhất tại trạm Yên Châu, trung bình gần 60 ngày/1 năm, tiếp đến là trạm Phù Yên (50 ngày), Sông Mã (45 ngày), Phiêng Lanh (26 ngày) Hiện tượng giông lốc, mưa đá cũng thường xuyên xảy ra, làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống kinh tế xã hội.Hạn hán xảy ra vào mùa đông và mùa xuân (từ tháng 11 đến tháng 3, 4 năm sau) ở hầu hết các trạm trong tỉnh Trong đó, tại trạm Cò Nòi, Yên Châu, Sông Mã, hạn hán xảy ra ở mức độ nặng hơn với các trạm còn lại trong cùng khoảng thời gian xảy ra hạn Sương muối thường xảy ra vào khoảng tháng

12 hoặc tháng 1, khu vực hay xuất hiện nhất là Mai Sơn, Mộc Châu và thành phố Sơn La… Đáng lưu ý, tần suất xuất hiện bão, ấp thấp nhiệt đới xuất hiện nhiều (vào năm 2017 với 5 cơn áp thấp nhiệt đới đổ bộ gây mưa lớn) Trung bình 10 năm trong thời kỳ đánh giá có khoảng 22 trận lũ lớn và nhỏ Diễn biến thời tiết bất thường, không theo quy luật gây nhiều thiệt hại tại các địa phương, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất cây nhãn nói riêng ở Sơn La

Hưng Yên là tỉnh cũng chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH đến tình hình sản xuất nông nghiệp Do địa hình của tỉnh Hưng Yên bằng phẳng xen kẽ các ô đất trũng ngập nước quanh năm, mật độ mạng lưới sông khá cao, các nhánh sông chính chảy qua gồm có sông Hồng và sông Luộc,

do đó, trong những năm qua, hiện tượng ngập úng vào mùa mưa lũ ở một

số khu vực vùng thấp cũng gia tăng, các xã thường xuyên bị ảnh hưởng là

Trang 27

Dương Quang, Hòa Phong, Minh Đức (Mỹ Hào), Tiền Tiến, Minh Tiến, Tam Đa (Phù Cừ) và khu vực tỉnh lộ 205 (Ân Thi)… Còn vào mùa hè, tình trạng nắng nóng trở lên gay gắt hơn, những ngày nóng cực điểm đã lên đến hơn 40oC gây ra tình trạng khô hạn, gia tăng nguy cơ suy thoái các hệ thống sông.

Dự báo trong thời gian tới, tác động BĐKH tại Hưng Yên đang có xu hướng tăng, nhiệt độ trung bình năm toàn giai đoạn 2001 - 2050 và 30 năm giai đoạn đầu 2001 - 2030 theo kịch bản A1B tăng trên cả phía Bắc và phía Nam tỉnh Hưng Yên với mức tăng là 0,0290C/năm; mùa hè có xu hướng kéo dài thêm, nắng nóng cực điểm có thể lên đến 40oC; mùa đông thường đến muộn, rút ngắn và có những đợt rét đậm, rét hại kéo dài; lượng mưa tại Hưng Yên có diễn biến bất thường và không đồng đều, gia tăng tần suất các đợt mưa với lưu lượng lớn trong nhiều giờ… Điều đó, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất nhãn ở Hưng Yên nói riêng (Linh Nga, 2014)

Trong điều kiện các vùng trồng nhãn ở đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long… với lượng mưa trung bình năm

là 1.682 - 2.005 mm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm đến 90 - 92% lượng mưa năm và tập trung vào các tháng 9 - 10 (30 - 40%), trong mùa mưa thường có thời gian khô hạn vào khoảng cuối tháng 7 đến đầu tháng 8.BĐKH đang gia tăng tại vùng ĐBSCL, kèm theo đó là những biểu hiện của các yếu tố cực đoan như: nhiệt độ tăng cao, hạn hán khốc liệt, xâm nhập mặn, triều cường và sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra thường xuyên hơn gây nhiều thiệt hại cho các tỉnh, thành vùng ĐBSCL

Như vậy, biến đổi khí hậu đã tác động đến mọi giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây nhãn Mưa lớn thường gây lũ làm xói mòn, rửa trôi, sạt lở đất gây ảnh hưởng không nhỏ đến các vườn sản xuất Vào thời kỳ cây tích lũy cho phân hóa mầm hoa, mưa nhiều làm cho cây thiên về sinh trưởng nên khả năng ra hoa bị hạn chế Nắng nóng, khô hạn bất thường vào mùa mưa gây thiếu nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây cũng như quá trình sinh trưởng, phát triển của quả Cây chậm sinh trưởng, quả không lớn được, năng suất, chất lượng giảm

Trang 28

Trong thực tế, đã có khá nhiều nghiên cứu về giống và các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nhãn và khắc phục các yếu tố bất lợi của môi trường Các địa phương cũng có những khuyến cáo riêng về kỹ thuật thâm canh Tuy nhiên, việc áp dụng các kỹ thuật vào sản xuất của người trồng nhãn cũng mỗi nơi mỗi khác Các biện pháp kỹ thuật ứng phó với biến đổi khí hậu chưa cụ thể.

