1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Tập 2): Phần 1

83 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa xã hội khoa học (Tập 2): Phần 1
Tác giả Đại tá, TS Lê Như Cử, Đại tá, TS Mẫn Văn Mai, Đại tá, TS Nguyễn Đức Tiến, Đại tá, TS Nguyễn Tiến Sĩ, Đại tá, TS Lê Đại Nghĩa, Đại tá, Th.S Phí Văn Du, Đại tá, TS Nguyễn Văn Vinh, Đại tá, TS Nguyễn Văn Dũng, Thượng tá, Th.S Đinh Văn Lễ
Trường học Học viện Chính trị Quân sự
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Tập 2) cung cấp cho học viên những nội dung về: liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa; nguồn lực con người trong cách mạng xã hội chủ nghĩa; vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Trang 2

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ

GIÁO TRÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Tập II

(Dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội, bậc đại học)

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

* BAN BIÊN SOẠN:

1 Đại tá, TS Lê Như Cử (Chủ biên)

2 Đại tá, TS Mẫn Văn Mai

3 Đại tá, TS Nguyễn Đức Tiến

4 Đại tá, TS Nguyễn Tiến Sĩ

5 Đại tá, TS Lê Đại Nghĩa

6 Đại tá, Th.S Phí Văn Du

7 Đại tá, TS Nguyễn Văn Vinh

8 Đại tá, TS Nguyễn Văn Dũng

9 Thượng tá, Th.S Đinh Văn Lễ

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và ở nước ta, đặc biệt là công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo 20 năm qua đã chỉ rõ: nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin mà trực tiếp là các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học, cách mạng nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn Thực tiễn đó góp phần quan trọng giúp việc nhận thức con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ Vì vậy, việc học tập môn chủ nghĩa xã hội khoa học trong các trường đại học nói chung và ở các học viện, nhà trường quân đội nói riêng đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng của quá trình giáo dục đào tạo cán bộ của Đảng ta Đối với Học viện chính trị quân sự, để nâng cao chất lượng, hoàn thiện mô hình mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng chính uỷ, chính trị viên trong quân đội nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị, đòi hỏi phải đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy - học Việc biên soạn cuốn chủ nghĩa xã hội khoa học tập 2 - dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội bậc đại học trong quân đội nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết ấy

Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Thủ trưởng Tổng cục chính trị, Học viện Chính trị quân sự tổ chức biên soạn cuốn chủ nghĩa xã hội khoa học tập 2

Đây là công trình khoa học do tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quân sự biên soạn, Đại tá, TS Lê Như Cử làm chủ biên Cuốn sách gồm 10 chương, trình bày những nguyên lý, quy luật của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã tham khảo các giáo trình tài liệu có liên quan và dựa vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và thực tiễn xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong những năm qua để làm phong phú thêm nội dung cuốn sách

Giáo trình dùng làm tài liệu giảng dạy, học tập và nghiên cứu môn chủ nghĩa xã hội khoa học trong các học viện, nhà trường quân đội

TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ

Trang 5

Chương I LIÊN MINH GIỮA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

TRONG CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

I CƠ CẤU XÃ HỘI - GIAI CẤP XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 Khái niệm cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa

Cơ cấu xã hội - giai cấp là một loại hình của cơ cấu xã hội Do đó, nghiên cứu cơ cấu xã hội - giai cấp nói chung, cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa nói riêng cần làm rõ khái niệm cơ cấu xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xã hội dưới bất cứ hình thức nào cũng là sự tác động lẫn nhau giữa người với người Vì vậy, xã hội loài người bao giờ cũng là một cộng đồng có cơ cấu phức tạp bao gồm nhiều mối quan hệ giữa người với người, các cộng đồng người hay các nhóm xã hội, các tập đoàn xã hội có thể coi là yếu tố xuất phát để cấu tạo nên cơ cấu xã hội Sự hình thành các cộng đồng người trong xã hội theo quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người như các giai cấp, dân tộc Một số cộng đồng người được thành lập do sự giác ngộ, sự tự giác của các thành viên kết hợp với những điều kiện khách quan nhất định như các tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ…

Cơ cấu xã hội bao gồm tất cả những cộng đồng người không những được hình thành một cách khách quan trong lịch sử mà còn cả những cộng đồng người được tạo lập một cách ý thức Như vậy, cơ cấu xã hội là sự phân chia xã hội thành những cộng đồng người khác nhau theo những dấu hiệu nhất định và sự tác động qua lại giữa các cộng đồng ấy trên các lĩnh vực của đời sống xã hội tạo thành những quan hệ xã hội Cơ cấu xã hội bao gồm các loại hình như: cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội - dân cư, cơ cấu xã hội - nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - dân tộc, cơ cấu xã hội - tôn giáo…

Trong các loại hình của cơ cấu xã hội thì cơ cấu xã hội - giai cấp là hạt nhân, giữ vai trò quyết định đối với tất cả cơ cấu xã hội nói chung Tuy nhiên, trong cơ cấu xã hội mỗi loại hình đều có một vị trí nhất định không thể thay thế, đồng thời giữa chúng luôn có sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau trong một cơ cấu xã hội thống nhất Do đó, nếu quy cơ cấu xã hội chỉ còn là cơ cấu xã hội - giai cấp mà

Trang 6

không tính đến các loại hình khác của cơ cấu xã hội hoặc ngược lại, không thấy được vai trò quyết định của cơ cấu xã hội - giai cấp đều là phiến diện dẫn đến sai lầm trong hoạt động thực tiễn

Cơ cấu xã hội - giai cấp là một bộ phận cơ cấu xã hội, bao gồm các giai cấp, tầng lớp xã hội và các mối quan hệ tác động giữa chúng lẫn nhau, phản ánh địa vị, lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của nó trong một hệ thống sản xuất nhất định Trong xã hội có giai cấp, mỗi xã hội cụ thể bao giờ cũng có một cơ

cấu xã hội - giai cấp đặc trưng cho xã hội đó Trong các chế độ người bóc lột người thì trong cơ cấu xã hội - giai cấp của nó bao giờ cũng tồn tại hai giai cấp

cơ bản đối lập nhau về địa vị Sự đối lập ấy sẽ dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp không khoan nhượng giữa hai giai cấp cơ bản ấy: nô lệ với chủ nô, nông nô với địa chủ phong kiến, vô sản với tư sản Đỉnh cao của những cuộc đấu tranh giai cấp này là một cuộc cách mạng xã hội, trước hết là trên lĩnh vực chính trị, với việc xoá bỏ cơ cấu xã hội - giai cấp cũ, thiết lập và xây dựng một cơ cấu

xã hội - giai cấp mới cao hơn Cho đến ngày nay, lịch sử phát triển cơ cấu xã hội - giai cấp của xã hội loài người đã từng trải qua bốn loại hình cơ bản khác nhau là: cơ cấu xã hội - giai cấp của xã hội nô lệ, cơ cấu xã hội - giai cấp của

xã hội phong kiến, cơ cấu xã hội - giai cấp của xã hội tư bản chủ nghĩa và cơ cấu xã hội - giai cấp của xã hội xã hội chủ nghĩa

Cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển là kết quả tất yếu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Mặt khác, việc xây dựng cơ cấu xã hội - giai cấp mới đòi hỏi khách quan của chính cuộc cách mạng ấy, sự thành công hay thất bại của cuộc cách mạng này phụ thuộc nhiều đến sự phát triển và hoàn thiện của cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa

Cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa là một hệ thống gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp lao động khác có quan hệ tác động lẫn nhau trên cơ sở chế độ kinh tế - chính trị xã hội chủ nghĩa, với địa vị kinh tế - xã hội và những lợi ích xác đáng của người làm chủ xã hội

Cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa là một loại cơ cấu xã hội - giai cấp phát triển trong lịch sử, khác về chất so với cơ cấu xã hội - giai cấp trước đó Sự khác về chất đó được phản ánh ở một số đặc điểm nổi bật sau đây:

Trang 7

Giai cấp công nhân giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa Thông qua Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo, quyết định xu hướng vận động phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa

Tính chất hữu ái, gắn bó và tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành trong cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa

Các giai cấp và tầng lớp xã hội trong cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa đã trưởng thành và phát triển ở trình độ ngày càng cao

Có sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng ngày càng tiến tới sự đồng nhất

về xã hội

Giai cấp bóc lột và các nguyên nhân tồn tại bóc lột bị thủ tiêu

Những đặc điểm của cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa chỉ được phát triển và hoàn thiện khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng và phát triển trên cơ sở của chính nó Sự phát triển đó là khách quan nhưng lại phụ thuộc rất lớn vào tác động chủ quan từ chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, giữa các giai cấp, tầng lớp còn có sự khác nhau về hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, về tổ chức lao động, về mức độ thu nhập Sự cùng tồn tại, vừa thống nhất, vừa đấu tranh dưới sự định hướng của giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản để các giai cấp và tầng lớp xã hội đoàn kết chặt chẽ với nhau cùng phấn đấu củng cố và xây dựng chủ nghĩa xã hội

