Phần 2 của cuốn sách Các nhà ngoại giao trong lịch sử dân tộc tiếp tục cung cấp cho bạn đọc các thông tin về các nhân vật ngoại giao như: Nguyễn Biểu, Nguyễn Trực, Lương Như Hộc, Lương Thế Vinh, Quách Hữu Nghiêm, Phạm Đôn Lễ, Trịnh Thiết Trường, Triệu Thái, Lê Quang Bí, Mạc Giáp Hải, Phùng Khắc Hoan, Giang Văn Minh,... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1NGUYỄN BIỂU
(? - 1413)
Danh thần đời vua Trùng Quang (1409 - 1414),
quê ở xã Yên Hồ, huyện Chi La, Nghệ An, nay là
xã Đức Phúc, Đức Thọ, Hà Tĩnh
Ông đỗ thái học sinh, làm điện tiền ngự sử,
tính tình cương trực Khi nhà Minh xâm lược nước
ta, Trần Quý Khoáng được sự giúp đỡ của Đặng
Dung và Nguyễn Cảnh Dị lãnh đạo nhân dân
kháng chiến, Nguyễn Biểu cũng tham gia Tháng
4-1413, Trương Phụ mang quân vào Nghệ An đàn
áp cuộc khởi nghĩa Vì tin vào chiêu bài “Phù Trần
diệt Hồ” của quân Minh, Trần Quý Khoáng đã
mấy lần cho sứ sang nhà Minh, Trung Quốc cầu
phong Nhưng nhà Minh không những không
nghe mà còn tìm cách giết sứ của ta
Khi cho quân rút về Hóa Châu, một lần nữa
Trần Quý Khoáng hy vọng dựa vào nhà Minh để
khôi phục nhà Trần nên sai quan ngự sử Nguyễn
Biểu đến dinh Trương Phụ, yêu cầu tiến cử sang
nhà Minh cầu phong
Tới trước mặt Trương Phụ, quân Minh bắt ông
quỳ lạy, ông không chịu, cứ đứng trơ trơ Trương
Phụ nghe tiếng ông là người cương trực nên muốn
uy hiếp tinh thần sứ giả nghĩa quân Y sai nấu
chín một cái đầu người rồi dọn lên mời ông ăn Ông không ngần ngại, ung dung cười nói: “Đã mấy khi người nước Nam được vinh hạnh ăn đầu người phương Bắc”
Đoạn ông cầm đũa khoét hai con mắt chấm dấm ăn, vừa ăn vừa làm thơ nói về sự kiện này Trương Phụ thấy vậy khâm phục ông là người can đảm và phải lấy lễ tiếp ông rồi để ông về
Vì nghe theo một tên ngụy quan nên Trương Phụ liền cho người đuổi theo gọi lại và kiếm cớ là
vô lễ để giữ ông Nguyễn Biểu liền mắng Trương Phụ rằng:
“Trong lòng thì mưu đánh chiếm nước người
ta, ngoài mặt thì nói láo là quân nhân nghĩa, đã hứa lập con cháu nhà Trần mà lại lập quận huyện, không những cướp bóc của báu mà còn tàn hại sinh dân, quả thật là giặc tàn ngược”
Bị Nguyễn Biểu mắng và vạch bộ mặt xảo trá xâm lược nên Trương Phụ tức giận sai trói Nguyễn Biểu vào cột cầu Lam, cạnh chùa Yên Quốc để nước thủy triều dâng lên dìm chết ông Nguyễn Biểu luôn mồm chửi mắng Trương Phụ Nhưng liền ba ngày mà không thấy nước thủy triều lên, Trương Phụ phải sai quân cởi trói và mang ông đến chùa Yên Quốc đánh chết Ông biết thế nào cũng bị giết, nên vội đề mấy chữ vào cột Lam Kiều:
“Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử” (Nguyễn Biểu chết ngày 11 tháng 7) Ông mất năm 1413
Trang 2NGUYỄN BIỂU
(? - 1413)
Danh thần đời vua Trùng Quang (1409 - 1414),
quê ở xã Yên Hồ, huyện Chi La, Nghệ An, nay là
xã Đức Phúc, Đức Thọ, Hà Tĩnh
Ông đỗ thái học sinh, làm điện tiền ngự sử,
tính tình cương trực Khi nhà Minh xâm lược nước
ta, Trần Quý Khoáng được sự giúp đỡ của Đặng
Dung và Nguyễn Cảnh Dị lãnh đạo nhân dân
kháng chiến, Nguyễn Biểu cũng tham gia Tháng
4-1413, Trương Phụ mang quân vào Nghệ An đàn
áp cuộc khởi nghĩa Vì tin vào chiêu bài “Phù Trần
diệt Hồ” của quân Minh, Trần Quý Khoáng đã
mấy lần cho sứ sang nhà Minh, Trung Quốc cầu
phong Nhưng nhà Minh không những không
nghe mà còn tìm cách giết sứ của ta
Khi cho quân rút về Hóa Châu, một lần nữa
Trần Quý Khoáng hy vọng dựa vào nhà Minh để
khôi phục nhà Trần nên sai quan ngự sử Nguyễn
Biểu đến dinh Trương Phụ, yêu cầu tiến cử sang
nhà Minh cầu phong
Tới trước mặt Trương Phụ, quân Minh bắt ông
quỳ lạy, ông không chịu, cứ đứng trơ trơ Trương
Phụ nghe tiếng ông là người cương trực nên muốn
uy hiếp tinh thần sứ giả nghĩa quân Y sai nấu
chín một cái đầu người rồi dọn lên mời ông ăn Ông không ngần ngại, ung dung cười nói: “Đã mấy khi người nước Nam được vinh hạnh ăn đầu người phương Bắc”
Đoạn ông cầm đũa khoét hai con mắt chấm dấm ăn, vừa ăn vừa làm thơ nói về sự kiện này Trương Phụ thấy vậy khâm phục ông là người can đảm và phải lấy lễ tiếp ông rồi để ông về
Vì nghe theo một tên ngụy quan nên Trương Phụ liền cho người đuổi theo gọi lại và kiếm cớ là
vô lễ để giữ ông Nguyễn Biểu liền mắng Trương Phụ rằng:
“Trong lòng thì mưu đánh chiếm nước người
ta, ngoài mặt thì nói láo là quân nhân nghĩa, đã hứa lập con cháu nhà Trần mà lại lập quận huyện, không những cướp bóc của báu mà còn tàn hại sinh dân, quả thật là giặc tàn ngược”
Bị Nguyễn Biểu mắng và vạch bộ mặt xảo trá xâm lược nên Trương Phụ tức giận sai trói Nguyễn Biểu vào cột cầu Lam, cạnh chùa Yên Quốc để nước thủy triều dâng lên dìm chết ông Nguyễn Biểu luôn mồm chửi mắng Trương Phụ Nhưng liền ba ngày mà không thấy nước thủy triều lên, Trương Phụ phải sai quân cởi trói và mang ông đến chùa Yên Quốc đánh chết Ông biết thế nào cũng bị giết, nên vội đề mấy chữ vào cột Lam Kiều:
“Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử” (Nguyễn Biểu chết ngày 11 tháng 7) Ông mất năm 1413
Trang 3Lo sợ và không thể không kính phục trước cái
chết của Nguyễn Biểu, Trương Phụ phải lấy hậu
lễ đưa ông về táng ở quê
Sau khi đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh,
vua Lê Thái Tổ phong ông làm “Nghĩa liệt hiền
ứng linh trợ thuận đại thần” Còn vua Lê Thánh
Tông truy tặng ông là Nghĩa Vương Nhân dân ta
lúc đó thương tiếc vị sứ giả trung dũng, kiên
cường của dân tộc, đặt tên cầu Lam là cầu Nghĩa
Vương và lập đền thờ ông gọi là Nghĩa Vương từ
NGUYỄN TRỰC
(1417 - 1473)
Danh sĩ nhà Lê Sơ, tự là Công Dĩnh, hiệu
Hu Liêu; quê ở thôn Bối Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) con danh sĩ Nguyễn Thì Trung
Ông nổi tiếng giỏi văn thơ Năm 1441, ông thi
đỗ trạng nguyên, là vị trạng nguyên đầu tiên nhà
Lê Sơ Thời vua Lê Nhân Tông, ông làm trực học viện sĩ Hàn lâm, rồi thăng nam sách an vũ sứ Tương truyền ông được Lê Nhân Tông vẽ hình để bên cạnh chỗ ngồi, tỏ ý không lúc nào quên
Thời vua Lê Thánh Tông, ông làm thư chỉ Viện Hàn lâm, trung thư lịch kiêm tế tửu Quốc Tử Giám Vua rất nể trọng ông
Năm 1444, thời vua Lê Nhân Tông, Nguyễn Trực đi sứ Trung Quốc, gặp dịp triều đình nhà Minh, Trung Quốc mở khoa thi hội, mời các sứ thần ứng thi Nguyễn Trực tham gia, bằng tài văn chương kiệt xuất, ông đã khiến vua quan nhà Minh, Trung Quốc và các sứ thần các nước khác khâm phục, xưng tặng “lưỡng quốc trạng nguyên”, nâng cao uy tín Đại Việt Khi về nước ông được nhận tám chữ vua ban: “Thành công danh Nam Bắc triều biên ngã”, ý là công danh ở cả hai nước đều hoàn thành
Trang 4Lo sợ và không thể không kính phục trước cái
chết của Nguyễn Biểu, Trương Phụ phải lấy hậu
lễ đưa ông về táng ở quê
Sau khi đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh,
vua Lê Thái Tổ phong ông làm “Nghĩa liệt hiền
ứng linh trợ thuận đại thần” Còn vua Lê Thánh
Tông truy tặng ông là Nghĩa Vương Nhân dân ta
lúc đó thương tiếc vị sứ giả trung dũng, kiên
cường của dân tộc, đặt tên cầu Lam là cầu Nghĩa
Vương và lập đền thờ ông gọi là Nghĩa Vương từ
NGUYỄN TRỰC
(1417 - 1473)
Danh sĩ nhà Lê Sơ, tự là Công Dĩnh, hiệu
Hu Liêu; quê ở thôn Bối Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) con danh sĩ Nguyễn Thì Trung
Ông nổi tiếng giỏi văn thơ Năm 1441, ông thi
đỗ trạng nguyên, là vị trạng nguyên đầu tiên nhà
Lê Sơ Thời vua Lê Nhân Tông, ông làm trực học viện sĩ Hàn lâm, rồi thăng nam sách an vũ sứ Tương truyền ông được Lê Nhân Tông vẽ hình để bên cạnh chỗ ngồi, tỏ ý không lúc nào quên
Thời vua Lê Thánh Tông, ông làm thư chỉ Viện Hàn lâm, trung thư lịch kiêm tế tửu Quốc Tử Giám Vua rất nể trọng ông
Năm 1444, thời vua Lê Nhân Tông, Nguyễn Trực đi sứ Trung Quốc, gặp dịp triều đình nhà Minh, Trung Quốc mở khoa thi hội, mời các sứ thần ứng thi Nguyễn Trực tham gia, bằng tài văn chương kiệt xuất, ông đã khiến vua quan nhà Minh, Trung Quốc và các sứ thần các nước khác khâm phục, xưng tặng “lưỡng quốc trạng nguyên”, nâng cao uy tín Đại Việt Khi về nước ông được nhận tám chữ vua ban: “Thành công danh Nam Bắc triều biên ngã”, ý là công danh ở cả hai nước đều hoàn thành
Trang 5LƯƠNG NHƯ HỘC
(1420 - 1501)
Danh sĩ đời Lê Thái Tông, tự Tường Phủ, quê
ở xã Hồng Liễu, huyện Trường Tân, nay là xã
Thanh Liễu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
Ông từng hai lần đi sứ sang nhà Minh, Trung
Quốc và đã có công truyền lại nghề khắc bản in cho
dân, được tôn xưng là ông tổ nghề khắc ván in
Năm 18 tuổi, ông đỗ hương cống, ước mong đỗ
cao hơn, ông tìm lên kinh thành mua sách học để
thi đình Đáng tiếc, ở Thăng Long khi ấy phần lớn
là sách từ phương Bắc truyền sang Từ đấy ông
nuôi chí quyết học bằng được nghề in để trong
nước tự cường, vươn lên bằng người Năm Đại Bảo
thứ ba (1442) đời vua Lê Thái Tông, Lương Như
Hộc thi đậu thám hoa lúc 22 tuổi và làm đến đô
ngự sử Năm sau, Lê Nhân Tông lên ngôi, cử ông
đi sứ sang nhà Minh để báo tang và cầu phong,
nên ông có cơ hội tìm hiểu công nghệ in ấn ở
Trung Quốc Năm 1459, ông đi sứ lần thứ hai
sang Trung Quốc
Cả hai lần đi sứ nhà Minh ông đều chú ý đến
việc in sách và học được nghề in mộc bản
Khi đó, việc học nghề này rất khó, vì người
Trung Hoa giấu nghề, chỉ cha truyền con nối
Hoàng đế Đại Minh chuyên chế, chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng, không muốn thiên hạ biết như mình nên bắt nhà nghề phải giấu môn gia truyền Những người nước ngoài dù là thần phục,
đi cống sứ đều bị canh chừng, theo dõi chặt chẽ để hạn chế việc tìm học các thuật bí truyền của Trung Hoa
Ở Yên Kinh các sứ thần đều phải ở trong Công quán, xung quanh có lính canh đêm ngày và bị theo dõi chặt chẽ
Lương Như Hộc đã khéo mua chuộc được lính canh, ngày ngày thoát ra ngoài giả làm người du ngoạn đến mấy ngôi chùa có thợ khắc đang làm việc quan sát kỹ và học được nghề khắc ván in Về nước ông truyền nghề cho dân Liễu Tràng mở mang nghề in sách Ông được tôn là tổ sư trong
ngành Ông còn là tác giả bộ Hồng châu quốc ngữ
thi tập
Trang 6LƯƠNG NHƯ HỘC
(1420 - 1501)
Danh sĩ đời Lê Thái Tông, tự Tường Phủ, quê
ở xã Hồng Liễu, huyện Trường Tân, nay là xã
Thanh Liễu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
Ông từng hai lần đi sứ sang nhà Minh, Trung
Quốc và đã có công truyền lại nghề khắc bản in cho
dân, được tôn xưng là ông tổ nghề khắc ván in
Năm 18 tuổi, ông đỗ hương cống, ước mong đỗ
cao hơn, ông tìm lên kinh thành mua sách học để
thi đình Đáng tiếc, ở Thăng Long khi ấy phần lớn
là sách từ phương Bắc truyền sang Từ đấy ông
nuôi chí quyết học bằng được nghề in để trong
nước tự cường, vươn lên bằng người Năm Đại Bảo
thứ ba (1442) đời vua Lê Thái Tông, Lương Như
Hộc thi đậu thám hoa lúc 22 tuổi và làm đến đô
ngự sử Năm sau, Lê Nhân Tông lên ngôi, cử ông
đi sứ sang nhà Minh để báo tang và cầu phong,
nên ông có cơ hội tìm hiểu công nghệ in ấn ở
Trung Quốc Năm 1459, ông đi sứ lần thứ hai
sang Trung Quốc
Cả hai lần đi sứ nhà Minh ông đều chú ý đến
việc in sách và học được nghề in mộc bản
Khi đó, việc học nghề này rất khó, vì người
Trung Hoa giấu nghề, chỉ cha truyền con nối
Hoàng đế Đại Minh chuyên chế, chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng, không muốn thiên hạ biết như mình nên bắt nhà nghề phải giấu môn gia truyền Những người nước ngoài dù là thần phục,
đi cống sứ đều bị canh chừng, theo dõi chặt chẽ để hạn chế việc tìm học các thuật bí truyền của Trung Hoa
Ở Yên Kinh các sứ thần đều phải ở trong Công quán, xung quanh có lính canh đêm ngày và bị theo dõi chặt chẽ
Lương Như Hộc đã khéo mua chuộc được lính canh, ngày ngày thoát ra ngoài giả làm người du ngoạn đến mấy ngôi chùa có thợ khắc đang làm việc quan sát kỹ và học được nghề khắc ván in Về nước ông truyền nghề cho dân Liễu Tràng mở mang nghề in sách Ông được tôn là tổ sư trong
ngành Ông còn là tác giả bộ Hồng châu quốc ngữ
thi tập
Trang 7LƯƠNG THẾ VINH
(1441 -?)