Để khắc phục những tồn tại cũng như các thách thức trên, trước hết cần nghiên cứu, chọn tạo để có bộ giống nhãn tốt, không những mang tính rải

vụ mà còn thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay Ngoài ra, vẫn cần có những nghiên cứu cải tiến các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là các biện pháp ứng phó với điều kiện BĐKH, những nghiên cứu về bảo quản, chế biến, nghiên cứu thị trường và những hướng dẫn cụ thể cho việc vận dụng tiến các bộ kỹ thuật vào thực tế sản xuất một cách hợp lý hơn trong từng điều kiện cụ thể

2 NHỮNG VẤN ĐỀ KH&CN CÒN TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG SẢN XUẤT NHÃN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Đã có nhiều nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác trên cây nhãn Kết quả của các nghiên cứu đã được đúc kết thành quy trình kỹ thuật áp dụng cho nhiều vùng miền Các kỹ thuật được khuyến cáo tương đối đồng

bộ, từ cắt tỉa, bón phân, phòng trừ sâu bệnh đến xử lý ra hoa Tuy nhiên, do mỗi vườn cây có điều kiện sản xuất khác nhau nên các biện pháp kỹ thuật sẽ không được áp dụng đúng cách nếu không được hướng dẫn cụ thể Một số khâu kỹ thuật trong quy trình cũng cần được cải tiến phù hợp để người dân

dễ áp dụng hơn Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu chưa được chú trọng Đặc biệt là kỹ thuật tưới đa số còn lạc hậu, vừa tốn nước, vừa không hiệu quả

Nhìn chung, việc áp dụng các kỹ thuật thâm canh ở các tỉnh đều có nhiều tiến bộ Tuy nhiên, trong việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vẫn còn nhiều bất cập do sử dụng phân bón, thuốc BVTV còn chưa hợp lý, kỹ thuật cắt tỉa, xử

lý ra hoa còn chưa thống nhất Cụ thể:

Trang 29

- Biện pháp cải tạo đất bằng cách sử dụng phân hữu cơ/phân vi sinh chưa được phổ biến và không thường xuyên dẫn đến đất bị chai cứng, các loại phân hóa học khác bón vào nhanh bị rửa trôi hoặc biến đổi thành dạng khó tiêu.

- Lượng phân khoáng bón phân vô cơ các loại cho nhãn nhìn chung còn thấp so với yêu cầu của độ tuổi cây và có sự chênh lệch nhiều giữa các địa phương Nhiều vườn sử dụng phân NPK tổng hợp thay cho phân đơn nhưng lượng không quá 5 kg/cây trên 10 năm tuổi

- Các mô hình sản xuất có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Tuy nhiên, số lần sử dụng thuốc bảo vệ hoa và quả còn cao gây lãng phí và có nguy cơ gây

ô nhiễm môi trường, mất an toàn VSATTP

- Kỹ thuật cắt tỉa cơ bản đã có sự thống nhất: Cắt tỉa sau thu hoạch, tỉa thưa cành và cắt tỉa hoa Tuy nhiên, thời gian cắt tỉa sớm, muộn, mức độ cắt tỉa lại do điều kiện nhân lực của từng vườn mô hình

- Kỹ thuật xử lý ức chế sinh trưởng, thúc đẩy phân hóa mầm hoa bằng các

kỹ thuật khoanh vỏ là tương đối thống nhất về thời điểm khoanh Tuy nhiên việc xử lý ra hoa bằng hóa chất chưa có sự thống nhất

- Kỹ thuật tưới nước: Vấn đề nước tưới cho nhãn chưa được chú trọng mặc

dù đây là biện pháp ứng phó với BĐKH và hiệu quả trong giai đoạn cây mang quả Một số vườn bố trí hệ thống tưới chủ động, tiết kiệm nước với hình thức tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa nhằm hạn chế khô hạn và nắng nóng trong giai đoạn cây đang nuôi quả Về kỹ thuật tưới, chưa có kỹ thuật cụ thể mà chỉ tưới khi đất quá khô hay khi trời quá nắng nóng phun nước lên cây cho lá, quả không bị cháy xém Không có lượng nước cụ thể cho một lần phun