2 Xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa

Quá trình biến động phát triển của cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa được diễn ra theo bốn xu hướng chủ yếu sau đây:

Sự xích lại gần nhau dần từng bước giữa các giai tầng xã hội trong quan

hệ với tư liệu sản xuất Xu hướng này được thể hiện thông qua việc từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao, sự hợp tác trong sản xuất để cùng góp phần phát triển lực lượng sản xuất làm cho xã hội ngày càng phát triển

Sự xích lại gần nhau về tính chất lao động Xu hướng này được thể hiện thông qua đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và sự áp dụng những tiến bộ của nó trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ quá độ

Trang 8

Sự xích lại gần nhau trong quan hệ phân phối tư liệu tiêu dùng Xu hướng này diễn ra chủ yếu liên quan đến việc thực hiện ngày càng hoàn thiện nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

Sự xích lại gần nhau trong tiến bộ đời sống tinh thần Xu hướng này được thể hiện trực tiếp thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá Xu hướng này tác động trực tiếp đến sự xích lại gần nhau và xoá bỏ dần mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn, lao động trí óc và lao động chân tay

Những xu hướng trên đây không diễn ra biệt lập mà có quan hệ biện chứng với nhau Sự thể hiện những xu hướng đó diễn ra không đồng đều về nhịp độ giữa các giai đoạn khác nhau và ở những vùng khác nhau, nhưng đó là những biểu hiện chung mang tính quy luật của sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa

3 Tính quy luật của sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa

Sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và mối quan hệ trong và ngoài nước Có thể nêu lên một số vấn đề có tính quy luật cuả sự biến đổi đó như sau:

Sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa gắn liền và được quy định bởi sự biến động của cơ cấu kinh tế, của cơ cấu thành phần kinh tế Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, tất yếu đưa tới một cơ cấu xã hội - giai cấp đa dạng và phức tạp vì nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội luôn đan xen lẫn nhau, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau Khi cơ cấu

xã hội - giai cấp mới đã hình thành lại có tác động trực tiếp tới phát triển và củng

cố cơ cấu kinh tế tạo cho nó đi đúng quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội

Quá trình biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa là một quá trình diễn ra dần từng bước và là một quá trình liên tục trong suốt thời kỳ quá độ Quá trình biến đổi này càng đa dạng phức tạp ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, nhưng sẽ dần ổn định khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã ổn định, lực lượng sản xuất được phát triển và quá trình công nghiệp hoá triển khai có kết quả

Cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa biến đổi và phát triển trong mối quan hệ vừa đấu tranh vừa liên minh, vừa xích lại gần nhau tiến tới từng bước xoá

bỏ hiện tượng bóc lột giai cấp trong xã hội Việc đấu tranh trong cơ cấu xã hội - giai cấp không phải là loại trừ nhau mà là cùng giúp nhau phát triển lực lượng sản

Trang 9

xuất theo đúng hướng, hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật, xây dựng tinh thần cộng đồng hữu ái để cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội Đấu tranh và liên minh đó là hai mặt của một quá trình thống nhất để dẫn tới sự xích lại gần nhau giữa các giai tầng trong xã hội Tính thống nhất của cơ cấu xã hội - giai cấp xã hội chủ nghĩa thể hiện thông qua xu hướng phát triển về số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân Đây là lực lượng giữ vai trò chủ đạo, trung tâm trong quá trình định hướng phát triển xã hội Tính thống nhất ấy còn được thể hiện thông qua sự liên minh và xích lại gần nhau giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

II Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

1 Vị trí, vai trò của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân

và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong lịch sử nhân loại, từ khi xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp cho đến nay đã hình thành nhiều kiểu liên minh giai cấp Tuỳ theo bản chất và mục tiêu chính trị của mỗi giai cấp mà trong lịch sử cũng hình thành các kiểu liên minh

khác nhau Khác với các hình thức liên minh giai cấp khác, liên minh giai cấp

công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là hình thức hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Sự liên minh giai cấp này khác về chất so với các liên minh

từng có trong lịch sử Nếu như liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là hình thức liên minh toàn diện, lâu dài, bền vững, dựa trên

sự thống nhất về lợi ích căn bản thì trái lại, các kiểu hợp tác liên minh cũ là nhất thời, vụ lợi Giai cấp bóc lột thường lợi dụng các giai tầng để tạo động lực xóa bỏ chế độ cũ Nhưng ngay sau khi xác lập được địa vị thống trị của mình, do bản chất bóc lột, họ quay lại phản bội ngay chính người đồng minh của mình Tổng kết phong trào cách mạng 1848 - 1849 ở châu Âu, C.Mác khẳng định: Chúng ta thấy rằng nông dân, những người tiểu tư sản đều dần dần đứng về phía giai cấp vô sản, dần dần bị đẩy về phía đối lập công khai với chế độ cộng hoà chính thức và bị nền cộng hoà này coi là kẻ thù

Khác với kiểu liên minh của giai cấp tư sản, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của

Trang 10

giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản nhằm xoá bỏ mọi hình thức áp bức bóc lột và xoá bỏ giai cấp nói chung, xây dựng chế độ xã hội mới, đưa lại quyền tự do, dân chủ thực sự cho nhân dân lao động

Vị trí, vai trò của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được khẳng định xuyên suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, khối liên minh này là lực lượng có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi cách mạng của giai cấp công nhân Điều này V.I.Lênin đã từng chỉ dẫn: “Không có sự đồng tình

và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với giai cấp vô sản thì cách mạng

vô sản không thể thực hiện được”1

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc củng cố, tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nguyên tắc tối cao của chuyên chính vô sản V.I.Lênin khẳng định: “Nguyên tắc tối cao của chuyên chính vô sản là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ vững được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà nước” 2 Nguyên tắc này được xem xét từ các phương diện chủ yếu sau:

- Xét về nguyên tắc tập hợp lực lượng cách mạng của chuyên chính vô sản thì khối liên minh này đã tập hợp được những giai cấp và tầng lớp xã hội đông đảo

và mạnh nhất trong các giai tầng xã hội Trong đó, giai cấp công nhân lại là giai cấp tiên tiến phát triển cao nhất trong thời đại chuyên chính vô sản

- Xét về nguyên tắc lãnh đạo xã hội trong thời đại chuyên chính thì người lãnh đạo cao nhất và duy nhất chỉ là giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản Nhưng vai trò lãnh đạo đó chỉ giữ vững và thực hiện được ở một số nước tiểu nông chiếm đa số khi Đảng tổ chức và lãnh đạo được khối liên minh này

- Xét về lợi ích cơ bản thì nguyên tắc cao nhất và mục tiêu của chuyên chính

vô sản là vì lợi ích toàn thể nhân dân lao động Việc liên minh vừa đáp ứng yêu cầu lợi ích, vừa là cơ sở xã hội của Nhà nước chuyên chính vô sản để thực hiện hai chức năng, hai nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội

1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1977, tr.251

2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1977, tr.57

Trang 11

Như vậy, sức mạnh và độ bền vững của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là thể hiện sức mạnh của Đảng, của Nhà nước va tính hiện thực của quyền làm chủ xã hội của nhân dân lao động, đó là những yếu tố cơ bản của chuyên chính vô sản Việc tăng cường, củng cố khối liên minh còn là cơ sở để xây dựng, hoàn thiện cơ cấu giai cấp xã hội mới dưới chủ nghĩa xã hội Do đặc điểm kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà cơ cấu giai cấp xã hội còn đa dạng, phức tạp, không thuần nhất Thông qua việc củng

cố khối liên minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân góp phần hình thành phát triển cơ cấu giai cấp xã hội mới đó là: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa

Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch

Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc Đó là đường lối chiến lược, là nguồn gốc sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, việc củng cố, tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức giữ vai trò nòng cốt Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới

sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam;

là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 1

2 Tính tất yếu khách quan của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Từ thực tế phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở châu Âu (Pháp, Anh) khoảng giữa đến cuối thế kỷ XIX, C.Mác, Ph.Ăngghen đã tổng kết thành lý luận khoa học một hệ thống các vấn đề cơ bản nhất của cách mạng vô sản, trong

đó có vấn đề liên minh công nông Nhiều cuộc cách mạng của giai cấp công nhân Pháp bị thất bại, chủ yếu do không lôi kéo, không liên minh được với người “bạn đồng minh tự nhiên” là giai cấp nông dân Vì vậy, cách mạng vô sản bị thất bại thảm khốc V.I.Lênin đã phát triển sáng tạo và đúng đắn những tư tưởng của C Mác, Ph.Ăngghen về liên minh công nông trong thời đại mới và đã lãnh đạo thành

