1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về các nhà ngoại giao trong lịch sử dân tộc: Phần 1

82 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về các nhà ngoại giao trong lịch sử dân tộc: Phần 1
Tác giả Vũ Dương Huân
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sách tham khảo
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của cuốn sách Các nhà ngoại giao trong lịch sử dân tộc cung cấp cho bạn đọc các thông tin về các nhân vật ngoại giao như: Đỗ Thuận, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Đào Tông Nguyên, Lê Văn Thịnh, Nguyễn Hiền, Trần Thánh Tông, Lê Phụ Trần, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Đinh Củng Viên, Đào Tử Kỳ,... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 2

Chịu trách nhiệm xuất bản:

Q GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PHẠM CHÍ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung:

BÙI BỘI THU

Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/16-301/CTQG

Số quyết định xuất bản: 5009-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020 Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020

Mã số ISBN: 978-604-57-5669-0

Trang 4

Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm

cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam

Vò D−¬ng Hu©n

C¸c nhµ ngo¹i giao trong lÞch sö d©n téc / Vò D−¬ng Hu©n - XuÊt b¶n lÇn thø 2 - H : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2017 -164tr ; 21cm

1 Nhµ ngo¹i giao 2 LÞch sö 3 ViÖt Nam

327.597 - dc23

CTM0186p-CIP

Trang 6

Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm

cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam

Vò D−¬ng Hu©n

C¸c nhµ ngo¹i giao trong lÞch sö d©n téc / Vò D−¬ng

Hu©n XuÊt b¶n lÇn thø 2 H : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2017

-164tr ; 21cm

1 Nhµ ngo¹i giao 2 LÞch sö 3 ViÖt Nam

327.597 - dc23

CTM0186p-CIP

Trang 7

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Lịch sử bang giao của các vương triều phong

kiến nước ta cho thấy, ngoại giao trong nhiều giai

đoạn là một mặt trận đấu tranh không kém phần

quyết liệt mà những vị quan được cử tiếp sứ hay đi

sứ đều là những người “trí dũng song toàn”, nhạy

bén về chính trị, dũng cảm trong mọi khó khăn, biết

rõ đối phương và tuyệt đối trung thành với đất

nước Lê Văn Thịnh (thế kỷ XI), Đỗ Khắc Chung

(thế kỷ XIII), Mạc Đĩnh Chi (thế kỷ XIV), Nguyễn

Trãi (thế kỷ XV), Phùng Khắc Khoan (thế kỷ XVI),

Giang Văn Minh (thế kỷ XVII), Lê Quý Đôn (thế kỷ

XVIII), Ngô Thì Nhậm (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế

kỷ XIX), là những ví dụ cụ thể Cốt cách, tài năng

của họ làm cho kẻ đối diện phải kính phục

Cùng với đấu tranh quân sự, hoạt động ngoại

giao của tổ tiên ta cũng góp phần làm thất bại mưu

đồ xâm lược của các thế lực ngoại bang, thể hiện

phẩm chất tốt đẹp của một dân tộc anh hùng, đầy

tính chiến đấu, đồng thời cũng rất yêu chuộng hòa

bình, muốn thiết lập và duy trì quan hệ hữu hảo với

láng giềng song kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền

đất nước khi bị xâm phạm, nêu cao chính nghĩa,

kiên trì nguyên tắc nhưng mềm mỏng, linh hoạt trong ứng xử ngoại giao

Nhằm cung cấp thêm cho bạn đọc những tư liệu minh họa một số hoạt động ngoại giao thực tiễn của ông cha ta trong đấu tranh chống phong kiến phương Bắc để bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc và quốc thể nước ta, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