Danh sĩ đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1479),
tự là Cảnh Nghị, hiệu Thụy Hiên, quê ở thôn Cao
Hương, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, nay
là thôn Cao Phương, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là người thông minh,
học rộng Năm Quý Mùi (1463), Lương Thế Vinh đỗ
trạng nguyên dưới đời vua Lê Thánh Tông, lúc 23
tuổi Ông soạn nhiều sách về đạo Phật và quyển
Toán pháp đại thành, nên tục gọi ông là Trạng Lường
Ông làm đến thừa chỉ ở Viện Hàn lâm, có
chân trong Tao Đàn soái phủ, làm Hàn lâm viện
thị giảng, trưởng viện sự, được giao soạn các công
văn bang giao với Trung Quốc
Nhà Minh thường khen ngợi tác giả của
những văn hàm ấy Ông là người mang môn toán
bàn tính của người Trung Hoa về dạy trong nước
Khi làm quan, ông thường được giao nhiệm vụ
tiếp các sứ giả Một lần, sứ thần nhà Minh là Chu
Hy sang, nhân thể muốn dò xem nhân tài đất
Việt Khi đi chơi dọc sông Tô Lịch, sứ nhà Minh
sai người đi theo lấy cái cân và đố Lương Thế Vinh
cân con voi cạnh đó Vốn biết tài uyên bác của
Lương Thế Vinh, nhất là về mặt toán pháp, nhưng
sứ nhà Minh yên trí lần này sẽ làm nhục được trạng nguyên nước Việt Không hề nao núng, Lương Thế Vinh liền sai quản tượng dắt voi xuống bến rồi sai người ghép mảng và cho voi đứng lên Ông bẻ cây đo độ cao từ mảng bị chìm đến mặt thoáng của nước, đoạn sai dắt voi lên bờ và chuyển những tảng đá lớn xuống mảng Khi mảng chìm sâu như lúc voi đứng, ông dùng cân, cân số
đá trên mảng Sứ Minh tỏ lòng bái phục về sự thông minh đó, nhưng Lương Thế Vinh nói: Dùng cân để cân voi là việc người xưa đã làm, Tào Thực
con Tào Tháo trong Tam quốc chí đã làm việc đó
Sứ Minh lại bị một đòn nữa vì sự dốt nát của mình khi thử tài người khác
Chu Hy lại đưa cho ông một tờ giấy mỏng từ một cuốn sách và bảo đo độ dầy tờ giấy Lương Thế Vinh không hề bối rối Ông đo cả quyển sách
và chia chiều dầy đó cho số tờ giấy thì ra độ dầy của một tờ giấy Sứ Trung Hoa phải thốt lên thán phục: nước Nam quả lắm nhân tài
Không rõ ông mất năm nào Khi ông mất được phong làm phúc thần và tại đình làng Cao Hương vẫn còn bức vẽ chân dung ông
Trang 8LƯƠNG THẾ VINH
(1441 -?)
Danh sĩ đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1479),
tự là Cảnh Nghị, hiệu Thụy Hiên, quê ở thôn Cao
Hương, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, nay
là thôn Cao Phương, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là người thông minh,
học rộng Năm Quý Mùi (1463), Lương Thế Vinh đỗ
trạng nguyên dưới đời vua Lê Thánh Tông, lúc 23
tuổi Ông soạn nhiều sách về đạo Phật và quyển
Toán pháp đại thành, nên tục gọi ông là Trạng Lường
Ông làm đến thừa chỉ ở Viện Hàn lâm, có
chân trong Tao Đàn soái phủ, làm Hàn lâm viện
thị giảng, trưởng viện sự, được giao soạn các công
văn bang giao với Trung Quốc
Nhà Minh thường khen ngợi tác giả của
những văn hàm ấy Ông là người mang môn toán
bàn tính của người Trung Hoa về dạy trong nước
Khi làm quan, ông thường được giao nhiệm vụ
tiếp các sứ giả Một lần, sứ thần nhà Minh là Chu
Hy sang, nhân thể muốn dò xem nhân tài đất
Việt Khi đi chơi dọc sông Tô Lịch, sứ nhà Minh
sai người đi theo lấy cái cân và đố Lương Thế Vinh
cân con voi cạnh đó Vốn biết tài uyên bác của
Lương Thế Vinh, nhất là về mặt toán pháp, nhưng
sứ nhà Minh yên trí lần này sẽ làm nhục được trạng nguyên nước Việt Không hề nao núng, Lương Thế Vinh liền sai quản tượng dắt voi xuống bến rồi sai người ghép mảng và cho voi đứng lên Ông bẻ cây đo độ cao từ mảng bị chìm đến mặt thoáng của nước, đoạn sai dắt voi lên bờ và chuyển những tảng đá lớn xuống mảng Khi mảng chìm sâu như lúc voi đứng, ông dùng cân, cân số
đá trên mảng Sứ Minh tỏ lòng bái phục về sự thông minh đó, nhưng Lương Thế Vinh nói: Dùng cân để cân voi là việc người xưa đã làm, Tào Thực
con Tào Tháo trong Tam quốc chí đã làm việc đó
Sứ Minh lại bị một đòn nữa vì sự dốt nát của mình khi thử tài người khác
Chu Hy lại đưa cho ông một tờ giấy mỏng từ một cuốn sách và bảo đo độ dầy tờ giấy Lương Thế Vinh không hề bối rối Ông đo cả quyển sách
và chia chiều dầy đó cho số tờ giấy thì ra độ dầy của một tờ giấy Sứ Trung Hoa phải thốt lên thán phục: nước Nam quả lắm nhân tài
Không rõ ông mất năm nào Khi ông mất được phong làm phúc thần và tại đình làng Cao Hương vẫn còn bức vẽ chân dung ông
Trang 9QUÁCH HỮU NGHIÊM
(1442 - 1503)
Làm quan dưới thời vua Lê Thánh Tông và Lê
Hiến Tông; là người làng Phúc Khuê, huyện
Thanh Quan, phủ Tiên Hưng, nay thuộc xã Thái
Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Ông đỗ hoàng giáp khoa Bính Tuất (1466), lúc
24 tuổi, dưới thời vua Lê Thánh Tông Trong 31
năm làm quan, ông đã kinh qua nhiều chức vụ cao,
được giao nhiệm vụ chánh chủ khảo hai khoa thi
đình năm Quý Sửu (1493), năm Bính Thìn (1496)
Năm 1502, Quách Hữu Nghiêm được cử làm
chánh sứ đi Trung Quốc với nhiệm vụ tạ ơn vua
Minh ban mũ, áo cho vua Lê Hiến Tông và tiếp
tục “bồi đắp hòa khí” Bài biểu do ông soạn, dâng
vua Minh hôm ra mắt đã gây ấn tượng tốt đẹp
Trong biểu có đoạn: “Cứ thấy chiếu thư ban
xuống, tập phong vừa được quang vinh, áo mũ ban
cho, vẻ mình càng thêm rực rỡ Kính nghĩ: Hoàng
đế bệ hạ, áo mũ để khuyên mọi phương, lễ văn rực
rỡ, đến cả cõi Nam xa cách cũng thêm vẻ đẹp huy
hoàng Thần (Lê Hiến Tông) kính giữ chức xưa
được ban ân mới Khắp bốn biển đều theo đức
thấm nhuần ơn huệ từ lâu, đến muôn năm giữ yên
dân, đằng đặc khúc trời thêm hưởng”
Theo thông lệ, hoàng hậu nhà Minh sai quan kiểm nhận quà biếu Ông có mua cái áo long cổn
là của cấm để trong hòm, sợ xét thấy sẽ dẫn đến rầy rà, nên ông đã làm vội bài văn “Mục dị hưởng
tự hiến” để dâng lên
“Người dân tầm thường mang ngọc bích, Lân Kinh (tức Kinh Xuân Thu) chê là tham của; lái buôn rợ Hồ cất ngọc châu Mã sử (Sử ký Tư Mã Thiên) răn là liều mình Cho nên, kẻ tự gõ cửa trình phong thư được khen là trung thần, đáng quý, mà kẻ tiến rau cần dâng sưởi nắng tuy là nhỏ mọn cũng nên khen Hay dở đã rành, gương soi rất rõ Xét ra, bọn sử thần bản bộ, cùng nhau đến
tự phương xa để xem chế độ thượng quốc Vượt qua biển non muôn dặm, khó nhọc sá từ, tưởng mong nhật nguyệt chín tầng, mặt rồng mừng thấy Hướng về thanh minh văn vật của triều Ngu trước, thấy rõ lễ nhạc y quan của nhà Chu xưa Một niềm kính tôn, khôn bề báo đáp Phàm những của cải mang theo đâu dám tơ hào luyến tiếc Chúng tôi có một hộp hương kỳ nam rất quý lạ, trình giao sai quan chọn lựa dâng lên”
Bài văn của ông trình bày khéo đến nỗi vua Minh không bắt tội mà còn khen là “nhân tài đời Tam đại”, rồi thưởng áo màu đại hồng có thêu con
dê thần và đám mây bằng kim tuyến, xen chỉ tơ sống, chỉ gai và ban yến
Đầu năm Quý Hợi (1503), Quách Hữu Nghiêm cáo từ vua Minh về nước và còn được vua ban cho
Trang 10QUÁCH HỮU NGHIÊM
(1442 - 1503)
Làm quan dưới thời vua Lê Thánh Tông và Lê
Hiến Tông; là người làng Phúc Khuê, huyện
Thanh Quan, phủ Tiên Hưng, nay thuộc xã Thái
Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Ông đỗ hoàng giáp khoa Bính Tuất (1466), lúc
24 tuổi, dưới thời vua Lê Thánh Tông Trong 31
năm làm quan, ông đã kinh qua nhiều chức vụ cao,
được giao nhiệm vụ chánh chủ khảo hai khoa thi
đình năm Quý Sửu (1493), năm Bính Thìn (1496)
Năm 1502, Quách Hữu Nghiêm được cử làm
chánh sứ đi Trung Quốc với nhiệm vụ tạ ơn vua
Minh ban mũ, áo cho vua Lê Hiến Tông và tiếp
tục “bồi đắp hòa khí” Bài biểu do ông soạn, dâng
vua Minh hôm ra mắt đã gây ấn tượng tốt đẹp
Trong biểu có đoạn: “Cứ thấy chiếu thư ban
xuống, tập phong vừa được quang vinh, áo mũ ban
cho, vẻ mình càng thêm rực rỡ Kính nghĩ: Hoàng
đế bệ hạ, áo mũ để khuyên mọi phương, lễ văn rực
rỡ, đến cả cõi Nam xa cách cũng thêm vẻ đẹp huy
hoàng Thần (Lê Hiến Tông) kính giữ chức xưa
được ban ân mới Khắp bốn biển đều theo đức
thấm nhuần ơn huệ từ lâu, đến muôn năm giữ yên
dân, đằng đặc khúc trời thêm hưởng”
Theo thông lệ, hoàng hậu nhà Minh sai quan kiểm nhận quà biếu Ông có mua cái áo long cổn
là của cấm để trong hòm, sợ xét thấy sẽ dẫn đến rầy rà, nên ông đã làm vội bài văn “Mục dị hưởng
tự hiến” để dâng lên
“Người dân tầm thường mang ngọc bích, Lân Kinh (tức Kinh Xuân Thu) chê là tham của; lái buôn rợ Hồ cất ngọc châu Mã sử (Sử ký Tư Mã Thiên) răn là liều mình Cho nên, kẻ tự gõ cửa trình phong thư được khen là trung thần, đáng quý, mà kẻ tiến rau cần dâng sưởi nắng tuy là nhỏ mọn cũng nên khen Hay dở đã rành, gương soi rất rõ Xét ra, bọn sử thần bản bộ, cùng nhau đến
tự phương xa để xem chế độ thượng quốc Vượt qua biển non muôn dặm, khó nhọc sá từ, tưởng mong nhật nguyệt chín tầng, mặt rồng mừng thấy Hướng về thanh minh văn vật của triều Ngu trước, thấy rõ lễ nhạc y quan của nhà Chu xưa Một niềm kính tôn, khôn bề báo đáp Phàm những của cải mang theo đâu dám tơ hào luyến tiếc Chúng tôi có một hộp hương kỳ nam rất quý lạ, trình giao sai quan chọn lựa dâng lên”
Bài văn của ông trình bày khéo đến nỗi vua Minh không bắt tội mà còn khen là “nhân tài đời Tam đại”, rồi thưởng áo màu đại hồng có thêu con
dê thần và đám mây bằng kim tuyến, xen chỉ tơ sống, chỉ gai và ban yến
Đầu năm Quý Hợi (1503), Quách Hữu Nghiêm cáo từ vua Minh về nước và còn được vua ban cho
Trang 11chiếc áo thứ hai cùng nhiều quà khác và thuyền
lớn để về nước nhanh hơn Khi nhận quà ông làm
bài thơ: “Bắc sứ phụng ân tứ thuật thị quán”:
“Nhân đi việc nước, đem cống đồ vật quý
Được lạm dự yến tiệc ở nơi bệ ngọc
Hình con dê thần thêu rực rỡ ở áo tam phẩm
Lại đi thuyền vẽ đầu chim ích vượt qua tám
thứ gió
Tự cười thơ mình không được rộng như biển
Và sức uống rượu của mình không được như
sức hút của cầu vồng
Xin chúc nhà vua hưởng phúc sống lâu như lời
chúc trong thiên Chu nhã
Như mặt trời mới mọc, như trăng thượng
