1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đường lối quân sự của Đảng - Lịch sử hình thành, phát triển và nội dung cơ bản: Phần 2

280 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường lối quân sự của Đảng - Lịch sử hình thành, phát triển và nội dung cơ bản: Phần 2
Trường học Đại học Quân sự Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng và quân sự Việt Nam
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 280
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 của cuốn sách Đường lối quân sự của Đảng - Lịch sử hình thành, phát triển và nội dung cơ bản tiếp tục trình bày những nội dung về: xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng căn cứ địa, hậu phương của chiến tranh nhân dân; xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân; phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân; chiến lược đánh lâu dài và tranh thủ thời cơ giành thắng lợi sớm nhất;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương V

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

ổ chức toàn dân, vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là một trong những nội dung

cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng Trong chiến tranh, quân sự là việc chủ chốt Chiến tranh càng phát triển thì lực lượng quân sự và đấu tranh quân sự càng trở nên quan trọng,

vì nó giữ vị trí quyết định trong việc tiêu diệt lực lượng quân sự của đối phương, làm thất bại mọi âm mưu quân sự, và thông qua đó làm thất bại những âm mưu chính trị của đối phương Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vũ trang quần chúng và xây dựng quân đội thường trực kiểu mới của giai cấp vô sản, kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của dân tộc, trong quá trình lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, Đảng chủ trương động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang với những hình thức tổ chức thích hợp Đó

là hình thức tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc Hình thức đó thể hiện đường lối vũ trang quần chúng cách mạng đi đôi với xây dựng quân đội nhân dân Đảng luôn chú trọng xây dựng lực

T

Trang 2

lượng vũ trang ba thứ quân và chế độ động viên toàn dân tham gia lực lượng vũ trang

I- TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Để tiến hành thắng lợi khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân, “đi đôi với việc tuyên truyền, giác ngộ và tổ

chức nhân dân, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng,

coi đó là điều cơ bản nhất trong mọi thời kỳ của đấu tranh

cách mạng”, Đảng rất chú trọng “xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, giải quyết tốt vấn đề tổ chức quân sự, coi đó

là điều kiện rất cơ bản”1

1 Vũ trang quần chúng cách mạng đi đôi với xây dựng quân đội nhân dân

Trong lãnh đạo khởi nghĩa và chiến tranh, Đảng chủ trương động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang với những hình thức tổ chức thích hợp trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể làm nòng cốt

Lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam từ Nhân dân mà

ra, vì Nhân dân mà chiến đấu Nó là công cụ chủ yếu để tiến hành đấu tranh vũ trang giành và bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, chống mọi kẻ thù của giai cấp công nhân và của dân tộc

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, sự phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân gắn liền với sự phát triển của

1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr 1272

Trang 3

phong trào cách mạng, từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh

vũ trang, từ tổ chức chính trị lên tổ chức vũ trang Đảng căn

cứ vào yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ, trên cơ

sở phong trào chính trị rộng lớn của quần chúng, chủ yếu là của công nông, lựa chọn những người trung kiên để tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng

C Mác và Ph Ăngghen là những người đầu tiên nêu khẩu hiệu vũ trang cho giai cấp công nhân để đập tan quân đội thường trực của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền Con đường đấu tranh của giai cấp vô sản là con đường dùng bạo lực cách mạng đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản, lập nên nhà nước chuyên chính vô sản C Mác và

Ph Ăngghen đã làm nổi bật sức mạnh vĩ đại của giai cấp vô sản và nhân dân vũ trang C Mác và Ph Ăngghen nêu luận

điểm: Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, quân đội thường trực của giai cấp tư sản phải được thay thế bằng nhân dân vũ trang, bằng lực lượng dân cảnh xã hội chủ nghĩa Đó là con đường tạo nên một tổ chức quân sự hoàn

toàn mới, sinh ra từ cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt để phục vụ cho lợi ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động

Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác về tổ chức quân sự của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới, V.I Lênin nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của việc vũ trang giai cấp vô sản, đồng thời nêu luận điểm về sự cần thiết phải xây dựng một quân đội thường trực kiểu mới của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời,

Trang 4

Đảng chủ trương vũ trang quần chúng công nông, nêu lên sự cần thiết phải “tổ chức đội tự vệ công nông để chống lại khủng bố trong lúc tranh đấu”1 Và chủ trương sau khi giành được chính quyền sẽ thành lập “quân đội công nông” Trong Nghị quyết về đội tự vệ, Đại hội lần thứ I của Đảng (tháng 3/1935) nhấn mạnh:

“a) Nếu không huấn luyện quần chúng về đường quân sự; b) Nếu không sớm dự liệu dự bị võ trang quần chúng thì cách mạng không thành công được”2

Đại hội khẳng định lại vai trò quan trọng của việc thành lập đội tự vệ công nông Đại hội chỉ rõ: “Tự vệ đội càng mạnh thì tức là có điều kiện thuận tiện để sau này tổ chức

du kích chiến tranh, võ trang bạo động”3 Đại hội chủ trương

thành lập “Đội tự vệ công nông thường trực”, một tổ chức

“có tính chất bán quân sự” để cùng quần chúng “chuẩn bị những điều kiện cần thiết sau này, sẽ hóa thành những bộ phận tiên tiến, chỉ huy trong các du kích đội trong cuộc võ trang bạo động cướp chính quyền, trong Hồng quân của Nhà nước công nông”4

Trong thời kỳ trực tiếp chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (1940 - 1945) qua kinh nghiệm thực tiễn của các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, Đảng phát hiện ra quy luật của khởi nghĩa vũ trang ở Việt Nam Đó là ở một nước thuộc địa, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, khởi nghĩa vũ trang

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 3, tr 103

2, 3, 4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,

t 5, tr 93, 92, 140

Trang 5

phải bắt đầu từ khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích

ở nông thôn trong những điều kiện nhất định, để mở đường tiến lên tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị khi có thời cơ thuận lợi Bởi vậy, đi đôi với chủ trương xây dựng lực lượng chính trị quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, Đảng chủ trương thành lập các đội du kích chính thức ở những nơi có điều kiện để cùng toàn dân đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, phát động tổng khởi nghĩa khi điều kiện chín muồi

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940 quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, tiền thân của các đơn vị Cứu quốc quân Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) chủ trương

“tổ chức Việt Nam nhân dân cách mạng quân và võ trang dân chúng”1 Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

Hồ Chí Minh khẳng định: “Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”2 “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập hợp lực lượng để lập một đội quân đầu tiên cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp và giúp đỡ về mọi phương diện Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 7, tr 150

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 3, tr 539

Trang 6

các đội này trưởng thành mãi mãi”1 Đến đây, quan điểm vũ trang quần chúng và xây dựng quân đội cách mạng của Đảng

có bước phát triển mới: đi đôi với việc đẩy mạnh xây dựng lực lượng chính trị, Đảng chủ trương trên cơ sở lực lượng chính trị

mà vũ trang quần chúng song song với xây dựng quân đội cách mạng Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (ngày 09/3/1945), Việt Nam giải phóng quân được thành lập (tháng 5/1945)

Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa (khởi nghĩa từng phần

và chiến tranh du kích cục bộ) cũng như trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, mặc dù mức độ ở từng địa phương khác nhau, nhưng Đảng đã sử dụng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, cả lực lượng vũ trang quần chúng và lực lượng quân đội cách mạng để giành chính quyền địa phương cũng như chính quyền toàn quốc Trong Cách mạng Tháng Tám, lực lượng chính trị của Nhân dân gồm đông đảo quần chúng cách mạng không vũ trang và có vũ trang là lực lượng chủ yếu quyết định thành công của cách mạng; Việt Nam Giải phóng quân và các đội du kích địa phương đóng vai trò rất quan trọng