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2006, tr 40, 41

Trang 12

công trên thực tế liên minh này trong Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và bước đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Về mặt thuật ngữ, chủ nghĩa Mác - Lê nin chỉ ghi “liên minh công -nông”-

bộ phận cơ bản nhất trong lực lượng cách mạng của quần chúng lao động rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nhưng trong tư tưởng và trên thực tế cách mạng, không bao giờ các nhà lý luận Mác - Lênin lại chỉ thấy hai giai cấp công nhân và nông dân, không bao giờ tách biệt hai giai cấp ấy Trái lại, bao giờ tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là: liên minh công nông và các tầng lớp lao động khác Đặc biệt rõ khi Lênin nhấn mạnh ý nghĩa của chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội rằng: “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt liên minh giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao động với đông đảo các tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức ”1

Như vậy, liên minh giai cấp không chỉ bó hẹp liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân mà còn liên minh với các tầng lớp xã hội khác

Vận dụng đúng đắn và sáng tạo phát triển và cụ thể hoá tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho rằng, trong các tầng lớp lao động khác ngoài giai cấp công nhân và giai cấp nông dân thì đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng nhất Thuật ngữ “liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” được Đảng ta dùng lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) Thuật ngữ này được sử dụng và phát triển trong các văn kiện đại hội của Đảng Hiện nay, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX, X, Đảng ta dùng thuật ngữ: liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Để cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là một tất yếu, xuất phát từ các lý do sau:

Xuất phát từ đòi hỏi của cách mạng xã hội chủ nghĩa

Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có nội dung khác về chất so với các cuộc cách mạng xã hội từng có trong lịch sử, nó đòi hỏi sự tham gia tự giác của hàng chục triệu quần chúng được giác ngộ Trong cuộc cách mạng này, đòi hỏi giai cấp công nhân không những phải phát huy vai trò là giai cấp lao động trung tâm, mà

1 I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1977, tr.57

Trang 13

còn phải giành được sự đồng tâm, hiệp lực cao của nông dân và trí thức, tạo thành sức mạnh tổng hợp vật chất và tinh thần cho cách mạng Điều này đặc biệt quan trọng đối với một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân chiếm đa số của dân cư đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đó, việc gắn nông nghiệp với công nghiệp với khoa học công nghệ trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất là một đòi hỏi khách quan mà bất kỳ nước nông nghiệp nào muốn tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội

Do nhu cầu lợi ích đặt ra cho từng giai tầng xã hội

Nói nhu cầu lợi ích chính là nói đến những đòi hỏi khách quan cần được thoả mãn để các giai tầng tồn tại và phát triển Trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền là nhu cầu tất yếu phải dựa vào nhau đấu tranh lật đổ giai cấp thống trị, xoá bỏ áp bức bóc lột Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhu cầu liên minh công nhân, nông dân, trí thức có bước phát triển mới Đó là nhu cầu hợp tác cùng nhau xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội mới vì lợi ích của các giai tầng xã hội Giai cấp công nhân chỉ có thể làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình nếu tập hợp liên minh được với số đông, tiêu biểu là nông dân và trí thức Ngược lại, giai cấp nông dân và trí thức tìm thấy ở giai cấp công nhân đồng minh quan trọng có ý nghĩa quyết định nhất để thực hiện nhu cầu giải phóng của mình Nếu không có sự lãnh đạo, dìu dắt của giai cấp công nhân thì mọi tiềm năng, lợi ích của nông dân và trí thức không thể được thực hiện và phát huy tốt nhất Như vậy, ba lực lượng chính trị xã hội là giai cấp công nhân- giai cấp nông dân- đội ngũ trí thức không thể tách rời nhau trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa Để xây dựng và phát triển liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, điều có ý nghĩa quyết định là phải đặt khối liên minh này dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân

Đối với cách mạng Việt Nam, tính tất yếu và sự cần thiết khách quan của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức còn xuất phát từ truyền thống lâu đời của tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước thương nòi; truyền đoàn kết dân tộc để dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam Đỉnh cao của truyền thống đó thể hiện ở thời đại Hồ Chí Minh Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở nước ta là sự kế tục và phát triển tất yếu của liên minh đó từ giai đoạn cách mạng đấu tranh giành chính quyền, với những yêu cầu,

Trang 14

nội dung và hình thức mới Khối liên minh này đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đường lối cách mạng nhất quán là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

3 Những nội dung cơ bản của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

a Nội dung chính trị của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Nhu cầu và lợi ích chính trị cơ bản nhất của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức có sự thống nhất với nhau và phù hợp với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động và của dân tộc Đó là: được hoàn toàn giải phóng khỏi chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công; làm chủ xã hội thông qua nhà nước của dân, do dân và vì dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Thực tế lịch sử nói lên rằng bản chất chính trị- tư tưởng của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và trí thức tuy có những khác biệt và mâu thuẫn nhưng không đối kháng Khi thực hiện liên minh không thể kết hợp các lợi ích trong lĩnh vực chính trị tư tưởng bằng cách dung hoà các lập trường, quan điểm chính trị của các giai tầng khác nhau mà có thể giải phóng triệt để giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và nhân dân lao động Chỉ có liên minh trên cơ sở lập trường chính trị của giai cấp công nhân, hệ tư tưởng Mác - Lênin thì mới có thể kết hợp đúng đắn các lợi ích và thực hiện lợi ích chính trị cơ bản nhất của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và của cả dân tộc Chính vì vậy, trong quá trình lãnh đạo khối liên minh, Đảng của giai cấp công nhân phải luôn luôn có lập trường tư tưởng chính trị đúng đắn và kiên định, phát hiện kịp thời những biểu hiện mâu thuẫn, những lệch lạc về chính trị, tư tưởng trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức để uốn nắn kịp thời, tránh để liên minh đi chệch hướng mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo theo lập trường chính trị - tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với liên minh xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình thực hiện các lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức

và của cả dân tộc, là một nội dung chính trị có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa là điều kiện quyết định trước tiên của liên minh Nội dung chính trị của liên minh

Trang 15

giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là bộ phận trọng yếu của nội dung, phương thức đổi mới và từng bước hoàn thiện cả hệ thống chính trị và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Trong đó, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức phải thể hiện rõ là lực lượng nòng cốt của mặt trận Tổ quốc, là nền tảng vững chắc của Nhà nước đang từng bước được củng

cố, phát triển và hoàn thiện theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân Trong mối quan hệ chung của hệ thống chính trị trên cả nước, dưới góc độ liên minh, cần cụ thể hoá về đổi mới nội dung, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị trong các xí nghiệp công nghiệp, trong các tổ chức cơ sở nông thôn và trong các tổ chức chính trị xã hội của đội ngũ trí thức Chỉ qua đây, bản thân giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức mới có sự biến chuyển tích cực, văn minh, hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Khi giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và cả liên minh đều trưởng thành thì sẽ phát huy một cách vững chắc ở trình độ cao hơn, vai trò làm đội quân chủ lực trực tiếp bảo vệ Tổ quốc độc lập thống nhất, bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa đang ngày càng được hoàn thiện

b Nội dung kinh tế của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Đây là nội dung liên minh cơ bản nhất Sự liên minh đó trước hết là ở việc các giai cấp và tầng lớp có quyền sở hữu và sử dụng các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội và tài nguyên của đất nước để phục vụ cho lợi ích và cuộc sống của chính họ Nội dung liên minh về kinh tế còn thể hiện ở quan hệ quản lý và phát triển nền kinh tế cũng như trong quan hệ phân phối sản phẩm xã hội Về thực chất nội dung kinh tế của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là quá trình kết hợp các lợi ích kinh tế thông qua hai khâu rất cơ bản:

- Phát hiện các nhu cầu kinh tế đã nảy sinh của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và của toàn xã hội trong từng chặng đường, bước đi của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa

Trang 16

- Các chủ thể chủ động trong các hoạt động kinh tế để thoả mãn một cách tối

ưu những nhu cầu kinh tế của mình trong những điều kiện rất cụ thể Trong sự chủ động hoạt động kinh tế đó, chủ thể nhà nước vừa là một chủ thể hoạt động kinh tế, vừa có vai trò quản lý hành lang pháp lý và điều tiết những hoạt động kinh tế

Cả hai khâu trên nếu được thực hiện đúng thì mới là kết hợp đúng đắn các lợi ích kinh tế của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức và toàn

xã hội Nếu một trong hai khâu mắc sai lầm thì các lợi ích của chủ thể sẽ mâu thuẫn với nhau làm mất ổn định, rối loạn, đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa

c Nội dung văn hoá - xã hội của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Mọi nội dung chính trị, kinh tế của liên minh đều hướng vào những mục tiêu xã hội, đó là phục vụ việc đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất

và tinh thần của mọi giai tầng trong xã hội Đối với nội dung văn hoá- xã hội của liên minh cần tập trung làm tốt một số vấn đề:

Từng bước khắc phục sự tăng khoảng cách phân hoá giàu nghèo trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và xã hội với phương châm: vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp luật, vừa xoá đói giảm nghèo chủ yếu từ việc tạo điều kiện cho mọi người trong xã hội có cơ hội vươn lên

Có chương trình, chính sách, cơ chế và giải pháp cụ thể về giải quyết việc làm cho các giai tầng và các nhóm xã hội, nhất là đối với thanh niên, học sinh, bộ đội hoàn thành nghĩa vụ…

Từng bước nâng cao dân trí cho toàn dân Trên cơ sở phát triển kinh tế mà từng bước nâng cao điều kiện ăn, ở, đi lại, y tế, giáo dục, văn nghệ, thể dục thể thao và đấu tranh loại trừ dần tệ nạn quan liêu tham nhũng mất dân chủ, những hủ tục ở nông thôn

Việc quy hoạch và phát triển công nghiệp đô thị phải gắn với quy hoạch và phát triển nông thôn mới Đây là một vấn đề xã hội mà nhà nước cần có những chính sách cụ thể để tập trung đầu tư cho nông dân - nông nghiệp - nông thôn theo

hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

d Nội dung quân sự của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Trang 17

Nội dung liên minh này được thể hiện ở việc giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc khi bị xâm lược Sự liên minh này không chỉ đáp ứng lợi ích về chính trị là được sống trong một xã hội hoà bình, ấm no, tự do, hạnh phúc, mà còn đáp ứng về lợi ích kinh tế là sự phát triển dân giàu, nước mạnh của cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Nội dung liên minh về quân sự được thể hiện cả bằng lực lượng con người, cả cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật, cả về việc hoạch định các chiến lược quân sự và phát triển nghệ thuật quân sự

Các nội dung liên minh tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng Mỗi một nội dung có vị trí, vai trò khác nhau trong quá trình thực hiện khối liên minh Trong các nội dung đó thì nội dung kinh tế là cơ sở, nền tảng, nội dung chính trị là định hướng cơ bản, quyết định bản chất, nội dung văn hoá- xã hội và nội dung quân sự có ý nghĩa quan trọng bảo đảm độ bền vững của khối liên minh công- nông và trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

II NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM CỦNG CỐ VÀ TĂNG CƯỜNG LIÊN MINH GIỮA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thật sự vững mạnh là phương hướng hàng đầu có vai trò quyết định đến việc củng cố, tăng cường khối liên minh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là thành quả cách mạng của nhân dân lao động mà nền tảng xã hội của nó là sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có tác động mạnh mẽ đến việc củng cố, tăng cường khối liên minh trước hết và chủ yếu là ở tính định hướng lập trường giai cấp công nhân cũng như cơ chế, nội dung, những điều kiện vật chất, tinh thần để đảm bảo cho khối liên minh được thực hiện trong cải tạo và xây dựng chế độ mới Thực tiễn quá trình củng cố, tăng cường khối liên minh cho thấy, không thể có sự đoàn kết, hợp tác liên minh chặt chẽ giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức khi mà tổ chức Đảng, cán bộ nhà nước yếu kém, mất dân chủ, tha hoá về lối sống và năng lực công tác

Trang 18

yếu Vì vậy, việc xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân là điều kiện cơ bản nhất để củng cố và tăng cường sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Để có một hệ thống chính trị đáp ứng với yêu cầu đó, trước hết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân Cùng với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng phải nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa Hiệu lực quản lý nhà nước làm cho đường lối chính trị của Đảng Cộng sản được thể chể hoá, cụ thể hoá bằng các đạo luật, bằng các chính sách cụ thể đáp ứng yêu cầu nguyện vọng chính đáng của các giai tầng xã hội

Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và nhà nước xã hội chủ nghĩa là người đại diện cho giai cấp công nhân về mặt chính trị và tổ chức Vì vậy, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, hiệu lực quản lý cao của nhà nước là sự đảm bảo chắc chắn có sức thuyết phục nhất về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong quá trình củng cố khối liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Như vậy, xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thực sự vững mạnh,

có chất lượng cao là giải pháp hàng đầu có vai trò quyết định đối với việc củng cố tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

2- Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cơ sở kinh tế của liên minh giữa giai cấp

công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Đây là điều kiện, con đường

cơ bản và chủ yếu nhất để phát triển giai cấp công nhân về cả số lượng và chất lượng Đó cũng là những tiền đề và điều kiện có tính quyết định để cải tạo nền nông nghiệp lạc hậu, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi trí thức ngày càng tham gia đóng góp nhiều trí tuệ để phát triển nền nông nghiệp hiện đại, một nền khoa học - công nghệ tiên tiến

Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, trên cơ sở đó từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất

xã hội chủ nghĩa, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động, đó là “chất keo” kinh tế tạo nên sự kết dính tốt nhất để củng cố,

Trang 19

tăng cường khối liên minh Để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước góp phần củng cố, tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đòi hỏi trong xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa cần có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng cơ cấu kinh tế mới: công - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại Mặt khác, tạo điều kiện, môi trường pháp lý để các ngành, các bộ phận trong cơ cấu kinh tế hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Đối với Việt Nam, đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một điểm xuất phát thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, do đó, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trở thành một yêu cầu bức thiết, không những đáp ứng đòi hỏi xây dựng nền kinh tế vững mạnh mà còn đáp ứng yêu cầu xây dựng, tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ngày càng phát triển Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận lợi

do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức”1

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp hỗ trợ

có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động Tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia Mặt khác, chúng ta có chính sách khuyến khích thu hút vốn trong và ngoài nước đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hoá dầu, luyện kim,

cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng, xây dựng các kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi phải tập trung sức người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tinh thần nhiệt tình sáng tạo của cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Do đó, đây là môi

Trang 20

trường thuận lợi để công nhân, nông dân, trí thức phát triển tài năng, cống hiến ngày càng nhiều cho đất nước

3 Phát triển nền nông nghiệp hiện đại và xây dựng nông thôn mới

Phát triển nền nông nghiệp hiện đại và xây dựng nông thôn mới vừa đáp ứng với yêu cầu và tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vừa đặt ra những đòi hỏi khách quan đối với chính nền công nghiệp Đồng thời, đáp ứng với lợi ích của giai cấp công nhân trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình, và thoả mãn nguyện vọng của giai cấp nông dân là thoát khỏi cảnh nghèo nàn và lạc hậu Mặt khác, phát triển nền nông nghiệp hiện đại và xây dựng nông thôn mới cũng là điều kiện và tiền đề quan trọng làm cho quan hệ giữa đội ngũ trí thức với giai cấp nông dân và giai cấp công nhân ngày càng gắn bó hơn, tạo điều kiện để từng bước xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Khi đề cập vai trò của nền sản xuất nông nghiệp đối với việc giải phóng nông dân, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Điều chủ yếu cũng là phải làm cho nông dân hiểu rằng chúng ta chỉ có thể cứu vãn và bảo tồn được tài sản của họ bằng cách biến tài sản

đó thành tài sản hợp tác xã và thành những doanh nghiệp hợp tác xã”1

Đối với nước ta hiện nay, đường lối nhất quán của Đảng ta là: “Phát triển toàn diện nông nghiệp…”, “giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn

và nông dân”2

Theo quan điểm đó, chúng ta phải chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học- kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương Khẩn trương xây dựng quy hoạch phát triển nông thôn và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới có môi trường lành mạnh, hình thành các khu dân cư đô thị hoá với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ Không ngừng nâng cao trình độ dân trí, chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp

và dịch vụ Tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 40

1 C.Mác, Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 737

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2006, tr 29

Trang 21

vực nông thôn, kể cả ở nước ngoài Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng đời sống văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động

4 Thực hiện chính sách giai cấp, chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn

Thực hiện chính sách giai cấp, chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn và phù hợp vừa tạo ra động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực to lớn động viên khuyến khích công nhân, nông dân, trí thức hăng hái vươn lên trong lao động sản xuất và làm chủ khoa học - công nghệ, đồng thời tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa các giai tầng theo quan điểm, lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân Vận dụng sáng tạo quan điểm này trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta khẳng định rõ: Đối với giai cấp công nhân, phát triển về số lượng, chất lượng, tổ chức, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Giải quyết đồng bộ, có hiệu quả vấn đề việc làm cho công nhân Thực hiện tốt chính sách, pháp luật và lao động, tiền lương, bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ đối với công nhân Cần có chính sách ưu đãi nhà ở đối với công nhân bậc cao Xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên công đoàn, nghiệp đoàn đều khắp ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế Chú trọng công nhân làm việc ở các khu công nghiệp và đô thị lớn Chăm lo đào tạo và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú

Đối với giai cấp nông dân, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa công nghệ tiên tiến vào nông nghiệp, nông thôn Đảm bảo tốt chính sách về ruộng đất, tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp nông dân chuyển mạnh sang lao động công nghiệp và dịch vụ Khuyến khích nông dân hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại để phát triển sản xuất,

ổn định và cải thiện đời sống Giúp đỡ nông dân tiêu thụ nông sản hàng hoá, đào tạo học nghề, tạo cơ hội để họ tiếp nhận và áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất

Đối với trí thức, phát huy trí tuệ và năng lực, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài Khuyến khích các trí thức, các nhà khoa học phát minh, sáng tạo Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức cho công cuộc phát triển đất nước Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện

Trang 22

của các hội khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và văn học, nghệ thuật đối với các

dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội

Các chính sách kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân bao gồm cả công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp lao động khác, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đạt được nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của mình, bồi dưỡng sức dân và phát huy cao nhất mọi nguồn lực và tiềm năng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chính sách kinh tế - xã hội, chính sách giai cấp của Đảng và Nhà nước phải đi vào giải quyết thoả đáng quan hệ giữa nông nghiệp - công nghiệp - khoa học và công nghệ, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi, thực hiện bình đẳng dân tộc trong đầu tư, phát triển và đời sống , khắc phục phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội quan tâm cải thiện cuộc sống của các tầng lớp nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ, vùng gặp thiên tai

Những giải pháp cơ bản trên đây là một hệ thống mang tính tổng hợp có quan hệ biện chứng với nhau, không thể coi nhẹ, hạ thấp hoặc tuyệt đối hoá một giải pháp nào Đó là những điều kiện cần thiết để củng cố và tăng cường liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội

Đối với nước ta hiện nay, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Theo phương hướng trên thì việc xây dựng, củng cố, tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Trong hệ thống chính trị, mỗi thành viên, mỗi lực lượng, tuỳ theo vị trí, chức năng của mình

mà có vai trò khác nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó

Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận nằm trong hệ thống chính trị,

là công cụ bạo lực tin cậy, trung thành của Đảng, của nhân dân, với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội có vai trò to lớn trong xây dựng, củng cố, tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở nước

ta hiện nay

Vai trò quân đội trong xây dựng, củng cố, tăng cường khối liên minh chính

là phát huy chức năng, nhiệm vụ của mình trong giải quyết mỗi quan hệ giữa quân

Trang 23

đội - Đảng - Nhà nước với các giai tầng xã hội thông qua những hoạt động thực tiễn, với những kết quả cụ thể, thiết thực Điều đặc biệt quan trọng là quân đội tích cực tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần xây dựng mối quan hệ quân với dân một ý chí trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trong hệ thống chính trị,

để bảo vệ và xây dựng chính quyền các cấp, nhất là trong việc góp phần bảo vệ và xây dựng chính quyền cơ sở ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây Trong điều kiện hiện nay, quân đội cần tăng cường thực hiện tốt việc xây dựng, củng cố, phát triển chính sách kinh tế, văn hoá, xã hội ở khu vực đóng quân, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các giai tầng, tạo ra những cơ sở xã hội cho việc xây dựng, củng

cố và tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Việc phát huy vai trò của quân đội trong xây dựng, củng cố, tăng cường khối liên minh không chỉ là trách nhiệm, sự thể hiện bản chất, truyền thống của quân đội mà còn có ảnh hưởng lớn đến xây dựng và khả năng chiến đấu của quân đội Để làm tròn trách nhiệm nặng nề đó, thì quân đội phải tập trung nâng cao chất lượng chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Câu hỏi ôn tập

1.Cơ cấu xã hội là gì? So sánh cơ cấu xã hội xã hội chủ nghĩa với cơ cấu xã hội trong xã hội tư bản chủ nghĩa?

2 Phân tích xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội xã hội chủ nghĩa?

3 Phân tích vai trò và nội dung của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức?

4 Phân tích những giải pháp chủ yếu tăng cường liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở nước ta hiện nay ?

5 Phân tích vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở nước ta hiện nay?

Trang 24

Chương II NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

I VỊ TRÍ CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 Con người và nguồn lực con người

a Khái niệm con người và con người xã hội chủ nghĩa

Con người là sản phẩm, là chủ thể của lịch sử Trong xã hội có giai cấp đối kháng, do phương pháp, quan điểm, lập trường và lợi ích giai cấp khác nhau chi phối nên có những quan điểm khác nhau về con người

Chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp biện chứng và duy vật về lịch sử,

đã xem xét con người trong mối liên hệ tự nhiên và xã hội lịch sử, đã đưa ra quan niệm cách mạng và khoa học về con người C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của

nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” 1 Vì thế, con người

là một sinh vật có ý thức, là sản phẩm của tự nhiên lịch sử, chủ thể của các quan

hệ xã hội, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội

Như vậy, con người bao gồm hai yếu tố cơ bản hợp thành: tự nhiên và xã hội Con người có các nhu cầu tự nhiên như: ăn, uống, sinh sản, bảo vệ và phát triển giống nòi, cùng các quy luật vận động nội tại trong mỗi con người, đó là đồng hoá, dị hoá, bài tiết, hấp thụ… Song, nhu cầu tự nhiên đó dần dần được xã hội hoá, mang đấu ấn sâu sắc của xã hội Con người tồn tại và phát triển luôn gắn liền với

xã hội, các mối quan hệ xã hội chỉ được hình thành thông qua sự tác động qua lại giữa người và người trong lao động sản xuất, giao tiếp xã hội và đấu tranh cách mạng Yếu tố người chỉ được hình thành và phát triển gắn liền với xã hội, chịu sự tác động, chi phối của các quan hệ xã hội do chính con người tạo nên Vì vậy, con người luôn mang dấu ấn một thời đại, là sản phẩm của tự nhiên, lịch sử Nhưng con người không lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, lịch sử, mà là chủ thể có ý thức, sáng tạo ra lịch sử xã hội thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội

1 C.Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 30, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 11

Trang 25

Nhận thức và thực hiện tiến trình giải phóng con người, tất yếu phải thấy rõ quan hệ biện chứng giữa mặt tự nhiên và xã hội trong con người, giữa nhu cầu lợi ích vật chất và tinh thần chi phối lý tưởng, tình cảm, ứng xử và hành động của con người Con người luôn là con người lịch sử cụ thể mang tính giai cấp, dân tộc và nhân loại Nhu cầu và lợi ích vật chất, tinh thần của người lao động mới (công nhân, nông dân, trí thức xã hội chủ nghĩa…) là động lực cơ bản hàng đầu thúc đẩy

họ đấu tranh xoá bỏ mọi áp bức bóc lột, bất công với một thái độ tích cực vươn tới

tự do… là thành tố quan trọng trong nhân cách con người xã hội chủ nghĩa

Con người xã hội chủ nghĩa là sản phẩm tất yếu, của quá trình phát triển lịch sử tự nhiên, là tổng hợp các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đạo đức và trình độ phát triển của chủ nghĩa xã hội, đồng thời là chủ thể của các quan

hệ xã hội đó Quá trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những tiền

đề ngày càng đầy đủ cho sự hình thành, phát triển mặt tự nhiên và xã hội của con người xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng ngày càng phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa

Những đặc trưng cơ bản của con người xã hội chủ nghĩa

Con người mới xã hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện có những đặc trưng nổi bật sau đây:

Con người xã hội chủ nghĩa là con người có ý thức và năng lực làm chủ xã hội, bản thân và sự hoà đồng với tự nhiên Ý thức và năng lực làm chủ trong con người xã hội chủ nghĩa là hai trình độ khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, ý thức làm chủ xã hội là thể hiện sự nhận thức quy luật, tính quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy vào cuộc sống… Còn năng lực làm chủ là phát huy tính năng động sáng tạo, tính tích cực trong mọi hoạt động nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội

Con người xã hội chủ nghĩa là con người lao động mới và biết hưởng thụ kết quả lao động do chính mình làm ra Đó là con người lao động có tri thức sâu sắc về nghề nghiệp, công việc của mình và có thái độ, sức khoẻ, trình độ, kỷ luật, năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động cao, trong lao động luôn tìm tòi, sáng tạo, thực hành ứng dụng khoa học công nghệ, thực hành tiết kiệm trong lao động và trong sinh hoạt đời sống Đồng thời con người lao động mới còn là con người luôn đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ các lợi ích chính đáng và tích cực tham