Như vậy, trong thực tiễn sản xuất nhãn, các quy trình được ban hành từ các cơ quan quản lý như Bộ Nông nghiệp và PTNT, Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh đều dựa trên các nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn kết hợp với những kinh nghiệm thực tế Các quy trình cơ bản rất chi tiết Tuy nhiên, trong bối cảnh sản xuất nhãn đang chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, các biện pháp kỹ thuật cần được tổng hợp, điều chỉnh lại dựa trên các kết quả nghiên cứu và các mô hình thực tiễn

Trang 30

Mặt khác, các biện pháp kỹ thuật tác động lên cây nhãn, có sự khác nhau khá nhiều giữa hai miền Nam, Bắc Do đó, cần có sự đánh giá kết quả áp dụng các quy trình kỹ thuật từ thực tiễn sản xuất, đúc kết các kinh nghiệm quý để xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây nhãn, thích ứng với biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện nay.

3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG

3.1 Cách tiếp cận

- Trên cơ sở các quy trình kỹ thuật đã có được triển khai áp dụng ngoài thực tiễn (đã có kiểm chứng), các quy luật khách quan của tự nhiên và những biến đổi bất thường mang tính xu hướng của điều kiện khí hậu, thời tiết, sử dụng các công cụ nghiên cứu (công nghệ thông tin, toán học thống kê…) để đánh giá, tổng hợp, xây dựng tài liệu hướng dẫn chi tiết, phù hợp với thực tiễn sản xuất nhãn tại các vùng trồng chủ lực Đồng thời dẫn dắt hướng đi cho việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước

- Quá trình triển khai có sự tham gia của các cán bộ kỹ thuật, cán bộ khuyến nông, các nhà quản lý và người nông dân trực tiếp sản xuất nhằm đánh giá nhu cầu thực tế và đưa ra giải pháp thích ứng với điều kiện/quy luật mới, phù hợp với điều kiện của người dân

3.2 Phương pháp sử dụng

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Sử dụng phương pháp điều tra, đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) bằng kỹ thuật xác định với các giải pháp khả thi: Thành lập các nhóm công tác (nhóm PRA) gồm các thành viên có chuyên ngành khác nhau về lĩnh vực nông nghiệp (khoa học cây trồng, khoa học thủy lợi…); Mỗi nhóm 3 - 5 thành viên bao gồm một trưởng nhóm, có sự tham gia của cán bộ khuyến nông, phòng nông nghiệp tại địa phương Các thành viên cùng nhau xây dựng các đầu mục thông tin cần thu thập, lên kế hoạch thực hiện, tổng hợp, phân tích, đánh giá để có những kết luận cuối cùng

Trang 31

a) Thu thập thông tin thứ cấp

Từ các cơ quan quản lý/chuyên môn về nông nghiệp từ Trung ương đến địa phương: Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, các cơ quan nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT), Sở Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Khí tượng Thủy văn, các phòng nông nghiệp huyện và các tổ chức phi chính phủ khác Các tài liệu/thông tin cần thu thập gồm:

- Thu thập các tài liệu về đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn, hệ thống tưới tiêu trong vùng và các điều kiện bất lợi liên quan đến biến đổi khí hậu

- Các báo cáo về sản xuất nông nghiệp tại địa phương trong những năm gần đây và các thông tin/đánh giá về các tác động của điều kiện khí hậu biến đổi trong những năm gần đây đến tình hình sản xuất nông nghiệp

- Các tài liệu liên quan đến các giải pháp kỹ thuật đã áp dụng vào mô hình CSA (quy trình/biện pháp kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh, quy trình/giải pháp tưới, đặc biệt các biện pháp kỹ thuật CSA); tài liệu tập huấn nông dân thực hiện mô hình CSA

- Các quy trình ở các cấp, các tiêu chuẩn ngành, các Quy chuẩn quốc gia về tiêu chuẩn/kỹ thuật liên quan cây nhãn tại một số vùng trồng chủ lực (Hưng Yên, Sơn La, Tiền Giang, Đồng Tháp…)

b) Thu thập thông tin sơ cấp

Các nhóm PRA trực tiếp đến các vùng xây dựng các mô hình CSA thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn các nhà quản lý nông nghiệp ở địa phương, các cán bộ thực hiện mô hình, các hộ nông dân tham gia mô hình quan sát trực tiếp mô hình đang thực hiện

3.2.2 Tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin

Các thông tin thu thập được các chuyên gia tư vấn có chuyên môn phù hợp (nhóm PRA) họp bàn, hội ý, phân loại, tổng hợp và đánh giá ưu/nhược của các/nhóm biện pháp kỹ thuật CSA; các tác động cụ thể của các biện pháp

kỹ thuật trong điều kiện khí hậu biến đổi cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng cây trồng; Xác định những vấn đề kỹ thuật cần điều chỉnh cho phù hợp, thích ứng với biến đổi khí hậu