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, quán triệt quan điểm của V.I Lênin về xây dựng quân đội thường trực kiểu mới của nhà nước xã hội chủ nghĩa, Đảng nhanh chóng phát triển và củng cố Việt Nam giải phóng quân, đổi tên thành Vệ quốc đoàn, về sau là Quân đội quốc gia và từ năm

1950 lấy tên là Quân đội nhân dân Việt Nam

1 Hồ Chí Minh: Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội

nhân dân, Hà Nội, 1980, tr 82

Trang 7

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đi đôi với việc tăng cường xây dựng quân đội thường trực của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, Đảng hết sức coi trọng việc củng cố và phát triển dân quân tự

vệ, lực lượng của đông đảo quần chúng được vũ trang thường xuyên và có tổ chức ở cơ sở, không thoát ly sản xuất

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, trước yêu cầu của tình hình mới, Đảng đề ra phương châm xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến lên chính quy và hiện đại, đồng thời tiếp tục nêu cao vai trò chiến lược của dân quân tự vệ và của toàn dân trong việc củng cố quốc phòng và tiến hành chiến tranh nhân dân

Quân đội Việt Nam là quân đội của Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, quân đội cách mạng của giai cấp vô sản Bởi vậy, vấn đề giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng của quân đội phải được coi là yêu cầu cơ bản nhất và đặt lên vị trí hàng đầu Trên cơ sở đó phải ra sức thực hiện chính quy hóa và hiện đại hóa quân đội mới Ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang chịu ách đô hộ của thực dân Pháp và là một nước nông nghiệp lạc hậu, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được xây dựng từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh

Trong điều kiện so sánh lực lượng về kinh tế và quân sự không có lợi cho cách mạng, đường lối đấu tranh của Đảng là phát động chiến tranh du kích, lợi dụng tính chất phân tán

và khả năng cách mạng của nông thôn mà tổ chức căn cứ địa

ở nông thôn để bao vây quân xâm lược Pháp ở thành thị Do

đó quân đội Việt Nam trong một thời gian khá dài bao gồm

Trang 8

những đơn vị du kích chiến đấu trên những địa phương phân tán Các đơn vị đó dần dần được tập trung lại, trang bị được cải thiện do lấy được vũ khí của quân Pháp, căn cứ địa dần dần được mở rộng, hình thức tác chiến tiến dần từ du kích chiến lên vận động chiến Tuy nhiên, một lực lượng vũ trang mang nặng tính chất du kích không đủ để đáp ứng nhu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình Vì vậy, phải xây dựng quân đội tiến từng bước lên chính quy và hiện đại

Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Hình thức tổ chức quân sự của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước dân chủ nhân dân, hình thức tổ chức có khả năng phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của nhân dân, của chế độ mới là kết hợp xây dựng một quân đội cách mạng chính quy, hiện đại với việc vũ trang quần chúng cách mạng mạnh mẽ và rộng khắp

Quần chúng vũ trang và quân đội cách mạng là hai thành phần của lực lượng vũ trang của nhà nước, trong đó quân đội thường trực là lực lượng nòng cốt, quần chúng vũ trang là lực lượng rộng rãi Cho nên phải chú trọng xây dựng quân đội đồng thời phát triển lực lượng quần chúng vũ trang”1

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trong hoàn cảnh chiến tranh du kích, Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thống nhất về nhiệm vụ và đường lối chính trị, thống nhất về tư tưởng chiến lược chiến thuật, còn về tổ chức biên chế, về trang bị, về huấn luyện đều không thống nhất đến một hạn độ nào Trong tình hình mới của miền Bắc sau ngày giải phóng, phải đưa quân đội tiến lên chính quy, phải thống nhất về mọi mặt, về trang bị và

1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr 1204

Trang 9

biên chế, huấn luyện Toàn quân đều phải triệt để chấp hành những điều lệnh thống nhất “Có thống nhất những mặt đó thì khi tác chiến mới thực hiện được chỉ huy thống nhất, mới

tổ chức được các đơn vị và các binh chủng hợp đồng tác chiến chặt chẽ”1 Nếu không thì trong chiến tranh hiện đại sẽ gặp nhiều trở ngại lớn và không thể giành được thắng lợi Bởi vậy, chính quy hóa là thực hiện sự thống nhất quân đội về mặt tổ chức, dựa trên những chế độ điều lệnh quy định nhằm đưa toàn bộ hoạt động của quân đội vào nền nếp thống nhất, nâng cao tính tổ chức kỷ luật, tính tập trung, tính khoa học, đạt đến hành động kiên quyết và nhất trí, đến sự phối hợp chặt chẽ và chuẩn xác giữa mọi bộ phận của quân đội trong chiến tranh Đó là bước đi tất yếu của mọi quân đội khi mà tổ chức của nó đã phát triển đến một trình độ hoàn chỉnh nhất định Hồ Chí Minh nói: “Phải học tập kỹ thuật vì kỹ thuật ngày càng tiến bộ, mình cũng phải học để tiến bộ Muốn cho

bộ đội ta hùng mạnh, và nhất định bộ đội ta phải hùng mạnh, chúng ta phải cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật

để tiến lên chính quy”2

Tuy nhiên, chính quy hóa của quân đội cách mạng khác hẳn với quân đội của các giai cấp bóc lột về mục đích, nội dung cũng như phương pháp tiến hành Việc xây dựng chính quy quân đội của giai cấp bóc lột nhằm phục vụ cho mục đích

1 Tổng cục chính trị, Cục Tuyên huấn: Toàn dân chăm lo lực lượng

phòng thủ đất nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1958, tr 32

2 Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh: Bàn về chiến tranh

nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà

Nội, 1966, tr 254

Trang 10

chính trị phản động Trái lại, việc xây dựng chính quy của quân đội cách mạng nhằm phục vụ những mục tiêu chính trị cao cả của cách mạng, mọi chế độ, điều lệnh của nó đều phản ánh bản chất cách mạng, những nguyên tắc xây dựng tốt đẹp của quân đội kiểu mới; dựa trên sự giác ngộ chính trị, ý thức

kỷ luật tự giác, tinh thần chủ động sáng tạo của cán bộ, chiến

sĩ để bảo đảm việc nghiêm chỉnh chấp hành Chính vì xây dựng chính quy của quân đội cách mạng dựa trên cơ sở chính trị hết sức vững chắc nên nó có sức mạnh hơn hẳn so với quân đội của giai cấp bóc lột Trong quá trình đẩy mạnh chính quy hóa, phải giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa tập trung và dân chủ, giữa lãnh đạo của đảng ủy và vai trò của thủ trưởng, quan hệ đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới; phải kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng và công tác tổ chức; gắn chặt việc giáo dục, thuyết phục với việc rèn luyện, quản lý nghiêm khắc; kết hợp nâng cao tính tự giác với yêu cầu phải làm, tiến hành thưởng phạt nghiêm minh Phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức làm chủ tập thể của mọi cán bộ

và chiến sĩ đối với việc quản lý kỷ luật, chấp hành chế độ, điều lệnh, điều lệ Trong vấn đề này, vai trò gương mẫu và trình độ

tổ chức, quản lý của cán bộ có một ý nghĩa rất quan trọng Cùng với chính quy hóa, phải hiện đại hóa quân đội Trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trang bị của quân đội còn kém cỏi, lại là một quân đội thuần bộ binh, lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến là phù trợ Trong giai đoạn 1950 - 1954 và nhất là thời kỳ 1954 - 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam tiến dần từ một quân đội thuần

bộ binh đến một quân đội bao gồm nhiều binh chủng Hiện đại

Trang 11

hóa quân đội là không ngừng đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao trình độ sử dụng những vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại cho cán bộ và chiến sĩ; là xây dựng hệ thống công nghiệp quốc phòng hiện đại, mở rộng hệ thống giao thông hiện đại nhằm bảo đảm cho quân đội hoạt động trong điều kiện chiến tranh hiện đại Hiện đại hóa là một yêu cầu phát triển có tính quy luật của việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển,

có sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khi Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, trong