Trang 26

gia xây dựng môi trường, điều kiện lao động hợp lý, chống lại biểu hiện sai trái trong lao động, lãng phí, tham ô, vô ý thức kỷ luật…

Con người xã hội chủ nghĩa là con người sống có văn hoá, đạo đức tinh thần

và tôn trọng con người Đó là con người biết giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, biết kế thừa những tinh hoa văn hoá nhân loại để nâng cao trình độ văn hoá và sự phong phú trong sáng tạo, thưởng thức văn hoá của mình Đồng thời, đó còn là con người luôn tích cực đấu tranh loại bỏ các tàn dư văn hoá cũ lạc hậu, tác động của văn hoá tư sản, góp phần tích cực vào việc xây dựng, phát triển nền văn hoá mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, luôn ý thức đầy đủ về địa vị xã hội của bản thân, nêu cao trách nhiệm, đạo đức, pháp luật của công dân và luôn tôn trọng, thực hiện các chuẩn mực, quy tắc xã hội

Con người xã hội chủ nghĩa còn là con người giàu lòng yêu nước, yêu thương đồng loại và có tinh thần quốc tế của giai cấp công nhân… Đó là con người biết yêu quý sự nghiệp cách mạng, nghề nghiệp và lĩnh vực công việc mà chính mình tham gia, đồng thời, thể hiện sự kiên định phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, phát huy tài năng của bản thân làm giàu cho đất nước, thực hiện trách nhiệm quốc

tế, chống mọi biểu hiện chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cực đoan…

Các đặc trưng cơ bản của con người xã hội chủ nghĩa là một thể thống nhất, được hình thành, hoàn thiện và phát triển dần từng bước thông qua hoạt động thực tiễn của từng cá nhân gắn liền với quá trình cách mạng cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, quá trình đấu tranh giai cấp gian khổ, gay go và quyết liệt

Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là một tất yếu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng tình nghĩa, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội”1 Đồng thời, quan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ Việt Nam tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình, tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trong pháp luật, tinh thần hiếu học, trí tiến thủ, lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn

b - Nguồn lực con người

Quan niệm chung về nguồn lực con người

Trang 27

Khái niệm về nguồn lực con người hiện nay được sử dụng khá phổ biến trên thế giới Quan niệm về nguồn lực con người cũng rất đa dạng, được nghiên cứu, đề cập trên nhiều góc độ Ngân hàng thế giới cho rằng, nguồn lực con người là toàn

bộ vốn người (thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp) của cộng đồng xã hội Liên hợp quốc nói về nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Đảng ta chỉ rõ: “Con người phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”1 Nguồn lực con người còn được hiểu là một dạng đặc biệt của nguồn lực nói chung, là tổng hoà các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội Đó là số dân, cơ cấu dân số và chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội

Như vậy, nguồn lực con người là một khái niệm rộng, được xem xét bởi các nội dung cơ bản là:

Nguồn lực con người là chủ thể của các quá trình kinh tế - xã hội Đó là nguồn lực giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống nguồn lực nói chung Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ… nếu không được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động của con người thì chẳng có tác dụng

và ý nghĩa gì đối với sự phát triển xã hội Với tư cách là chủ thể, con người phát hiện, khai thác, sử dụng các nguồn lực để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình

và xã hội

Nguồn lực con người là những chỉ số thực tế về số lượng và tốc độ phát triển dân số của đất nước trong không gian và thời gian cụ thể Các chỉ số này có vị trí quan trọng đối với lực lượng lao động, nguồn lao động của đất nước, vì thế mà ảnh hưởng đến nguồn lực, đến phát triển của đất nước

Nguồn lực con người được thể hiện dưới dạng chất lượng dân số, chất lượng nguồn lao động - tổng hoà các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội

Nguồn lực con người còn là những tiềm năng của con người, của cộng đồng

xã hội là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.5

Trang 28

Dưới chủ nghĩa xã hội, nguồn lực con người được hình thành và phát triển trên nền tảng của chế độ xã hội mới ưu việt Nguồn lực con người dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, là sản phẩm trực tiếp của công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực và các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Nguồn lực con người là các cá nhân, các giai tầng lao động trong tất cả các

cơ cấu xã hội - giai cấp, ngành nghề, khu vực lãnh thổ, tôn giáo, dân tộc… tác động biện chứng với nhau tạo nên sức mạnh to lớn thể hiện tính tích cực cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa Thực hiện sự chuyển biến cách mạng thực sự từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

Nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, quyết định sự thành bại của chủ nghĩa xã hội, do bản chất con người xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội chủ nghĩa quy định Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa luôn thể hiện sự thống nhất cao giữa phát triển xã hội, nhu cầu lợi ích và các hoạt động của các giai tầng lao động được đảm bảo, khuyến khích, phát huy dân chủ thông qua hệ thống chính sách, hệ thống tổ chức của mình Bởi vậy, mức độ, quy mô sử dụng và phát huy các tiềm năng của nguồn lực con người với các nguồn lực khác phục vụ đắc lực sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền và sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Tuy vậy, nguồn lực con người dưới chủ nghĩa xã hội không phải ngay từ đầu đã thể hiện một cách đầy đủ và mạnh mẽ, nó được bồi đắp và phát triển trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Điều đó không chỉ tuỳ thuộc vào ý chí, nỗ lực chủ quan mà phụ thuộc vào quá trình giác ngộ xã hội chủ nghĩa, vào trình độ, hiệu quả phát triển của chủ nghĩa xã hội một cách vững chắc, toàn diện hay chưa

c Phát huy nguồn lực con người

Nguồn lực con người là nguồn lực cơ bản nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực cho sự phát triển, phát huy nguồn lực con người là vấn đề trọng đại của mọi quốc gia dân tộc Song, trong từng giai đoạn lịch sử, ở từng quốc gia, trên từng lĩnh vực, phạm vi, việc phát huy nguồn lực con người được nhận thức và thực hiện có

sự khác nhau Vấn đề phát huy nguồn lực con người trong cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình phát hiện, làm bộc lộ, hình thành và sử dụng những tiềm năng sáng tạo của con người, là không ngừng gia tăng tính tích cực, tự giác, năng

Trang 29

động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân kết hợp với sức mạnh của cả cộng đồng nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi tất yếu phải phát huy nguồn lực con người, và phát huy nguồn lực con người trở thành nhiệm vụ chính trị thường xuyên của các Đảng Cộng sản cầm quyền, là điều kiện bảo đảm chắc chắn cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Trong đó, phát hiện, khơi dậy nguồn lực con người là “đánh thức” tiềm năng vốn có chưa bộc lộ hoặc bộc lộ chưa đầy đủ, chưa mạnh mẽ của con người, cộng đồng xã hội, phải kết hợp chặt chẽ với bồi dưỡng nguồn lực để khai thác, sử dụng đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Đồng thời việc sử dụng nguồn lực con người đòi hỏi phải

có kế hoạch, mục đích, phải trên cơ sở luận cứ khoa học và thực hiện quy hoạch nguồn lực con người để có chương trình đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của lĩnh vực, ngành, của đất nước Mặt khác, cùng với khai thác, sử dụng tiềm năng vốn có trong con người, trong cộng đồng phải đưa ra những quyết sách, cơ chế, đòn bẩy khoa học nhất làm gia tăng động lực tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của con người, của cộng đồng xã hội nhằm phát triển, sử dụng bền vững nguồn lực con người cả

về số lượng và chất lượng Như vậy, khơi dậy, bồi dưỡng, sử dụng nguồn lực con người là một thể thống nhất, không tách rời nhau

2 Vai trò của nguồn lực con người trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

a- Nguồn lực con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa

Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là: giải phóng giai cấp, giải phóng

xã hội và giải phóng con người, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người; tạo điều kiện, môi trường để con người vươn lên làm chủ mọi lĩnh vực và phát triển toàn diện Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “… Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm”1 Đảng ta chỉ rõ: “Mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước không ngoài mục đích vì hạnh phúc của nhân dân”2

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1987, tr.784

2 Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội 1991, tr.8

Trang 30

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của nhân dân lao động do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Lênin đã nhiều lần khẳng định, vấn đề cốt yếu đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa giành được thắng lợi là phụ thuộc vào việc lôi cuốn được nhân dân lao động tham gia ngày càng đông đảo vào công tác quản lý xã hội, quản lý nhà nước Đây là cuộc cách mạng tự giác, năng động và sáng tạo của nhân dân diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,

nó không chỉ xoá bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất và các

tệ nạn do xã hội ấy sinh ra, mà chủ yếu là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Vì vậy, nó đòi hỏi phải tạo lập, phát huy tính tích cực, sáng tạo rất cao của từng cá nhân và toàn thể cộng đồng xã hội Lênin cũng chỉ rõ chủ nghĩa xã hội không phải “trên trời rơi xuống”, không tự nhiên mà có Chủ nghĩa xã hội là kết quả lao động sáng tạo của hàng triệu quần chúng lao động tạo nên

b Nguồn lực con người ngày càng tăng lên trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa

Nguồn lực con người được tăng lên không ngừng trong lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội Cách mạng xã hội chủ nghĩa “về thực chất là có tính kinh tế” Đó

là cuộc cách mạng đoạn tuyệt triệt để nhất chế độ sở hữu cổ truyền- chế độ tư hữu đối với tư liệu sản xuất Thông qua cuộc cách mạng ấy, giai cấp công nhân cùng toàn thể nhân dân lao động phải xây dựng và phát triển cho được một phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa có năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động hơn hẳn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Yêu cầu khách quan của công cuộc lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa phải tạo lập và phát triển, phát huy nguồn lực con người Mặt khác, do điều kiện, tính chất và hiệu quả, mục đích lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phép để ngày càng nâng cao nguồn lực con người Đây là một quá trình tác động biện chứng, thể hiện tính nhân quả, tính hơn hẳn của công cuộc lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội, phản ánh ý thức và năng lực làm chủ cao, cũng như tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong lao động của con người mới xã hội chủ nghĩa

Nguồn lực con người của chủ nghĩa xã hội còn được tăng lên mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ hiện đại Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại làm thay đổi sâu sắc, toàn diện đến tính chất, nội dung và quy

Trang 31

độ nghề nghiệp, thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin và trình độ thẩm mỹ… Sự tác động qua lại giữa nhân tố con người và khoa học công nghệ trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa là thống nhất biện chứng Sự phát triển của khoa học công nghệ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, với mặt tích cực của nó góp phần giải phóng người lao động cả về tính chất lẫn tâm lý lao động, mở ra cho con người khả năng phát triển toàn diện Mặt khác, sự phát triển của khoa học công nghệ chỉ có thể đạt được trên cơ sở việc nâng cao, phát huy nguồn lực con người trên các lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội Do đó trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa sự phát triển của khoa học không phai mờ hoặc mất đi vai trò nguồn lực con người, trái lại, càng tăng lên không ngừng vai trò của nó trong tiến trình cách mạng ấy

Nguồn lực con người được tăng lên trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Đảng Cộng sản cầm quyền, Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tạo ra và huy động được mọi tiềm lực, nhân tố bảo đảm đánh thắng Sức mạnh của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là tổng hợp của các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nghệ thuật quân sự, con người và tinh thần… Trong đó, vai trò con người và yếu tố chính trị - tinh thần của họ quyết định sự thành bại của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta khẳng định: Đó là “sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh và thế trận an ninh nhân dân Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Phối hợp hoạt động quốc phòng an ninh với hoạt

Trang 32

động đối ngoại”1 Vì vậy, do tính chất, nội dung, mục tiêu, yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu nguồn lực con người tăng lên trong sự nghiệp ấy

Song, nguồn lực con người không những tạo ra khả năng, sức mạnh cho đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi, mà còn góp phần tạo sự nhất trí cao về chính trị tinh thần của toàn xã hội Đồng thời, tạo các mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước với bảo vệ trên từng lĩnh vực, từng cấp, từng ngành và kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu hòng phá hoại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, chủ nghĩa đế quốc đang ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, lợi dụng chống khủng bố để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh đó, quan hệ giữa phát huy nguồn lực con người và đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa

xã hội càng gắn bó chặt chẽ và cần được tăng cường hơn bao giờ hết Tạo cơ hội cho mọi người đều có thể phát huy hết khả năng, tham gia vào quá trình phát triển

và hưởng thụ thành quả phát triển, đồng thời nâng cao trách nhiệm của mỗi người, góp phần thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, giữ gìn và phát triển nền văn hoá dân tộc, đẩy lùi các tệ nạn xã hội

II MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Phát huy nguồn lực con người là vấn đề mang tính chiến lược, vừa là nhiệm

vụ lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và ở nước ta nói riêng Vấn đề đó đòi hỏi các Đảng Cộng sản phải có quan điểm xem xét khoa học và cách mạng, trên cơ sở ấy có các chủ trương biện pháp đúng đắn Về vấn đề này, Đảng ta khẳng định: “Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao” 1 Để làm được vấn đề này, cần thực hiện tốt những giải pháp chủ yếu dưới đây

1 Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

Trang 33

xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Văn kiện Đại hội X Đảng ta chỉ rõ:

“Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” 1

Chất lượng giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng quyết định đến việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện nay Sự ảnh hưởng của chất lượng giáo dục và đào tạo đối với việc phát huy nguồn lực con người thể hiện dưới các dạng cơ bản sau:

Chất lượng giáo dục và đào tạo ảnh hưởng đến trình độ nhận thức tạo lập ý thức tự giác trong hoạt động của người lao động với tư cách là nguồn lực con người Hoạt động tự giác của mỗi cá nhân chỉ có thể có được trên cơ sở nắm vững

hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, về nghề nghiệp và động cơ - lợi ích hoạt động của họ Việc không ngừng nâng cao trình độ chính trị - tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân và nghề nghiệp giúp cho mỗi người có sự giác ngộ cách mạng, sự quý trọng những công việc mà họ đảm nhiệm và vươn lên nắm bắt các kiến thức khoa học công nghệ hiện đại… với khát vọng làm cho mọi hoạt động của mỗi người phù hợp với các quy luật khách quan, nhằm mang lại các giá trị thiết thực

Chất lượng giáo dục và đào tạo ảnh hưởng quyết định đến trình độ sáng tạo của con người trong hoạt động thực tiễn Sự tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại, tính chất và nội dung hoạt động, lao động của nguồn lực con người

có sự yêu cầu cao về chất, trí tuệ và trí lực, cũng như tính sáng tạo Những yêu cầu cao về sự biến đổi đó, cũng chính là đòi hỏi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nguồn nhân lực cần đáp ứng Vì vậy, để phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới đất nước thì vấn đề có ý nghĩa chiến lược và cấp bách hàng đầu là phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Thực tế nước ta hiện nay, nguồn nhân lực qua đào tạo còn rất thấp, chưa đạt 30 % trong tổng số nguồn lao động của cả nước Để khắc

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội 2006, tr.95

Trang 34

phục tình trạng trên phải không ngừng tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một

xã hội học tập Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội

Chất lượng giáo dục và đào tạo góp phần quan trọng vào việc hình thành thái độ sống tích cực - một thành tố cơ bản của nguồn lực con người Trong mỗi con người xã hội luôn sẵn có những năng lực sáng tạo, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân chủ yếu là chưa thường xuyên “đánh thức” một thái độ sống tích cực mà các năng lực đó chưa được, thậm chí không được

“thắp sáng” trong hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội Căn nguyên sâu xa của thái

độ sống thụ động, thiếu tích cực là chưa có một thế giới quan khoa học, một niềm tin lý tưởng, chưa có những kiến thức cần thiết về nghề nghiệp, về chuẩn mực đạo đức… Do đó, phải coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho họ đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Đồng thời, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên Cải tiến việc giảng dạy và học tập các bộ môn lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề

Chất lượng giáo dục và đào tạo còn góp phần to lớn vào việc phát triển chủ nghĩa nhân đạo trong hoạt động của nhân dân ta Thực hiện từng bước hướng việc

sử dụng sức lực và trí tuệ, truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ở mức cao nhất vào cải tạo và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thể hiện đủ tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thực sự là một điển hình về xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế và lối sống mới, phát triển toàn diện con người

2 Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Đặc trưng cơ bản về kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phát triển nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu, các lợi ích kinh tế khác nhau theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng

ta chỉ rõ: “Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức

Trang 35

sở hữu khác nhau… mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1 Đó là quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống và việc làm của nhân dân Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian qua với các đặc trưng cơ bản đó là:

Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được hình thành trong cơ chế bao cấp, rất xa lạ với kinh tế thị trường Các thành phần kinh tế tư nhân (tư bản tư nhân, kinh tế cá thể và tiểu chủ…) bị lãng quên trong một thời gian dài và đến nay đang

có sự phát triển Cơ chế thị trường bước đầu được hình thành các thành phần kinh

tế chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố tích cực lẫn tiêu cực của cơ chế thị trường

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, sản xuất còn mang tính chất tự cung tự cấp

Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước đối với các thành phần kinh tế Quản lý vĩ mô là tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần Nhìn chung, việc các thành phần kinh tế chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, nhất là thị trường trong nước

có nhiều khả quan, song thị trường ngoài nước vẫn đang ở dạng tiềm năng

Mặt khác, các thành phần kinh tế tồn tại một cách khách quan, mỗi thành phần kinh tế có những đặc trưng riêng vốn có của nó về trình độ và tính chất xã hội hoá lao động, trình độ phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và các lợi ích kinh tế… Trong đó, quan trọng nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định bản chất các thành phần kinh tế

