TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI ĐOÀN QUỐC VIỆT DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI XÃ VÕNG XUYÊN, HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành
Tính c ấ p thi ế t c ủa đề tài
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng mang lại mặt trái như sự gia tăng phân hoá giàu nghèo, khiến cuộc sống của người nghèo ngày càng khó khăn và xa rời xã hội phát triển Nỗi lo về nghèo đói vẫn là vấn đề toàn cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân và sự phát triển bền vững của xã hội Dù đã có nhiều thành tựu trong công tác xóa đói giảm nghèo trên toàn thế giới, tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của các bộ phận dân cư và các vùng miền khác nhau.
Tại Việt Nam, xóa đói giảm nghèo luôn là một trong những chủ trương hàng đầu của Đảng và Nhà nước, thể hiện cam kết thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao đời sống nhân dân Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 đã tạo đà cho các chính sách giảm nghèo hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế, đào tạo nghề và nâng cao nhận thức đã đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ đói nghèo và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước.
Năm 1986 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và dân tộc thiểu số Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã xóa đói, giảm nghèo rõ rệt, thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội và văn hóa của nhiều địa phương, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu hộ gia đình và thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội Tuy nhiên, tỷ lệ hộ tái nghèo và nghèo cận nghèo còn cao, đặc biệt là sự không đồng đều giữa các vùng, đòi hỏi phải đổi mới hệ thống chính sách và xây dựng các chương trình giảm nghèo phù hợp với từng địa phương Công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, cần được đánh giá cao và vận dụng hiệu quả để tạo ra tác động tích cực đến nhận thức cộng đồng Một trong những yếu tố then chốt giúp người nghèo thoát nghèo bền vững là tạo việc làm, nhằm phát huy khả năng tự lập và nâng cao thu nhập lâu dài Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã đạt nhiều thành tựu trong giảm nghèo tại nhiều vùng, song vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết Sự ra đời của nghề công tác xã hội và các dịch vụ, hoạt động liên quan đã mở ra nhiều giải pháp hỗ trợ người nghèo, đặc biệt trong lĩnh vực tìm kiếm việc làm, góp phần thúc đẩy công tác xóa đói giảm nghèo hiệu quả hơn.
Tại Hà Nội đã có nhiều nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng, nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc kết nối nguồn lực nhằm tìm kiếm việc làm cho người nghèo Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng có thể giải quyết những nhu cầu việc làm vượt ngoài khả năng hỗ trợ của các phương pháp truyền thống Hơn nữa, việc trợ giúp người nghèo tìm kiếm việc làm là một hành động thực tế và nhân văn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng nghèo urban.
Dựa trên những lý do đã trình bày, tôi đã lựa chọn đề tài “Dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” nhằm mang đến góc nhìn mới về vai trò của dịch vụ công tác xã hội trong việc giúp người nghèo tìm kiếm việc làm Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ cách các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người nghèo nâng cao khả năng tiếp cận việc làm, từ đó góp phần giảm nghèo bền vững tại địa phương Tôi kỳ vọng đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của dịch vụ công tác xã hội trong phát triển cộng đồng, đồng thời thúc đẩy các giải pháp giảm nghèo hiệu quả hơn.
T ổ ng quan v ề đề tài nghiên c ứ u
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo
Những người làm công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo bằng cách đánh giá rủi ro và hỗ trợ cộng đồng hiểu rõ tình hình của chính mình để thay đổi hành vi và môi trường sống Công việc của họ bao gồm phát triển cộng đồng, thúc đẩy các cơ hội kinh tế thông qua duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phương và đào tạo việc làm Các nhân viên xã hội còn giúp cộng đồng khám phá nguồn tài nguyên và khả năng tạo ảnh hưởng tích cực, nhấn mạnh rằng nghèo đói là kết quả của các tương tác phức tạp giữa đặc điểm cá nhân, nguồn lực cộng đồng và cơ hội phát triển.
Trong những tình huống khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá rủi ro của các cá nhân và sử dụng khả năng, ảnh hưởng của mình để bảo vệ những người đang phải đối mặt với đói nghèo, bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc vấn đề sức khỏe tâm thần Họ làm việc trực tiếp với cộng đồng nghèo đói, chứng kiến sự thay đổi hành vi của người dân và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp các lý thuyết về giá trị chuyên nghiệp, sự lựa chọn và quyết định của cộng đồng Phương pháp này kết hợp làm việc với cá nhân và gia đình, tập trung vào tăng cường nguồn lực, cơ hội và năng lực cá nhân để phát triển các nguyên nhân gốc rễ của nghèo đói, từ đó thúc đẩy hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo.
Nghiên cứu tại Umuebu, Nigeria cho thấy vai trò quan trọng của các nhân viên xã hội trong công tác xóa đói giảm nghèo Các quan điểm và tiếng nói của nhân viên xã hội thường bị bỏ qua trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện các chương trình giảm nghèo, mặc dù họ có thể đóng góp đáng kể cho sự thành công của các chương trình này Xóa đói giảm nghèo là một thách thức lớn do Ngân hàng Thế giới và là một trong những mục tiêu của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Nghiên cứu này cung cấp kiến thức quý giá cho các nhà hoạch định chính sách ở Nigeria, Ngân hàng Thế giới và cộng đồng quốc tế về lợi ích của việc tích hợp các quan điểm của nhân viên xã hội trong các chương trình phát triển, nhằm nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững.
Chính sách xã hội có thể theo hai hướng chính: phổ quát, với lợi ích dành cho toàn bộ dân như một quyền cơ bản, hoặc mục tiêu, dựa trên các tiêu chuẩn để xác định người đủ điều kiện hưởng lợi, nhằm đảm bảo tính đúng đối tượng Thandika Mkandawire giải thích rằng chính sách xã hội thường nằm giữa hai cực này, phản ánh cơ hội trong cuộc sống và trật tự xã hội Bài viết này chia thành hai phần: phần đầu thảo luận về nguyên nhân chuyển đổi từ phổ quát sang chọn lọc trong chính sách xã hội nhằm chống đói nghèo ở các nước đang phát triển; phần còn lại đánh giá các bài học kinh nghiệm, tập trung vào khó khăn hành chính, cơ sở kinh tế chính trị và hậu quả của chính sách theo tiêu chuẩn, đặc biệt là ảnh hưởng đến cá nhân Mkandawire nhấn mạnh hiệu quả chi phí trong các chính sách chọn lọc, vì đây là luận điểm chính của những người ủng hộ chiến lược này trong cuộc chiến chống đói nghèo.
Quỹ tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, khi nghiên cứu của RemenyiJoe và Benjamin Quinones chứng minh rằng các hộ vay tín dụng nhỏ ghi nhận mức tăng thu nhập cao hơn so với nhóm không vay Tại Indonesia, mức tăng thu nhập trung bình hàng năm của các hộ vay là 12,9%, trong khi nhóm đối chứng chỉ tăng 3% Tương tự, ở Bangladesh, nhóm vay đạt mức tăng 29,3%, so với 22% của nhóm không vay; ở Sri Lanka, mức tăng của nhóm vay là 15,6%, so với 9% của nhóm đối chứng Tại Ấn Độ, các kết quả tương tự cũng cho thấy mức tăng trung bình hàng năm của nhóm vay là 46%, trong khi nhóm không vay chỉ tăng 24%, cho thấy tác dụng tích cực của các quỹ tín dụng trong giảm nghèo và nâng cao thu nhập của các hộ dân.
Các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo đã góp phần quan trọng vào lĩnh vực này bằng cách ứng dụng thực tiễn nhằm đề xuất các can thiệp hiệu quả hơn, đồng thời đưa ra những phát hiện về những khó khăn trong quá trình thực hiện Những nghiên cứu này còn đề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy giảm nghèo bền vững.
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo
Phát triển cộng đồng là phương pháp quan trọng trong công tác xã hội, dựa trên các nguyên lý và giả định từ nhiều ngành khoa học xã hội như tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học và nhân chủng học Phương pháp này đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia để giải quyết các vấn đề của nhóm cộng đồng nghèo và nhóm yếu thế Nó nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng bằng cách nâng cao năng lực, thúc đẩy sự tham gia và đoàn kết, cũng như tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa người dân, các tổ chức và các tổ chức trong phạm vi cộng đồng Chủ trương này hướng tới sự phát triển toàn diện, không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam là một trong những vấn đề cấp bách ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân và an sinh xã hội Tác phẩm đã phân tích những tác động tiêu cực của nghèo đói đối với dân cư, như hạn chế tiếp cận Education, y tế, và cơ hội phát triển kinh tế Những khía cạnh của nghèo đói bao gồm thiếu vốn sản xuất, thiếu việc làm và hạ tầng cơ sở yếu kém, gây khó khăn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống Giải pháp giảm nghèo hiệu quả cần tập trung vào chính sách phát triển kinh tế bền vững, cải thiện hệ thống hỗ trợ xã hội và nâng cao trình độ dân trí Thực trạng nghèo đói tại Việt Nam đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, cộng đồng và các tổ chức xã hội để hướng tới một xã hội công bằng, văn minh.