đó có đối ngoại quốc phòng; khi nền khoa học - công nghệ thế giới đang phát triển đến trình độ rất cao và không ngừng đưa lại những thay đổi to lớn và nhanh chóng trong trang bị kỹ thuật của quân đội ở các nước tiên tiến, Việt Nam có điều kiện mua những trang bị, vũ khí hiện đại để hiện đại hóa quân đội

“Bộ đội có chất lượng là bộ đội có tinh thần chiến đấu cao,

tổ chức thích hợp, được huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị tốt, cán bộ có trách nhiệm và có kinh nghiệm, biết cách đánh giặc, được trang bị tốt”1 Giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự là nội dung chủ yếu của công cuộc xây dựng quân đội Trong đó, vấn đề đào tạo và bồi dưỡng cán bộ là trung tâm vì “cán bộ quyết định tất cả”, muốn có một quân đội cách mạng chính quy và hiện đại thì trước hết phải có những cán bộ có trình độ tư tưởng vững, được rèn luyện theo nền nếp

1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr 712

Trang 12

và tác phong chính quy, nắm vững chiến thuật và kỹ thuật hiện đại Chính quy hóa và hiện đại hóa quân đội là một công cuộc to lớn và lâu dài, đòi hỏi sự cố gắng liên tục và tích cực Đường lối vũ trang quần chúng cách mạng đi đôi với xây dựng quân đội nhân dân của Đảng luôn có sự phát triển, với phương hướng rõ rệt, cụ thể Nhờ quán triệt đường lối đó, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh

cả về số lượng và chất lượng, bao gồm một lực lượng dân quân tự vệ mạnh mẽ, rộng khắp và một quân đội nhân dân hùng mạnh có nhiều binh chủng và quân chủng; đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong chiến tranh hiện đại

Trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng

và xây dựng quân đội nhân dân, Đảng luôn quan tâm đấu tranh khắc phục những khuynh hướng lệch lạc, phiến diện như coi trọng chủ lực, xem nhẹ dân quân; khi thì nhấn mạnh một chiều việc xây dựng quân đội thường trực, coi nhẹ vai trò của quân dân tự vệ và của toàn dân trong chiến tranh hiện đại, khi thì chỉ coi trọng chính quy hóa và hiện đại hóa, coi nhẹ việc giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng của quân đội, gây trở ngại cho sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân Trong đường lối xây dựng lực lượng của chiến tranh nhân dân, Đảng đã nắm vững và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vũ trang quần chúng và xây dựng quân đội thường trực, thực hiện vũ trang rộng rãi quần chúng cách mạng đi đôi với xây dựng quân đội nhân dân trước khi giành chính quyền cũng như sau khi đã có cơ cấu của một quốc gia độc lập, khi quân đội nhân dân còn non trẻ cũng như khi nó

đã trưởng thành, lớn mạnh, tiến lên chính quy và hiện đại

Trang 13

“Quân đội nhân dân có những ưu thế mà lực lượng vũ

trang quần chúng không có Đó là lực lượng có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh, được huấn luyện kỹ càng, trang

bị kỹ thuật tương đối phát triển, chỉ huy và lãnh đạo tập trung thống nhất, có khả năng chiến đấu lớn, có trình độ sẵn

sàng chiến đấu cao Lực lượng vũ trang quần chúng có những

ưu thế mà quân đội không có Đó là lực lượng vũ trang kết hợp chặt chẽ nhất với đông đảo nhân dân, trực tiếp phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng, sử dụng được nhiều thứ vũ khí, vận dụng được nhiều cách đánh ở mọi nơi và trong mọi lúc”1

2 Tổ chức lực lượng ba thứ quân

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vũ trang quần chúng và xây dựng quân đội thường trực kiểu mới của giai cấp vô sản, kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của dân tộc, trong quá trình lãnh đạo Nhân dân tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, Đảng luôn chủ trương động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, xác định cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc Đó là hình thức tổ chức kết hợp lực lượng nòng cốt với lực lượng rộng rãi, kết hợp lực lượng cơ động với lực lượng tại chỗ của cả nước và của từng địa phương

Mỗi thứ quân trong các lực lượng vũ trang nhân dân đều giữ một vai trò nhất định trong chiến tranh Do đặc điểm về

1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr 1273

Trang 14

tổ chức, trang bị và địa bàn hoạt động, mỗi thứ quân có nhiệm vụ và vai trò cụ thể khác nhau

Dân quân tự vệ là “lực lượng quần chúng, một thành

phần của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, có chức năng vừa lao động sản xuất vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu kết hợp với lực lượng an ninh cơ sở giữ gìn trật tự xã hội,

an ninh chính trị tại địa phương; là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc tại địa phương”1 Dân quân tự vệ luôn giữ một vai

1 Dân quân tự vệ được tổ chức theo yêu cầu, nhiệm vụ của đấu tranh cách mạng, kháng chiến, xây dựng và bảo vệ đất nước Dân quân tự vệ do cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, người chỉ huy quân sự tại địa phương trực tiếp chỉ huy Dân quân tự vệ hình thành từ các đội tự vệ trong phong trào cách mạng Việt Nam 1930 - 1931 ở Nghệ - Tĩnh Từ năm 1940, những đội viên ưu tú trong các đội tự vệ được lựa chọn lập thành những tiểu tổ du kích cứu quốc và các đội du kích Từ ngày 19/02/1947, theo Thông tư số 33/TL của Bộ Quốc phòng, tự vệ và du kích được gọi thống nhất là dân quân, gồm hai thành phần: dân quân tự vệ và du kích địa phương Từ ngày 07/4/1949, du kích địa phương chuyển thành bộ đội địa phương theo Sắc lệnh số 103/SL của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; dân quân tự vệ, về mặt pháp lý, trở thành một trong ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Dân quân được tổ chức

ở nông thôn, tự vệ được tổ chức ở thành thị, cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường; thường là trung đội, đại đội (có nơi tổ chức tiểu đoàn…), có lực lượng chiến đấu và lực lượng phục vụ chiến đấu; được trang bị vũ khí thích hợp (vũ khí tự tạo, súng bộ binh, súng cối, súng máy phòng không, pháo mặt đất, pháo phòng không, pháo bờ biển…) Dân quân tự vệ có phù hiệu riêng, được hưởng chính sách do Nhà nước quy định, được xây dựng và hoạt động theo Điều lệ dân quân tự vệ (ban hành theo Nghị định số 29/HĐBT ngày 29/01/1990) Ngày truyền thống của dân quân tự vệ là ngày 28/3/1935, ngày Đại hội lần thứ I Đảng Cộng sản Đông Dương ra Nghị quyết tổ chức “Công

nông tự vệ đội” Bộ quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ

điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr 227

Trang 15

trò chiến lược quan trọng trong chiến tranh nhân dân “Nói đến chiến tranh nhân dân, nhất thiết phải nói đến dân quân

tự vệ”1

Dân quân tự vệ có những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tác chiến tiêu diệt địch, làm nòng cốt phát động phong trào toàn dân đánh giặc và phòng tránh ở cơ sở, hỗ trợ nhân dân đấu tranh chống địch

- Cùng với công an nhân dân tham gia giữ gìn trật tự, trị

an ở cơ sở, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhân dân, tài sản của Nhà nước và của quân đội ở địa phương

- Bổ sung cho bộ đội thường trực, phối hợp và phục vụ

bộ đội chiến đấu, phục vụ tiền tuyến, bảo đảm giao thông thời chiến

- Gương mẫu xung kích trong sản xuất và bảo vệ sản xuất, gương mẫu chấp hành và vận động Nhân dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ Dân quân tự vệ có vai trò chiến lược trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, là lực lượng chiến lược trong đấu tranh cách mạng của nhân dân Hồ Chí Minh từng nói: “Dân quân, tự

vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng

vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc Vô luận kẻ thù hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”2 Các đội tự vệ và tự vệ chiến