Các đặc điểm trên của nền kinh tế nước ta ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển nguồn lực con người Quan hệ sở hữu quyết định sự vận động, phát triển của các

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội 2001, tr 188

Trang 36

thành phần kinh tế Còn các thành phần kinh tế là biểu hiện của quan hệ sở hữu Mỗi thành phần kinh tế biểu hiện ra ở bề mặt cuộc sống dưới dạng các hình thức kinh tế cụ thể Các hình thức kinh tế bao giờ cũng là sự biểu hiện ra bên ngoài của các quan hệ sở hữu lẫn nhau Thực chất đó là quan hệ giữa người và người Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, tồn tại đa dạng các hình thức sở hữu, chúng không tồn tại biệt lập mà đan xen với nhau, và quyết định sự hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng

Sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sở hữu và hình thức kinh tế được thể hiện thông qua lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế là một trong những nhân tố cơ bản thúc đẩy sự vận động, phát triển của nguồn lực con người Theo Ph.Ăngghen, chính lợi ích kinh tế làm rung chuyển quảng đại quần chúng Lợi ích kinh tế là yếu

tố cơ bản kích thích hoạt động kinh tế và các hoạt động khác của con người Quan

hệ giữa lợi ích kinh tế với quan hệ sở hữu là mối quan hệ trực tiếp Còn quan hệ giữa các lợi ích khác (như lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần…) với quan hệ sở hữu

là quan hệ gián tiếp, thông qua những nấc thang trung gian khác của kiến trúc thượng tầng ở nước ta, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể giữ vai trò chủ đạo, định hướng các quan hệ sở hữu khác, nên lợi ích xã hội, lợi ích tập thể là nền tảng quy định hệ thống các lợi ích trong xã hội Tuy nhiên, lợi ích kinh tế là chiếc cầu nối giữa quan hệ sở hữu với thành phần kinh

tế Lợi ích kinh tế đóng vai trò động lực vật chất của nguồn lực con người

Như vậy, động lực vật chất nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

3 Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn

Trên cơ sở phát triển nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hoá nhiều thành phần và vận hành động bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng các hoạt động khác, thực hiện chính sách xã hội nhằm từng bước phát triển toàn diện con người Việt Nam Đối với nước ta, trong điều kiện hiện nay thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, đó là chính sách đối với con người Do đó, việc đề ra và thực hiện “các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp Văn kiện Đại hội X của Đảng: “Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chính sách, bảo đảm cung ứng

Trang 37

Như vậy, chính sách xã hội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta Do đó, coi trọng và thực hiện có hiệu quả trên thực tế chính sách xã hội phù hợp góp phần trực tiếp hình thành hệ thống nhu cầu lợi ích đúng đắn của cá nhân, tập thể lao động và cả cộng đồng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng Để phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay phải hướng trọng tâm của việc hoạch định và thực thi chính sách xã hội nhằm hiện thực hoá các vấn đề như:

Phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp

Bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc làm mới, chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Khôi phục và phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp của thanh niên và đào tạo lao động có nghề

Tổ chức, quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ngoài, khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội

Cải cách cơ bản chế độ tiền lương, Nhà nước và xã hội tôn trọng thu nhập hợp pháp của người kinh doanh

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2006, tr 101

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 13

Trang 38

Thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn

Chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân

số phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, nếp sống, nhằm tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi

Các nội dung nêu trên là một thể thống nhất của hệ thống chính sách xã hội, được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội

4 Dân chủ hoá đời sống xã hội

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, dân chủ hoá đời sống

xã hội là yêu cầu cơ bản và quan trọng nhằm phát huy cao nhất nguồn lực con người Việt Nam vào xây dựng và bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội của nhân dân ta Đây thực sự là các hoạt động trên các lĩnh vực nhằm tạo lập một môi trường xã hội thuận lợi, lành mạnh để mọi người, mọi lực lượng cống hiến năng lực, tài năng của mình để lao động sáng tạo với chất lượng, hiệu quả ngày càng cao

Dân chủ hoá đời sống xã hội ở nước ta hiện nay là nhu cầu của từng con người, từng giai cấp, từng ngành nghề, từ trung ương đến cơ sở Nhờ đó mà Đảng

và Nhà nước ta huy động được tối đa năng lực sáng tạo tiềm ẩn trong nhân dân biến nó thành nội lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của kẻ địch đối với cách mạng nước ta

Dân chủ hoá đời sống xã hội còn góp phần quan trọng trong việc khắc phục những hiện tượng xâm phạm quyền con người, coi thường nhân phẩm con người

Vì thế, nó thôi thúc con người tích cực, chủ động hoạt động hướng tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ

Một xã hội dân chủ thực sự cho người lao động là một xã hội phát triển và không ngừng hoàn thiện nhân cách của mỗi người Mặt khác, một xã hội dân chủ tất yếu phải có những con người có tinh thần và ý thức, năng lực làm chủ xã hội, những con người có văn hoá, có kiến thức toàn diện và lời nói luôn đi đôi với việc

Trang 39

làm Dân chủ hoá đời sống xã hội ở nước ta hiện nay là tôn trọng con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi hoạt động, là phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân hướng sự sáng tạo đó vào xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

5 Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa

Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là biện pháp cơ bản mang tính tổng hợp để phát huy nguồn lực con người Tuy nhiên, giữa phát huy nguồn lực con người và xây dựng con người mới luôn là quan hệ nhân quả

Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa với đầy đủ đặc trưng cơ bản của

nó là quá trình từng bước, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, tạo dựng cho con người có đầy đủ năng lực, phẩm chất và tư chất, làm cho con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải tạo, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội

Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa phải xuất phát từ yêu cầu phát triển nguồn lực con người và gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời con người mới xã hội chủ nghĩa là chủ thể quyết định sự phát triển của chủ nghĩa xã hội

Hiện nay, nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, qua hai mươi năm đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, kinh tế tăng trưởng khá, văn hoá, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng

và an ninh được tăng cường… Tuy nhiên, vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm, nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả sức cạnh tranh thấp, một số vấn đề văn hoá, xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết… Tình trạng tham nhũng, suy thoái ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng

và vẫn còn những thách thức mới… Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải khai thác và phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người, phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người mới xã hội chủ nghĩa Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta

là điều kiện cần và có thể xây dựng sớm, xây dựng từng bước không chờ đến khi

có đủ điều kiện kinh tế, văn hoá, khoa học phát triển cao

Trang 40

Quá trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và phát huy nguồn lực con người cần tránh hai khuynh hướng: biểu hiện tính bảo thủ, thụ động, ỉ lại vào hoàn cảnh…; hoặc nôn nóng, dập khuôn và áp đặt

Những giải pháp chủ yếu trên đây nhằm phát huy nguồn lực con người trong chủ nghĩa xã hội, mỗi giải pháp có vị trí, vai trò riêng, song có quan hệ tác động với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, không được xem nhẹ hoặc tuyệt đối hoá một giải pháp nào và cần được tiến hành đồng bộ nhất quán trong mỗi giai đoạn của cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong mọi lĩnh vực, mọi lực lượng xã hội

* Phát huy nguồn lực con người trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân đội nhân dân Việt Nam là một thành tố cơ bản, tin cậy của hệ thống chính trị xã hội ở nước ta Do đó, phát huy nguồn lực con người trong quân đội tất yếu phải tuân thủ những giải pháp chung về phát huy nguồn lực con người trong chủ nghĩa xã hội ở nước ta Song, do tính đặc thù của hoạt động quân sự mà phát huy nguồn lực con người trong quân đội cần chú trọng thêm một số vấn đề sau:

- Khơi dậy, bồi dưỡng và khai thác mọi tiềm năng về phẩm chất và năng lực hoạt động quân sự của mỗi cán bộ, chiến sĩ, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý chí, tự lực, tự cường, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo

- Làm chủ vũ khí trang bị, khí tài kỹ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi

- Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ

sở, tạo điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ phát huy truyền thống cách mạng, khả năng sáng tạo trong hoạt động quân sự

- Nắm vững khoa học và nghệ thuật quân sự, kinh nghiệm chiến đấu và xây dựng của quân đội, kết hợp sức mạnh của nghệ thuật quân sự truyền thống với hiện đại trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay

- Đảng và nhà nước phải thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân và quân đội nhân dân; có chính sách phù hợp với cán bộ, chiến sĩ và hậu phương quân đội

- Tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân, xây dựng bản lĩnh chính trị và nâng cao năng lực, sức chiến đấu của quân đội

Ngày đăng: 23/12/2022, 20:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w