Nghèo đói và công tác giảm nghèo tại Việt Nam là chủ đề được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi TS Lê Xuân Bá và các đồng nghiệp, qua đó được xuất bản thành sách Vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn xuyên suốt và bị ảnh hưởng bởi các quan hệ giai cấp cũng như chế độ xã hội khác nhau tại Việt Nam Tác phẩm này cung cấp cái nhìn tổng quát, toàn diện về tình hình nghèo đói và các hoạt động giảm nghèo trên phạm vi toàn quốc Nghèo đói được đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau, phản ánh đa dạng các khía cạnh của thực trạng này Công tác giảm nghèo cũng được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau nhằm làm rõ các yếu tố tác động và hiệu quả của các chính sách Ngoài việc tổng hợp tình hình thực tế, cuốn sách còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững tại Việt Nam.
Phạm Quý Thọ trong bài “Thực trạng giảm nghèo ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 95 tháng 5/2005 nhấn mạnh rằng, còn nhiều hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nông thôn, trong đó số hộ cận nghèo khá đông, và mức độ nghèo còn nghiêm trọng Ông cho rằng giảm nghèo là một quá trình liên tục, đòi hỏi khắc phục các tồn tại, yếu kém chủ quan, đồng thời xác định và giải quyết các khó khăn, thách thức cả trước mắt lẫn lâu dài Các giải pháp giảm nghèo cần hướng tới giảm nghèo bền vững dựa trên sự vận động của chính các hộ nghèo và trách nhiệm của cộng đồng.
Sau ba năm Việt Nam dỡ bỏ cấm vận, nền kinh tế đã có những bước chuyển động tích cực, tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn vẫn còn cao Nghiên cứu tình hình nghèo đói cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức cần giải quyết Tác giả nhấn mạnh rằng, để xóa đói giảm nghèo hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp phù hợp với điều kiện hiện tại của nông thôn Việt Nam Các giải pháp này bao gồm hỗ trợ phát triển các ngành nghề truyền thống, thúc đẩy giáo dục và đào tạo nghề, đồng thời tăng cường chính sách an sinh xã hội để giảm nghèo bền vững.
Nghiên cứu “An sinh xã hội và nghèo đói đối với sự phát triển, phát triển bền vững của các tộc người thiểu số” của Ngô Văn Lệ (2012) tập trung vào mối quan hệ giữa đặc điểm lịch sử xã hội và tình trạng nghèo đói của các tộc người thiểu số Nguyên nhân chính gây nghèo đói của người Khmer Nam Bộ xuất phát từ quá trình di cư dài hạn và cuộc sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp trong điều kiện khó khăn về kinh tế Trình độ học vấn thấp, năng lực sản xuất hạn chế và thiếu diện tích đất canh tác khiến họ gặp nhiều khó khăn trong việc thoát nghèo Giải quyết nghèo đói là quá trình lâu dài và phức tạp, đòi hỏi sự phát triển đồng bộ về giáo dục; nâng cao trình độ văn hóa giúp gia tăng khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng thiểu số.
Vấn đề nghèo đói luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các nhà nghiên cứu và xã hội học, trở thành chủ đề nóng bỏng trong các đề tài và bài viết Đây chính là mối quan tâm thường xuyên của người dân, thể hiện rõ nét trong quá trình phát triển xã hội Nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo là mục tiêu xuyên suốt nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và đồng đều trong xã hội.
Các nghiên cứu về phát triển kinh tế - xã hội, nghèo đói và XĐGN đã làm rõ vai trò của nguồn lực và cách sử dụng hiệu quả nguồn lực trong giảm nghèo và phát triển bền vững Các nghiên cứu liên ngành như kinh tế học, tâm lý xã hội, xã hội học đã đóng vai trò quan trọng trong việc lồng ghép giới trong xóa đói giảm nghèo và nghiên cứu về nhóm phụ nữ nghèo, tạo nền tảng lý luận và thực tiễn cho các giải pháp hỗ trợ người nghèo Tuy nhiên, hiện vẫn còn thiếu các nghiên cứu cụ thể nhằm tìm ra các giải pháp hỗ trợ giảm nghèo và tạo việc làm hiệu quả tại các địa phương Với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Hà Nội”, tôi đặt mục tiêu phân tích thực trạng sử dụng nguồn lực, tình hình hỗ trợ người nghèo tìm việc, nguyên nhân nghèo và nguyện vọng của các hộ nghèo, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp giúp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững tại địa phương.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thự c ti ễ n c ủa đề tài
Đề tài góp phần mở rộng và làm phong phú lý luận về dịch vụ công tác xã hội, đặc biệt là vai trò của chúng trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo Nghiên cứu này làm rõ tầm quan trọng của dịch vụ công tác xã hội trong việc giảm thiểu tình trạng thất nghiệp và nâng cao chất lượng cuộc sống cho các nhóm ưu tiên Việc bổ sung kiến thức khoa học về dịch vụ công tác xã hội giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ người nghèo trong việc tiếp cận việc làm bền vững Từ đó, đề tài góp phần phát triển lý luận và thực tiễn của công tác xã hội trong lĩnh vực hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin về thực trạng đói nghèo và nhu cầu tìm kiếm việc làm của các hộ nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, giúp chính quyền, gia đình và cộng đồng nhận diện rõ hơn về hiện trạng này Các gia đình nghèo ở Võng Xuyên nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ cộng đồng, chính quyền các cấp, doanh nghiệp và tổ chức, qua đó nhận được hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần để có điều kiện tự tìm kiếm việc làm, vươn lên thoát nghèo và ổn định cuộc sống Những kết quả này góp phần thúc đẩy công cuộc giảm nghèo chung của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.
M ục đích, nhiệ m v ụ nghiên c ứ u
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Ph ạ m vi nghiên c ứ u
5.1 Phạm vi thời gian Đề tài đƣợc thực hiện trong thời gian từ năm 2018 đến 2019
5.2 Phạm vi không gian Địa bàn xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Dịch vụ Công tác xã hội trong tìm kiếm việc làm cho người nghèo.
Phương pháp nghiên cứ u
Trong đề tài nghiên cứu này, phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng để hệ thống hóa và đánh giá các nguồn dữ liệu liên quan Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn sâu giúp thu thập ý kiến sâu sắc từ các chuyên gia và đối tượng liên quan, tăng cường độ chính xác của nghiên cứu Phương pháp quan sát cũng được áp dụng để ghi nhận các hiện tượng thực tế, đảm bảo sự khách quan và toàn diện trong quá trình nghiên cứu.
Khách th ể nghiên c ứ u
- Những hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu
- Cán bộ, chính quyền, đoàn thể tại địa bàn nghiên cứu
- Những cá nhân và pháp nhân có tiềm năng cung cấp, kết nối, tạo dựng việc làm cho người nghèo.
Câu h ỏ i nghiên c ứ u
- Thực trạng đời sống của người nghèo và thực trạng tìm kiếm việc làm của họ hiện nay nhƣ thế nào?
- Trong quá trình tìm kiếm việc làm, người nghèo thất nghiệp có những nhu cầu đƣợc hỗ trợ gì?
- Tại địa bàn nghiên cứu những nguồn lực gì để hỗ trợngười nghèo tìm kiếm việc làm? Làm thếnào để kết nối các nguồn lực đó?
B ố c ụ c c ủ a lu ận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người nghèo
Chương 2 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội
Chương 3 tập trung vào các giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong việc hỗ trợ người nghèo tìm kiếm việc làm tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội Các chiến lược đề xuất nhằm tăng cường công tác tư vấn việc làm, mở rộng mạng lưới kết nối giữa người lao động và các doanh nghiệp địa phương, đồng thời nâng cao năng lực của cán bộ công tác xã hội trong việc hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ việc làm phù hợp Việc xây dựng các chương trình đào tạo và giới thiệu việc làm phù hợp là yếu tố quan trọng góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và cải thiện đời sống cho người nghèo tại địa phương Bên cạnh đó, việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng dân cư sẽ giúp nâng cao hiệu quả của công tác xã hội, đảm bảo sự hỗ trợ toàn diện cho người nghèo trong quá trình tìm kiếm việc làm ổn định và bền vững.
CƠ SỞ LÝ LU Ậ N V Ề D Ị CH V Ụ CÔNG TÁC XÃ H Ộ I
Các khái ni ệ m công c ụ chính c ủa đề tài
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, nghèo được mô tả là sự thiếu cơ hội để sống một cuộc sống phù hợp với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định, và các tiêu chuẩn này cũng thay đổi theo địa phương và thời gian Một người được xem là nghèo khi thu nhập hàng năm của họ thấp hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người của quốc gia (PCI).
Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) năm 1999, nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng Việt Nam cũng đã chấp nhận định nghĩa chung về đói nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok, Thái Lan tháng 9 năm 1993, đó là: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” Để có một cái nhìn tổng thể về vấn đề nghèo, Robert McNamara - Giám đốc Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm về nghèo tuyệt đối và nghèo trương đối.
Nghèo tuyệt đối là trạng thái sống ở ranh giới ngoài cùng của sự tồn tại, nơi những người nghèo phải đối mặt với thiếu thốn cực độ và đấu tranh để sinh tồn hàng ngày Họ thường bị bỏ rơi, mất đi phẩm cách và phải vượt qua các hoàn cảnh tồi tệ, mang dấu ấn của tình trạng may mắn ít ỏi.