huyền soi khắp cả thiên hạ”
Bài thơ trên đã được Lê Quý Đôn tuyển chọn
để đưa vào Toàn Việt thi lục - một bộ hợp tuyển
thi ca nổi tiếng của Việt Nam
Như vậy, chuyến đi sứ của ông đã thành công
mỹ mãn Đánh giá về sự kiện trên, nhà sử học
Phan Huy Chú nhận định rằng Quách Hữu
Nghiêm là “nhà ngoại giao đầy mưu chước”
PHẠM ĐÔN LỄ
(1455 - 1497)
Là văn thần đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), hiệu Lê Khanh; quê thôn Hải Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, trấn Sơn Nam hạ (nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
Năm 1481, ông đỗ trạng nguyên lúc 26 tuổi, từ thi hương đến thi đình, đều đỗ đầu, là vị tam nguyên đầu tiên trong khoa cử ở nước ta Ngày vinh quy, ông được vua ban ngựa tốt và việc này sau thành lệ
Ông giỏi văn thơ, chính trị, kinh tế, làm đến tả thị lang và được truy phong thượng thư sau khi mất Tương truyền ông được cử đi sứ nhà Minh, trên đường đi đến vùng Ngọc Hồ, Quế Lâm (nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) thấy dân trong vùng chuyên sống bằng nghề dệt chiếu, ông
đã chú ý khảo sát kỹ lưỡng, học được kỹ thuật dệt chiếu mới của họ về phổ biến cho làng Hải Triều
và vùng duyên hải
Trước đây, ở quê ông khi dệt chiếu dùng bàn dệt đứng, không có ngựa đỡ sợi Ông đã cho áp dụng kỹ thuật dệt theo bàn dệt nằm có ngựa đỡ sợi Sợi dây đay giữ cói được căng, chiếu dệt ra đều sợi và đẹp hơn Chiếu Hải Triều được nhiều người
Trang 12chiếc áo thứ hai cùng nhiều quà khác và thuyền
lớn để về nước nhanh hơn Khi nhận quà ông làm
bài thơ: “Bắc sứ phụng ân tứ thuật thị quán”:
“Nhân đi việc nước, đem cống đồ vật quý
Được lạm dự yến tiệc ở nơi bệ ngọc
Hình con dê thần thêu rực rỡ ở áo tam phẩm
Lại đi thuyền vẽ đầu chim ích vượt qua tám
thứ gió
Tự cười thơ mình không được rộng như biển
Và sức uống rượu của mình không được như
sức hút của cầu vồng
Xin chúc nhà vua hưởng phúc sống lâu như lời
chúc trong thiên Chu nhã
Như mặt trời mới mọc, như trăng thượng
huyền soi khắp cả thiên hạ”
Bài thơ trên đã được Lê Quý Đôn tuyển chọn
để đưa vào Toàn Việt thi lục - một bộ hợp tuyển
thi ca nổi tiếng của Việt Nam
Như vậy, chuyến đi sứ của ông đã thành công
mỹ mãn Đánh giá về sự kiện trên, nhà sử học
Phan Huy Chú nhận định rằng Quách Hữu
Nghiêm là “nhà ngoại giao đầy mưu chước”
PHẠM ĐÔN LỄ
(1455 - 1497)
Là văn thần đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), hiệu Lê Khanh; quê thôn Hải Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, trấn Sơn Nam hạ (nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
Năm 1481, ông đỗ trạng nguyên lúc 26 tuổi, từ thi hương đến thi đình, đều đỗ đầu, là vị tam nguyên đầu tiên trong khoa cử ở nước ta Ngày vinh quy, ông được vua ban ngựa tốt và việc này sau thành lệ
Ông giỏi văn thơ, chính trị, kinh tế, làm đến tả thị lang và được truy phong thượng thư sau khi mất Tương truyền ông được cử đi sứ nhà Minh, trên đường đi đến vùng Ngọc Hồ, Quế Lâm (nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) thấy dân trong vùng chuyên sống bằng nghề dệt chiếu, ông
đã chú ý khảo sát kỹ lưỡng, học được kỹ thuật dệt chiếu mới của họ về phổ biến cho làng Hải Triều
và vùng duyên hải
Trước đây, ở quê ông khi dệt chiếu dùng bàn dệt đứng, không có ngựa đỡ sợi Ông đã cho áp dụng kỹ thuật dệt theo bàn dệt nằm có ngựa đỡ sợi Sợi dây đay giữ cói được căng, chiếu dệt ra đều sợi và đẹp hơn Chiếu Hải Triều được nhiều người
Trang 13yêu thích, nổi tiếng khắp chốn kinh đô Chiếu Hải
Triều có màu trắng ngà, có nhiều loại: cải, đậu,
đót, trơn, kẻ sọc, màu, in hoa, cạp điều, sợi xe,
dùng lâu chiếu đều ngả màu vàng, trơn nhẵn, độ
mềm vừa phải, thoát nước nhanh, mau khô Đặc
biệt là kỹ thuật chiếu cải mà nhiều nơi không làm
được Những lá chiếu cải phải nhuộm cói trước khi
dệt, sau đó dệt thành những chữ thọ, bông hoa,
chân dung, rồng, phượng Đường biên của chiếu
Hải Triều cũng rất bền và đẹp Biên được bện sau
khi dệt xong đòi hỏi phải khéo léo, cẩn thận
Người dân ở đây từ xưa đã có câu: “Mua chiếu xem
biên, người hiền xem mặt”
Người Hải Triều đã tôn thờ ông là tổ nghề dệt
chiếu và gọi ông là “Trạng Chiếu”
TRỊNH THIẾT TRƯỜNG
(Thế kỷ XV)
Là thượng thư dưới thời Lê Sơ; quê ở thôn Đắc Chí, xã Định Bình, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Năm 1442, ông đỗ đồng tiến sĩ xuất thân Đến kỳ thi hội năm 1448, Trịnh Thiết Trường đỗ bảng nhãn Tháng 1 - 1475, ông được vua Lê Thánh Tông cử đi sứ nhà Minh Chánh sứ trong chuyến đi sứ này là trạng nguyên Nguyễn Trực, đậu trạng nguyên cùng khoa thi năm 1448 với Trịnh Thiết Trường Đúng lúc đó, triều đình nhà Minh mở khoa thi Để tỏ rõ tài năng của người nước Nam, nên hai ông đã đề nghị vua Minh cho phép tham dự kỳ thi với các sĩ tử Trung Hoa Vua Minh đồng ý Tại trường thi, khi đã làm bài được hơn nửa thời gian, Trương Thiết Trường nảy ra một ý và nói với Nguyễn Trực: Trong kỳ thi này chắc chỉ có tôi và bác là đỗ đầu Nếu tôi đỗ trạng nguyên thì sẽ không hay cho chúng ta vì ở nước ta bác đỗ trạng nguyên, còn tôi đỗ bảng nhãn Như vậy, vua Lê Thánh Tông sẽ không vừa lòng và Hội đồng giám khảo sẽ bất bình vì bị cho là việc chấm thi không chính xác Để chắc chắn, Trịnh Thiết Trường nảy ra ý định làm bài sao để giữ nguyên như thứ tự trong nước Nghĩa là Trịnh Thiết Trường
Trang 14yêu thích, nổi tiếng khắp chốn kinh đô Chiếu Hải
Triều có màu trắng ngà, có nhiều loại: cải, đậu,
đót, trơn, kẻ sọc, màu, in hoa, cạp điều, sợi xe,
dùng lâu chiếu đều ngả màu vàng, trơn nhẵn, độ
mềm vừa phải, thoát nước nhanh, mau khô Đặc
biệt là kỹ thuật chiếu cải mà nhiều nơi không làm
được Những lá chiếu cải phải nhuộm cói trước khi
dệt, sau đó dệt thành những chữ thọ, bông hoa,
chân dung, rồng, phượng Đường biên của chiếu
Hải Triều cũng rất bền và đẹp Biên được bện sau
khi dệt xong đòi hỏi phải khéo léo, cẩn thận
Người dân ở đây từ xưa đã có câu: “Mua chiếu xem
biên, người hiền xem mặt”
Người Hải Triều đã tôn thờ ông là tổ nghề dệt
chiếu và gọi ông là “Trạng Chiếu”
TRỊNH THIẾT TRƯỜNG
(Thế kỷ XV)
Là thượng thư dưới thời Lê Sơ; quê ở thôn Đắc Chí, xã Định Bình, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Năm 1442, ông đỗ đồng tiến sĩ xuất thân Đến kỳ thi hội năm 1448, Trịnh Thiết Trường đỗ bảng nhãn Tháng 1 - 1475, ông được vua Lê Thánh Tông cử đi sứ nhà Minh Chánh sứ trong chuyến đi sứ này là trạng nguyên Nguyễn Trực, đậu trạng nguyên cùng khoa thi năm 1448 với Trịnh Thiết Trường Đúng lúc đó, triều đình nhà Minh mở khoa thi Để tỏ rõ tài năng của người nước Nam, nên hai ông đã đề nghị vua Minh cho phép tham dự kỳ thi với các sĩ tử Trung Hoa Vua Minh đồng ý Tại trường thi, khi đã làm bài được hơn nửa thời gian, Trương Thiết Trường nảy ra một ý và nói với Nguyễn Trực: Trong kỳ thi này chắc chỉ có tôi và bác là đỗ đầu Nếu tôi đỗ trạng nguyên thì sẽ không hay cho chúng ta vì ở nước ta bác đỗ trạng nguyên, còn tôi đỗ bảng nhãn Như vậy, vua Lê Thánh Tông sẽ không vừa lòng và Hội đồng giám khảo sẽ bất bình vì bị cho là việc chấm thi không chính xác Để chắc chắn, Trịnh Thiết Trường nảy ra ý định làm bài sao để giữ nguyên như thứ tự trong nước Nghĩa là Trịnh Thiết Trường
Trang 15phải làm bài thi có lỗi để kém hơn bài của Nguyễn
Trực Trong bài văn của Trịnh Thiết Trường có
đoạn văn: Nam chi châu, bắc chi mã (nghĩa là
thuyền phương Nam, ngựa phương Bắc) Thiết
Trường đã xóa chữ mã (ngựa) và viết chữ mã
ngoài lề và chữ mã này chỉ có ba dấu chấm, thiếu
một dấu chấm Khi chấm thi, các quan giám khảo
thấy chỉ có bài của Trịnh Thiết Trường là đáng đỗ
trạng nguyên, bài của Nguyễn Trực là đỗ bảng
nhãn Tuy nhiên, sau đó các quan chấm thi coi lại
bài của Trịnh Thiết Trường thấy chữ mã chỉ có ba
dấu chấm, cho Trịnh Thiết Trường có ý chê ngựa
Trung Hoa là ngựa què, khinh thường thiên triều,
quyết định thay đổi thứ tự cho Nguyễn Trực đỗ
trạng nguyên, còn Trịnh Thiết Trường chỉ đỗ bảng
nhãn Vua Minh phong cho hai người là “lưỡng
quốc trạng nguyên” và “lưỡng quốc bảng nhãn”,
ban áo gấm hốt vàng, lọng và ngựa tốt để về nước
Khi giao ngựa cho Thiết Trường, vua Minh lệnh
cho quân lính buộc một chân ngựa lại và lệnh nếu
ngựa ba chân không đi được sẽ phải giữ lại không
cho về nước Thiết Trường đã sai người đẽo một
chân ngựa giả bằng gỗ, buộc vào chân ngựa bị
buộc nên ngựa ba chân vẫn đi được, dù có khó
khăn Triều đình nhà Minh rất khâm phục sứ
thần Đại Việt có tài ứng biến nên lệnh cho cởi
chân ngựa và để ông về nước
TRIỆU THÁI
(Thế kỷ XV)
Là danh thần, nhà ngoại giao thời Lê Sơ; quê
ở thôn Hoàng Chung, xã Đồng Tích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú
Thời niên thiếu ông lưu lạc sang Trung Quốc song vẫn chăm chỉ học hành và đỗ tiến sĩ, làm hàn lâm học sĩ đời Vĩnh Lạc, nhà Minh (1368-1644) Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh, ông cáo quan về nước sống tại quê nhà Sau kháng chiến chống Minh thắng lợi năm Thuận Thiên thứ hai (1429), Lê Thái Tổ mở khoa thi chọn hiền tài giúp nước Ông đỗ đầu khoa Minh Kinh và được bổ làm quan đến chức thị ngự
sử Ông làm quan dưới ba đời vua Lê: Lê Thái Tổ,
Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông Trong gần 20 năm làm quan dưới triều Lê Sơ, Triệu Thái đã tham gia xây dựng nhiều bộ luật quan trọng, tạo
cơ sở cho việc soạn thảo bộ luật Hồng Đức sau này Ông còn là một nhà giáo dục, tham gia chọn nhân tài cho đất nước, trong đó có trạng nguyên Nguyễn Trực và nhà sử học Ngô Sĩ Liên trong khoa thi năm 1442 và khoa thi năm 1443 mà ông
là phó chủ khảo
Trang 16phải làm bài thi có lỗi để kém hơn bài của Nguyễn
Trực Trong bài văn của Trịnh Thiết Trường có
đoạn văn: Nam chi châu, bắc chi mã (nghĩa là
thuyền phương Nam, ngựa phương Bắc) Thiết
Trường đã xóa chữ mã (ngựa) và viết chữ mã