Sự thật cho tái bản cuốn sách Các nhà ngoại giao

trong lịch sử dân tộc Các nhân vật ngoại giao

được nêu trong cuốn sách cũng nói lên phần nào nền văn hiến lâu đời của dân tộc và phong cách ngoại giao Việt Nam thời xưa mà các sứ thần của nước ta

là tiêu biểu cho tài cao, trí rộng và khí phách anh hùng của dân tộc

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 11 năm 2017

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

Trang 8

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Lịch sử bang giao của các vương triều phong

kiến nước ta cho thấy, ngoại giao trong nhiều giai

đoạn là một mặt trận đấu tranh không kém phần

quyết liệt mà những vị quan được cử tiếp sứ hay đi

sứ đều là những người “trí dũng song toàn”, nhạy

bén về chính trị, dũng cảm trong mọi khó khăn, biết

rõ đối phương và tuyệt đối trung thành với đất

nước Lê Văn Thịnh (thế kỷ XI), Đỗ Khắc Chung

(thế kỷ XIII), Mạc Đĩnh Chi (thế kỷ XIV), Nguyễn

Trãi (thế kỷ XV), Phùng Khắc Khoan (thế kỷ XVI),

Giang Văn Minh (thế kỷ XVII), Lê Quý Đôn (thế kỷ

XVIII), Ngô Thì Nhậm (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế

kỷ XIX), là những ví dụ cụ thể Cốt cách, tài năng

của họ làm cho kẻ đối diện phải kính phục

Cùng với đấu tranh quân sự, hoạt động ngoại

giao của tổ tiên ta cũng góp phần làm thất bại mưu

đồ xâm lược của các thế lực ngoại bang, thể hiện

phẩm chất tốt đẹp của một dân tộc anh hùng, đầy

tính chiến đấu, đồng thời cũng rất yêu chuộng hòa

bình, muốn thiết lập và duy trì quan hệ hữu hảo với

láng giềng song kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền

đất nước khi bị xâm phạm, nêu cao chính nghĩa,

kiên trì nguyên tắc nhưng mềm mỏng, linh hoạt trong ứng xử ngoại giao

Nhằm cung cấp thêm cho bạn đọc những tư liệu minh họa một số hoạt động ngoại giao thực tiễn của ông cha ta trong đấu tranh chống phong kiến phương Bắc để bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc và quốc thể nước ta, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

Sự thật cho tái bản cuốn sách Các nhà ngoại giao

trong lịch sử dân tộc Các nhân vật ngoại giao

được nêu trong cuốn sách cũng nói lên phần nào nền văn hiến lâu đời của dân tộc và phong cách ngoại giao Việt Nam thời xưa mà các sứ thần của nước ta

là tiêu biểu cho tài cao, trí rộng và khí phách anh hùng của dân tộc

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 11 năm 2017

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

Trang 9

ĐÔI ĐIỀU VỀ NGOẠI GIAO

TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG

Nước Việt Nam ở đông nam lục địa châu Á,

phía bắc giáp với Trung Hoa, phía đông là Biển

Đông, phía tây giáp với Lào, Campuchia Dân tộc

Việt Nam có lịch sử dựng nước tương đối sớm ở

khu vực Đông Nam châu Á Đại Việt sử lược được

biên soạn vào thế kỷ XIII cho rằng, nhà nước đầu

tiên của nước ta là nhà nước Văn Lang của các

vua Hùng, ra đời vào thế kỷ VII trước Công

nguyên, cùng thời vua Chu Trang Vương, nhà

Chu (Trung Quốc) Tuy nhiên, theo truyền thuyết,

thời đại Hùng Vương khởi đầu vào năm 2879

trước Công nguyên với Kinh Dương Vương và kéo

dài đến năm 258 trước Công nguyên Tiếp đó, là

nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương (257-207

trước Công nguyên) Năm 218 trước Công nguyên,

nhà Tần đem 50 vạn quân xâm lược Âu Lạc, song

bị thất bại, nhưng Âu Lạc lại bị Triệu Đà thôn tính

và năm 111 trước Công nguyên bị nhà Hán xâm

chiếm, biến thành quận, huyện của Trung Hoa

Những cuộc khởi nghĩa chống lại ách thống trị

của các chế độ phong kiến phương Bắc đã lần lượt

nổ ra Tiêu biểu là khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

năm 40 trước Công nguyên, khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248 Năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, lập ra nước Vạn Xuân độc lập (544), song không bao lâu nước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Lương Tiếp