Nghèo tương đối phản ánh tình trạng thiếu hụt các tiềm lực vật chất và phi vật chất so với mức độ giàu có chung của xã hội Đây là hiện tượng thể hiện sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp xã hội, gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khả năng phát triển của các nhóm dân cư không đủ điều kiện Hiểu rõ về nghèo tương đối giúp nâng cao nhận thức về giảm bất bình đẳng và thúc đẩy chính sách phát triển bền vững trong cộng đồng.
Khái niệm nghèo đói theo cách định nghĩa này phản ánh tính tương đối, thay đổi theo thời gian và không gian, phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Nghèo đói thường xuất hiện do tình trạng kém phát triển hoặc phát triển không đồng đều giữa các thành phần kinh tế và vùng miền Ngoài ra, nguyên nhân còn bắt nguồn từ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chưa chú trọng đến vấn đề nguyên nhân gây ra nghèo đói Do đó, nghèo đói thường liên quan mật thiết đến quá trình tăng trưởng kinh tế và sự công bằng xã hội.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng quan niệm về nghèo của Việt Nam để nghiên cứu, nhấn mạnh rằng nghèo là tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diện như thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo thu nhập và không có đủ tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những thời kỳ khó khăn Nguy cơ bị tổn thương cao trước các biến động và sự ít tham gia vào quá trình ra quyết định cũng là đặc điểm nổi bật của nghèo trong bối cảnh Việt Nam.
1.1.2 Khái niệm việc làm, tìm kiếm việc làm
Việc làm là yếu tố then chốt đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội của mọi quốc gia Hội nghị thượng đỉnh Copenhagen tháng 3 năm 1995 nhấn mạnh vai trò của việc mở rộng việc làm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội toàn cầu Theo luật của Việt Nam năm 1994, mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập đều được coi là việc làm, miễn là không bị pháp luật nghiêm cấm.
Với khái niệm trên, các hoạt động đƣợc xác định là việc làm bao gồm:
- Làm những công việc được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật
Những công việc tự làm nhằm mang lại lợi ích cá nhân hoặc tạo thu nhập cho gia đình thường không nhận được trả công xứng đáng Tuy nhiên, những hoạt động này vẫn giúp cải thiện kỹ năng, tăng sự tự lập và góp phần vào sự ổn định tài chính của gia đình Việc tự làm không chỉ đem lại lợi ích về tài chính mà còn giúp phát triển khả năng sáng tạo và nâng cao giá trị bản thân Đây là những công việc tự thân truyền đạt ý nghĩa tự lực, biết tận dụng nguồn lực sẵn có để mang lại lợi ích lâu dài.
Quan niệm này giúp mở rộng nội dung công việc và tạo ra khả năng lớn để khai thác tối đa tiềm năng lao động Nó đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề về việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
- Nguời có việc làm bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong một tuần lễ trước điều tra
- Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật.
- Đang làm những công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình để thu lợi nhuận nhƣng không đƣợc trả công cho công việc đó.
Bạn đã có việc làm trước đó và đang trong thời gian nghỉ phép được sự chấp thuận của quản lý, dự kiến sẽ trở lại làm việc sau kỳ nghỉ.
Căn cứ vào thời gian làm việc của người được coi là có việc làm thì có thể phân loại nhƣ sau:
Người đủ việc làm là những người có khả năng sử dụng hết thời gian lao động theo quy định Trong thống kê lao động-việc làm tại Việt Nam, những người đủ việc làm bao gồm người có số giờ làm việc trong tuần đủ ≥ 40 giờ hoặc ít hơn 40 giờ nếu họ làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành.
Số giờ quy định trên có thể thay đổi theo từng năm học hoặc từng thời kỳ.
Người thiếu việc làm gồm những người không sử dụng hết thời gian lao động quy định tại thời điểm điều tra và nhận thu nhập từ công việc khiến họ có nhu cầu làm thêm Họ thường tìm kiếm các cơ hội lao động phụ để tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống Việc làm thêm giúp giảm thiểu tình trạng thất nghiệp và hỗ trợ kinh tế cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.
Người bán thất nghiệp là hiện tượng phổ biến ở lao động nông thôn làm việc mùa vụ, lao động khu vực thành thị không chính thức, và lao động tại các cơ sở sản xuất kinh doanh gặp khó khăn Ngoài ra, dư thừa lao động trong khu vực nhà nước cũng góp phần vào tình trạng thất nghiệp này.
Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc phù hợp Thất nghiệp là tình trạng có tính quy luật của nền kinh tế thị trường và đối lập với việc làm Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO, thất nghiệp là tình trạng của những người lao động muốn có việc làm nhưng không tìm được do các lý do ngoài ý muốn, dẫn đến không có thu nhập Do đó, thất nghiệp bao gồm những người có khả năng và nhu cầu lao động nhưng hiện tại chưa có việc làm, đang tích cực tìm kiếm hoặc chờ đợi trở lại công việc.
D ị ch v ụ công tác xã h ộ i trong h ỗ tr ợ tìm ki ế m vi ệc làm cho ngườ i nghèo
Người nghèo luôn là đối tượng chịu thiệt thòi lớn nhất trong xã hội của một nước đang phát triển Họ có ít cơ hội để cải thiện cuộc sống và thường bị đẩy sâu vào vòng nghèo khổ do các chính sách xã hội chưa được chú trọng Tuy nhiên, công tác dạy nghề và tạo việc làm trong thời gian gần đây đã có những bước chuyển tích cực, nhận được sự đồng thuận của các cấp, ngành và người lao động Các khóa đào tạo đã cung cấp kiến thức khoa học kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ làm việc cơ bản, giúp người lao động có khả năng tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm để nuôi sống bản thân, gia đình, đồng thời góp phần vào các chương trình giảm nghèo và giải quyết việc làm hiệu quả.
Chương trình dạy nghề và tạo việc làm dựa vào cộng đồng đã giúp nhiều hộ nghèo nâng cao thu nhập và thoát nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Trong giai đoạn tới, cần tiếp tục thực hiện chương trình giảm nghèo đa chiều bằng cách vận động cộng đồng hỗ trợ miễn giảm chi phí đào tạo nghề, đồng thời chủ động thương lượng với các cơ sở dạy nghề để tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng học nghề Các lớp học được tổ chức trực tiếp tại nơi sản xuất, kinh doanh phù hợp với từng trường hợp, đảm bảo học viên thành thạo kỹ năng và có việc làm sau khi kết thúc khóa học, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Mô hình không giới hạn ngành nghề đào tạo, mà khuyến khích lựa chọn các ngành phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực tế của học viên như may gia công, cắt uốn tóc, sửa rửa xe, lái xe nâng, trồng trọt và chăn nuôi nhằm tạo thu nhập ổn định và bền vững Thay vì chỉ hỗ trợ tài chính, việc đào tạo nghề và tạo việc làm bền vững sẽ góp phần nâng cao nguồn lực và khả năng tự lập của người nghèo.
Tỉnh đã thực hiện chủ trương “trao cần câu chứ không trao con cá” nhằm nâng cao ý thức tự lập và trách nhiệm của người nghèo trong phát triển sản xuất, kinh doanh để thoát nghèo bền vững Chính sách tập trung đào tạo các ngành nghề phù hợp với người lao động như may công nghiệp, thiết kế, tạo mẫu tóc, lái xe nâng, nấu ăn, trang điểm, pha chế, trồng và nhân giống nấm, chăm sóc cây cảnh, chăn nuôi thú y, trồng bưởi VietGap, rau an toàn, và hoa lan, nhằm phục vụ các ngành nghề truyền thống và phục vụ doanh nghiệp, trang trại Đồng thời, công tác tuyên truyền và tư vấn nghề nghiệp được đẩy mạnh qua các phương tiện thông tin đại chúng cùng phối hợp với các sở, ngành, đoàn thể nhằm nâng cao nhận thức xã hội về dạy nghề và các chính sách hỗ trợ học nghề hiện nay, như miễn, giảm học phí cho học sinh tốt nghiệp THCS hoặc học nghề nặng nhọc, độc hại, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động nâng cao kỹ năng và ổn định cuộc sống.
Chính sách giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ dân trí bằng cách bố trí đủ giáo viên cho các huyện nghèo, hỗ trợ xây dựng nhà bán trú dân nuôi và nhà ở cho giáo viên ở các thôn, bản Chính sách này cũng tập trung xây dựng trường dân tộc nội trú cấp huyện theo hướng liên thông với các cấp học, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn cán bộ tại chỗ cho các huyện nghèo Đồng thời, mở rộng các hình thức đào tạo ưu đãi như cử tuyển và đào tạo theo địa chỉ cho học sinh dân tộc thiểu số, ưu tiên các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế, kế hoạch hóa gia đình, và nâng cao nhận thức pháp luật thông qua trợ giúp pháp lý Để thúc đẩy phát triển kinh tế, chính sách cũng khuyến khích xây dựng các cơ sở dạy nghề tổng hợp tại mỗi huyện với chính sách ưu đãi, nội trú cho học viên, tổ chức dạy nghề tại chỗ về sản xuất nông, lâm nghiệp và ngành nghề phi nông nghiệp, đồng thời hướng tới đưa lao động nông thôn đi làm việc tại doanh nghiệp và xuất khẩu lao động.