ngoài lề và chữ mã này chỉ có ba dấu chấm, thiếu
một dấu chấm Khi chấm thi, các quan giám khảo
thấy chỉ có bài của Trịnh Thiết Trường là đáng đỗ
trạng nguyên, bài của Nguyễn Trực là đỗ bảng
nhãn Tuy nhiên, sau đó các quan chấm thi coi lại
bài của Trịnh Thiết Trường thấy chữ mã chỉ có ba
dấu chấm, cho Trịnh Thiết Trường có ý chê ngựa
Trung Hoa là ngựa què, khinh thường thiên triều,
quyết định thay đổi thứ tự cho Nguyễn Trực đỗ
trạng nguyên, còn Trịnh Thiết Trường chỉ đỗ bảng
nhãn Vua Minh phong cho hai người là “lưỡng
quốc trạng nguyên” và “lưỡng quốc bảng nhãn”,
ban áo gấm hốt vàng, lọng và ngựa tốt để về nước
Khi giao ngựa cho Thiết Trường, vua Minh lệnh
cho quân lính buộc một chân ngựa lại và lệnh nếu
ngựa ba chân không đi được sẽ phải giữ lại không
cho về nước Thiết Trường đã sai người đẽo một
chân ngựa giả bằng gỗ, buộc vào chân ngựa bị
buộc nên ngựa ba chân vẫn đi được, dù có khó
khăn Triều đình nhà Minh rất khâm phục sứ
thần Đại Việt có tài ứng biến nên lệnh cho cởi
chân ngựa và để ông về nước
TRIỆU THÁI
(Thế kỷ XV)
Là danh thần, nhà ngoại giao thời Lê Sơ; quê
ở thôn Hoàng Chung, xã Đồng Tích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú
Thời niên thiếu ông lưu lạc sang Trung Quốc song vẫn chăm chỉ học hành và đỗ tiến sĩ, làm hàn lâm học sĩ đời Vĩnh Lạc, nhà Minh (1368-1644) Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh, ông cáo quan về nước sống tại quê nhà Sau kháng chiến chống Minh thắng lợi năm Thuận Thiên thứ hai (1429), Lê Thái Tổ mở khoa thi chọn hiền tài giúp nước Ông đỗ đầu khoa Minh Kinh và được bổ làm quan đến chức thị ngự
sử Ông làm quan dưới ba đời vua Lê: Lê Thái Tổ,
Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông Trong gần 20 năm làm quan dưới triều Lê Sơ, Triệu Thái đã tham gia xây dựng nhiều bộ luật quan trọng, tạo
cơ sở cho việc soạn thảo bộ luật Hồng Đức sau này Ông còn là một nhà giáo dục, tham gia chọn nhân tài cho đất nước, trong đó có trạng nguyên Nguyễn Trực và nhà sử học Ngô Sĩ Liên trong khoa thi năm 1442 và khoa thi năm 1443 mà ông
là phó chủ khảo
Trang 17Triệu Thái còn là nhà ngoại giao giỏi Ông am
hiểu lịch sử, Hán học, phong tục tập quán Trung
Quốc Tháng 10-1442, ông dẫn đầu một phái đoàn
ngoại giao sang Trung Quốc, đàm phán với nhà
Minh về vấn đề vùng biên giới Khâm Châu (vùng
Đông Bắc thuộc Quảng Ninh, giáp phía tây Quảng
Đông, Trung Quốc) Đây là vùng núi non hiểm trở,
vị trí quân sự xung yếu, thường xảy ra mâu thuẫn
giữa hai nước
Vào thế kỷ XV, cả hai bên đều nỗ lực giành
chủ quyền và đấu tranh diễn ra trong vòng 6-7
năm Tư liệu còn lại rất ít, song cũng khẳng định
Triệu Thái đã đấu tranh rất kiên quyết để bảo vệ
vùng lãnh thổ này Cùng với kết quả các chuyến
đi sứ tiếp theo của Đào Công Soạn, Lê Quát,
Nguyễn Lan (1444), Hà Thủ và Đinh Lan (1447),
cuối cùng vùng Chiêm Lãng, Như Tích (thuộc
Khâm Châu) đã được công nhận là lãnh thổ Đại
Việt như Dư địa chí của Nguyễn Trãi khẳng định
Rất tiếc, thế kỷ XVI, hai vùng đất trên lại bị sáp
nhập vào Trung Quốc do Mạc Đăng Dung đầu
hàng nhà Minh
LÊ QUANG BÍ
(1504 - ?)
Văn thần, nhà ngoại giao nhà Mạc, còn gọi là
Lê Quang Bôn (vì chữ Bí cũng đọc là Bôn), tự Thuần Phu, hiệu Hối Trai
Lê Quang Bí sinh ra trong gia đình khoa bảng, dòng dõi Lê Cảnh Tuân, quê ở thôn Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Năm 22 tuổi (1526), ông đỗ Hoàng giáp, đời Lê Cung Hoàng (có sách nói ông sinh năm 1506) Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê Sơ, ông thành bề tôi nhà Mạc, làm tả thị lang bộ Hộ Năm Mậu Thân (1548), ông được nhà Mạc cử làm chánh sứ sang nhà Minh tuế cống thường kỳ Lúc
đó, nhà Lê Trung Hưng ở Thanh Hóa cũng cử sứ thần sang Minh, nên các sứ thần nhà Mạc thường phải chịu sách nhiễu, giam cầm, tra khảo vì bị nghi là sứ thần giả mạo Ông bị Tổng đốc Lưỡng Quảng giam, bịt mắt và thử tài Ông đã đọc thuộc
lòng quyển Đại học diễn nghĩa không sai một chữ
Quan lại nhà Minh rất phục ông Bị giam lỏng,
ông tập trung biên soạn bộ Tư hương vận lực gửi
về nước Có một vị cử nhân là Đặng Hồng Chấn xin đến thụ nghiệp, học hỏi Đặng Hồng Chấn sau
Trang 18Triệu Thái còn là nhà ngoại giao giỏi Ông am
hiểu lịch sử, Hán học, phong tục tập quán Trung
Quốc Tháng 10-1442, ông dẫn đầu một phái đoàn
ngoại giao sang Trung Quốc, đàm phán với nhà
Minh về vấn đề vùng biên giới Khâm Châu (vùng
Đông Bắc thuộc Quảng Ninh, giáp phía tây Quảng
Đông, Trung Quốc) Đây là vùng núi non hiểm trở,
vị trí quân sự xung yếu, thường xảy ra mâu thuẫn
giữa hai nước
Vào thế kỷ XV, cả hai bên đều nỗ lực giành
chủ quyền và đấu tranh diễn ra trong vòng 6-7
năm Tư liệu còn lại rất ít, song cũng khẳng định
Triệu Thái đã đấu tranh rất kiên quyết để bảo vệ
vùng lãnh thổ này Cùng với kết quả các chuyến
đi sứ tiếp theo của Đào Công Soạn, Lê Quát,
Nguyễn Lan (1444), Hà Thủ và Đinh Lan (1447),
cuối cùng vùng Chiêm Lãng, Như Tích (thuộc
Khâm Châu) đã được công nhận là lãnh thổ Đại
Việt như Dư địa chí của Nguyễn Trãi khẳng định
Rất tiếc, thế kỷ XVI, hai vùng đất trên lại bị sáp
nhập vào Trung Quốc do Mạc Đăng Dung đầu
hàng nhà Minh
LÊ QUANG BÍ
(1504 - ?)
Văn thần, nhà ngoại giao nhà Mạc, còn gọi là
Lê Quang Bôn (vì chữ Bí cũng đọc là Bôn), tự Thuần Phu, hiệu Hối Trai
Lê Quang Bí sinh ra trong gia đình khoa bảng, dòng dõi Lê Cảnh Tuân, quê ở thôn Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Năm 22 tuổi (1526), ông đỗ Hoàng giáp, đời Lê Cung Hoàng (có sách nói ông sinh năm 1506) Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê Sơ, ông thành bề tôi nhà Mạc, làm tả thị lang bộ Hộ Năm Mậu Thân (1548), ông được nhà Mạc cử làm chánh sứ sang nhà Minh tuế cống thường kỳ Lúc
đó, nhà Lê Trung Hưng ở Thanh Hóa cũng cử sứ thần sang Minh, nên các sứ thần nhà Mạc thường phải chịu sách nhiễu, giam cầm, tra khảo vì bị nghi là sứ thần giả mạo Ông bị Tổng đốc Lưỡng Quảng giam, bịt mắt và thử tài Ông đã đọc thuộc
lòng quyển Đại học diễn nghĩa không sai một chữ
Quan lại nhà Minh rất phục ông Bị giam lỏng,
ông tập trung biên soạn bộ Tư hương vận lực gửi
về nước Có một vị cử nhân là Đặng Hồng Chấn xin đến thụ nghiệp, học hỏi Đặng Hồng Chấn sau
Trang 19này đỗ tiến sĩ và thăng chức Yên Kinh chủ sư, đã
dâng biểu nói rõ sự tình, ca ngợi sứ thần Đại Việt,
lúc đó Lê Quang Bí mới được đưa lên kinh (1563)
yết kiến vua Minh Vua Minh lập tức cho triệu
kiến, nhận cống phẩm và cho về
Tháng 1 năm Bính Dần (1566), ông về đến Đại
Việt sau 18 năm đi sứ, lúc đó đã 62 tuổi, đầu bạc
phơ, giống như Tô Vũ nhà Hán đi sứ Hung Nô,
phải đi chăn dê ở Bắc Hải gần 20 năm Triều đình
phong ông làm thượng thư bộ Hộ và sau khi mất
được tặng tước hiệu Bảo Tô quận công
MẠC GIÁP HẢI
(1506 - 1586)
Là danh sĩ nhà Mạc, còn có tên là Trừng, hiệu là Tiết; người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc, nay thuộc Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Ông đỗ trạng nguyên khoa thi Mậu Tuất năm
1538 Mẹ ông là người thôn Công Luận, huyện Văn Giang, trước thuộc tỉnh Hà Bắc, nay thuộc tỉnh Hưng Yên
Năm lên bốn tuổi, khi chơi ở bờ sông, ông bị một phú thương đi thuyền qua bắt đem về làng Dĩnh Kế, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, nuôi dạy, đặt tên là Giáp Hải Ông làm quan đến lục bộ thượng thư kiêm đông các đại học sĩ, nhập thị kinh diên, tước Kê Khê Đá, hàm thiếu bảo
Ngoài tài văn chương ông còn có tài ngoại giao Lúc ấy, triều Minh sai sứ sang hạch sách nhà Mạc, đòi cắt đất và sai Mao Bá Ôn, Cừu Loan đem quân đóng ở cửa Nam Quan chuẩn bị xâm lược Mao Bá Ôn gửi sang triều Mạc một bài thơ vịnh “bèo” có ý khinh dân Việt như bèo bọt Bài thơ như sau:
Cao sâu theo nước mọc im lìm Nông nổi xưa nay vốn khó dìm
Trang 20này đỗ tiến sĩ và thăng chức Yên Kinh chủ sư, đã
dâng biểu nói rõ sự tình, ca ngợi sứ thần Đại Việt,
lúc đó Lê Quang Bí mới được đưa lên kinh (1563)
yết kiến vua Minh Vua Minh lập tức cho triệu
kiến, nhận cống phẩm và cho về
Tháng 1 năm Bính Dần (1566), ông về đến Đại
Việt sau 18 năm đi sứ, lúc đó đã 62 tuổi, đầu bạc
phơ, giống như Tô Vũ nhà Hán đi sứ Hung Nô,
phải đi chăn dê ở Bắc Hải gần 20 năm Triều đình
phong ông làm thượng thư bộ Hộ và sau khi mất
được tặng tước hiệu Bảo Tô quận công
MẠC GIÁP HẢI
(1506 - 1586)
Là danh sĩ nhà Mạc, còn có tên là Trừng, hiệu là Tiết; người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc, nay thuộc Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Ông đỗ trạng nguyên khoa thi Mậu Tuất năm
1538 Mẹ ông là người thôn Công Luận, huyện Văn Giang, trước thuộc tỉnh Hà Bắc, nay thuộc tỉnh Hưng Yên
Năm lên bốn tuổi, khi chơi ở bờ sông, ông bị một phú thương đi thuyền qua bắt đem về làng Dĩnh Kế, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, nuôi dạy, đặt tên là Giáp Hải Ông làm quan đến lục bộ thượng thư kiêm đông các đại học sĩ, nhập thị kinh diên, tước Kê Khê Đá, hàm thiếu bảo
Ngoài tài văn chương ông còn có tài ngoại giao Lúc ấy, triều Minh sai sứ sang hạch sách nhà Mạc, đòi cắt đất và sai Mao Bá Ôn, Cừu Loan đem quân đóng ở cửa Nam Quan chuẩn bị xâm lược Mao Bá Ôn gửi sang triều Mạc một bài thơ vịnh “bèo” có ý khinh dân Việt như bèo bọt Bài thơ như sau:
Cao sâu theo nước mọc im lìm Nông nổi xưa nay vốn khó dìm
Trang 21Ngọc gốc đã trơ không lá lẩu
Cỗi cành sào lại cả gan tim
Coi thường tản mát khi thường tụ
Biết lúc lênh đênh chẳng biết chìm
Vì gập tung trời cơn gió táp
Cuốn theo về biển khó đâu tìm
Triều Mạc phải cử trạng nguyên Giáp Hải,
thượng thư bộ Lại lên biên giới tiếp sứ thần nhà
Minh Mạc Giáp Hải đã họa lại bài thơ “bèo” như sau:
Sin sít hoa thêu cản mũi khâu
Mấy tầng gốc rễ vẫn xen nhau
Ganh cùng mây bạc trên làn sóng
Đâu để vầng hồng lọt đáy sâu
Nước vỗ, vỗ sao cho vỡ được
Gió to, to mấy cũng chìm đâu?