đó, là các cuộc khởi nghĩa của Triệu Quang Phục, Khúc Thừa Dụ,

Chế độ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm Năm 938, chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền mở ra một kỷ nguyên độc lập cho đất nước, khôi phục quan hệ bang giao với các nước láng giềng, trước hết là Trung Quốc Kế tiếp là các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn và Nguyễn Tuy vậy, trước khi bị nhà Hán đô hộ, nhà nước Văn Lang, Âu Lạc cũng

đã tiếp xúc với Trung Hoa Theo sử Trung Quốc, năm 2353 trước Công nguyên, sứ bộ đầu tiên của nước ta đã đến thăm vua Đường Nghiêu thứ V với quà tặng là một cụ rùa lớn trên mai có khắc chữ khoa đẩu, ghi sự việc khi trời đất được mở mang Vua Nghiêu rất trân trọng món quà này và cho chép những điều ghi trên mai rùa làm lịch Ở phương Đông, rùa là biểu tượng của trường tồn, nên tổ tiên chúng ta muốn gửi một thông điệp mong muốn tạo dựng mối quan hệ bền vững với láng giềng Sứ bộ thứ hai của nhà nước Văn Lang thăm kinh đô nhà Chu ở Cam Túc vào năm 1110 trước Công nguyên, gặp vua Thành Vương thứ VII nhà Chu Tặng phẩm lần này là chim trĩ trắng,

Trang 10

ĐÔI ĐIỀU VỀ NGOẠI GIAO

TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG

Nước Việt Nam ở đông nam lục địa châu Á,

phía bắc giáp với Trung Hoa, phía đông là Biển

Đông, phía tây giáp với Lào, Campuchia Dân tộc

Việt Nam có lịch sử dựng nước tương đối sớm ở

khu vực Đông Nam châu Á Đại Việt sử lược được

biên soạn vào thế kỷ XIII cho rằng, nhà nước đầu

tiên của nước ta là nhà nước Văn Lang của các

vua Hùng, ra đời vào thế kỷ VII trước Công

nguyên, cùng thời vua Chu Trang Vương, nhà

Chu (Trung Quốc) Tuy nhiên, theo truyền thuyết,

thời đại Hùng Vương khởi đầu vào năm 2879

trước Công nguyên với Kinh Dương Vương và kéo

dài đến năm 258 trước Công nguyên Tiếp đó, là

nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương (257-207

trước Công nguyên) Năm 218 trước Công nguyên,

nhà Tần đem 50 vạn quân xâm lược Âu Lạc, song

bị thất bại, nhưng Âu Lạc lại bị Triệu Đà thôn tính

và năm 111 trước Công nguyên bị nhà Hán xâm

chiếm, biến thành quận, huyện của Trung Hoa

Những cuộc khởi nghĩa chống lại ách thống trị

của các chế độ phong kiến phương Bắc đã lần lượt

nổ ra Tiêu biểu là khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

năm 40 trước Công nguyên, khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248 Năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, lập ra nước Vạn Xuân độc lập (544), song không bao lâu nước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Lương Tiếp

đó, là các cuộc khởi nghĩa của Triệu Quang Phục, Khúc Thừa Dụ,

Chế độ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm Năm 938, chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền mở ra một kỷ nguyên độc lập cho đất nước, khôi phục quan hệ bang giao với các nước láng giềng, trước hết là Trung Quốc Kế tiếp là các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn và Nguyễn Tuy vậy, trước khi bị nhà Hán đô hộ, nhà nước Văn Lang, Âu Lạc cũng