1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr 714

2 Hồ Chí Minh: Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân

dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr 174

Trang 16

đấu là hình thức đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng

ở Việt Nam

Trong suốt quá trình vận động cách mạng lâu dài trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, đi đôi với việc xây dựng các tổ chức chính trị của quần chúng Đảng hết sức quan tâm đến việc xây dựng các đội du kích, tự vệ Trong tổng khởi nghĩa các đội du kích thoát ly cùng các tổ chức tự

vệ công nông nửa vũ trang khắp Bắc, Trung, Nam đã đóng vai trò xung kích đắc lực, cùng hàng triệu quần chúng tiến lên, dùng bạo lực cách mạng với sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang Cách mạng Tháng Tám thành công, cùng với sự lớn mạnh của quân đội nhân dân, lực lượng dân quân tự vệ ngày càng phát triển rộng khắp

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân quân

tự vệ phát triển mau chóng ở làng xã, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, nhiều địa phương có cả những đội nữ du kích, thiếu niên du kích, lão du kích, lão bà dân quân, giữ vai trò chiến lược trong phong trào du kích chiến tranh, xây dựng thôn trang chiến, xây dựng làng xã chiến đấu, xây dựng khu du kích và căn cứ du kích giữa vùng chiếm đóng của quân Pháp, cùng nhân dân nổi dậy phá tề, phối hợp tác chiến với bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực trong những đợt hoạt động lớn, bảo vệ căn cứ địa và hậu phương kháng chiến, bổ sung cho quân chủ lực

Trong thời gian Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc với quy mô to lớn, tính chất ác liệt, sử dụng nhiều

vũ khí hiện đại, dân quân tự vệ vẫn giữ nguyên địa vị chiến lược của nó, vẫn là hình thức tổ chức thích hợp nhất để thực

Trang 17

hiện vũ trang toàn dân, thực hiện khẩu hiệu “Toàn dân vi binh”, “Toàn dân kháng chiến”, là lực lượng đảm nhiệm bắn máy bay tầm thấp, xung kích trong các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa tay súng”, hướng dẫn nhân dân phòng tránh máy bay Mỹ oanh tạc, bảo vệ trật tự trị an, giao thông vận tải thời chiến,

Ở miền Nam, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân quân tự vệ có vai trò chiến lược trong việc phát động chiến tranh du kích, tiêu hao sinh lực đối phương, phối hợp cùng quân giải phóng chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp phần làm chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho kháng chiến, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng

Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thống nhất, dân quân tự

vệ vẫn có nhiệm vụ chiến lược như các thời kỳ kháng chiến trước đây, nhưng phải hoàn thành những nhiệm vụ đó với trình độ cao hơn, trong điều kiện khó khăn, phức tạp hơn Chiến tranh du kích là một hình thức cụ thể sinh động và phổ biến của việc toàn dân tham gia chiến tranh Dân quân

tự vệ là lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến tranh du kích

Vị trí của dân quân tự vệ luôn gắn liền với vị trí của chiến tranh du kích trong chiến tranh tương lai nhằm tạo thế bao vây chặt chẽ quân đội đối phương ở khắp nơi, rất thuận lợi cho việc phá hủy các kho tàng, sân bay hình thành một mặt trận sau lưng địch và tạo điều kiện cho quân chủ lực lọt vào để hoạt động mạnh

Trong chiến tranh, dân quân tự vệ có nhiệm vụ rất nặng

nề trong việc bảo vệ hậu phương Quân địch ra sức phá hoại hậu phương của chiến tranh cách mạng một cách thường

Trang 18

xuyên và quyết liệt, nhằm thủ tiêu tiềm lực kinh tế, quân sự của kháng chiến Mặc dù bộ đội chủ lực có những biện pháp đối phó tích cực, nhưng quân chủ lực không thể rải ra ở khắp nơi, do đó bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và Nhân dân là lực lượng đông đảo có thể đánh địch, đối phó với địch trong mọi thời gian và không gian để bảo vệ hậu phương kháng chiến Dân quân tự vệ có trọng trách trực tiếp đối phó với mọi cuộc tấn công, phá hoại bất ngờ của kẻ thù, bảo vệ làng mạc, công xưởng, kho tàng, Với mạng lưới rộng lớn, lại thông thạo địa hình địa phương, dân quân tự vệ có khả năng nhanh nhất, tốt nhất, cơ động nhất trong việc ngăn chặn và làm thất bại mọi hoạt động phá hoại của kẻ thù; giữ vững an ninh, bảo vệ sản xuất, giữ vững và phát triển sản xuất, bảo

vệ tài sản, tính mạng của Nhân dân, bảo vệ Đảng và chính quyền địa phương để duy trì cuộc kháng chiến lâu dài

Dân quân tự vệ là lực lượng bổ sung và phục vụ đắc lực cho yêu cầu tác chiến của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương Tổ chức dân quân tự vệ thời bình cũng như thời chiến, là cơ sở dự trữ lực lượng cho chiến tranh một cách có tổ chức, có kế hoạch, là nơi tập dượt, rèn luyện tốt nhất cho thanh niên khi họ làm nghĩa vụ quân sự

Dân quân tự vệ còn giúp đỡ đắc lực cho bộ đội chủ lực trong việc chuẩn bị chiến trường Với sự am hiểu sâu sắc về địa hình và tình hình địch, lại có đầy đủ điều kiện để làm tốt công tác địch vận, trừ gian dân quân tự vệ là lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến tranh du kích, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy là một trong những quy luật của chiến tranh cách mạng Việt Nam

Trang 19

Trong thời bình, xây dựng đất nước, lực lượng dân quân

tự vệ vẫn đóng vai trò hết sức to lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa Dân quân tự vệ tham gia bảo vệ trật tự, trị an, giữ vững sự bình yên cho xóm làng, đường phố, phòng, chống trộm cướp, tệ nạn xã hội, trấn áp phản cách mạng ở địa phương; độc lập hoặc phối hợp cùng công an, bộ đội ngăn chặn những hoạt động phá hoại của kẻ thù, truy lùng những toán biệt kích gián điệp đột nhập vào địa bàn Thực tế cho thấy, dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang nòng cốt ở cơ sở để tiến hành phòng chống biệt kích một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất

Muốn làm cho lực lượng dân quân tự vệ thực sự có vai trò chiến lược, làm tròn nhiệm vụ chiến lược, nhất thiết phải coi trọng xây dựng cả về số lượng và chất lượng; xây dựng các đội du kích và đội tự vệ chiến đấu cho thật mạnh, tập trung

và phân tán linh hoạt, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, kết hợp với an ninh nhân dân ở cơ sở

Bộ đội địa phương là “lực lượng cơ động tác chiến chủ yếu

trên địa bàn địa phương và cùng với dân quân tự vệ làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân tại địa phương; bộ phận hợp thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; do bộ (ban) chỉ huy quân sự của địa phương trực tiếp chỉ huy, cấp ủy đảng

và chính quyền địa phương trực tiếp lãnh đạo”1

Bộ đội địa phương được thành lập ngày 07/4/1949 theo Sắc lệnh số 103/SL của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam

1 Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển

Bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr 58

Trang 20

Dân chủ Cộng hòa, với nhiệm vụ ban đầu: thay thế các đại đội độc lập, tác chiến bảo vệ địa phương, diệt tề, trừ gian, vũ trang tuyên truyền, phát triển chiến tranh du kích, bảo vệ nhân dân và chính quyền địa phương

Nhiệm vụ của bộ đội địa phương là:

- Tác chiến, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, làm nòng cốt phát động chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích ở địa phương