Biết bao rồng cá nằm trong đó
Cụ Lã đừng hòng thả lưỡi câu!
Bài thơ họa ngụ ý dân ta sống đông đúc như
vẩy gấm, đoàn kết chặt chẽ, có thế độc lập của
mình, không sợ ngoại xâm Nhân tài nước ta
nhiều như rồng, cá, dù cho kẻ địch có tướng giỏi
như Khương Tử Nha mà nhà Chu còn gọi là Lã
Vọng cũng không làm gì nổi
Xem xong bài thơ họa, Mao Bá Ôn và Cừu
Loan không dám tiến quân vào nước ta nữa
PHÙNG KHẮC KHOAN
(1528 - 1613)
Là danh sĩ đời Lê Thế Tông, tự là Hoằng Phu, hiệu Nghị Trai; quê ở làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) Năm 1557, ông đỗ đầu khoa thi hương dưới thời vua Lê Trung Tông Năm Canh Thìn 1580, Lê Thế Tông mở kỳ thi hội và Phùng Khắc Khoan đã đỗ Hoàng giáp Ông là anh em cùng mẹ khác cha với Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình
Năm Đinh Dậu (1597), vua Lê, chúa Trịnh phái Phùng Khắc Khoan làm chánh sứ, Nguyễn Nhân Thiềm làm phó sứ đem cống phẩm sang Yên Kinh và xin cầu phong
Lần đi này thật khó khăn bởi vì bấy giờ nhà Minh vẫn còn ủng hộ họ Mạc, gây khó khăn cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai triều Lúc này Phùng Khắc Khoan đã 70 tuổi, chưa có sứ thần nào già như vậy Trong hoàn cảnh khó khăn
đó, ông chọn sách lược ngoại giao là “nói khéo, lời hay” (trong bài thơ “Nỗi lòng đi sứ”) Tới Yên Kinh đúng dịp Tết Nguyên đán, đình thần và sứ giả các nước mỗi người đều làm một bài thơ dâng cho vua Minh Riêng Phùng Khắc Khoan đưa 36 bài thơ mà bài nào cũng hay Minh Thành Tông rất khen ngợi
Trang 22Ngọc gốc đã trơ không lá lẩu
Cỗi cành sào lại cả gan tim
Coi thường tản mát khi thường tụ
Biết lúc lênh đênh chẳng biết chìm
Vì gập tung trời cơn gió táp
Cuốn theo về biển khó đâu tìm
Triều Mạc phải cử trạng nguyên Giáp Hải,
thượng thư bộ Lại lên biên giới tiếp sứ thần nhà
Minh Mạc Giáp Hải đã họa lại bài thơ “bèo” như sau:
Sin sít hoa thêu cản mũi khâu
Mấy tầng gốc rễ vẫn xen nhau
Ganh cùng mây bạc trên làn sóng
Đâu để vầng hồng lọt đáy sâu
Nước vỗ, vỗ sao cho vỡ được
Gió to, to mấy cũng chìm đâu?
Biết bao rồng cá nằm trong đó
Cụ Lã đừng hòng thả lưỡi câu!
Bài thơ họa ngụ ý dân ta sống đông đúc như
vẩy gấm, đoàn kết chặt chẽ, có thế độc lập của
mình, không sợ ngoại xâm Nhân tài nước ta
nhiều như rồng, cá, dù cho kẻ địch có tướng giỏi
như Khương Tử Nha mà nhà Chu còn gọi là Lã
Vọng cũng không làm gì nổi
Xem xong bài thơ họa, Mao Bá Ôn và Cừu
Loan không dám tiến quân vào nước ta nữa
PHÙNG KHẮC KHOAN
(1528 - 1613)
Là danh sĩ đời Lê Thế Tông, tự là Hoằng Phu, hiệu Nghị Trai; quê ở làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) Năm 1557, ông đỗ đầu khoa thi hương dưới thời vua Lê Trung Tông Năm Canh Thìn 1580, Lê Thế Tông mở kỳ thi hội và Phùng Khắc Khoan đã đỗ Hoàng giáp Ông là anh em cùng mẹ khác cha với Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình
Năm Đinh Dậu (1597), vua Lê, chúa Trịnh phái Phùng Khắc Khoan làm chánh sứ, Nguyễn Nhân Thiềm làm phó sứ đem cống phẩm sang Yên Kinh và xin cầu phong
Lần đi này thật khó khăn bởi vì bấy giờ nhà Minh vẫn còn ủng hộ họ Mạc, gây khó khăn cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai triều Lúc này Phùng Khắc Khoan đã 70 tuổi, chưa có sứ thần nào già như vậy Trong hoàn cảnh khó khăn
đó, ông chọn sách lược ngoại giao là “nói khéo, lời hay” (trong bài thơ “Nỗi lòng đi sứ”) Tới Yên Kinh đúng dịp Tết Nguyên đán, đình thần và sứ giả các nước mỗi người đều làm một bài thơ dâng cho vua Minh Riêng Phùng Khắc Khoan đưa 36 bài thơ mà bài nào cũng hay Minh Thành Tông rất khen ngợi
Trang 23và phê vào tập thơ: “Hà địa bất sinh tài” (đất nào
chẳng có người tài), rồi đặc cách phong Phùng
Khắc Khoan làm trạng nguyên Ông còn họa thơ
đối đáp với sứ thần Cao Ly là Lý Toái Phong,
khiến Lý rất khâm phục
Thành công đầu tiên của ông là biện bác được
lệ nước ta phải cống người vàng còng lưng có từ
thời Mạc Về việc phong vương, vua Minh tuy
nhận cống phẩm của nhà Lê, nhưng vẫn thiên về
họ Mạc Vì vậy, Minh Thần Tông chỉ phong cho
vua Lê làm An Nam đô thống sứ, một tước tương
đương với quan nhị phẩm của triều Minh Ông
không chấp nhận và tâu: “Đô thống sứ là tước cũ
của họ Mạc, vua nước Nam chúng tôi hiện thời là
dòng dõi chính thống con cháu nhà Lê Thiên triều
phong cho tước ấy thật không xứng đáng Chúng
tôi không dám nhận sắc phong Xin hoàng đế xét
cho” Vua Minh vẫn không thay đổi ý kiến và tặng
ông đồng tiền vàng Ông đã ném đồng tiền vua
Minh cho xuống đất khi về quán dịch
Tuy lần đi sứ này của ông chưa đạt được mục
đích xin phong vương cho vua Lê (50 năm sau, vào
năm 1647 nhà Minh mới chịu phong cho Lê Thần
Tông làm An Nam quốc vương), nhưng đã làm
được một số việc ích nước lợi dân
Vốn biết Phùng Khắc Khoan là người học
rộng, biết sâu nên vua quan nhà Minh tìm cách
ngăn không cho ông mang về các sách quân sự,
địa lý, lịch sử và đặc biệt những cuốn sách về các
nghề tiểu thủ công Tuy vậy, họ không thể nào lường được trí nhớ tuyệt vời của ông
Khi đi thăm các đô thị, ông rất chú ý đến nghề dệt tơ lụa Có lần ông đã lưu lại ở xưởng dệt hơn bảy ngày Nhờ trí thông minh, tài khéo léo, ông đã quan sát và nhớ kỹ cách dệt tơ tằm của Trung Quốc Lúc đến đồng ruộng phì nhiêu miền Hoa Nam, Phùng Khắc Khoan thấy hai thứ cây lạ là cây ngô
và cây vừng Ông muốn mua hạt giống mang về nhưng không được vì có lệnh cấm Song nhờ tài trí của mình ông đã mang được hạt giống đó về ươm tại làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất và cứ thế nhân dần lên Nhân dân đua nhau trồng ngô, vừng và đem lại cho nước ta thêm một nguồn lương thực, thực phẩm
Ông còn dạy cho dân nghề dệt the lụa bằng tơ tằm mà ông học được ở Trung Quốc Nhân dân tôn ông là ông tổ nghề dệt lụa, trồng ngô, vừng và lập đền thờ ông ở quê nhà
Ông làm quan đến thượng thư bộ Hộ, kiêm Quốc Tử Giám bộ Công, tước Mai lĩnh hầu rồi Mai quận công
Trang 24và phê vào tập thơ: “Hà địa bất sinh tài” (đất nào
chẳng có người tài), rồi đặc cách phong Phùng
Khắc Khoan làm trạng nguyên Ông còn họa thơ
đối đáp với sứ thần Cao Ly là Lý Toái Phong,
khiến Lý rất khâm phục
Thành công đầu tiên của ông là biện bác được
lệ nước ta phải cống người vàng còng lưng có từ
thời Mạc Về việc phong vương, vua Minh tuy
nhận cống phẩm của nhà Lê, nhưng vẫn thiên về
họ Mạc Vì vậy, Minh Thần Tông chỉ phong cho
vua Lê làm An Nam đô thống sứ, một tước tương
đương với quan nhị phẩm của triều Minh Ông
không chấp nhận và tâu: “Đô thống sứ là tước cũ
của họ Mạc, vua nước Nam chúng tôi hiện thời là
dòng dõi chính thống con cháu nhà Lê Thiên triều
phong cho tước ấy thật không xứng đáng Chúng
tôi không dám nhận sắc phong Xin hoàng đế xét
cho” Vua Minh vẫn không thay đổi ý kiến và tặng
ông đồng tiền vàng Ông đã ném đồng tiền vua
Minh cho xuống đất khi về quán dịch
Tuy lần đi sứ này của ông chưa đạt được mục
đích xin phong vương cho vua Lê (50 năm sau, vào
năm 1647 nhà Minh mới chịu phong cho Lê Thần
Tông làm An Nam quốc vương), nhưng đã làm
được một số việc ích nước lợi dân
Vốn biết Phùng Khắc Khoan là người học
rộng, biết sâu nên vua quan nhà Minh tìm cách
ngăn không cho ông mang về các sách quân sự,
địa lý, lịch sử và đặc biệt những cuốn sách về các
nghề tiểu thủ công Tuy vậy, họ không thể nào lường được trí nhớ tuyệt vời của ông
Khi đi thăm các đô thị, ông rất chú ý đến nghề dệt tơ lụa Có lần ông đã lưu lại ở xưởng dệt hơn bảy ngày Nhờ trí thông minh, tài khéo léo, ông đã quan sát và nhớ kỹ cách dệt tơ tằm của Trung Quốc Lúc đến đồng ruộng phì nhiêu miền Hoa Nam, Phùng Khắc Khoan thấy hai thứ cây lạ là cây ngô
và cây vừng Ông muốn mua hạt giống mang về nhưng không được vì có lệnh cấm Song nhờ tài trí của mình ông đã mang được hạt giống đó về ươm tại làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất và cứ thế nhân dần lên Nhân dân đua nhau trồng ngô, vừng và đem lại cho nước ta thêm một nguồn lương thực, thực phẩm
Ông còn dạy cho dân nghề dệt the lụa bằng tơ tằm mà ông học được ở Trung Quốc Nhân dân tôn ông là ông tổ nghề dệt lụa, trồng ngô, vừng và lập đền thờ ông ở quê nhà
Ông làm quan đến thượng thư bộ Hộ, kiêm Quốc Tử Giám bộ Công, tước Mai lĩnh hầu rồi Mai quận công
Trang 25GIANG VĂN MINH
(1573 - 1637)
Là văn thần, tự khanh tước hầu đời vua Lê
Thần Tông, tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung; quê ở
làng Mông Phụ, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn
Tây, nay là làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã
Sơn Tây, Hà Nội
Cuối năm 1637, ông được cử đi sứ sang nhà
Minh dâng lễ cống
Trong buổi tiếp sứ thần Đại Việt, nhằm làm
nhục sứ thần, coi nước ta như một thuộc quốc của
Trung Quốc, vua Minh đã nhắc đến việc Mã Viện
thời Hán dựng cột đồng ở Giao Chỉ bằng một vế đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã phủ xanh
Trước sự ngạo mạn đó của vua Minh, Giang
Văn Minh hiên ngang đối lại bằng câu:
Đằng giang tự cổ huyết do hồng
Nghĩa là: Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ
Vế đối của ông ngụ ý nhắc lại ba lần thất bại
thảm hại của phong kiến Trung Quốc trên sông
Bạch Đằng Đó là năm 938 Ngô Quyền đánh bại
quân Nam Hán, năm 981 Lê Hoàn đánh bại quân
Tống và năm 1288 Trần Hưng Đạo đại phá quân
Nguyên - Mông Vua Minh tức giận vì không làm
nhục được sứ thần Đại Việt, uất ức vì thua đau,
đã buộc tội Giang Văn Minh “khinh mạn thiên triều” và ra lệnh mổ bụng giết chết ông (năm 1637) Mặc dù giết hại ông, song vua quan nhà Minh không thể không khâm phục nhà ngoại giao Đại Việt thông minh, kiên cường, dũng cảm Vua Minh đã phải chấp nhận khen Giang Văn Minh là anh hùng tài hoa, tiết thảo và cho người lấy thủy ngân ướp xác, cho nhân sâm vào miệng và trả quan tài về nước
Vì vậy, khi về đến Thăng Long, xác ông vẫn còn tươi như khi đang còn sống Vua Lê Thần Tông đã hết sức thương xót ông, ca ngợi ông là “đi
sứ không làm nhục nước, thật là anh hùng kim cổ”
và truy phong ông chức công bộ tả thị lang, tước Vinh Quận công
Trang 26GIANG VĂN MINH
(1573 - 1637)
Là văn thần, tự khanh tước hầu đời vua Lê
Thần Tông, tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung; quê ở
làng Mông Phụ, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn
Tây, nay là làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã
Sơn Tây, Hà Nội
Cuối năm 1637, ông được cử đi sứ sang nhà
Minh dâng lễ cống
Trong buổi tiếp sứ thần Đại Việt, nhằm làm
nhục sứ thần, coi nước ta như một thuộc quốc của
Trung Quốc, vua Minh đã nhắc đến việc Mã Viện