đã tiếp xúc với Trung Hoa Theo sử Trung Quốc, năm 2353 trước Công nguyên, sứ bộ đầu tiên của nước ta đã đến thăm vua Đường Nghiêu thứ V với quà tặng là một cụ rùa lớn trên mai có khắc chữ khoa đẩu, ghi sự việc khi trời đất được mở mang Vua Nghiêu rất trân trọng món quà này và cho chép những điều ghi trên mai rùa làm lịch Ở phương Đông, rùa là biểu tượng của trường tồn, nên tổ tiên chúng ta muốn gửi một thông điệp mong muốn tạo dựng mối quan hệ bền vững với láng giềng Sứ bộ thứ hai của nhà nước Văn Lang thăm kinh đô nhà Chu ở Cam Túc vào năm 1110 trước Công nguyên, gặp vua Thành Vương thứ VII nhà Chu Tặng phẩm lần này là chim trĩ trắng,

Trang 11

linh vật của nước ta Vua Chu tặng lại sứ đoàn

năm cỗ xe gắn la bàn để đưa sứ bộ về nước1

Phát huy truyền thống trên, trong suốt thời

gian dài dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã có

rất nhiều hoạt động ngoại giao nhằm giành độc

lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước, tạo nên

bản sắc ngoại giao truyền thống Việt Nam

Một vài đặc điểm ngoại giao của cha ông

Coi trọng hòa hiếu với các nước láng giềng

Cha ông ta đã rất coi trọng hòa hiếu với láng

giềng, nhất là Trung Quốc, thực hiện chính sách

đối ngoại “thần phục thiên triều”, “trong xưng đế,

ngoài xưng vương”, khôn khéo, mưu trí trong bảo

vệ, củng cố nền độc lập dân tộc của mình Đây là

tư tưởng lớn, cơ bản, có tính chất chủ đạo của

ngoại giao truyền thống Việt Nam Ở Trung Quốc,

nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên ra đời là nhà

Hạ (thế kỷ XXII-XXI trước Công nguyên) Tiếp

đến là nhà Thương Đầu thế kỷ XI trước Công

nguyên, Chu Vũ Vương diệt nhà Thương, lập ra

nhà Tây Chu Vua Chu phong hầu cho họ hàng,

thân thích, các chư hầu ra đời từ đó Nhà Chu đã

trở thành đế chế phong kiến rộng lớn Một mặt, họ

thiết lập chế độ thống trị rất hà khắc đối với nhân

dân trong nước, mặt khác, lại ra sức bành trướng

đồ cống nạp Thiên hạ cũng được chia làm năm cõi: Diện phục, Hầu phục, Tuy phục, Yêu phục, Hoang phục để xác định chỗ nào là đất của vua, thái ấp của các quan đại phu, chư hầu, nơi sinh sống của người có tội đi đầy, các dân tộc “mọi rợ”, Trong thiên hạ, Trung Quốc ở giữa, chung quanh là các chư hầu mà Trung Quốc gọi là phiên thuộc Vì thế, người Trung Quốc tự coi mình là Hoa Hạ (Hoa là tinh hoa, còn Hạ là lớn mạnh nhất) Hoa Hạ làm chủ Trung Quốc còn các dân tộc khác là nhung, di, man, địch Dưới ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo, họ cho rằng làm chủ thiên hạ

là thiên tử (con trời), thay trời trị dân; quyền của thiên tử là tuyệt đối Các nước phải phục tùng nước tông chủ theo những quy định về quân sự, chính trị, kinh tế Sách phong và triều cống là hai công cụ chính của thiên triều trong hàng nghìn năm để khuất phục chư hầu

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng nên có chính sách ngoại giao khéo léo, mưu trí Nhà sử học Phan Huy Chú rất đúng khi nhận xét: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng giềng