Chính sách đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngỡ cán bộ cơ sở tập trung tổ chức các khóa huấn luyện ngắn hạn và dài hạn nhằm nâng cao kiến thức quản lý kinh tế - xã hội, xây dựng và quản lý chương trình, dự án, cũng như kỹ năng lập kế hoạch và thực hiện Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần lựa chọn ngành nghề đào tạo phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh, đặc biệt chú trọng vào các lĩnh vực tỉnh đang đẩy mạnh phát triển như nhà hàng, du lịch, nghề thủ công mỹ nghệ, dệt thổ cẩm, kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây dược liệu, cây ăn quả và kinh tế lâm nghiệp Việc này nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương bền vững.
Thông qua sàn giao dịch việc làm, người lao động đang nhận trợ cấp thất nghiệp, hộ nghèo, cận nghèo, và bộ đội xuất ngũ có cơ hội tiếp cận thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp, tham gia nộp hồ sơ và phỏng vấn trực tiếp Ngoài hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề, người lao động còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp và tư vấn pháp luật lao động miễn phí khi tham gia sàn giao dịch Người lao động có thể khai thác thông tin tuyển dụng từ các doanh nghiệp và doanh nghiệp cũng có thể tiếp cận các hồ sơ xin việc thông qua Cổng Thông Tin Việc Làm Quốc Gia.
Chúng tôi tập trung đầu tư vào cơ sở vật chất đồng bộ và cử giáo viên đi đào tạo, bồi dưỡng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân Mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp liên kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong quá trình tuyển sinh, xây dựng chương trình học tập phù hợp, tổ chức đào tạo hiệu quả và sử dụng lao động đã qua đào tạo một cách tối ưu.
1.2.1 Dịch vụ cung cấp thông tin liên quan đến việc làm cho người nghèo
Chính phủ đã triển khai numerous national programs and projects focused on employment and poverty reduction, including the National Employment Program, the National Poverty Reduction Program, the National Education and Training Program, and economic development initiatives.
Trong giai đoạn 2006-2010, chương trình 135 đã đề ra các chính sách về đào tạo nghề, dạy nghề, học nghề cho người nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm phát triển các cơ sở dạy nghề, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người nghèo Đào tạo nghề, dạy nghề và tạo việc làm cho người nghèo là những nội dung trung tâm của các chương trình, dự án nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo của đất nước.
Việc cung cấp thông tin liên quan đến việc làm là điều kiện tiên quyết giúp người nghèo có cơ hội chủ động tiếp cận các dịch vụ tìm kiếm việc làm Khi có đầy đủ thông tin, người nghèo dễ dàng tiếp cận các chương trình hỗ trợ và dịch vụ việc làm, từ đó nâng cao khả năng có việc làm phù hợp Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều người nghèo chưa được tiếp cận đến các nguồn thông tin này, làm giảm khả năng tham gia vào các hoạt động tìm kiếm việc làm Do đó, công tác hỗ trợ kết nối và cung cấp thông tin việc làm cho người nghèo là vô cùng cần thiết để giảm thiểu nghèo đói và thúc đẩy phát triển bền vững.
Người nghèo được tiếp cận và phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức và khả năng tự lập Đồng thời, họ được hỗ trợ phổ biến các kinh nghiệm sản xuất, gương điển hình trong sản xuất và hoạt động xã hội, giúp cải thiện đời sống Việc cung cấp kiến thức về khoa học kỹ thuật giúp người nghèo áp dụng hiệu quả các phương pháp mới vào sản xuất và sinh hoạt hàng ngày Chính sách hỗ trợ phương tiện nghe, nhìn cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tiếp cận thông tin Ngoài ra, Nhà nước tiếp tục thực hiện hỗ trợ đầu thu truyền hình số mặt đất, giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo dễ dàng tiếp cận truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng.
Chính quyền địa phương chú trọng xây dựng các điểm tuyên truyền cố định, trang bị phương tiện tác nghiệp và phát triển nội dung chương trình thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng Các hoạt động như phát tờ rơi, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, đăng tải nội dung trên cổng thông tin điện tử và mạng xã hội của Đoàn thanh niên xã đã giúp người lao động dễ dàng đăng ký, tra cứu thông tin và tìm kiếm việc làm phù hợp với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Việc tổ chức các hoạt động truyền thông đa dạng, đưa văn hóa và thông tin về cơ sở giúp người nghèo và cận nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo hiệu quả Đồng thời, các chính sách hỗ trợ về dịch vụ điện thoại cố định trả sau và dịch vụ di động trả sau đã được triển khai rộng rãi cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.
1.2.2 Dịch vụ hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm cho người nghèo
Nghèo đói xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc thiếu kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Các cuộc điều tra và khảo sát cho thấy hơn 60% người nghèo không có đủ năng lực để tham gia thị trường lao động, gây khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập và thoát nghèo Việc nâng cao trình độ học vấn, đào tạo nghề là yếu tố then chốt giúp giảm tỷ lệ đói nghèo và cải thiện cuộc sống cho người dân.
Trong những năm qua, công tác dạy nghề và tạo việc làm đã có những chuyển biến tích cực, nhận được sự đồng thuận từ các cấp, ngành và người lao động Các chương trình đào tạo đã trang bị cho học viên kiến thức khoa học kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ công việc cơ bản, giúp họ tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm công việc phù hợp để nuôi sống bản thân và gia đình Điều này góp phần cải thiện đời sống người lao động, thực hiện hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm một cách bền vững.
Do đó, cần đổi mới phương thức đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu xã hội để nâng cao chất lượng đào tạo, giải quyết việc làm và cải thiện chỉ số đào tạo lao động nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia Hội Chữ thập đỏ và các tổ chức liên quan đã vận dụng mô hình dạy nghề cộng đồng, tạo việc làm cho người nghèo bằng cách trao tặng máy may cho các hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thể hiện tinh thần “tương thân tương ái” Hoạt động này nhằm hỗ trợ các gia đình khó khăn phát triển kinh tế, tạo thu nhập và thoát nghèo, góp phần thúc đẩy công tác giảm nghèo bền vững.
Quan điể m chính c ủa Nhà nướ c v ề h ỗ tr ợ vi ệc làm cho ngườ i nghèo
Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 được xây dựng dựa trên chuẩn trung, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 17/2016/TT-BLĐTBXH Đây hướng dẫn rõ quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm dựa trên Tiêu chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng trong giai đoạn 2016-2020 do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
Hộ nghèo được xác định dựa trên kết quả điều tra, rà soát hàng năm tại cơ sở theo các tiêu chí quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 của Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quyết định công nhận các hộ thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn Đối với khu vực nông thôn, hộ nghèo là những hộ đáp ứng ít nhất một trong hai tiêu chí chính đề ra.
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từđủ 700.000 đồng trở xuống;
Thu nhập bình quân đầu người/tháng đạt trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng, đồng thời có sự thiếu hụt từ các nhóm chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Khu vực thành thị bao gồm các hộ gia đình đáp ứng ít nhất một trong hai tiêu chí này, thể hiện rõ sự khác biệt về điều kiện sống và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội so với các khu vực khác.
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từđủ 900.000 đồng trở xuống;
Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng dao động từ trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn do thiếu hụt các chỉ số đo lường mức độ tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
Theo quyết định 12/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành ngày 13/04/2016, tiêu chí xác định chuẩn nghèo tại Hà Nội dựa trên các tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Những tiêu chí này nhằm xác định chính xác các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung bình tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020.
1 Các tiêu chí về thu nhập a) Chuẩn nghèo: 1.100.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.400.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. b) Chuẩn cận nghèo: 1.500.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.950.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
2 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lƣợng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Điều 2 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình tiếp cận đa chiều của thành phố Hà Nội áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020
1.1 Khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: a) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.100.000 đồng trở xuống b) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.100.000 đồng đến 1.500.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
1.2 Khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: a) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 1.400.000 đồng trở xuống. b) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.400.000 đồng đến 1.950.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
2.1 Khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.100.000 đồng đến 1.500.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản
2.2 Khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.400.000 đồng đến 1.950.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
3 Hộ có mức sống trung bình
3.1 Khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.300.000 đồng
3.2 Khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.950.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Điều 3 Mức chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình quy định tại Điều 2 Quyết định này là cơ sở xác định đối tƣợng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016-2020
1.3.1 Quan điểm chính của Nhà nước về hỗ trợ việc làm cho người nghèo hiện nay
Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước Để đảm bảo giảm nghèo bền vững, chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc tạo việc làm cho người nghèo, coi đây là giải pháp then chốt nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân Nhiều chương trình hành động của Nhà nước đã được triển khai liên tục nhằm hỗ trợ việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và nâng cao năng lực lao động của người nghèo Những chính sách này đã góp phần tích cực vào việc giảm tỷ lệ nghèo và xây dựng một xã hội công bằng, phát triển bền vững.
Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 2/9/2016, nhằm mục tiêu giảm nghèo bền vững và hạn chế tái nghèo Mục tiêu tổng quát của chương trình là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống và thu nhập của người dân, đặc biệt tại các vùng nghèo Chương trình tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn 2016-2020.
Nghị quyết Quốc hội năm 2020 đề ra mục tiêu cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, trong đó thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng gấp 1,5 lần so với cuối năm 2015, riêng hộ nghèo ở các huyện, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần Chương trình tập trung hỗ trợ đào tạo nghề, giáo dục định hướng cho khoảng 20.000 lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo và dân tộc thiểu số, trong đó từ 60-70% lao động đi làm việc ở nước ngoài để nâng cao khả năng tự vươn lên thoát nghèo Một trong những giải pháp trọng tâm là tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về mục tiêu giảm nghèo sâu rộng, thúc đẩy tinh thần chủ động, vươn lên của người nghèo, cũng như khuyến khích họ tiếp nhận và sử dụng hiệu quả chính sách hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng Chương trình còn phát động phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo,” tôn vinh các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác giảm nghèo bền vững Để đảm bảo hiệu quả, chương trình huy động đa dạng nguồn vốn từ ngân sách địa phương, doanh nghiệp, tổ chức xây dựng trong và ngoài nước, cùng sự đóng góp của người dân và các đối tượng hưởng lợi; ưu tiên nguồn lực cho các huyện, xã nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu vực dân tộc thiểu số, miền núi và xã an toàn khu, nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo toàn diện, bền vững.
M ộ t s ố lý thuy ết đƣợ c ứ ng d ụ ng trong nghiên c ứ u
1.4.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái Đây là một thuyết quan trọng đƣợc vận dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ, nhóm thân chủ và cộng đồng những gì họ thiếu và những hệ thống nguồn lực nào họ có thể tiếp cận và tham gia, hội nhập Bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến cái tổng thể và mang tính hoà nhập Nguyên t c về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng Do đó, công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống nhƣ vậy trong quá trình trợ giúp cho nhóm đối tƣợng
Hệ thống được định nghĩa dựa trên từ điển Tiếng Việt là một tập hợp các yếu tố cùng loại hoặc cùng chức năng có mối quan hệ chặt chẽ, tạo thành một thể thống nhất Trong quá trình hoạt động, các thành phần trong hệ thống tương tác và phối hợp với nhau để đảm bảo hiệu quả chung Việc hiểu rõ về khái niệm hệ thống giúp chúng ta phân tích và thiết kế các cấu trúc phức tạp một cách hợp lý và có tổ chức Hệ thống đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như công nghệ, quản lý, và khoa học xã hội, góp phần tối ưu hóa hoạt động và nâng cao hiệu suất.
Theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại, hệ thống được hiểu là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất, góp phần tăng cường hiệu quả và sự phối hợp trong công tác xã hội.
Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào các hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Công tác xã hội tập trung vào việc phân loại các hệ thống dựa trên tính chất của chúng, gồm có ba hệ thống chính Các hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng Việc hiểu rõ các hệ thống này giúp nâng cao hiệu quả trong công tác xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong xã hội.
- Các hệ thống phi chính thức hay còn gọi là các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp
- Các hệ thống chính thức như các cơ quan, tổ chức của nhà nước, hay các tổ chức công đoàn…
Trong các hệ thống tập trung như bệnh viện, trường học hoặc các tổ chức xã hội, việc khai thác nguồn lực từ các nhóm gần gũi như gia đình, hàng xóm và chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện và hỗ trợ nhóm nghèo tại xã Cần thu thập thông tin từ những hệ thống này để hiểu rõ vấn đề và phát huy tối đa các nguồn lực cộng đồng, đặc biệt là trong việc giúp người nghèo tìm kiếm việc làm Đặc biệt, việc chú ý đến các chức năng như tính thích ứng và hội nhập của các tiểu hệ thống trong hệ thống lớn giúp nâng cao hiệu quả hỗ trợ, như trong nghiên cứu này liên kết tối đa các hệ thống để hỗ trợ người nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội.
Nhà tâm lý học A Maslow (1908-1970) là một trong những người tiên phong của trường phái “Tâm lý học nhân văn”, được xem là thế lực thứ ba khi thế giới chia thành hai trường phái chính là Phân tâm học và Chủ nghĩa hành vi Năm 1943, ông đã phát triển lý thuyết “Thang bậc nhu cầu của con người” với tầm ảnh hưởng rộng rãi và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục Trong lý thuyết này, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu cao hơn chỉ xuất hiện khi các nhu cầu thấp hơn đã được thỏa mãn trước đó.
Trong giai đoạn đầu của lý thuyết này, A Maslow đã xếp các nhu cầu của con người thành 5 cấp độ, bao gồm nhu cầu cơ bản, nhu cầu an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu được quý trọng và nhu cầu thể hiện bản thân.
Trong những năm 1970-1990 của thế kỷ XX, ông đã điều chỉnh hệ thống phân cấp nhu cầu thành 7 hoặc 8 bậc, bao gồm: nhu cầu cơ bản, nhu cầu an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu về được quý trọng, nhu cầu về nhận thức, nhu cầu về thẩm mỹ, nhu cầu được thể hiện mình và nhu cầu siêu nghiệm [25, tr.12].
Hệ thống các cấp bậc nhu cầu của A Maslow thường được biểu diễn dưới dạng hình kim tự tháp, trong đó các nhu cầu ở cấp thấp hơn nằm ở phía dưới, phản ánh mức độ cơ bản và thiết yếu nhất của con người Các nhu cầu này bao gồm nhu cầu sinh lý và an toàn, đóng vai trò nền tảng để thúc đẩy sự phát triển của các nhu cầu cao hơn như xã hội, danh vọng và tự thể hiện Mô hình này giúp hiểu rõ quá trình phát triển tâm lý và hành vi của con người theo các cấp độ khác nhau.
Trong luận văn này, tác giả áp dụng lý thuyết 5 cấp độ nhu cầu của Maslow để phân tích các hành vi trong cuộc sống, bắt đầu từ nhu cầu cơ bản đến nhu cầu thể hiện bản thân Các cấp độ bao gồm nhu cầu cơ bản, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được quý trọng, và nhu cầu thể hiện chính mình, giúp làm rõ mối liên hệ giữa các động lực tâm lý và hành vi của con người Áp dụng mô hình này giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến hành động và quyết định của cá nhân trong nghiên cứu.
Nhu cầu cơ bản của con người đề cập đến các nhu cầu sinh lý thiết yếu như ăn, uống, ngủ và không khí để thở, giúp duy trì sức khỏe và cảm giác thoải mái Đây là những nhu cầu cơ bản nhất, mạnh mẽ nhất và cần thiết để con người có thể tồn tại và phát triển hàng ngày Theo các nhà nghiên cứu, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sinh lý này là nền tảng để xây dựng các nhu cầu cao hơn về tinh thần và xã hội.
A.Maslow thì những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này đƣợc thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, thúc giục một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chƣa đạt đƣợc Ông cha ta c ng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng “có thực mới vực đƣợc đạo”, vì vậy cần phải đƣợc ăn uống, đƣợc đáp ứng các nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn[25 tr11].
Khi các nhu cầu cơ bản của con người đã được đáp ứng đầy đủ, nhu cầu về an toàn và an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt, trở thành ưu tiên hàng đầu để đảm bảo một cuộc sống ổn định và an toàn.
Nhu cầu an toàn và an ninh thể hiện rõ qua cả yếu tố thể chất lẫn tinh thần, khi con người mong muốn bảo vệ sự sống khỏi các nguy hiểm như chiến tranh hay thiên tai Đây được thể hiện qua mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội pháp luật và có nơi cư trú ổn định Ngoài ra, nhiều người tìm đến niềm tin tôn giáo như một hình thức che chở để đảm bảo sự an toàn về mặt tinh thần.
Nhu cầu xã hội, còn gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận hoặc tổ chức, thể hiện qua các hoạt động giao tiếp như tìm kiếm bạn bè, người yêu, lập gia đình và tham gia các hoạt động xã hội Mặc dù A Maslow xếp nhu cầu này sau hai nhu cầu cao hơn, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu xã hội không được thoả mãn, nó có thể dẫn đến các vấn đề về sức khỏe tinh thần nghiêm trọng.