thời Hán dựng cột đồng ở Giao Chỉ bằng một vế đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã phủ xanh
Trước sự ngạo mạn đó của vua Minh, Giang
Văn Minh hiên ngang đối lại bằng câu:
Đằng giang tự cổ huyết do hồng
Nghĩa là: Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ
Vế đối của ông ngụ ý nhắc lại ba lần thất bại
thảm hại của phong kiến Trung Quốc trên sông
Bạch Đằng Đó là năm 938 Ngô Quyền đánh bại
quân Nam Hán, năm 981 Lê Hoàn đánh bại quân
Tống và năm 1288 Trần Hưng Đạo đại phá quân
Nguyên - Mông Vua Minh tức giận vì không làm
nhục được sứ thần Đại Việt, uất ức vì thua đau,
đã buộc tội Giang Văn Minh “khinh mạn thiên triều” và ra lệnh mổ bụng giết chết ông (năm 1637) Mặc dù giết hại ông, song vua quan nhà Minh không thể không khâm phục nhà ngoại giao Đại Việt thông minh, kiên cường, dũng cảm Vua Minh đã phải chấp nhận khen Giang Văn Minh là anh hùng tài hoa, tiết thảo và cho người lấy thủy ngân ướp xác, cho nhân sâm vào miệng và trả quan tài về nước
Vì vậy, khi về đến Thăng Long, xác ông vẫn còn tươi như khi đang còn sống Vua Lê Thần Tông đã hết sức thương xót ông, ca ngợi ông là “đi
sứ không làm nhục nước, thật là anh hùng kim cổ”
và truy phong ông chức công bộ tả thị lang, tước Vinh Quận công
Trang 27TRẦN LƯ
(Thế kỷ XVI)
Là danh thần thời hậu Lê, có sách viết là Trần
Lô, tự Tu Khê; quê ở làng Bình Vọng, huyện
Thượng Phúc, Hà Tây (nay là thôn Bình Vọng,
huyện Thường Tín, Hà Nội)
Ông đậu tiến sĩ năm Nhâm Tuất 1502, làm
quan đến chức thượng thư Từ thuở nhỏ ông đã
biết nghề làm sơn mài, khi làm quan cũng vẫn
tiếp tục làm nghề này Những bức tranh vẽ ra lúc
đó đòi hỏi rất công phu, tranh lại lâu khô, dễ
hỏng, nhất là khi thời tiết không thuận lợi
Năm 1505, đời Lê Hiển Tông, ông được cử đi
sứ sang Trung Quốc, vừa làm công việc ngoại giao
vừa nghiên cứu, tìm hiểu học thêm về kỹ thuật
sơn son thếp vàng, thếp bạc khi đi qua vùng Hồ
Nam Khi về ông truyền lại nghề cho dân làng
Bình Vọng, Đông Phú, Hạ Thái
Khi ông mất, để ghi nhớ công lao, vua Lê
phong cho ông làm “phúc thần” các làng trên Nhân
dân lập đền thờ ông và coi ông là tổ nghề sơn mài,
một ngành mỹ nghệ nổi tiếng của nước ta
NGUYỄN THỜI TRUNG
(Thế kỷ XVI)
Danh thần nhà Mạc, nhà ngoại giao, quê ở thôn Trúc Lâm, xã Hoàng Diệu, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, không rõ năm sinh, năm mất Ông được vua nhà Mạc cử đi sứ Trung Quốc Ông đã chọn ba thợ giỏi ở ba làng nghề Phong Lâm, Văn Lâm, Trúc Lâm là Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bôn cùng đi với sứ đoàn để tìm cách học kỹ thuật thuộc da, đóng giày
ở Trung Quốc Khi sứ đoàn đến Hàng Châu, Hồ Nam, thấy nhiều người làm nghề thuộc da, đóng giày, ông đã dừng lại quan sát Sứ Việt Nam và ba thợ giày đã làm quen với một gia đình họ Hứa và học được bí quyết, công nghệ thuộc da, đóng giày với nhiều mẫu mã đẹp
Sau khi về nước, ba thợ giày Tam Lâm đã mở lớp truyền nghề, vì vậy nghề làm giày ở Tam Lâm ngày càng thịnh vượng Thợ Tam Lâm có mặt ở khắp các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, v.v Còn Tam Lâm trở nên trù phú nhờ nghề thuộc da, đóng giày
Dân làng tôn ba vị thợ giày đi theo sứ đoàn Nguyễn Thời Trung làm tổ sư của làng và đền thờ chính vẫn còn ở làng Văn Lâm, đình thờ vọng ở làng Trúc Lâm
Trang 28TRẦN LƯ
(Thế kỷ XVI)
Là danh thần thời hậu Lê, có sách viết là Trần
Lô, tự Tu Khê; quê ở làng Bình Vọng, huyện
Thượng Phúc, Hà Tây (nay là thôn Bình Vọng,
huyện Thường Tín, Hà Nội)
Ông đậu tiến sĩ năm Nhâm Tuất 1502, làm
quan đến chức thượng thư Từ thuở nhỏ ông đã
biết nghề làm sơn mài, khi làm quan cũng vẫn
tiếp tục làm nghề này Những bức tranh vẽ ra lúc
đó đòi hỏi rất công phu, tranh lại lâu khô, dễ
hỏng, nhất là khi thời tiết không thuận lợi
Năm 1505, đời Lê Hiển Tông, ông được cử đi
sứ sang Trung Quốc, vừa làm công việc ngoại giao
vừa nghiên cứu, tìm hiểu học thêm về kỹ thuật
sơn son thếp vàng, thếp bạc khi đi qua vùng Hồ
Nam Khi về ông truyền lại nghề cho dân làng
Bình Vọng, Đông Phú, Hạ Thái
Khi ông mất, để ghi nhớ công lao, vua Lê
phong cho ông làm “phúc thần” các làng trên Nhân
dân lập đền thờ ông và coi ông là tổ nghề sơn mài,
một ngành mỹ nghệ nổi tiếng của nước ta
NGUYỄN THỜI TRUNG
(Thế kỷ XVI)
Danh thần nhà Mạc, nhà ngoại giao, quê ở thôn Trúc Lâm, xã Hoàng Diệu, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, không rõ năm sinh, năm mất Ông được vua nhà Mạc cử đi sứ Trung Quốc Ông đã chọn ba thợ giỏi ở ba làng nghề Phong Lâm, Văn Lâm, Trúc Lâm là Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bôn cùng đi với sứ đoàn để tìm cách học kỹ thuật thuộc da, đóng giày
ở Trung Quốc Khi sứ đoàn đến Hàng Châu, Hồ Nam, thấy nhiều người làm nghề thuộc da, đóng giày, ông đã dừng lại quan sát Sứ Việt Nam và ba thợ giày đã làm quen với một gia đình họ Hứa và học được bí quyết, công nghệ thuộc da, đóng giày với nhiều mẫu mã đẹp
Sau khi về nước, ba thợ giày Tam Lâm đã mở lớp truyền nghề, vì vậy nghề làm giày ở Tam Lâm ngày càng thịnh vượng Thợ Tam Lâm có mặt ở khắp các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, v.v Còn Tam Lâm trở nên trù phú nhờ nghề thuộc da, đóng giày
Dân làng tôn ba vị thợ giày đi theo sứ đoàn Nguyễn Thời Trung làm tổ sư của làng và đền thờ chính vẫn còn ở làng Văn Lâm, đình thờ vọng ở làng Trúc Lâm
Trang 29LÊ CÔNG HÀNH
(1606 - 1661)
Là vị tổ nghề thêu của nước ta, tên chính là
Trần Quốc Khái; quê ở xã Quất Động, tổng Bình
Lăng, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay là
thôn Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường
Tín, Hà Nội Ông sinh năm 1606, mất ngày 12
tháng 6 năm Tân Sửu (1661), thọ 56 tuổi Ngày
này hằng năm được lấy làm ngày giỗ tổ nghề của
những làng sinh sống bằng nghề thêu
Lê Công Hành làm quan dưới thời vua Lê Thần
Tông (1619 - 1643 và 1649 - 1662), ông được vua
ban cho họ và đổi thành Lê Công Hành (cũng có tài
liệu gọi là Lê Công Hạnh) Năm 32 tuổi, ông thi đậu
đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa Đinh Sửu 1637
Năm Bính Tuất (1646), ông được cử đi sứ
sang Trung Quốc vì muốn thử trí thông minh của
sứ thần Việt Nam, người ta đã nhốt ông lên trên
một cái lầu cao và rút đi tất cả cầu thang Đêm đó
họ mời ông lên chơi lầu cao, ngủ đêm tại đó rồi lẻn
xuống bỏ lại ông một mình với pho tượng, bình
nước, đôi lọng, nghi môn rồi rút bỏ cầu thang để
thử trí thông minh của sứ thần Đại Việt
Ông tìm cách xuống nhưng không được vì lầu quá cao Thời gian trôi qua, bụng đói lại thêm khát Sau một hồi ngắm nghía bức tượng Phật, ông phát hiện tượng tuy màu đen nhưng không phải màu đen của đồng mà được làm từ một thứ bột thơm như bánh khảo, bèn bẻ tượng Phật ăn, uống nước mưa trong bình Thấy bức nghi môn thêu chỉ vàng kim tuyến, ông nảy ra ý nghĩ tháo tung nghi môn xem và nghiên cứu cách thêu của họ
Ông tìm hiểu cách thêu rồng của Trung Quốc,
từ cách thêu mắt, thêu vẩy, thêu đuôi, thêu râu và nhớ kỹ, sau đó nghiên cứu cách pha màu chỉ của từng loại hình như màu sắc đám mây, thân rồng, Ông còn quan sát đến đôi lọng, lấy một chiếc giương lên, cụp xuống và ghi nhớ các bộ phận cấu tạo của chiếc lọng Sau đó ông tháo tung
ra, xem cách lợp, cách đan và cách trang trí lọng Nhìn lên trời thấy chim bay lượn, ông ước ao
có một đôi cánh để thoát khỏi nơi này Bỗng một ý nghĩ loé lên Ông nai nịt gọn gàng và cầm chiếc lọng còn lại giương lên, ung dung thư thái nhảy từ lầu cao xuống và đặt chân nhẹ nhàng lên mặt đất trước sự ngạc nhiên của bọn lính canh
Quan lại nhà Minh đã phải thua sứ Đại Việt Không những vậy, Lê Công Hành còn học được cả nghề thêu, nghề làm lọng để về truyền lại cho người trong nước Sau này, nghề thêu đã từ làng Quất Động quê hương ông phát triển sang các
Trang 30LÊ CÔNG HÀNH
(1606 - 1661)
Là vị tổ nghề thêu của nước ta, tên chính là
Trần Quốc Khái; quê ở xã Quất Động, tổng Bình
Lăng, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay là
thôn Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường
Tín, Hà Nội Ông sinh năm 1606, mất ngày 12
tháng 6 năm Tân Sửu (1661), thọ 56 tuổi Ngày
này hằng năm được lấy làm ngày giỗ tổ nghề của
những làng sinh sống bằng nghề thêu
Lê Công Hành làm quan dưới thời vua Lê Thần
Tông (1619 - 1643 và 1649 - 1662), ông được vua
ban cho họ và đổi thành Lê Công Hành (cũng có tài
liệu gọi là Lê Công Hạnh) Năm 32 tuổi, ông thi đậu
đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa Đinh Sửu 1637
Năm Bính Tuất (1646), ông được cử đi sứ
sang Trung Quốc vì muốn thử trí thông minh của
sứ thần Việt Nam, người ta đã nhốt ông lên trên
một cái lầu cao và rút đi tất cả cầu thang Đêm đó
họ mời ông lên chơi lầu cao, ngủ đêm tại đó rồi lẻn
xuống bỏ lại ông một mình với pho tượng, bình
nước, đôi lọng, nghi môn rồi rút bỏ cầu thang để
thử trí thông minh của sứ thần Đại Việt
Ông tìm cách xuống nhưng không được vì lầu quá cao Thời gian trôi qua, bụng đói lại thêm khát Sau một hồi ngắm nghía bức tượng Phật, ông phát hiện tượng tuy màu đen nhưng không phải màu đen của đồng mà được làm từ một thứ bột thơm như bánh khảo, bèn bẻ tượng Phật ăn, uống nước mưa trong bình Thấy bức nghi môn thêu chỉ vàng kim tuyến, ông nảy ra ý nghĩ tháo tung nghi môn xem và nghiên cứu cách thêu của họ
Ông tìm hiểu cách thêu rồng của Trung Quốc,
từ cách thêu mắt, thêu vẩy, thêu đuôi, thêu râu và nhớ kỹ, sau đó nghiên cứu cách pha màu chỉ của từng loại hình như màu sắc đám mây, thân rồng, Ông còn quan sát đến đôi lọng, lấy một chiếc giương lên, cụp xuống và ghi nhớ các bộ phận cấu tạo của chiếc lọng Sau đó ông tháo tung
ra, xem cách lợp, cách đan và cách trang trí lọng Nhìn lên trời thấy chim bay lượn, ông ước ao
có một đôi cánh để thoát khỏi nơi này Bỗng một ý nghĩ loé lên Ông nai nịt gọn gàng và cầm chiếc lọng còn lại giương lên, ung dung thư thái nhảy từ lầu cao xuống và đặt chân nhẹ nhàng lên mặt đất trước sự ngạc nhiên của bọn lính canh
Quan lại nhà Minh đã phải thua sứ Đại Việt Không những vậy, Lê Công Hành còn học được cả nghề thêu, nghề làm lọng để về truyền lại cho người trong nước Sau này, nghề thêu đã từ làng Quất Động quê hương ông phát triển sang các
Trang 31địa phương khác Ngày nay, cứ ngày 12 tháng 6
âm lịch hằng năm, nhân dân làm nghề thêu ở
Quất Động, ở các phố Hàng Trống, Hàng Mành
(Hà Nội) đều làm lễ tế ông tổ nghề thêu Phố Hàng
Lọng và xã Quất Động có đền thờ Lê Công Hành
NGUYỄN ĐĂNG CẢO
(1619 - ?)