Trang 32

và canh tác theo CSA) nhằm phân biệt rõ những khác biệt giữa biện pháp kỹ thuật canh tác theo CSA và biện pháp canh tác thông thường, để có thể bổ sung vào các tài liệu kỹ thuật canh tác thích ứng biến đổi khí hậu như là các

Ở Sơn La, vùng trồng nhãn tập trung Sông Mã và các huyện khác như Yên Châu, Mai Sơn, Mộc Châu… và chủ yếu trên đất đồi có độ dốc vừa phải Ngoài nguồn nước mặt (ao hồ, sông suối), nước tưới nhãn được cung cấp từ nguồn nước ngầm (từ giếng đào hay giếng khoan) Tuy nhiên, các nguồn nước này không phải nơi nào cũng dễ khai thác và sử dụng được Biến đổi khí hậu càng làm cho nguồn nước phục vụ nông nghiệp ngày càng khó khăn

Trang 33

Tại các tỉnh miền Nam như Tiền Giang, Đồng Tháp, điều kiện vùng sản xuất nhãn có nhiều khác biệt so với ở miền Bắc Đất trồng nhãn thường là vùng đồng bằng, đất trũng, có nơi, đất nhiễm phèn, mặn Đa số diện tích phải đào mương, lên líp hoặc đắp ụ để trồng cây Nguồn nước tưới chủ yếu là sử dụng nguồn nước mặt Mực nước ngầm luôn ở mức cao Điều kiện về khí hậu miền Nam thiên về khí hậu nhiệt đới khác hẳn so với miền Bắc là vùng có khí hậu á nhiệt đới, bốn mùa rõ rệt.

Về giống trồng: Ở các tỉnh miền Bắc hiện có nhiều giống nhãn đã được tuyển chọn đang được sản xuất thương mại từ giống chín sớm như PHS1, PHS2, HTS1 đến giống chín muộn PHM99-1.1, HTM1… Ở các tỉnh phía Nam hiện nay đang được trồng phổ biến là Edor (giống nhãn nhập từ Thái Lan), Xuồng cơm vàng, nhãn Long, nhãn Tiêu da bò…

Tình hình sâu bệnh hại: Trên cây nhãn tại các vùng trồng đều có nhiều đối tượng sâu bệnh gây hại Tuy nhiên, các loài sâu bệnh gây hại chính bao gồm: bọ xít, rệp sáp, các loại sâu ăn lá, sâu đục quả; bệnh thán thư, sương mai

4.2 Thực trạng về việc áp dụng các kỹ thuật thâm canh và hiệu quả trong một số mô hình thực tiễn ở một số vùng trồng chính

4.2.1 Thực trạng áp dụng các kỹ thuật thâm canh

(1) Mô hình tại Hưng Yên

- Các giống đang sản xuất: Giống nhãn PHM99-1.1 (còn gọi là nhãn Miền), giống nhãn Hương Chi

- Quy trình áp dụng: Các cơ sở được khảo sát đều áp dụng các quy trình nền:+ Quy trình Thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) - Tiêu chuẩn quốc gia TCVN11892-1: 2017, Phần 1 - Trồng trọt

+ Quy trình trồng và chăm sóc nhãn do Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Viện Nghiên cứu Rau quả xây dựng và ban hành

+ Quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM

Trang 34

- Các khâu kỹ thuật chính được vận dụng trên mô hình Cụ thể:

+ Biện pháp cắt tỉa: Bao gồm cắt tỉa cành sau thu hoạch và cắt tỉa hoa, quả + Biện pháp bón phân: Lượng phân bón được áp dụng theo quy trình kỹ

thuật chung như trong quy trình Ngoài ra, mô hình còn áp dụng biện pháp

sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh, phân trấu (phân gà), đậu tương, ngô hay tro bếp để cải tạo đất theo chu trình:

Năm thứ nhất: Tro bếp: 2 kg/cây + bột ngô nghiền 2,5 kg/cây Bón bổ sung NPK (tỷ lệ 15:15:15) 1,5 kg/cây khi cây ra hoa

Năm thứ 2: Bột đậu tương bón 2 đợt sau cắt tỉa (sau thu hoạch) và trước khi nhãn ra hoa Mỗi lần 1 kg/cây

Năm thứ 3: Phân hữu cơ vi sinh: 3 kg/cây hoặc phân trấu 20 - 30 kg/cây

Lưu ý: Trước khi ra hoa hạn chế tưới nước và không bón phân Chỉ bổ sung

kali bằng cách phun qua lá

+ Tưới nước: Được quan tâm khi cây cần, đáp ứng đầy đủ trong giai đoạn

ra hoa, nuôi quả Hạn chế tưới trong thời gian trước khi ra hoa khoảng 3 tháng (từ tháng 12 - 2)

+ Phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại: Việc điều tra phát hiện sâu bệnh của các chủ

cơ sở không bài bản do không có chuyên môn, mặt khác, có những loại sâu hại như sâu đục quả cần phải phòng trừ sớm, do vậy, phương pháp phòng trừ các loại sâu bệnh thường được phun phòng trừ vào các thời điểm ra lộc,

ra hoa, đậu quả non và thời kỳ quả bắt đầu thành thục Cụ thể:

Bảo vệ các đợt lộc, hoa và quả non: Phun kết hợp loại thuốc trừ sâu phổ rộng + thuốc bệnh + phân bón lá Phun khi cây bắt đầu nhú lộc/hoa và khi tắt hoa

Bảo vệ quả: Ưu tiên sử dụng các loại thuốc sinh học/thảo mộc Dừng phun trước khi thu hoạch 15 - 30 ngày

Không sử dụng thuốc trừ cỏ

+ Xử lý ra hoa:

Đối với giống nhãn PHM99-1.1: Sử dụng biện pháp khoanh vỏ kết hợp hạn chế nước, không bón phân vào gốc giai đoạn trước ra hoa Bổ sung phân bón qua lá có hàm lượng kali cao

Trang 35

Đối với giống Hương Chi, sử dụng KClO3 chuyên dùng cho cây ăn quả trên dưới 1 kg/cây trên 10 năm tuổi, tùy theo độ rộng của tán cây.

Ngoài các kỹ thuật chính trong quy trình, các biện pháp kỹ thuật khác được áp dụng cho phù hợp với điều kiện vùng trồng, cụ thể:

+ Đối với các vườn đất trũng, hay bị ngập úng, tùy theo từng điều kiện cụ thể có thể sử dụng biện pháp đắp ụ trồng hoặc đào mương, lên líp:

Đắp ụ có đường kính 1,5 m, độ cao trên mực nước khi ngập úng Trồng cây, sau đó bồi đắp hàng năm theo tốc độ sinh trưởng của cây

Đào mương, lên líp: Tùy theo vùng đất trũng nhiều hay ít để tính toán đào mương rộng hay hẹp Làm sao lấy đất lên lip đủ cao, không bị ngập úng nữa

- Sử dụng hệ thống tưới chủ động, tiết kiệm nước: Nhiều diện tích được

bố trí hệ thống tưới chủ động, tiết kiệm nước với nguồn nước được kiểm soát đảm bảo yêu cầu của VietGAP

- Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất:

+ Về điều kiện sản xuất: Khí hậu đất đai phù hợp Tuy nhiên nhiều vùng đất trũng phải tốn công đắp ụ, lên lip

+ Về quy trình kỹ thuật: Quy trình còn nhiều chỗ hơi khó hiểu

* Bài học kinh nghiệm:

- Ưu tiên sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học, thảo mộc

(2) Mô hình nhãn tại Sơn La

- Các giống đang sản xuất: Giống hiện đang được sản xuất tại cơ sở đều

là giống nhãn PHM99-1.1 (nhãn Miền) được ghép cải tạo từ cây 20 - 30 năm tuổi, được trồng từ hạt Cây ghép đã được thu hoạch từ 2 - 8 năm

Trang 36

- Quy trình kỹ thuật áp dụng: Bản Hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc nhãn sau thu hoạch do Sở Nông nghiệp và PTNT Sơn La phổ biến cho các địa phương.

- Các khâu kỹ thuật chính được vận dụng trên mô hình, cụ thể:

+ Biện pháp cắt tỉa: Tỉa cành sau thu hoạch được thực hiện triệt để Tuy

nhiên, việc tỉa hoa, tỉa quả ít khi được thực hiện

+ Biện pháp bón phân: Ngoài các loại phân bón theo bản hướng dẫn, còn

bổ sung các loại phân viên nén khi quả bằng hạt đỗ và khi quả bằng hạt lạc, mỗi gốc bón 0,5 - 1,0 kg tùy theo độ lớn của tán cây

+ Tưới nước: Không đều cho mọi diện tích vì khả năng trữ nước và hệ

thống tưới không đầy đủ Nước được bơm từ hồ/bể chứa/sông suối hay từ giếng khoan

+ Phòng trừ sâu bệnh: Được thực hiện theo Bản Hướng dẫn của Sở Nông

nghiệp và PTNT tỉnh

+ Xử lý ra hoa, tăng đậu quả: Chỉ sử dụng biện pháp khoanh vỏ vào tháng

11 âm lịch Lưu ý, cây khỏe xử lý vết khoanh rộng hơn Tùy theo thời tiết hàng năm mà khoanh sớm hay muộn Thông thường, những năm nhuận sẽ khoanh muộn hơn 10 - 15 ngày

- Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất:

+ Về điều kiện sản xuất: Khí hậu đất đai phù hợp Tuy nhiên trong thời gian gần đây, do biến đổi của điều kiện khí hậu, hiện tượng khô hạn kéo dài, mưa đá, giông lốc và thường xuyên sảy ra ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất Điều kiện khô hạn trong các tháng từ 12 đến tháng 2 tốt cho sự ra hoa của nhãn Tuy nhiên, điều kiện ít mưa và khô hạn kéo dài sang tháng 3 tháng 4 lại ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, đậu quả hay ảnh hưởng tới quá trình lớn của quả Mặt khác, tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp Có một số đối tượng mới gây hại như bệnh khô cành, khô quả nhưng chưa được hướng dẫn phòng trừ cụ thể

+ Về quy trình kỹ thuật: Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật tương đối rõ ràng Tuy nhiên, các loại thuốc trừ sâu, bệnh bán trên thị trường có quá nhiều loại nên nông dân rất khó phân biệt

Trang 37

* Bài học kinh nghiệm:

- Khâu tưới tiêu quan trọng nhất Nên bố trí hệ thống trữ nước và hệ thống đường ống dẫn để chủ động tưới;

- Lưu ý biện pháp thúc đẩy ra hoa là phải xử lý khoanh vỏ tùy theo tình trạng cây và đúng thời điểm;

- Bổ sung các loại phân đa, vi lượng trong thời điểm nuôi quả

3) Mô hình sản xuất nhãn tại Tiền Giang và Đồng Tháp

- Các giống đang sản xuất: Tại Tiền Giang và Đồng Tháp, các mô hình đều

sử dụng các giống nhãn Edor và giống xuồng cơm vàng là chính Ngoài ra còn một số giống nhãn Long, tiêu da bò nhưng không nhiều

- Quy trình áp dụng:

+ Quy trình trồng và chăm sóc nhãn: sử dụng quy trình trồng nhãn của Viện Cây ăn quả miền Nam khuyến cáo

+ Quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM trên cây nhãn do Viện Cây

ăn quả miền Nam hướng dẫn

- Các khâu kỹ thuật chính được vận dụng trên mô hình Cụ thể:

+ Biện pháp cắt tỉa: Cắt tỉa sau thu hoạch, không tỉa hoa, tỉa quả

+ Biện pháp bón phân: Bón theo quy trình kỹ thuật

+ Tưới nước: Nước được tưới trực tiếp từ các mương/lip dọc theo các hàng cây trong vườn hoặc tưới bằng hệ thống tưới phun mưa Nguồn nước

có kiểm soát

+ Phòng trừ sâu bệnh: Bón theo quy trình kỹ thuật

+ Xử lý ra hoa: Không khoanh vỏ mà sử dụng KClO3 bằng cách:

Sau khi thu hoạch, tiến hành cắt tỉa, bón phân theo quy trình Để cây không bị suy kiệt khi xử lý ra hoa quá nhiều, thúc cho cây ra 3 đợt lộc (theo quy trình là 2 đợt lộc) Khi lá đợt lộc 3 chuyển từ lá non sang giai đoạn thành thục (lá lụa), phun bổ sung dinh dưỡng qua lá MKP 0:52:34 để lộc nhanh thành thục Sau 7 ngày tưới KClO3 kết hợp với KCl với tỷ lệ 2:1 Tưới nước giữ

ẩm liên tục trong 3 ngày Lượng KClO3: cây 3-4 năm tuổi: 300 - 400gam; Cây

5 - 7 năm tuổi: 600-700gam; cây 8 năm tuổi trở lên: 1.000g - 1.200 gam tùy

Trang 38

theo độ lớn của tán cây Sau khi xử lý 10 - 15 ngày, phun phân bón lá có tỷ lệ N:P:K 10:60:10.

- Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất:

+ Về điều kiện sản xuất: Khí hậu đất đai phù hợp Tuy nhiên trong thời gian gần đây, do biến đổi của điều kiện khí hậu, hiện tượng khô hạn kéo dài, mưa lũ thất thường, tình trạng nhiễm mặn nguồn nước làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất

Tình trạng sâu bệnh khó kiểm soát như sâu đục quả, bệnh chổi rồng trên một số giống nhãn như Tiêu da bò

+ Về quy trình kỹ thuật: Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật tương đối rõ ràng Tuy nhiên, các loại thuốc trừ sâu bệnh, phân bón lá, hóa chất xử lý ra hoa… bán trên thị trường có quá nhiều loại nên nông dân rất khó phân biệt Nhiều khi

xử lý không hiệu quả thì không biết do lý do gì

* Bài học kinh nghiệm:

- Đảm bảo mật độ cây trồng không quá cao, tránh cây giao tán

- Không xử lý ra hoa sớm Nên để 3 đợt lộc sau thu hoạch mới xử lý ra hoa tránh làm bại cây Vì mùa ra hoa tự nhiên của nhãn là vào tháng 3-4, do đó, chỉ nên xử lý ra hoa khi làm quả trái vụ vào thời điểm tháng 8 - 11 năm sau Khi

xử lý ra hoa trái vụ (nghịch mùa), vì thời tiết mưa nhiều, nền đất ẩm ướt hoặc đọng nước làm ảnh hưởng đến bộ rễ Do vậy cần có biện pháp tiêu/thoát nước tốt để các đợt lộc ra đều và có chất lượng tốt chuẩn bị cho ra hoa Trước khi tưới hóa chất, cần xới gốc để thuốc có thể thấm sâu xuống bộ rễ bên dưới

- Nên tạo ra những lô cây tập chung để chăm sóc xử lý ra hoa cùng thời điểm thay vì xử lý theo cây trong vườn

4.2.2 Hiệu quả các mô hình

Với các kỹ thuật đã được áp dụng vào mô hình sản xuất nhãn, đặc biệt những diện tích được bố trí hệ thống tưới đã có hiệu quả rõ rệt Năng suất vượt so với đại trà 15 - 30% tùy theo điều kiện từng địa điểm cụ thể Việc sử dụng nước tưới không những mang lại hiệu quả trong việc ứng phó với điều kiện nắng nóng, khô hạn thất thường trong mùa mưa mà còn mang lại hiệu quả tiết kiệm tài nguyên nước, nâng cao năng suất, phẩm chất quả và hiệu quả cho người sản xuất

Trang 40

PHẦN I QUI ĐỊNH CHUNG

1 ĐỐI TƯỢNG CÂY TRỒNG: Cây nhãn, thuộc họ Bồ hòn, bộ Bồ hòn (Tên khoa học: Dimocarpus Longan Lour; Tên tiếng Anh: Longan)

2 PHẠM VI ÁP DỤNG: Áp dụng cho các vùng trồng nhãn ở Việt Nam

3 CĂN CỨ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN:

- Luật số 31/2018/QH14: Luật Trồng trọt được Quốc Hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 19 tháng

11 năm 2018

- Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11892-1:2017 về Thực hành nông nghiệp tốt VietGAP– Lĩnh vực Trồng trọt Bộ KH&CN Việt Nam

- Quy trình trồng và chăm sóc nhãn tại Hưng Yên (Viện Nghiên cứu Rau quả)

- Quy trình thâm canh nhãn HTM1 (Viện Nghiên cứu Rau quả)

- Quy trình chăm sóc nhãn sau ghép cải tạo (Viện Nghiên cứu Rau quả)

- Quy trình nhân giống nhãn (Viện Nghiên cứu Rau quả)

- Bản Hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc nhãn sau thu hoạch (Sở Nông nghiệp

và PTNT Sơn La)

- Quy trình trồng và chăm sóc nhãn (Viện Cây ăn quả miền Nam)

- Hướng dẫn Quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM trên cây nhãn (Viện Cây ăn quả miền Nam)

- Các kết quả nghiên cứu hoàn thiện gói kỹ thuật thâm canh cây nhãn Sơn La và Hưng Yên (thuộc đề tài trong điểm cấp Bộ: “Nghiên cứu tuyển chọn giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh một số cây ăn quả chủ lực (chuối, cam, bưởi, nhãn, vải) tại các tỉnh phía Bắc” thực hiện từ năm 2017)