là việc lớn, mà những khi ứng thù lại rất quan hệ,

Trang 12

linh vật của nước ta Vua Chu tặng lại sứ đoàn

năm cỗ xe gắn la bàn để đưa sứ bộ về nước1

Phát huy truyền thống trên, trong suốt thời

gian dài dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã có

rất nhiều hoạt động ngoại giao nhằm giành độc

lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước, tạo nên

bản sắc ngoại giao truyền thống Việt Nam

Một vài đặc điểm ngoại giao của cha ông

Coi trọng hòa hiếu với các nước láng giềng

Cha ông ta đã rất coi trọng hòa hiếu với láng

giềng, nhất là Trung Quốc, thực hiện chính sách

đối ngoại “thần phục thiên triều”, “trong xưng đế,

ngoài xưng vương”, khôn khéo, mưu trí trong bảo

vệ, củng cố nền độc lập dân tộc của mình Đây là

tư tưởng lớn, cơ bản, có tính chất chủ đạo của

ngoại giao truyền thống Việt Nam Ở Trung Quốc,

nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên ra đời là nhà

Hạ (thế kỷ XXII-XXI trước Công nguyên) Tiếp

đến là nhà Thương Đầu thế kỷ XI trước Công

nguyên, Chu Vũ Vương diệt nhà Thương, lập ra

nhà Tây Chu Vua Chu phong hầu cho họ hàng,

thân thích, các chư hầu ra đời từ đó Nhà Chu đã

trở thành đế chế phong kiến rộng lớn Một mặt, họ

thiết lập chế độ thống trị rất hà khắc đối với nhân

dân trong nước, mặt khác, lại ra sức bành trướng

đồ cống nạp Thiên hạ cũng được chia làm năm cõi: Diện phục, Hầu phục, Tuy phục, Yêu phục, Hoang phục để xác định chỗ nào là đất của vua, thái ấp của các quan đại phu, chư hầu, nơi sinh sống của người có tội đi đầy, các dân tộc “mọi rợ”, Trong thiên hạ, Trung Quốc ở giữa, chung quanh là các chư hầu mà Trung Quốc gọi là phiên thuộc Vì thế, người Trung Quốc tự coi mình là Hoa Hạ (Hoa là tinh hoa, còn Hạ là lớn mạnh nhất) Hoa Hạ làm chủ Trung Quốc còn các dân tộc khác là nhung, di, man, địch Dưới ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo, họ cho rằng làm chủ thiên hạ

là thiên tử (con trời), thay trời trị dân; quyền của thiên tử là tuyệt đối Các nước phải phục tùng nước tông chủ theo những quy định về quân sự, chính trị, kinh tế Sách phong và triều cống là hai công cụ chính của thiên triều trong hàng nghìn năm để khuất phục chư hầu

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng nên có chính sách ngoại giao khéo léo, mưu trí Nhà sử học Phan Huy Chú rất đúng khi nhận xét: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng giềng

là việc lớn, mà những khi ứng thù lại rất quan hệ,

Trang 13

cho nên nghĩa tu hiếu (việc giao hiếu) chép ở Kinh

Xuân Thu, đạo giao lân (giao thiệp với các nước

láng giềng) chép ở Hiền truyện (sách Mạnh Tử),

chính là đem lòng tin thực mà kết giao, người có

quyền trị nước phải nên cẩn thận”1 Đứng trước

một đối thủ mạnh, luôn thường trực tư tưởng

bành trướng, bá quyền, nên để có được quan hệ

hòa hiếu, các triều đại phong kiến Việt Nam đã

phải thực hiện chính sách đối ngoại “thần phục

thiên triều”, “trong xưng đế, ngoài xưng vương”

Đây là chính sách vô cùng khôn ngoan, sáng suốt,

sự lựa chọn duy nhất đúng trong hoàn cảnh lịch

sử bấy giờ Việc xin thần phục thiên triều được thể

hiện qua việc các vua Đại Việt đều xin được thiên

triều phong vương và triều cống Việc phong

vương có ý nghĩa rất quan trọng, là sự khẳng định

tính chính danh, tính hợp pháp của triều đại đó

đối với thiên triều Thiên triều có nghĩa vụ đảm

bảo an ninh, toàn vẹn lãnh thổ cho quốc gia được

phong vương Chỉ có vậy mới có quan hệ hòa hiếu,

ổn định để giữ vững độc lập, chủ quyền và xây

dựng, phát triển đất nước Ngoài ra, các triều đại

Việt Nam còn cống cho Trung Quốc các sản vật

địa phương như voi, ngà voi, tê giác, sừng tê giác,

chim trĩ và lông chim trĩ, trầm hương, vàng bạc,

châu báu và thợ lành nghề, thầy tu, thầy bói, v.v

_

1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, “Bang

giao chí”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, t 2, tr 533

Việc triều cống được quy định ba năm một lần Từ khi kinh đô của Trung Hoa chuyển lên Yên Kinh (Bắc Kinh) thì sáu năm một lần, song phải có hai

lễ cống1 Trong lịch sử thế giới, các nước Ai Cập,

Hy Lạp, La Mã, Ba Tư, đều bắt các nước nhỏ phụ thuộc mình nhưng không ràng buộc các nước phụ thuộc như phong kiến Trung Quốc