Là danh sĩ dưới thời vua Lê Chân Tông; là người thôn Hoài Bão, trấn Kinh Bắc, thường gọi là làng Bịu, nay thuộc xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Năm 1646, ông đậu thám hoa dưới đời vua Lê Chân Tông, sau đó lại đỗ đầu khoa Đông Các, được cử giữ chức Đông Các đại học sĩ Ông chỉ làm quan ba năm và bị bãi chức do tính ngang bướng, nói năng không kiêng nể Ông là anh ruột của tiến
sĩ Nguyễn Đăng Minh và là bác ruột tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuấn và trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo
Tương truyền ông là người tài giỏi văn chương, đối đáp sắc bén, nên nhiều lần được thay mặt triều đình, cùng với các quan khác tiếp sứ thần nhà Thanh Có lần sứ nhà Thanh sang, đến Xương Giang (thị xã Bắc Giang) không đi nữa và sai người mang đến triều đình Đại Việt vuông gấm có viết chữ “càn” và ra điều kiện ngang ngược
là giải được thì mới vào Thăng Long
Cả triều đình không ai đoán được nên vua cử người về mời Nguyễn Đăng Cảo Ông cáo bệnh không đi và lấy bút sổ một nét dọc trên giấy sai
Trang 32địa phương khác Ngày nay, cứ ngày 12 tháng 6
âm lịch hằng năm, nhân dân làm nghề thêu ở
Quất Động, ở các phố Hàng Trống, Hàng Mành
(Hà Nội) đều làm lễ tế ông tổ nghề thêu Phố Hàng
Lọng và xã Quất Động có đền thờ Lê Công Hành
NGUYỄN ĐĂNG CẢO
(1619 - ?)
Là danh sĩ dưới thời vua Lê Chân Tông; là người thôn Hoài Bão, trấn Kinh Bắc, thường gọi là làng Bịu, nay thuộc xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Năm 1646, ông đậu thám hoa dưới đời vua Lê Chân Tông, sau đó lại đỗ đầu khoa Đông Các, được cử giữ chức Đông Các đại học sĩ Ông chỉ làm quan ba năm và bị bãi chức do tính ngang bướng, nói năng không kiêng nể Ông là anh ruột của tiến
sĩ Nguyễn Đăng Minh và là bác ruột tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuấn và trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo
Tương truyền ông là người tài giỏi văn chương, đối đáp sắc bén, nên nhiều lần được thay mặt triều đình, cùng với các quan khác tiếp sứ thần nhà Thanh Có lần sứ nhà Thanh sang, đến Xương Giang (thị xã Bắc Giang) không đi nữa và sai người mang đến triều đình Đại Việt vuông gấm có viết chữ “càn” và ra điều kiện ngang ngược
là giải được thì mới vào Thăng Long
Cả triều đình không ai đoán được nên vua cử người về mời Nguyễn Đăng Cảo Ông cáo bệnh không đi và lấy bút sổ một nét dọc trên giấy sai
Trang 33bảo đưa sứ Thanh Ông giải thích thêm: Tượng
của quẻ “Càn” (trong Kinh Dịch) là ba nét ngang,
thêm nét dọc thì thành chữ Vương Nghĩa là nó
mang sắc phong vương sang
Nhà Thanh thấy nhà Lê suy yếu, nên sai sứ
mang chiếu thư buộc dân ta phải theo phong tục
Mãn Thanh: gọt đầu, tết tóc đuôi sam, v.v Vua
Lê đã phải phục hồi chức thị lang cho ông, để ông
lên Ải Nam quan tiếp sứ, đấu tranh bác bỏ yêu
sách vô lý, bảo vệ quốc thể, giữ hòa hiếu giữa hai
nước Bởi lý lẽ sắc bén của ông, nhà Thanh phải
hạ chiếu bãi bỏ yêu sách đó
Sau đó, Nguyễn Đăng Cảo lại được cử đi sứ
nhà Thanh Biết ông là người làm tờ biểu năm
trước, vua Thanh liền ra vế đối để hạ nhục ông:
Lão khuyển lạc mao, do hướng đình tiền phệ nguyệt
Nghĩa là: Con chó già rụng lông, lòng còn
ngóng ra sân sủa lên bóng trăng
Ông đối ngay:
Tiểu oa đoản cảnh, mạn cư tỉnh để khuy thiên
Nghĩa là: Con ếch ngắn cổ, cũng dám ngồi đáy
giếng nhòm lên trời
Câu đối vừa ngang tàng, vừa mỉa mai, coi bọn
vua quan nhà Thanh kiến thức hẹp hòi Vua
Thanh đã không dám xem thường sứ Đại Việt vừa
thông minh, vừa có dũng khí và sai tiễn về nước
NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO
(1651 - 1719)
Là danh sĩ đời vua Lê Hy Tông (1676 - 1704), sau đổi tên là Nguyễn Đăng Liễn, tự Chất Phu; quê ở thôn Hoài Thượng, tục gọi là làng Bịu Thượng, huyện Tiên Du, trấn Bắc Ninh, nay là huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Ông là con tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh, anh tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuấn, cháu thám hoa Nguyễn Đăng Cảo Năm 32 tuổi, ông đỗ trạng nguyên đời vua Lê Hy Tông nên gọi là Trạng Bịu Ông làm quan qua các chức: đô ngự sử, nhập thi kinh diên, thượng thư Bộ binh, tham tụng kiêm Đông Các đại học sĩ
Ông đi sứ Trung Quốc hai lần vào năm Đinh Mão (1687) và Đinh Sửu (1697) Lần đi sứ năm Đinh Mão, ông có nhiệm vụ đi cống và đòi lại đất Tương truyền, hôm tiếp các sứ thần Đại Việt, Cao Ly và các sứ thần khác, vua Thanh ra đề bài
“Bái nguyệt đình phu” để thử tài Nguyễn Đăng Đạo đã dự đoán đúng, có chuẩn bị trước và cầm bút thảo, chưa dứt ba tiếng trống đã nộp bài Quan coi thi rất kinh ngạc, song không đọc được
do ông viết theo lối thảo “xích chó”, nên yêu cầu ông viết lại cho rõ Do vậy ông lại có thêm thời gian để sửa cho thật hay
Trang 34bảo đưa sứ Thanh Ông giải thích thêm: Tượng
của quẻ “Càn” (trong Kinh Dịch) là ba nét ngang,
thêm nét dọc thì thành chữ Vương Nghĩa là nó
mang sắc phong vương sang
Nhà Thanh thấy nhà Lê suy yếu, nên sai sứ
mang chiếu thư buộc dân ta phải theo phong tục
Mãn Thanh: gọt đầu, tết tóc đuôi sam, v.v Vua
Lê đã phải phục hồi chức thị lang cho ông, để ông
lên Ải Nam quan tiếp sứ, đấu tranh bác bỏ yêu
sách vô lý, bảo vệ quốc thể, giữ hòa hiếu giữa hai
nước Bởi lý lẽ sắc bén của ông, nhà Thanh phải
hạ chiếu bãi bỏ yêu sách đó
Sau đó, Nguyễn Đăng Cảo lại được cử đi sứ
nhà Thanh Biết ông là người làm tờ biểu năm
trước, vua Thanh liền ra vế đối để hạ nhục ông:
Lão khuyển lạc mao, do hướng đình tiền phệ nguyệt
Nghĩa là: Con chó già rụng lông, lòng còn
ngóng ra sân sủa lên bóng trăng
Ông đối ngay:
Tiểu oa đoản cảnh, mạn cư tỉnh để khuy thiên
Nghĩa là: Con ếch ngắn cổ, cũng dám ngồi đáy
giếng nhòm lên trời
Câu đối vừa ngang tàng, vừa mỉa mai, coi bọn
vua quan nhà Thanh kiến thức hẹp hòi Vua
Thanh đã không dám xem thường sứ Đại Việt vừa
thông minh, vừa có dũng khí và sai tiễn về nước
NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO
(1651 - 1719)
Là danh sĩ đời vua Lê Hy Tông (1676 - 1704), sau đổi tên là Nguyễn Đăng Liễn, tự Chất Phu; quê ở thôn Hoài Thượng, tục gọi là làng Bịu Thượng, huyện Tiên Du, trấn Bắc Ninh, nay là huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Ông là con tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh, anh tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuấn, cháu thám hoa Nguyễn Đăng Cảo Năm 32 tuổi, ông đỗ trạng nguyên đời vua Lê Hy Tông nên gọi là Trạng Bịu Ông làm quan qua các chức: đô ngự sử, nhập thi kinh diên, thượng thư Bộ binh, tham tụng kiêm Đông Các đại học sĩ
Ông đi sứ Trung Quốc hai lần vào năm Đinh Mão (1687) và Đinh Sửu (1697) Lần đi sứ năm Đinh Mão, ông có nhiệm vụ đi cống và đòi lại đất Tương truyền, hôm tiếp các sứ thần Đại Việt, Cao Ly và các sứ thần khác, vua Thanh ra đề bài
“Bái nguyệt đình phu” để thử tài Nguyễn Đăng Đạo đã dự đoán đúng, có chuẩn bị trước và cầm bút thảo, chưa dứt ba tiếng trống đã nộp bài Quan coi thi rất kinh ngạc, song không đọc được
do ông viết theo lối thảo “xích chó”, nên yêu cầu ông viết lại cho rõ Do vậy ông lại có thêm thời gian để sửa cho thật hay
Trang 35Tiếp đó, vua Thanh lại ra câu đối:
Xuân tiêu phong nguyệt, nguyệt thiêm hoa
sắc; phong tống hoa hương, hương sinh sắc, sắc
sinh hương, hương hương sắc sắc mãn xuân tiêu,
tương tư khách hứng tương tư khách
Dịch nghĩa: Đêm xuân trăng gió, trăng thêm
sắc cho hoa, gió đưa hương hoa, hương sinh sắc,
sắc sinh hương, hương hương sắc sắc suốt đêm
xuân, khách tương tư nhớ nhung khách tương tư
Nguyễn Đăng Đạo đối lại:
Hạ nhật cầm thi, thi ngụ ngã tính, cầm hòa ngã
tính, tính viên tình tình viên tính, tính tính tình
tình ngu hạ nhật, tri âm nhân thức tri âm nhân
Dịch nghĩa: Ngày hạ đàn thơ, thơ ngụ tình ta,
đàn hòa tình ta, tính vươn tình, tình vươn tính,
tính tính tình tình vui ngày hạ, bạn tri âm biết
bạn tri âm
Sứ thần các nước khác đều đối lại song câu đối
của ông được khen ngợi nhiều Vua Thanh phê: Đàn
với thơ giao hòa với nhau, chung đúc cả tạo hóa vào
trong con người, từng câu, từng chữ đối nhau rất
chọi, đủ cả ý lẫn lời Do tài văn thơ mà vua Thanh
tặng ông danh hiệu “Lưỡng quốc trạng nguyên”
Khi luận bàn vấn đề cương giới, ông nghị luận
mấy ngày liền với những lập luận cùng bản đồ có
tính thuyết phục Do Tuần phủ Quảng Tây phản
đối, sợ tạo tiền lệ đòi Lưỡng Quảng vốn là đất
Triệu Đà chiếm, nên vua Thanh tìm cách hoãn
binh và hẹn trả lời sau