- Dìu dắt dân quân tự vệ trong tác chiến và xây dựng, hỗ trợ quần chúng đấu tranh chống địch, phối hợp tác chiến với dân quân tự vệ và bộ đội chủ lực, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực tác chiến ở địa phương

- Bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền địa phương, bảo vệ nhân dân, bảo vệ trị an, bảo vệ sản xuất

- Gương mẫu chấp hành và vận động quần chúng chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, tham gia sản xuất tự túc

Bộ đội địa phương được xây dựng thích hợp với nhiệm vụ

và điều kiện thực tế của từng chiến trường và từng địa phương, được tổ chức thành những đơn vị mạnh, có chất lượng cao, có các binh chủng cần thiết, có khả năng tác chiến độc lập hoặc phối hợp với dân quân tự vệ và bộ đội chủ lực, hoạt động khi tập trung, khi phân tán trong địa phương

Bộ đội địa phương và dân quân tự vệ hợp thành lực lượng

vũ trang địa phương Vai trò của các lực lượng vũ trang địa

phương rất lớn, nó gắn chặt với vai trò hậu phương Đó là lực lượng quân sự kết hợp chặt chẽ với lực lượng chính trị ở từng địa phương Là “chủ lực của địa phương”, bộ đội địa phương

Trang 21

cùng với dân quân tự vệ là nòng cốt của phong trào toàn dân đánh giặc ở địa phương; là khâu nối liền giữa các lực lượng tiến hành chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích ở cơ sở với các lực lượng chủ lực tác chiến tập trung Nghị quyết Quân ủy Trung ương tháng 5/1970 chỉ rõ: Nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương phải tạo sẵn thế bố trí chiến lược rộng khắp, tạo nên thế trận tiến công mạnh mẽ của chiến tranh nhân dân từ đầu làm cho quân địch tới từ phương hướng nào, với phương thức, quy mô nào, và tiến đến đâu cũng bị đánh liên tiếp, càng mở rộng tiến công càng bị sa lầy, bị vây hãm trong biển lửa chiến tranh nhân dân1

Bộ đội chủ lực là “lực lượng nòng cốt của quân đội nhân

dân Việt Nam, trực thuộc Bộ Quốc phòng hoặc quân khu, gồm các quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn, cơ động trên chiến trường, tác chiến tập trung, thường phối hợp với bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng và dân quân tự vệ”2

Bộ đội chủ lực do Trung ương Đảng (thông qua Quân uỷ Trung ương) trực tiếp lãnh đạo, do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy; bao gồm lực lượng lục quân, lực lượng phòng không - không quân, lực lượng hải quân

1 Xem Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử tư tưởng quân sự

Việt Nam, Sđd, t IV, tr 477

2 Bộ đội chủ lực được quy định rõ về tổ chức theo Sắc lệnh số 71/SL ngày 22/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hoà, về việc Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia (Xem

Bộ quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển Bách

khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr 58)

Trang 22

Bộ đội chủ lực là bộ phận quan trọng nhất của lực lượng

vũ trang nhân dân, gồm những binh đoàn chính quy, có nhiều binh chủng hợp thành, trang bị tốt, huấn luyện tốt, được lãnh đạo, chỉ huy tốt, cơ động về chiến dịch và chiến lược trên từng chiến trường và trên địa bàn cả nước Nhiệm

vụ chủ yếu của bộ đội chủ lực là tiến hành tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, quy mô lớn, nhằm tiêu diệt những đơn vị lớn của địch, giải phóng những vùng đất đai quan trọng góp phần làm chuyển biến cục diện chiến tranh; tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến

Vai trò của bộ đội chủ lực hết sức quan trọng, nhưng bộ đội chủ lực chỉ có thể phát triển thuận lợi và phát huy được sức mạnh trên cơ sở lực lượng vũ trang địa phương và công tác quân sự địa phương vững mạnh

Để tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân, xây dựng

và củng cố nền quốc phòng toàn dân phải không ngừng xây dựng, củng cố các lực lượng vũ trang nhân dân Mỗi thứ quân đều có vai trò chiến lược quan trọng Dân quân tự vệ có mạnh thì mới phân tán được lực lượng địch, tiến công địch ở khắp nơi, tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến của bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực Ngược lại, bộ đội chủ lực có hoạt động mạnh, đánh những đòn tiêu diệt lớn mới làm cho quân địch tổn thất nặng nề, tạo điều kiện đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở các địa phương và cơ sở.

Sự hình thành và phát triển của ba thứ quân trong chiến tranh giải phóng dân tộc theo quy luật từ thấp đến cao, phù

hợp với quy luật phát triển của đấu tranh vũ trang từ chiến

Trang 23

tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy

Trong những tình hình cụ thể, như những năm 1948 -

1949, do yêu cầu khôi phục và phát triển chiến tranh du kích trong vùng quân Pháp chiếm đóng, Đảng chủ trương phân tán một bộ phận chủ lực thành những đại đội độc lập, tiến vào vùng tạm bị chiếm, cùng các đội vũ trang tuyên truyền gây dựng lại cơ sở, nhưng khi phong trào vùng địch hậu đã phát triển, chiến tranh du kích sinh sôi nảy nở, khi yêu cầu cần đẩy mạnh tiêu diệt lực lượng chiến lược của Pháp, Đảng lại quyết định rút các đại đội độc lập về để xây dựng những trung đoàn và đại đoàn chủ lực, nhưng nhìn chung, trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, quy luật hình thành và phát triển lực lượng vũ trang là tích cực phấn đấu để khi tình hình đòi hỏi và điều kiện chín muồi thì có thể đưa một

bộ phận dân quân tự vệ lên xây dựng bộ đội địa phương hoặc đưa một bộ phận bộ đội địa phương lên xây dựng bộ đội chủ lực Làm như vậy một cách đúng nơi, đúng lúc và đúng mức thì sẽ kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển của các lực lượng

vũ trang tập trung và của chiến tranh chính quy, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng vũ trang địa phương trưởng thành thêm một bước, làm cho chiến tranh du kích phát triển thêm một trình độ mới

Mặt khác, dân quân tự vệ có trưởng thành mới xây dựng được bộ đội địa phương vững mạnh; có bộ đội địa phương vững mạnh thì bộ đội chủ lực mới có điều kiện thuận lợi để xây dựng và tác chiến cơ động trên các chiến trường Nếu gượng ép hoặc tập trung quá sớm hoặc quá mức trong việc

Trang 24

đưa dân quân tự vệ lên bộ đội địa phương hoặc bộ đội địa phương lên bộ đội chủ lực thì sẽ làm suy yếu lực lượng vũ trang địa phương Điều đó không những sẽ làm cho chiến tranh du kích không duy trì và phát triển được mà còn bất lợi cho việc xây dựng và tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực

Do đặc điểm của chiến tranh cách mạng Việt Nam, trong điều kiện chiến tranh ngày càng ác liệt, nhất là khi đế quốc

Mỹ thi hành chính sách xâm lược thực dân kiểu mới, ra sức tăng cường kìm kẹp quần chúng ở địa phương, thì song song với việc xây dựng bộ đội chủ lực có chất lượng chiến đấu ngày càng cao, phải xây dựng lực lượng vũ trang địa phương thật mạnh Có như vậy cả ba thứ quân mới phát huy được sức mạnh chiến đấu lớn nhất, cùng phối hợp chặt chẽ để tiêu diệt địch, đồng thời bảo vệ có hiệu quả lực lượng và giữ vững quyền làm chủ mọi mặt của Nhân dân, phát triển mạnh mẽ

và toàn diện chiến tranh Nhân dân, giành thắng lợi ngày càng lớn

Trong điều kiện đã hoàn toàn giải phóng sự chi viện to lớn về nhân lực, vật lực của miền Bắc đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của ba thứ quân ở miền Nam, đặc biệt là của bộ đội chủ lực Quy luật phát triển ba thứ quân ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ không nhất thiết diễn ra một cách tuần tự như trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây mà có những bước nhảy vọt Mặc

dù vậy, để sự chi viện của miền Bắc phát huy đầy đủ tác dụng, Đảng vẫn phải hết sức coi trọng việc động viên nhân lực, vật lực tại chỗ để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