Quan hệ thần phục được thiên triều đáp lại ở nhiều mức khác nhau, từ chỗ được công nhận là người đứng đầu quận, huyện, đến được công nhận

là phiên thuộc, rồi được đứng vào hàng chư hầu, triều hội nhà Minh Đường2 và sau cùng là được chấp nhận đứng đầu một nước với tư cách là quốc vương Phan Huy Chú viết: “Nước ta thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu triều hội ở nhà Minh Đường Rồi bị _

1 Ví dụ: Đồ cống năm 1431 của vua Lê cho nhà Minh gồm 1 người vàng (trả nợ việc Lê Lợi chém đầu Liễu Thăng tại trận Chi Lăng), 1 lư hương bạc, 1 đôi bình hoa bạc, 300 tấm lụa thổ sản, 14 đôi ngà voi, 20 lọ hương hun áo, 2 vạn nén tuyền hương, 24 khối tốc hương Cũng năm này, Lê Lợi

tạ ơn được phong vương nên cống 5 vạn lạng vàng Đồ cống nhà Mạc gồm: lư hương và bình hoa vàng 4 bộ (nặng 100 lạng), rùa vàng 1 con nặng 90 lạng, hạc bạc và đài bạc mỗi thứ 1 cái nặng 50 lạng, bình hoa và lư hương bạc 2 bộ nặng 2.150 lạng, 12 chiếc mâm bạc nặng 64 lạng, trầm hương 60 cân (cân ta), tốc hương 148 cân

2 Nhà Minh Đường: Lễ đường của nhà Minh, được xem như phòng khánh tiết, là nơi các chư hầu triều hội

Trang 14

cho nên nghĩa tu hiếu (việc giao hiếu) chép ở Kinh

Xuân Thu, đạo giao lân (giao thiệp với các nước

láng giềng) chép ở Hiền truyện (sách Mạnh Tử),

chính là đem lòng tin thực mà kết giao, người có

quyền trị nước phải nên cẩn thận”1 Đứng trước

một đối thủ mạnh, luôn thường trực tư tưởng

bành trướng, bá quyền, nên để có được quan hệ

hòa hiếu, các triều đại phong kiến Việt Nam đã

phải thực hiện chính sách đối ngoại “thần phục

thiên triều”, “trong xưng đế, ngoài xưng vương”

Đây là chính sách vô cùng khôn ngoan, sáng suốt,

sự lựa chọn duy nhất đúng trong hoàn cảnh lịch

sử bấy giờ Việc xin thần phục thiên triều được thể

hiện qua việc các vua Đại Việt đều xin được thiên

triều phong vương và triều cống Việc phong

vương có ý nghĩa rất quan trọng, là sự khẳng định

tính chính danh, tính hợp pháp của triều đại đó

đối với thiên triều Thiên triều có nghĩa vụ đảm

bảo an ninh, toàn vẹn lãnh thổ cho quốc gia được

phong vương Chỉ có vậy mới có quan hệ hòa hiếu,

ổn định để giữ vững độc lập, chủ quyền và xây

dựng, phát triển đất nước Ngoài ra, các triều đại

Việt Nam còn cống cho Trung Quốc các sản vật

địa phương như voi, ngà voi, tê giác, sừng tê giác,

chim trĩ và lông chim trĩ, trầm hương, vàng bạc,

châu báu và thợ lành nghề, thầy tu, thầy bói, v.v

_

1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, “Bang

giao chí”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, t 2, tr 533

Việc triều cống được quy định ba năm một lần Từ khi kinh đô của Trung Hoa chuyển lên Yên Kinh (Bắc Kinh) thì sáu năm một lần, song phải có hai

lễ cống1 Trong lịch sử thế giới, các nước Ai Cập,

Hy Lạp, La Mã, Ba Tư, đều bắt các nước nhỏ phụ thuộc mình nhưng không ràng buộc các nước phụ thuộc như phong kiến Trung Quốc