Mến tài ông, vua Thanh ban mũ áo trạng nguyên, cho vinh quy về nước Vì tránh bang giao căng thẳng mà ông nhận mũ áo, song không vui vì chưa đòi được đất
Trang 36Tiếp đó, vua Thanh lại ra câu đối:
Xuân tiêu phong nguyệt, nguyệt thiêm hoa
sắc; phong tống hoa hương, hương sinh sắc, sắc
sinh hương, hương hương sắc sắc mãn xuân tiêu,
tương tư khách hứng tương tư khách
Dịch nghĩa: Đêm xuân trăng gió, trăng thêm
sắc cho hoa, gió đưa hương hoa, hương sinh sắc,
sắc sinh hương, hương hương sắc sắc suốt đêm
xuân, khách tương tư nhớ nhung khách tương tư
Nguyễn Đăng Đạo đối lại:
Hạ nhật cầm thi, thi ngụ ngã tính, cầm hòa ngã
tính, tính viên tình tình viên tính, tính tính tình
tình ngu hạ nhật, tri âm nhân thức tri âm nhân
Dịch nghĩa: Ngày hạ đàn thơ, thơ ngụ tình ta,
đàn hòa tình ta, tính vươn tình, tình vươn tính,
tính tính tình tình vui ngày hạ, bạn tri âm biết
bạn tri âm
Sứ thần các nước khác đều đối lại song câu đối
của ông được khen ngợi nhiều Vua Thanh phê: Đàn
với thơ giao hòa với nhau, chung đúc cả tạo hóa vào
trong con người, từng câu, từng chữ đối nhau rất
chọi, đủ cả ý lẫn lời Do tài văn thơ mà vua Thanh
tặng ông danh hiệu “Lưỡng quốc trạng nguyên”
Khi luận bàn vấn đề cương giới, ông nghị luận
mấy ngày liền với những lập luận cùng bản đồ có
tính thuyết phục Do Tuần phủ Quảng Tây phản
đối, sợ tạo tiền lệ đòi Lưỡng Quảng vốn là đất
Triệu Đà chiếm, nên vua Thanh tìm cách hoãn
binh và hẹn trả lời sau
Mến tài ông, vua Thanh ban mũ áo trạng nguyên, cho vinh quy về nước Vì tránh bang giao căng thẳng mà ông nhận mũ áo, song không vui vì chưa đòi được đất
Trang 37PHẠM KHIÊM ÍCH
(1679 - 1740)
Phạm Khiêm Ích hiệu Kính Trai, là danh thần
đời Lê Dụ Tông (1705 - 1729) và Nhân Vương
Trịnh Cương (1709 - 1729), vốn họ Nguyễn, sau
đổi sang họ Phạm vì làm con nuôi đại thần Phạm
Công Thiện; quê thôn Kim Sơn, xã Bảo Triệu,
huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội
Năm 1710, ông đỗ thám hoa, sau đó đỗ đầu
khoa Đông Các (trên tiến sĩ), làm đến thượng thư,
Đông Các đại học sĩ, hàm Á Bảo tả lý cộng thần,
sau thăng đến chức thái tể (sau khi đi sứ về)
Năm 1723, ông được cử đi sứ sang nhà
Thanh, mừng Ung Chính lên ngôi (có sách nói
ông đi sứ năm 1726, mừng Khang Hy là không
đúng) Cùng đi với ông với chức trách phó sứ có
tiến sĩ Nguyễn Huy Nhuận, quê ở huyện Gia
Lâm, Hà Nội và tiến sĩ Phạm Đình Kính, người
huyện Vụ Bản, Nam Định
Khi sứ đoàn đến Yên Kinh (Bắc Kinh), Ung
Chính tiếp ở điện Kiền Thanh, sứ bộ chúc mừng,
rồi chính tay Ung Chính viết bốn chữ “Nhật Nam
thế tộ” (hết đời này qua đời khác giữ ngôi báu ở
phương Nam) Nhân dịp Tết Thượng Nguyên,
Phạm Khiêm Ích dâng thơ chúc mừng, được vua
Thanh hết sức khen ngợi và cho rằng Đại Việt là nước sùng đạo Nho, yêu văn học nên đã gửi tặng
vua Lê Dụ Tông ba bộ sách: Bội văn vận phủ,
Uyên giám loại hàm, Cổ văn uyên giám
Ung Chính là ông vua có nhiều cải cách xã hội, đem lại lợi ích cho dân Thời Lê Dụ Tông chấp chính, cũng tiến hành cải cách nhiều phương diện, đặc biệt là thuế, tài chính như Phan Huy Chú đã khen ngợi
Công tác chính sự và ngoại giao lúc đó của Đại Việt thật sáng suốt, trong đó có đóng góp của Phạm Khiêm Ích Ông mất năm 1740
Trang 38PHẠM KHIÊM ÍCH
(1679 - 1740)
Phạm Khiêm Ích hiệu Kính Trai, là danh thần
đời Lê Dụ Tông (1705 - 1729) và Nhân Vương
Trịnh Cương (1709 - 1729), vốn họ Nguyễn, sau
đổi sang họ Phạm vì làm con nuôi đại thần Phạm
Công Thiện; quê thôn Kim Sơn, xã Bảo Triệu,
huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội
Năm 1710, ông đỗ thám hoa, sau đó đỗ đầu
khoa Đông Các (trên tiến sĩ), làm đến thượng thư,
Đông Các đại học sĩ, hàm Á Bảo tả lý cộng thần,
sau thăng đến chức thái tể (sau khi đi sứ về)
Năm 1723, ông được cử đi sứ sang nhà
Thanh, mừng Ung Chính lên ngôi (có sách nói
ông đi sứ năm 1726, mừng Khang Hy là không
đúng) Cùng đi với ông với chức trách phó sứ có
tiến sĩ Nguyễn Huy Nhuận, quê ở huyện Gia
Lâm, Hà Nội và tiến sĩ Phạm Đình Kính, người
huyện Vụ Bản, Nam Định
Khi sứ đoàn đến Yên Kinh (Bắc Kinh), Ung
Chính tiếp ở điện Kiền Thanh, sứ bộ chúc mừng,
rồi chính tay Ung Chính viết bốn chữ “Nhật Nam
thế tộ” (hết đời này qua đời khác giữ ngôi báu ở
phương Nam) Nhân dịp Tết Thượng Nguyên,
Phạm Khiêm Ích dâng thơ chúc mừng, được vua
Thanh hết sức khen ngợi và cho rằng Đại Việt là nước sùng đạo Nho, yêu văn học nên đã gửi tặng
vua Lê Dụ Tông ba bộ sách: Bội văn vận phủ,
Uyên giám loại hàm, Cổ văn uyên giám
Ung Chính là ông vua có nhiều cải cách xã hội, đem lại lợi ích cho dân Thời Lê Dụ Tông chấp chính, cũng tiến hành cải cách nhiều phương diện, đặc biệt là thuế, tài chính như Phan Huy Chú đã khen ngợi
Công tác chính sự và ngoại giao lúc đó của Đại Việt thật sáng suốt, trong đó có đóng góp của Phạm Khiêm Ích Ông mất năm 1740
Trang 39NGUYỄN CÔNG HÃNG
(1680 - 1732)
Nguyễn Công Hãng làm quan dưới thời vua Lê
Hy Tông, hiệu là Tĩnh Am; quê ở thôn Phù Chẩn,
huyện Đông Ngàn, nay là thôn Phù Chẩn, xã Phù
Chẩn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Nguyễn Công Hãng đỗ đệ tam giáp đồng tiến
sĩ khoa thi năm Canh Thìn (1700), đời Lê Hy
Tông Ông đã từng giữ chức đề hình (1711), thiên
đô ngự sử, đốc trấn Cao Bằng Năm 1717, ông
được triệu về thăng tả thị lang bộ Binh Mùa
Xuân năm sau, ông được cử làm chánh sứ sang
nhà Thanh thông báo vua Lê Hy Tông mất và xin
phong vua mới Trong chuyến đi sứ này, ngoài các
việc nêu trên, ông đã làm được hai việc lớn: Đến
lúc đó, Đại Việt vẫn phải cống người vàng và nước
giếng Cổ Loa Việc cống người vàng tương truyền
để đền mạng Liễu Thăng bị Lê Thái Tổ chém chết,
sau đó, khoảng giữa thời Lê Sơ, đã được đổi sang
thành lư hương, bình hoa, có trọng lượng tương
đương Khi nhà Mạc đoạt ngôi đã hối lộ nhà Minh
nhiều hơn, lại cống người vàng nặng cân hơn và
cúi mặt Đến nhà Lê Trung Hưng, nhà Minh lại
đòi cống người vàng cúi mặt để trả thù việc ta
giết cống thần của nhà Minh là Mạc Mậu Hợp
Sứ thần Phùng Khắc Khoan đã đấu tranh với nhà Minh để không phải cống tượng người cúi mặt, song vẫn phải cống người vàng
Nguyễn Công Hãng đã biện giải khôn ngoan Ông nói: Quốc vương tôi nay giữ cơ nghiệp tổ tiên,
về cống hiến không thiếu thốn gì, còn chuyện châu thành nạp khoản là việc cũ thì sứ thần này không dám biết tới Về việc Liễu Thăng, ông nói: Liễu Thăng là tướng nhà Minh trước kia, còn nhà Thanh ta rộng có muôn nước thế mà lại bo bo đòi của lót để báo thù cho người xưa thì lấy gì khuyên người ta đến với mình? Thấy lập luận của sứ thần Đại Việt rất sắc bén và có lý, nhà Thanh quyết định bỏ lệ cống người vàng và nước giếng Cổ Loa
Trang 40NGUYỄN CÔNG HÃNG
(1680 - 1732)
Nguyễn Công Hãng làm quan dưới thời vua Lê
Hy Tông, hiệu là Tĩnh Am; quê ở thôn Phù Chẩn,
huyện Đông Ngàn, nay là thôn Phù Chẩn, xã Phù
Chẩn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Nguyễn Công Hãng đỗ đệ tam giáp đồng tiến
sĩ khoa thi năm Canh Thìn (1700), đời Lê Hy
Tông Ông đã từng giữ chức đề hình (1711), thiên
đô ngự sử, đốc trấn Cao Bằng Năm 1717, ông
được triệu về thăng tả thị lang bộ Binh Mùa
Xuân năm sau, ông được cử làm chánh sứ sang
nhà Thanh thông báo vua Lê Hy Tông mất và xin
phong vua mới Trong chuyến đi sứ này, ngoài các
việc nêu trên, ông đã làm được hai việc lớn: Đến
lúc đó, Đại Việt vẫn phải cống người vàng và nước
giếng Cổ Loa Việc cống người vàng tương truyền
để đền mạng Liễu Thăng bị Lê Thái Tổ chém chết,
sau đó, khoảng giữa thời Lê Sơ, đã được đổi sang
thành lư hương, bình hoa, có trọng lượng tương
đương Khi nhà Mạc đoạt ngôi đã hối lộ nhà Minh
nhiều hơn, lại cống người vàng nặng cân hơn và
cúi mặt Đến nhà Lê Trung Hưng, nhà Minh lại
đòi cống người vàng cúi mặt để trả thù việc ta
giết cống thần của nhà Minh là Mạc Mậu Hợp
Sứ thần Phùng Khắc Khoan đã đấu tranh với nhà Minh để không phải cống tượng người cúi mặt, song vẫn phải cống người vàng
Nguyễn Công Hãng đã biện giải khôn ngoan Ông nói: Quốc vương tôi nay giữ cơ nghiệp tổ tiên,
về cống hiến không thiếu thốn gì, còn chuyện châu thành nạp khoản là việc cũ thì sứ thần này không dám biết tới Về việc Liễu Thăng, ông nói: Liễu Thăng là tướng nhà Minh trước kia, còn nhà Thanh ta rộng có muôn nước thế mà lại bo bo đòi của lót để báo thù cho người xưa thì lấy gì khuyên người ta đến với mình? Thấy lập luận của sứ thần Đại Việt rất sắc bén và có lý, nhà Thanh quyết định bỏ lệ cống người vàng và nước giếng Cổ Loa