ở miền Nam, đặc biệt là lực lượng vũ trang địa phương

Trang 25

Đối với miền Bắc, để đảm bảo cho quân đội và nhân dân sẵn sàng tiến hành chiến tranh tự vệ trong trường hợp kẻ thù liều lĩnh gây chiến tranh xâm lược, trong điều kiện đã

có cơ cấu hoàn chỉnh của một nhà nước cách mạng và có sự chi viện quốc tế to lớn, việc xây dựng lực lượng ba thứ quân

có những điều kiện thuận lợi mới Dựa vào tính ưu việt của chế độ xã hội mới và thông qua bộ máy nhà nước cách mạng, miền Bắc đồng thời phát triển cả ba thứ quân một cách cân đối và hoàn chỉnh theo yêu cầu của sự nghiệp củng cố quốc phòng và thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

Kết hợp chặt chẽ lực lượng chính trị và lực lượng công

an nhân dân vũ trang, ba thứ quân được tổ chức và xây dựng theo mô hình thích hợp, cân đối, được bố trí hợp lý trên từng địa bàn chiến lược, từng chiến trường và địa phương, đảm bảo vừa có lực lượng tại chỗ mạnh, kết hợp chặt chẽ và có trọng điểm lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động của từng cấp và của cả nước Đó là điều kiện đảm bảo thắng lợi của chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

3 Chế độ động viên toàn dân tham gia lực lượng

vũ trang

Dân tộc Việt Nam có truyền thống tiến hành khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân để giải phóng dân tộc và bảo

vệ đất nước Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc từng

có chiến tranh nhân dân do giai cấp phong kiến lãnh đạo, có chiến tranh nhân dân phát triển từ phong trào khởi nghĩa

Trang 26

của nông dân chống bọn phong kiến phản động trong nước và chống ngoại xâm Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, chiến tranh nhân dân Việt Nam là chiến tranh do dân và vì dân

Trong đường lối “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” nổi lên những vấn đề lớn: động viên và tổ chức toàn dân đánh giặc; xây dựng lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; lấy lực lượng vũ trang nhân dân với hình thức tổ chức ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc

Để động viên toàn dân tham gia lực lượng vũ trang, Đảng căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ mà định ra chế độ động viên thích hợp, từ chế

độ tòng quân tình nguyện tiến lên chế độ nghĩa vụ quân sự Đây là một bước phát triển mới trong biện pháp thực hiện

vũ trang toàn dân, quân sự hóa toàn dân và xây dựng quân đội nhân dân

Trong quá trình xây dựng một quân đội chính quy và hiện đại, Đảng đã quan tâm chỉ đạo thực hiện những cải cách quân

sự cần thiết Một trong những cải cách quân sự quan trọng là đưa quân đội từ chế độ tình nguyện tiến dần tới chế độ nghĩa

vụ quân sự Chế độ nghĩa vụ quân sự nhằm xây dựng đội quân thường trực mạnh và đội quân dự bị hùng hậu, giảm được chi tiêu quân sự để phục vụ kiến thiết kinh tế đất nước Quân đội nhân dân Việt Nam khi mới thành lập là một quân đội xây dựng trên chế độ tình nguyện Các đội du kích đầu tiên đều bao gồm những chiến sĩ tình nguyện hy sinh cứu nước Về sau, bộ đội ngày càng phát triển, có những cuộc vận động tòng quân rộng rãi trong Nhân dân, song những

Trang 27

người tham gia đều là những chiến sĩ tình nguyện Trong kháng chiến chống Pháp, Chính phủ có đề ra nghĩa vụ quân

sự nhưng trên thực tế, chế độ tự nguyện vẫn được thi hành Trong hoàn cảnh kháng chiến lúc bấy giờ, việc áp dụng chế

độ tình nguyện là thích hợp, đúng đắn

Khi miền Bắc được giải phóng, chính quyền nhà nước được củng cố vững mạnh, trình độ giác ngộ của Nhân dân được nâng cao từng bước, quân đội cách mạng có điều kiện tiến tới chế độ nghĩa vụ quân sự Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự có tác dụng nâng cao ý thức của mỗi công dân đối với nhiệm vụ quốc phòng, chuẩn bị cho mọi công dân có thể tham gia vào sự nghiệp bảo vệ đất nước

Hơn nữa, khi hòa bình được lập lại, Đảng và Chính phủ

đề ra chủ trương chuyển một bộ phận quân nhân tại ngũ sang mặt trận sản xuất để tăng thêm lực lượng cho công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước Có tiến dần đến chế độ nghĩa vụ quân sự thì mới thực hiện được kế hoạch phục viên nói trên một cách thuận lợi, mới kết hợp được yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng kinh tế, giảm bớt quân số, tăng thêm lực lượng sản xuất với yêu cầu của nhiệm vụ củng cố quốc phòng

là chú trọng đào tạo những lớp chiến sĩ mới, củng cố lực lượng dân quân tự vệ, tổ chức lực lượng hậu bị mạnh để bảo

vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình

Dựa vào lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội của toàn dân, vào chế độ nghĩa vụ quân sự đã được ban hành, Đảng đã

lãnh đạo thành công “công tác động viên thời chiến, nhanh

chóng mở rộng lực lượng vũ trang nhân dân trên cơ sở lực lượng hậu bị hùng hậu được tổ chức sẵn sàng từ trong thời bình

Trang 28

Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, để bảo vệ miền Bắc

xã hội chủ nghĩa, làm tròn nhiệm vụ đối với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đông đảo thanh niên ưu tú, từ nông thôn đến thành thị, ở hợp tác xã và xí nghiệp, cơ quan, trường học đã lên đường ra trận, tham gia các đơn vị bộ đội, các đoàn thanh niên xung phong, chiến đấu dũng cảm, lao động quên mình trên khắp các chiến trường, lập nên những chiến công rực rỡ, những thành tích to lớn”1

Những thành công của Đảng trong xây dựng tổ chức quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân tiếp tục được kế thừa và phát triển trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Trên cơ

sở nắm vững quy luật xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, với tầm nhìn chiến lược, ngay từ khi cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước đang tiếp diễn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã

dự báo: “Tổ chức quân sự của nhân dân ta không những phải đáp ứng được nhiệm vụ cần kíp, trước mắt, mà còn phải đáp ứng được mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống, trong các bước tiến lên của cách mạng, cả sau khi đế quốc Mỹ và bọn tay sai

đã bị đánh bại”2

II- BẢN CHẤT CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Vấn đề xác định và thường xuyên tăng cường bản chất giai cấp, bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang là vấn đề mấu chốt trong đường lối xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng

1, 2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr 1255, 1279

Trang 29

Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng lực lượng

vũ trang, Đảng luôn khẳng định: lực lượng vũ trang nhân dân là lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân lao động, thực chất là của công - nông, chiến đấu vì quyền lợi của nhân dân lao động, do chính đảng của giai cấp công nhân tổ chức, giáo dục và lãnh đạo Bản chất của nó là bản chất của giai cấp công nhân, lập trường tư tưởng của nó là lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa Mác - Lênin Nó

là công cụ của Đảng và Nhà nước cách mạng để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của cách mạng

Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp, là một bộ phận khăng khít của Nhà nước, là công cụ của một giai cấp nhất định để tiến hành đấu tranh giai cấp bằng hình thức đấu tranh vũ trang Cho nên mọi quân đội trong lịch sử đều mang tính chất giai cấp, không thể có quân đội siêu giai cấp, trung lập về chính trị