Đặc điể m c ủ a xã Võng Xuyên, huy ệ n Phúc Th ọ , TP Hà N ộ i
Võng Xuyên là một xã thuộc đồng bằng châu thổ Sông Hồng, nằm phía Tây thủ đô Hà Nội, cách trung tâm huyện Phúc Thọ 4km
+ Phía B c giáp xã Phương Độ
+ Phía Nam giáp Thị trấn Phúc Thọ
+ Phía Đông giáp xã Long Xuyên
+ Phía Tây giáp xã Thọ Lộc
Xã Võng Xuyên có tổng diện tích tự nhiên là 7,37 km², trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 468,28 ha, tương ứng 63,51% tổng diện tích Phần lớn đất canh tác và khu dân cư của xã nằm trong lòng vòng đê Cao Quýt và đê mới trên tuyến đê hữu ngạn Hồng Hà, đảm bảo an toàn cho phát triển nông nghiệp và sinh hoạt cộng đồng Trong khu vực, có 1100 mẫu đất trong đê, 110 mẫu ngoài đê, và khoảng 250 mẫu đất gồm đầm, hồ, ao, vực, góp phần đa dạng hóa hệ sinh thái của xã.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Xã gồm 6 thôn và 12 cụm dân cư, bao gồm Thôn Bảo Lộc, Võng Nội, Võng Ngoại, Nghĩa Lộ, Lục Xuân và Phúc Trạch, mỗi thôn được chia thành các cụm dân cư nhỏ từ số 1 đến số 11 Với mật độ dân số trung bình là 2.512 người/km² và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,47, đa số cư dân có trình độ phổ thông trung học Tuy nhiên, là xã nông nghiệp thuần túy, bán nông, bán nghề nên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao động (65,9%), trong khi hoạt động phi nông nghiệp chủ yếu tập trung vào dịch vụ, chiếm 43,1%.
Võng Xuyên từng là nơi cư dân sinh sống chủ yếu dựa vào nghề chài lưới trên sông nước Nhờ quá trình bồi đắp phù sa và thay đổi dòng chảy, vùng đất này đã trở thành đất cát pha màu mỡ, thuận lợi cho nông nghiệp Từ xưa, các thế hệ cha ông tại Võng Xuyên đã định cư, phát triển nông nghiệp và chăn nuôi, xem nghề trồng trọt là nghề chính, trong khi nghề đánh bắt tôm cá chỉ là nghề phụ Nhờ sự nỗ lực của các thế hệ liên tiếp, Võng Xuyên trở thành xã có khả năng thâm canh lúa và rau màu hiệu quả hàng đầu vùng Cuộc sống của người dân ngày càng khá giả, nhưng họ vẫn giữ gìn và phát huy nghề truyền thống của mình.
Bảng 2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Võng Xuyên qua các năm 2015, 2018, 2019
Năm Toàn xã Nông nghiệp CN - XD Dịch vụ
Theo số liệu từ Chi cục Thống kê huyện Phúc Thọ, trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của xã Võng Xuyên đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng ngành Nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững.
Dưới năm 2015, ngành Công nghiệp - Xây dựng chiếm tỷ trọng 45.3%, trong khi ngành Nông nghiệp chiếm 37.7%; đến năm 2019, tỷ trọng ngành Nông nghiệp giảm còn 27.6%, trong khi ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng lên 53.2% Sự chuyển dịch rõ rệt này được thể hiện qua việc nhiều nhà máy, xí nghiệp được xây dựng từ năm 2015 đến 2019, nhờ vào chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước cùng các ưu đãi về thuế và hạ tầng của chính quyền Những hoạt động này tạo ra nhiều việc làm ổn định, giúp người lao động có thu nhập và cuộc sống được đảm bảo, góp phần tích cực vào giảm nghèo, nâng cao đời sống cộng đồng.
Về văn hóa xã hội, nhân dân Võng Xuyên là một bộ phận trong cộng đồng người Việt, đã tồn tại và trưởng thành qua quá trình dựng nước và giữ nước, đồng thời giữ vững nền văn hóa truyền thống trước ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến và ách đô hộ của ngoại bang Các làng xã trước đây có nhiều đình chùa, trong đó đình là nơi thờ các vị có công đức với dân, với nước, là nơi hội họp và xây dựng quy ước, tục lệ địa phương, còn chùa là nơi thờ Phật, thường dành cho những người già tuổi, có ý nghĩa cầu an, vãn cảnh và tạo niềm vui cộng đồng Phần lớn nhân dân địa phương không lệ thuộc mê tín dị đoan Mỗi gia đình đều xây bàn thờ trang trọng để tưởng niệm tổ tiên, ông bà, cha mẹ, góp phần giáo dục lễ phép, giữ gìn truyền thống gia phong và nâng cao ý thức kính nhớ nguồn cội.
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, cần chú trọng phát triển văn hóa, đạo đức và thể chất cho học sinh, duy trì phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi Khuyến khích dạy ngoại ngữ từ cấp học nhỏ, đồng thời tích hợp các nội dung về văn hóa, lịch sử địa phương, kỹ năng sống và giao tiếp vào chương trình chính khóa và ngoại khóa Việc chấm dứt hoạt động dạy thêm, học thêm và kiểm soát tình trạng lạm thu trong nhà trường là điều cần thiết để tạo môi trường học tập trong sạch Đồng thời, xây dựng chương trình hoạt động ổn định cho trạm y tế, chủ động phòng chống dịch bệnh, duy trì lịch tiêm chủng và tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực vệ sinh, an toàn thực phẩm và y tế tư nhân nhằm đảm bảo sức khỏe cộng đồng.
Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo là ưu tiên hàng đầu để nâng cao mức sống của người dân Chính sách đối với người có công và hộ nghèo được triển khai nhằm đảm bảo an sinh xã hội, tạo điều kiện phát triển bền vững Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em, gia đình và bình đẳng giới được quan tâm đúng mức, góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh Người dân trên địa bàn có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế, thúc đẩy phát triển toàn diện và giảm khoảng cách xã hội.
Thu nhập GDP bình quân trên đầu người c ng đạt được sự tăng trưởng khá cao trong giai đoạn 2018 – 2019, đƣợc thể hiện ở biểu đồ sau đây
Biểu hình 2.1 Thu nhập GDP bình quân xã Võng Xuyên năm 2018, 2019
Thực hiện tốt các hoạt động thông tin, tuyên truyền phản ánh kết quả nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Nâng cao chất lượng và hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, thúc đẩy xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh, trách nhiệm, giao tiếp ứng xử có văn hóa, thân thiện; giữ gìn vệ sinh môi trường trong các công việc cưới, tang lễ và lễ hội Tiếp tục xây dựng các tuyến phố văn minh và khu phố kiểu mẫu, đồng thời tăng cường quản lý văn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà văn hóa và quản lý tốt các hoạt động tôn giáo trên địa bàn Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh Đời sống văn hóa ngày càng được đẩy mạnh, nâng cao mức hưởng thụ về đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân qua các phong trào thi đua, góp phần phát huy giá trị truyền thống và xây dựng cộng đồng phát triển bền vững.
Phong trào "toàn dân xây dựng đời sống văn hóa" đã thúc đẩy xây dựng nếp sống văn minh và tích cực tham gia các lễ hội, hoạt động của xã Các hoạt động này ngày càng phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao ý thức cộng đồng Đồng thời, lĩnh vực giáo dục và y tế của xã cũng đang từng bước được cải thiện và nâng cao về chất lượng, mang lại sự tiện ích ngày càng lớn cho người dân Các dịch vụ y tế được mở rộng và đa dạng hơn, giúp người dân tiếp cận chăm sóc sức khỏe tốt hơn và ngày càng hài lòng với các dịch vụ khám chữa bệnh.
Th ự c tr ạ ng nghèo và th ự c tr ạng đờ i s ố ng c ủ a các h ộ nghèo t ạ i xã Võng Xuyên, huy ệ n Phúc Th ọ , thành ph ố Hà N ộ i
2.2.1 Cơ cấu xã hội của người nghèo tại xã Võng Xuyên từ năm 2018 đến nay
Xóa đói giảm nghèo là một chính sách trọng tâm, nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Đảng và Nhà nước Chính sách này góp phần nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững Đảng ta luôn khuyến khích các chính sách phát triển kinh tế đi đôi với các giải pháp giảm nghèo hiệu quả Cải cách kinh tế mở ra động lực mới cho tăng trưởng, tạo điều kiện thuận lợi để giảm nghèo nhanh chóng và đảm bảo an sinh xã hội.
Nhận thức về tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo đã giúp chính quyền và các ban ngành đoàn thể ở xã có những chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và chỉ đạo, góp phần thúc đẩy quá trình làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo.
Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước,
UBND xã Võng Xuyên đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo trong các năm 2018-2019, theo chỉ đạo của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và các nghị quyết của cấp ủy địa phương Chương trình số 06/CT-UB ngày 16/03/2018 đặt ra nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhằm giảm nghèo bền vững, đòi hỏi sự tập trung và phối hợp chặt chẽ của các ban ngành Địa phương đã tập trung phát triển kinh tế, đa dạng hóa sản xuất lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ, nhằm tạo cơ hội cho người dân chuyển đổi cơ cấu sản xuất hiệu quả Chính sách khuyến khích chuyển đổi doanh nghiệp, thu hút lao động và phát triển hàng hóa, dịch vụ giúp nâng cao thu nhập cho người dân Ngoài ra, xã còn thực hiện cho vay vốn ưu đãi để hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất và kinh doanh, góp phần thúc đẩy giảm nghèo bền vững.