Ngày đăng: 24/12/2022, 05:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016. Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn đến 2050 (Quyết định số 819/BNN-KHCNMT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn đến 2050 (Quyết định số 819/BNN-KHCNMT)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2016
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016. Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội, NXB Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: NXB Tài nguyên Môi trường
Năm: 2016
3. Cục Trồng trọt, 2019. Số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng cây lâu năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng cây lâu năm 2019
Tác giả: Cục Trồng trọt
Năm: 2019
4. Huỳnh Trí Đức, Bùi Thị Mỹ Hồng, Lê Thị Khỏe, Huỳnh Văn Tấn, Huỳnh Văn Thành, Võ Hữu Thoại, Võ Thế Truyền, 2003. Sổ tay Kỹ thuật trồng cây ăn quả miền Trung và miền Nam, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Kỹ thuật trồng cây ăn quả miền Trung và miền Nam
Tác giả: Huỳnh Trí Đức, Bùi Thị Mỹ Hồng, Lê Thị Khỏe, Huỳnh Văn Tấn, Huỳnh Văn Thành, Võ Hữu Thoại, Võ Thế Truyền
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Bích Hồng, 2019. Báo cáo Điều tra thực trạng sản xuất nhãn tại một số tỉnh miền Bắc, Viện Nghiên cứu Rau quả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Điều tra thực trạng sản xuất nhãn tại một số tỉnh miền Bắc
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Bích Hồng
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Rau quả
Năm: 2019
6. Nguyễn Thị Bích Hồng, 2016. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của cây nhãn, Viện Nghiên cứu Rau quả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của cây nhãn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hồng
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Rau quả
Năm: 2016
8. Sở Nông nghiệp và PTNT Đồng Tháp, 2020. Số liệu thống kê diện tích trồng nhãn từ 2015 - 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê diện tích trồng nhãn từ 2015 - 2019
Tác giả: Sở Nông nghiệp và PTNT Đồng Tháp
Năm: 2020
9. Sở Nông nghiệp và PTNT Hưng Yên, 2020. Báo cáo tình hình sản xuất, tiêu thụ nhãn năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình sản xuất, tiêu thụ nhãn năm 2020
Tác giả: Sở Nông nghiệp và PTNT Hưng Yên
Năm: 2020
10. Sở Nông nghiệp và PYNT Sơn La, 2020. Báo cáo tình hình sản xuất, thời vụ thu hoạch nhãn năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình sản xuất, thời vụ thu hoạch nhãn năm 2020
Tác giả: Sở Nông nghiệp và PYNT Sơn La
Năm: 2020
11. Sở Nông nghiệp và PTNT Tiền Giang, 2019. Số liệu thống kê diện tích, năng suất sản lượng cây lâu năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê diện tích, năng suất sản lượng cây lâu năm
Tác giả: Sở Nông nghiệp và PTNT Tiền Giang
Năm: 2019
12. Mai Văn Trịnh, Trần Văn Thế và Bùi Thị Phương Loan, 2015. Tiềm năng giảm thiểu phát thải khí nhà kính của ngành sản xuất lúa nước Việt Nam. Viện Môi trường Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng giảm thiểu phát thải khí nhà kính của ngành sản xuất lúa nước Việt Nam
Tác giả: Mai Văn Trịnh, Trần Văn Thế, Bùi Thị Phương Loan
Nhà XB: Viện Môi trường Nông nghiệp
Năm: 2015
15. Menzel M.K., 2005. Photosynthesis and Productivity, Litchi and Longan Bontany Production and uses, CABI Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Photosynthesis and Productivity, Litchi and Longan Bontany Production and uses
Tác giả: Menzel M.K
Nhà XB: CABI Publishing
Năm: 2005
16. Menzel C.M. and Waite G.K., 2005. Litchi and Longan Bontany, Production and Uses, CABI Publishing.PROSEA, 1989. Dimocarpus, p. 146-151. In Edible Fruits and Nuts. Bogor, Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litchi and Longan Bontany, Production and Uses
Tác giả: Menzel C.M., Waite G.K
Nhà XB: CABI Publishing
Năm: 2005
17. FAO, 2013. Climate-Smart Agriculture Sourcebook. Rome, Italy: Food and Agriculture Organization of the United Nations.FAO, 2016. Food Outlook: Biannual report on Global food markets Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate-Smart Agriculture Sourcebook
Tác giả: FAO
Nhà XB: Food and Agriculture Organization of the United Nations
Năm: 2013
18. IPCC, 2007. Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change: Cambridge, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change
Tác giả: IPCC
Nhà XB: Cambridge, UK
Năm: 2007
19. Nakasone, H.Y. and Paull, R.E., 1998. Tropical fruits, CAB international, Wallingford, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tropical fruits
Tác giả: Nakasone, H.Y., Paull, R.E
Nhà XB: CAB international
Năm: 1998
20. World Bank, 2010. World Development Report 2010: Development and Climate Change Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Development Report 2010: Development and Climate Change
Tác giả: World Bank
Nhà XB: World Bank
Năm: 2010
21. Zhiyuan Huang, Yungu Zhang, Longhua Li, Aimin Guo, Zhiyong Cai và Yun Li, 2000. “Some factors limiting litchi production and their manipulation”, First International symposium on litchi and longan, GuangZhou, China, June 19 - 23, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First International symposium on litchi and longan
Tác giả: Zhiyuan Huang, Yungu Zhang, Longhua Li, Aimin Guo, Zhiyong Cai, Yun Li
Năm: 2000
7. Linh Nga, 2014. Hưng Yên ứng phó với BĐKH, Https://baotainguyenmoitruong.vn/hung-yen-ung-pho-voi-bdkh-nang-cao-trach-nhiem-ca-nhan-243041.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w