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ra đời trong cao trào cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa với những tàn tích phong kiến nặng nề, kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, nông dân chiếm hơn 90% dân số Đặc điểm đó cũng làm cho đội ngũ của lực lượng vũ trang đa số

là nông dân, nhưng đồng thời cũng thu hút rộng rãi cả những người xuất thân từ các giai cấp, tầng lớp yêu nước khác Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm những chiến sĩ tự giác chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng, xuất thân từ nhân dân lao động, chủ yếu là công nông

Trang 30

Thành phần giai cấp trong quân đội rất quan trọng, nhưng bản chất giai cấp của quân đội không phải chủ yếu do thành phần xuất thân quyết định, mà chủ yếu là ở chỗ nó do giai cấp nào lãnh đạo, chiến đấu vì lợi ích của giai cấp nào Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng là yếu tố đảm bảo bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam

Bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang hoàn toàn không mâu thuẫn với tính chất nhân dân của nó mà ngược lại, nó là điều kiện tiên quyết để xây dựng lực lượng vũ trang Việt Nam thành một lực lượng vũ trang thực sự của Nhân dân Vì rằng, lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của Nhân dân Chỉ có giai cấp công nhân mới là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để, kiên quyết đấu tranh xóa bỏ mọi sự áp bức bóc lột để vĩnh viễn giải phóng mình, đồng thời giải phóng đông đảo nhân dân lao động, giải phóng toàn dân tộc

Bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam biểu hiện chủ yếu trên các mặt sau đây:

- Về mục tiêu xây dựng và chiến đấu, lực lượng vũ trang

nhân dân từ ngày thành lập đã luôn luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc và thống nhất đất nước, cho lý tưởng của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, trung thành vô hạn với Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân và toàn dân tộc Hồ Chí Minh chỉ rõ, bộ đội “ở trong dân, bênh vực quyền lợi cho dân, vì dân mà hy sinh chiến đấu”, “tận tâm tận lực vui lòng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước, vì Tổ quốc, vì nhân dân,

Trang 31

vì cách mạng”1 Chính vì thế, Hồ Chí Minh đặt tên cho lực

lượng vũ trang là Lực lượng vũ trang nhân dân và quân đội

là Quân đội nhân dân

- Về tư tưởng, lực lượng vũ trang nhân dân lấy chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo duy nhất, làm kim chỉ nam cho mọi hành động, kiên quyết đấu tranh chống mọi tàn dư và ảnh hưởng của các tư tưởng không vô sản “Trung với nước, hiếu với dân” là bổn phận thiêng liêng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang Trong thư gửi học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn2

(1948), Hồ Chí Minh đề tặng sáu chữ: “Trung với nước - hiếu với dân” Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (ngày 22/12/1964), Hồ Chí Minh chỉ thị:

“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”3

Được Đảng và Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam “mang trong mình bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, bản chất nhân dân của một tổ chức quân sự kiểu mới ở Việt Nam”4

1 Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr 71

2 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn nay là Trường sĩ quan Lục quân I

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 14, tr 435

4 Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh,

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr 264

Trang 32

- Về nhiệm vụ, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là

công cụ của Đảng để thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra; không những là một đội quân chiến đấu mà còn

là một đội quân công tác và sản xuất Quân đội nhân dân Việt Nam phần đông là nông dân mặc áo lính, có ý thức dân tộc và dân chủ sâu sắc, tích cực trong công tác và sản xuất Trong các phong trào thi đua của lực lượng vũ trang, không những các đơn vị sản xuất hăng hái tích cực học tập và huấn luyện, lập nhiều thành tích mà các đơn vị huấn luyện cũng hăng hái tham gia tăng gia sản xuất Đối với Nhân dân, quân đội không những là đội quân chiến đấu anh dũng

mà còn là đội quân công tác rất đắc lực Ngay từ khi mới thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đội Cứu quốc quân vừa đánh giặc vừa tuyên truyền, tổ chức Nhân dân đứng dậy đánh Nhật, đuổi Pháp; xây dựng chính quyền nhân dân Các lực lượng vũ trang có nhiệm vụ vừa xây dựng vừa chiến đấu

- Về các mối quan hệ, lực lượng vũ trang nhân dân Việt

Nam có những mối quan hệ kiểu mới, khác hẳn quân đội của giai cấp áp bức và bóc lột Đó là quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, đoàn kết quốc tế, dân chủ rộng rãi đi đôi với kỷ luật tự giác nghiêm minh

Đoàn kết nội bộ, gồm những nội dung thể hiện ở nhiều mối quan hệ, trong đó chủ yếu và trước hết là đoàn kết giữa cán bộ với chiến sĩ, cán bộ với cán bộ, cơ quan với đơn vị, giữa đơn vị này với đơn vị khác Cán bộ phải yêu thương đội viên Đối với anh em ốm yếu thương tật, cán bộ phải trông nom, thăm hỏi

Trang 33

Đoàn kết quân dân là mối quan hệ máu thịt, là một trong những nguồn gốc tạo nên sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của quân đội ta Bộ đội ta từ Nhân dân mà ra, do Nhân dân cấp dưỡng và chiến đấu vì lợi ích của Nhân dân nên bộ đội phải tích cực gần gũi, giúp đỡ Nhân dân

Đoàn kết quốc tế là “hiện thân của tinh thần đoàn kết trong sáng”, tình đoàn kết với anh em, bạn bè quốc tế

Theo Hồ Chí Minh, “Đoàn kết là sức mạnh nhất của ta Phải đoàn kết nội bộ giữa cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết quân dân, đoàn kết với các nước anh em”1 Huấn thị trong lớp chỉnh huấn trung, cao cấp của Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các Tổng cục (1957), Hồ Chí Minh nói: Phải đoàn kết trên dưới, cán bộ và chiến sĩ, miền Nam và miền Bắc, trong và ngoài Đảng, quân đội và nhân dân, đoàn kết rộng rãi với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới Trong kháng chiến ta gặp rất nhiều khó khăn, lực lượng địch mạnh hơn ta nhiều, nhưng nhờ đoàn kết mà ta đã thắng Trong xây dựng hòa bình, không chỉ phải đoàn kết ngoài miệng mà phải thực sự, đoàn kết trong công tác, học tập Muốn đoàn kết tốt thì phải phê bình và tự phê bình tốt, nghĩa là xuất phát từ đoàn kết

mà phê bình và tự phê bình để đi đến đoàn kết hơn nữa2

1 Hồ Chí Minh: “Trích bài nói chuyện với các đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên ngày 29 Tết Đinh Dậu (29/01/1957)

tại Phủ Chủ tịch”, in trong: Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân

dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.187

2 Dẫn theo Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd,

tr 195-196

Trang 34

Hồ Chí Minh nói: “Mình đánh giặc là vì nhân dân Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân Tất cả quân nhân phải làm sao cho dân tin, dân phục, dân yêu Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân muốn giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc”1 Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam xuất thân từ Nhân dân và trở thành một lực lượng đặc biệt của Nhân dân,

do Nhân dân nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ Đảng và Hồ Chí Minh hết sức quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và quân đội nói riêng thực sự là của dân, do dân, vì dân

III- XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

1 Hồ Chí Minh: “Huấn thị tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số

18”, in trong Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Sđd, tr 104

Trang 35

có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh và mật thiết liên

hệ với quần chúng Đảng ra đời năm 1930 đã giữ quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam Đảng có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn và sáng tạo, nắm vững quy luật cách mạng và quy luật đấu tranh vũ trang ở Việt Nam

Quân đội Việt Nam bao gồm những phần tử của mọi dân tộc trên đất nước Việt Nam, xây dựng và hoạt động theo đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng, bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của quân đội được giữ vững và tăng cường