Bảng 2.2 Theo dõi số lƣợng hộ nghèo và cận nghèo qua các năm 2018,
Số người nghèo Số người dưới độ tuổi lao động
Số người trong độ tuổi lao động
Số người trên độ tuổi lao động
(Nguồn: Kết quả báo cáo giảm nghèo xã Võng Xuyên năm 2018 và 2019)
Kết quả theo dõi số hộ nghèo và cận nghèo từ năm 2018 đến hết năm
Năm 2019 ghi nhận sự giảm rõ rệt số hộ nghèo và hộ cận nghèo so với năm 2018, thể hiện xu hướng tích cực trong phát triển kinh tế xã hội Cụ thể, số hộ nghèo giảm từ 07 xuống còn 04 hộ, tương đương với giảm từ 36 xuống còn 25 người nghèo Đồng thời, số hộ cận nghèo cũng giảm từ 04 xuống còn 03 hộ Đặc biệt, số người nghèo trong độ tuổi lao động giảm từ 19 người xuống còn 14 người, phản ánh hiệu quả các chương trình giảm nghèo tại địa phương.
Trong năm 2019, người nghèo và cận nghèo chiếm 56% tổng số người thuộc diện này Số lượng người nghèo dưới độ tuổi lao động đã giảm từ 09 người năm 2018 xuống còn 04 người trong năm 2019, cho thấy có sự tiến bộ trong giảm nghèo Đồng thời, số người nghèo trên độ tuổi lao động cũng giảm từ 08 người, phản ánh các chính sách hỗ trợ và phát triển kinh tế đã mang lại kết quả tích cực.
Để giảm số lượng hộ nghèo và cận nghèo một cách tích cực, xã Võng Xuyên đã thực hiện các chỉ đạo từ Đảng ủy và UBND, dựa trên báo cáo giảm nghèo năm 2019 Các biện pháp này gồm việc triển khai các chương trình hỗ trợ phù hợp để nâng cao đời sống người dân, đồng thời tập trung vào các hoạt động phát triển kinh tế địa phương, đảm bảo các chính sách an sinh xã hội được thực thi hiệu quả Nhờ các nỗ lực này, xã Võng Xuyên đã đạt được những chuyển biến tích cực trong công tác giảm nghèo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng.
* Hỗ trợ tín dụng ƣu đãi hộ nghèo
Chính sách tín dụng từ ngân hàng chính sách xã hội dành cho hộ nghèo và cận nghèo trong những năm qua đã được đặc biệt quan tâm Những chính sách này đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững tại địa phương Nhờ các chương trình hỗ trợ tín dụng phù hợp, nhiều hộ dân đã có cơ hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống Chính sách tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội góp phần quan trọng vào thành công của chương trình giảm nghèo của xã, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội địa phương.
UBND xã phối hợp với Hội Liên Phụ Nữ và Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện chương trình vay vốn ưu đãi cho hộ nghèo, cận nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn Chính sách này hướng đến hỗ trợ vay vốn để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cộng đồng Trong đó, xã có 94 hộ gia đình đã vay vốn giải quyết việc làm với tổng số tiền là 1.993.500.000 đồng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo tại địa phương.
* Hỗ trợ về y tế cho người nghèo
Năm 2019, UBND xã đề nghị cấp 23 thẻ Bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và hộ cận nghèo Đến hiện tại, toàn bộ thẻ đã được cấp phát đầy đủ cho các đối tượng theo chế độ quy định.
* Hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm cho người lao động
Chúng tôi thường xuyên rà soát các thông tin biến động về cung và cầu lao động trên địa bàn xã để đảm bảo sự phù hợp của lực lượng lao động Hàng tháng, chúng tôi tổ chức tuyên truyền các vị trí tuyển dụng theo danh sách của trung tâm giới thiệu việc làm nhằm kết nối người lao động với các cơ hội việc làm phù hợp Đồng thời, phối hợp với các khu phố để tiến hành rà soát nhu cầu học nghề của các đối tượng nghèo và cận nghèo, góp phần nâng cao năng lực lao động và giảm nghèo bền vững.
* Hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo
Trợ cấp thường xuyên hộ nghèo, hộ cận nghèo 9 tháng đầu năm với tổng số tiền 39.600.000đ
Hỗ trợ 1 hộ thoát nghèo có thêm vốn để mua hàng kinh doanh với số tiền là 3.000.000đ
Hỗ trợ thêm kinh phí khám chữa bệnh cho hộ có người bị bệnh nặng và nằm viện dài ngày với số tiền là 2.000.000đ
Hỗ trợ tiền mua sách vở đi học cho các cháu với tổng số tiền là 2.500.000đ
* Vận động ủng hộ “Quỹ vì người nghèo"
Hưởng ứng cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, chính quyền địa phương và các tổ chức đã tích cực triển khai các hoạt động nhằm hỗ trợ và chia sẻ khó khăn với người nghèo Thực hiện đầy đủ các chỉ đạo và mục tiêu của cuộc vận động, thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 431 ngày 10/10/2018 nhằm thúc đẩy các chương trình từ thiện, vận động cộng đồng cùng chung tay giảm nghèo và nâng cao đời sống người nghèo trên địa bàn Những hoạt động này đã góp phần lan tỏa tinh thần nhân ái, xây dựng cộng đồng đoàn kết, góp phần làm đẹp hình ảnh đất nước và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.
Trong 9 tháng đầu năm 2019 Ban vận động Quỹ vì người nghèo xã Võng Xuyên đã vận động nhân dân đóng góp, xây dựng Quỹ vì người nghèo với tổng số tiền là 136.392.800 đồng.
UBND xã đang triển khai công tác hỗ trợ sửa chữa và xây mới nhà ở cho các hộ nghèo, cận nghèo nhằm nâng cao điều kiện sinh sống của người dân Hiện tại, xã đang tiến hành sửa chữa nhà cho một hộ nghèo với số tiền hỗ trợ là 20.000.000 đồng, góp phần giúp họ ổn định cuộc sống và đảm bảo an cư lạc nghiệp.
Dù đã có các phương án, chính sách hỗ trợ của địa phương để giúp bà con thoát nghèo, vẫn còn 4 hộ nghèo và 3 hộ cận nghèo tồn đọng tại xã Võng Xuyên Nguyên nhân chính khiến các hộ không thể thoát nghèo bao gồm các yếu tố như người cao tuổi sống đơn độc, già yếu, người khuyết tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và các vấn đề về tệ nạn xã hội Báo cáo giảm nghèo năm 2019 của xã đã phân tích rõ các nguyên nhân này, nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp nâng cao hiệu quả hỗ trợ giảm nghèo.
* Về nguồn lực có thể hỗ trợ cho người nghèo trong tìm kiếm việc làm
Nguồn lực thông tin về việc làm
Hiện nay, xã có nhiều kênh thông tin về việc làm như cán bộ văn hóa xã hội, đoàn Thanh niên, hội Liên hiệp Phụ nữ để cung cấp thông tin tuyển dụng Các tổ chức này thường thông báo đến người dân qua đài truyền thanh xã, các buổi họp hoặc giao cho đầu mối tại khu phố để truyền đạt thông tin tuyển dụng đến từng đối tượng Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trên địa bàn thường dán thông báo, tờ rơi, áp phích nhằm truyền tải nhu cầu tuyển dụng đến toàn thể cộng đồng dân cư.
Các d ị ch v ụ công tác xã h ộ i trong h ỗ tr ợ tìm ki ế m vi ệ c làm c ủa ngườ i nghèo t ạ i xã Võng Xuyên, huy ệ n Phúc Th ọ , thành ph ố Hà N ộ i
2.3.1 Thực trạng dịch vụ cung cấp thông tin liên quan đến việc làm cho người nghèo
Người nghèo trên địa bàn xã gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin Nhân viên xã hội đóng vai trò hỗ trợ họ tiếp cận các nguồn thông tin chính thống, từ đó tư vấn nhằm giúp họ nhận thức đúng đắn và tránh bị ảnh hưởng bởi thông tin bịa đặt, góp phần nâng cao lòng tin vào Đảng và Nhà nước Ngoài ra, qua các kênh truyền thông, nhân viên xã hội còn hướng dẫn người nghèo xác định kế hoạch làm ăn phù hợp, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chăn nuôi, từ đó giúp họ phát triển kinh tế và tích lũy tài chính, không cam chịu nghèo đói hay lạc hậu.
Người nghèo được tuyên truyền về chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đồng thời được phổ biến các kinh nghiệm sản xuất, gương điển hình và kiến thức về khoa học kỹ thuật để nâng cao đời sống Họ còn nhận được sự hỗ trợ phương tiện nghe nhìn như tivi và thiết bị nghe nhìn, góp phần giúp họ tiếp cận thông tin và giáo dục xã hội Ngoài ra, chính quyền thực hiện việc hỗ trợ đầu thu truyền hình số mặt đất tới các hộ nghèo, cận nghèo trên toàn địa bàn xã, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận truyền thông và nâng cao chất lượng cuộc sống cho những đối tượng yếu thế.
Tôi thường nghe các thông tin quan trọng từ loa phát thanh xã, vì hàng ngày đều có 3 lần phát thanh để đảm bảo tất cả người dân đều nhận được thông báo Đặc biệt, những gia đình chính sách, nghèo, cận nghèo và những hoàn cảnh khó khăn như gia đình tôi thường xuyên được cán bộ đến tận nhà để thông báo, hướng dẫn hoặc triệu tập họp Điều này giúp cộng đồng luôn cập nhật thông tin một cách đều đặn và kịp thời.
Các chính sách hỗ trợ cung cấp dịch vụ điện thoại cố định mặt đất trả sau và dịch vụ thông tin di động mặt đất trả sau đã được triển khai nhằm giúp đỡ các hộ nghèo, hộ cận nghèo Chính quyền địa phương đã tích cực xây dựng các điểm tuyên truyền, cổ động cố định và trang bị phương tiện tác nghiệp để nâng cao hiệu quả thông tin Các hoạt động truyền thông như phát tờ rơi, đăng tải nội dung trên cổng thông tin điện tử và mạng xã hội của Đoàn thanh niên xã đã giúp người dân dễ dàng đăng ký, tra cứu thông tin và tìm kiếm việc làm phù hợp với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Thông qua chương trình đưa văn hóa và thông tin về cơ sở, các hoạt động truyền thông đa dạng đã góp phần giúp người nghèo và người cận nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo một cách thuận lợi và hiệu quả.
Các chương trình hỗ trợ cho người nghèo thường tổ chức tại ủy ban hoặc nhà văn hóa thôn xóm để hướng dẫn người dân, trong quá khứ yêu cầu tự chuẩn bị giấy tờ và viết đơn, nhưng hiện nay đã hiện đại hóa với mẫu đơn photo sẵn, giúp tiết kiệm thời gian và công sức.
Chính quyền địa phương luôn đặt vấn đề tư vấn giới thiệu việc làm cho người nghèo trên địa bàn xã lên hàng đầu, bằng cách phân công các cán bộ lao động thương binh xã hội trực tiếp hướng dẫn người nghèo tiếp cận các trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn huyện Trung tâm dịch vụ việc làm lấy khách hàng làm trung tâm thông qua hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, cung cấp thông tin thị trường lao động và hỗ trợ người lao động tham gia các chính sách bảo hiểm thất nghiệp Để đạt hiệu quả, trung tâm triển khai đồng bộ các chương trình, dự án về việc làm và phát triển thị trường lao động, đặc biệt chú trọng hoạt động giao dịch việc làm nhằm nâng cao chất lượng, số lượng và đa dạng hình thức tổ chức để mở rộng đối tượng khách hàng và cung cấp thông tin thị trường lao động phong phú Đồng thời, trung tâm cũng đảm bảo thực hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội và giải quyết các chế độ, thủ tục đúng quy định, đúng đối tượng, góp phần ổn định cuộc sống của người dân nghèo trên địa bàn.
2.3.2 Thực trạng dịch vụ hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm cho người nghèo
Chính quyền địa phương tập trung thúc đẩy môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển Đồng thời, chính quyền phối hợp đào tạo trực tiếp nguồn lao động, đặc biệt từ các hộ nghèo, cận nghèo, giúp họ có việc làm trung bình mỗi năm cho khoảng 200 lao động mới Các hoạt động hỗ trợ mô hình khuyến nông - lâm - ngư nghiệp và phát triển kinh tế hộ nghèo, cùng với các lớp tập huấn nâng cao kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi và ứng dụng khoa học kỹ thuật, đã giúp người nghèo chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tăng thu nhập Ngoài ra, chính quyền còn cấp kinh phí hỗ trợ về giống, phân bón, thuốc thú y để thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế bền vững tại địa phương.
Quê chúng tôi chủ yếu là khu vực sản xuất nông nghiệp, vì vậy các lớp học nghề tập trung vào các lĩnh vực như trồng trọt cây ăn quả, hoa màu và trồng lúa hiệu quả Ngoài ra, còn có các lớp dạy chăn nuôi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân Những người có trình độ cao hơn hoặc năng khiếu đặc biệt về ngành nghề nào đó sẽ được sắp xếp vào các lớp phù hợp nhằm phát huy tối đa năng lực của họ.
Nhìn chung tôi cảm thấy sau khi tham gia các lớp học này, hầu hết ai cũng sẽ có thêm nhiều kiến thức bổ ích”
Hiện nay, trình độ học vấn của các hộ nghèo còn thấp và thói quen bỏ việc hoặc nhảy việc phổ biến, do đó chính quyền cần thống kê chính xác trình độ của từng thành viên trong hộ nghèo, hộ cận nghèo để xác định các nhu cầu hỗ trợ phù hợp Việc này giúp việc tiếp cận đào tạo trở nên hiệu quả hơn, đào tạo đúng cách góp phần giảm nghèo bền vững Nhiều người lao động còn ngại tham gia các khoá đào tạo hoặc chỉ chọn các khoá ngắn hạn để sớm có việc làm, dẫn đến trình độ tay nghề thấp, không đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng Chính quyền xã cần đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nghèo, cận nghèo theo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đa dạng hoá các lĩnh vực đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn đang chuẩn bị đầu tư hệ thống sản xuất mới phù hợp với cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi hệ thống giáo dục nghề nghiệp chưa kịp đáp ứng về trang thiết bị và năng lực chuẩn đầu ra.
Bảng 2.3 Chất lƣợng lao động qua đào tạo xã Võng Xuyên qua các năm 2018, 2019
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2018 Năm 2019 Tổng số lao động người 6.997 7.680
Lao động qua đào tạo người 3.449 3.982
Cơ cấu so với tổng số % 49,2 51,9
Lao động chưa qua đào tạo người 3.548 3.698
Cơ cấu so với tổng số % 50,8 48,1
(Nguồn: Thống kê thường niên UBND xã Võng Xuyên)
Theo bảng số liệu, trung bình có khoảng 42% số lao động trong độ tuổi tại xã Võng Xuyên được đào tạo mỗi năm Năm 2019, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51,9% tổng số lao động, tăng 2,7% so với năm 2018, chứng tỏ xu hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, lực lượng lao động phân bố không đều giữa thành phố và nông thôn, gây ra những khác biệt trong cơ hội đào tạo và phát triển kỹ năng.
Trong những năm gần đây, UBND xã Võng Xuyên đã tổ chức nhiều lớp đào tạo nghề nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng cho người dân Các hoạt động đào tạo bao gồm khuyến nông, tập huấn các kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi chủ yếu để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Bên cạnh đó, xã còn mở lớp dạy đan mây tre nhằm giữ gìn nghề truyền thống và tạo thêm nguồn thu nhập cho cộng đồng Các chương trình đào tạo này góp phần nâng cao năng lực sản xuất, hỗ trợ người dân nâng cao thu nhập và phát triển bền vững kinh tế xã hội.
+ Lớp tập huấn về trồng trọt:
Tập huấn trồng cây đậu xanh, cây lúa, hướng dẫn trồng theo mô hình hoa màu 2 vị xen canh.
Sau khi tham gia lớp hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, người nghèo hiểu rõ tầm quan trọng của từng công đoạn chăm sóc cây như bón lót, bón thúc, vun đất, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất Trước đây, họ chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân và chưa hiểu rõ tác dụng của các công đoạn này đối với sự phát triển của cây trồng, dẫn đến việc bỏ qua hoặc thực hiện sơ sài, gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Tham gia lớp khuyến nông còn giúp họ nắm bắt kiến thức nhận biết các loại sâu bệnh như sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy, rệp, từ đó có phương pháp phòng trừ kịp thời, hạn chế dịch bệnh lan rộng và nâng cao năng suất mùa màng.
Chúng tôi thường hợp tác với các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề ngoài xã để tổ chức các lớp dạy nghề nâng cao kỹ năng cho người dân địa phương Các lớp học này nhằm giúp nâng cao tay nghề và tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng Đặc biệt, người nghèo luôn được ưu tiên tham gia các lớp học này nhằm giảm thiểu khó khăn và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
(PVS, Phó chủ tịch xã)
Nhiều ý kiến cho rằng các kiến thức hướng dẫn về kỹ thuật trồng xen canh, trồng gối như trồng đậu tương, ngô giúp các hộ nông dân giải quyết vấn đề thiếu đất canh tác một cách hiệu quả Sau khi được đào tạo, các hộ nghèo đã biết lựa chọn giống đậu xanh phù hợp như DT-99, AK-03 để trồng gối ngô, nâng cao năng suất nông nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người dân chưa nhận thức được rõ lợi ích của các lớp khuyến nông, xem đó chỉ là kiến thức lý thuyết chưa phù hợp thực tế địa phương Điều này đòi hỏi cán bộ nông nghiệp địa phương phải linh hoạt trong công tác tuyên truyền, giải thích nhằm giúp người dân hiểu và áp dụng các phương pháp mới, từ đó nâng cao hiệu quả thu hoạch và năng suất cây trồng.
+ Lớp tập huấn về chăn nuôi:
Chính quyền tổ chức lớp tập huấn về phương pháp chăn nuôi bò cái và lợn nái tái sinh sản hiệu quả Chương trình hướng dẫn cách ủ rơm, ngô bằng đạm Ure để bảo quản thức ăn, giúp duy trì dinh dưỡng cho bò trong mùa khô Đây là cơ hội để người nông dân nâng cao kỹ năng chăn nuôi, tăng năng suất và đảm bảo nguồn thức ăn ổn định cho gia súc.