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân Với mục tiêu chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa

xã hội, Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu anh dũng, cùng Nhân dân đánh thắng mọi đội quân xâm lược lớn mạnh đến từ những châu lục khác nhau, mang lại độc lập dân tộc

và thống nhất đất nước

Đảng Cộng sản Việt Nam căn cứ vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, xác định nhiệm vụ chính trị cho lực lượng vũ trang trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng Các lực lượng vũ trang thấu suốt nhiệm vụ cách mạng của Đảng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và tăng cường công tác chính trị để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ

Trang 36

Sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề mấu chốt quyết định để cho quân đội giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân Sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang là

sự lãnh đạo tuyệt đối Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo quân đội, Đảng không chia, không nhường quyền lãnh đạo quân đội cho bất cứ một tổ chức, một lực lượng, một cá nhân nào khác Đảng lãnh đạo quân đội cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; lãnh đạo mọi mặt công tác trong quân đội, lãnh đạo quân đội trong mọi hoàn cảnh “Nếu

xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quân đội sẽ mất phương hướng chính trị trong xây dựng và chiến đấu, sẽ phân rã về tư tưởng và tổ chức”1

Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội, tháng 01/1946, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng trong quân đội Ngày 22/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh

ký Sắc lệnh số 71/SL-CP xác định: từ cấp trung đoàn trở lên, bên cạnh người chỉ huy quân sự có chính trị viên, tháng 10/1948, quyết định lập chế độ chính trị ủy viên đại diện Đảng phụ trách trong quân đội Về sau, Đảng còn ra nhiều nghị quyết nhằm hoàn thiện cơ chế lãnh đạo Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam Sự lãnh đạo đó được thực hiện toàn diện, biểu hiện ở các mặt sau:

1 Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Học viện Chính trị

Bộ Quốc phòng, nhân dịp Học viện tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất và kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống (25/10/1951 - 25/10/2016), www.chinhphu.vn, ngày 23/10/2016

Trang 37

Về chính trị, “phải quán triệt đường lối cách mạng của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội thực sự là công cụ trung thành của Đảng để thực hiện nhiệm vụ cách mạng”1 Mục tiêu của quân đội là mục tiêu của Đảng, của toàn dân tộc Đảng xác định nhiệm vụ cho quân đội, quân đội phải thực hiện những nhiệm vụ được Đảng giao Quân đội là công

cụ đắc lực để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân, trấn áp phản cách mạng, đập tan chính quyền thực dân, thiết lập nền chuyên chính cách mạng do Đảng cầm quyền

Về mặt tư tưởng, trong quân đội, tất cả cán bộ, chiến sĩ

đều được giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Quân đội phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động và là tư tưởng chỉ đạo duy nhất của quân đội

Về mặt cơ chế tổ chức, quân đội phải thấu suốt đường lối

giai cấp của Đảng trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong công tác tổ chức và công tác cán bộ trong quân đội Nội dung chủ yếu của cơ chế trong quân đội là: Ban Chấp hành Trung ương (thường xuyên trực tiếp là Bộ Chính trị), Ban Bí thư lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt trong Quân đội nhân dân Việt Nam; tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức theo hệ thống từ cơ sở đến toàn quân, hoạt động theo cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trên cơ

1 Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh

bảo vệ Tổ quốc, Sđd, t 1, tr 72

Trang 38

sở đảm bảo sự lãnh đạo tập thể, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội

Đảng là người sáng lập, tổ chức và giáo dục quân đội Chỉ

có sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng thì mới đảm bảo được quân đội đi đúng với đường lối giai cấp, đúng với phương hướng chính trị và có như vậy mới làm tròn được trách nhiệm cách mạng của mình Để giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội, phải chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, coi trọng công tác chính trị và kiên quyết giữ vững chế độ đảng ủy - chính ủy trong quân đội Vai trò của chi bộ cơ sở rất quan trọng, chi bộ đảng mạnh thì đại đội mới mạnh Sự lãnh đạo của Đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

2 Thực hiện công tác chính trị trong lực lượng

vũ trang

Công tác chính trị là công tác đảng và công tác vận động quần chúng của Đảng trong quân đội Công tác chính trị được coi là linh hồn, là mạch sống của quân đội “Sức mạnh chính trị - tinh thần của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng trước hết là do mục đích chính trị đúng đắn của

nó quyết định”1 Theo Hồ Chí Minh, quân sự phải phục tùng chính trị “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”2

1 Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh

bảo vệ Tổ quốc, Sđd, t.1, tr 394

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.217

Trang 39

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho rằng: “Lãnh đạo chính trị là một vấn đề căn bản trong cuộc đấu tranh cách mạng giữa ta và địch, làm gốc cho mọi vấn đề khác, cho tất cả các mặt khác, các ngành khác của mọi hoạt động quân sự”1

Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất (tháng 5/1957) xác định: “Dân quân du kích là đội quân cách mạng, và đã là đội quân cách mạng thì phải có công tác chính trị để giữ vững đường lối chính trị, để nâng cao trình độ giác ngộ và tinh thần chiến đấu cho các đội viên , muốn cho đội du kích

có tinh thần tích cực hoạt động, tự mình đi tìm địch để đánh, vấn đề công tác chính trị phải được đặc biệt chú trọng hơn cả

về quân sự”2

Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị là cơ sở để xây dựng các mặt khác Phát huy bản chất truyền thống của quân đội cách mạng là điều đảm bảo cơ bản cho quân đội cách mạng có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ nặng nề Nhiệm

vụ của công tác chính trị, công tác đảng là chăm lo xây dựng đảng, lãnh đạo việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, giáo dục đường lối cách mạng và nhiệm vụ cách mạng của Đảng; giáo dục đường lối quân sự của Đảng, nhiệm vụ quân sự của quân đội; xây dựng quan hệ tốt giữa cán bộ với chiến sĩ và

1 Nguyễn Chí Thanh: “Báo cáo tại Hội nghị Tuyên huấn toàn quân

lần thứ nhất, tháng 8 năm 1951”, in trong: Tổng tập Đại tướng Nguyễn

Chí Thanh, Nxb Thời đại, Hà Nội, 2013, t 2, tr 212

2 Biên bản Hội nghị dân quân toàn quốc, ngày 25, 26, 27/5/1947,

Phông Cục Dân quân, Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr 12

Trang 40

giữa bộ đội với Nhân dân, giữa quân đội với Nhà nước, giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội và nhân dân các nước Nhiệm vụ của công tác chính trị là làm cho quân đội

có sức chiến đấu cao, vượt qua mọi gian khó và chiến thắng mọi kẻ thù

Công tác chính trị trong quân đội được Đảng quan tâm ngay từ khi quân đội mới được thành lập Những tiểu đội và trung đội vũ trang đầu tiên đã có tổ chức đảng, trung đội có chính trị viên, trung đoàn có chính ủy Sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang thể hiện trong tổ chức quân sự có cán bộ chính trị và cơ quan chính trị từ Trung ương đến các đơn vị cơ sở1

Sớm quan tâm đến công tác chính trị trong lực lượng

vũ trang, Hồ Chí Minh chăm lo bồi dưỡng cán bộ chính trị, chỉ đạo Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp biên soạn

hai tác phẩm Chính trị viên trong quân đội và Công tác chính trị trong quân đội Đây là hai cuốn sách đầu tiên về

công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang

Về sau, Điều lệ công tác đảng, công tác chính trị cũng

được xây dựng

Nguyên tắc chế độ đảng ủy lãnh đạo, thủ trưởng phân công phụ trách cũng dần hình thành Đảng luôn luôn nhấn mạnh việc lấy chính trị làm gốc; trên cơ sở quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, trên cơ sở những phương châm,

1 Năm 1954, cán bộ chính trị chiếm 20%, cán bộ chỉ huy là 59%; năm

1975 cán bộ chính trị tăng lên 26%, cán bộ chỉ huy là 51% (Xem Viện Lịch

sử Quân sự Việt Nam: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Sđd, tr 257)

Ngày đăng: 23/12/2022, 19:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w