Quan hệ thần phục được thiên triều đáp lại ở nhiều mức khác nhau, từ chỗ được công nhận là người đứng đầu quận, huyện, đến được công nhận

là phiên thuộc, rồi được đứng vào hàng chư hầu, triều hội nhà Minh Đường2 và sau cùng là được chấp nhận đứng đầu một nước với tư cách là quốc vương Phan Huy Chú viết: “Nước ta thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu triều hội ở nhà Minh Đường Rồi bị _

1 Ví dụ: Đồ cống năm 1431 của vua Lê cho nhà Minh gồm 1 người vàng (trả nợ việc Lê Lợi chém đầu Liễu Thăng tại trận Chi Lăng), 1 lư hương bạc, 1 đôi bình hoa bạc, 300 tấm lụa thổ sản, 14 đôi ngà voi, 20 lọ hương hun áo, 2 vạn nén tuyền hương, 24 khối tốc hương Cũng năm này, Lê Lợi

tạ ơn được phong vương nên cống 5 vạn lạng vàng Đồ cống nhà Mạc gồm: lư hương và bình hoa vàng 4 bộ (nặng 100 lạng), rùa vàng 1 con nặng 90 lạng, hạc bạc và đài bạc mỗi thứ 1 cái nặng 50 lạng, bình hoa và lư hương bạc 2 bộ nặng 2.150 lạng, 12 chiếc mâm bạc nặng 64 lạng, trầm hương 60 cân (cân ta), tốc hương 148 cân

2 Nhà Minh Đường: Lễ đường của nhà Minh, được xem như phòng khánh tiết, là nơi các chư hầu triều hội

Trang 15

Triệu Đà kiêm tính, nhà Hán phong Đà làm Nam

Việt Vương, chỉ được sánh với chư hầu của Trung

Quốc, chứ chưa được nêu là một nước, về sau nội

thuộc nhà Hán, nhà Đường, bèn thành quận,

huyện (của Trung Quốc) Đến khi Đinh Tiên

Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục, mở

mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ sách phong của Trung

Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước”1

Việc phong vương không đơn giản, là cuộc đấu

tranh gay go, quyết liệt, phức tạp Không phải vua

Đại Việt nào cũng được phong vương ngay, nhất là

khi quyền lực của dòng họ này chuyển sang dòng

họ khác hoặc sau những lần chiến thắng các cuộc

xâm lược, giết nhiều tướng tá của thiên triều, làm

thiên triều mất mặt, Ví dụ, Hoàng đế Lê Hoàn

lên ngôi cuối năm 980, năm 981 đánh tan cuộc

xâm lược của nhà Tống, uy danh lẫy lừng mà đến

năm 986, vua Tống mới sai sứ sang phong cho Lê

Hoàn chức Tiết độ sứ, rồi chức Kiểm hiệu Thái úy

(năm 988), Đặc tiến (năm 990), Giao Chỉ quận

vương (năm 993), Nam Bình vương kiêm Thị

trung (năm 997) Tính từ khi Ngô Quyền giành lại

độc lập (năm 938) đến tận năm 1175, vua Tống

Cao Tông mới phong vua Lý Anh Tông làm An

Nam quốc vương

lý lẽ để bác lệ triều cống này

Mặc dù vua Đại Việt phải chấp nhận việc thiên triều phong vương, song bên trong thì các vua của nước ta đều xưng đế, coi mình ngang hàng các hoàng đế Trung Hoa, khẳng định Việt Nam là quốc gia độc lập, chủ quyền, không cho thiên tử can thiệp vào công việc nội bộ của nước Nam Đó là tinh thần:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt)

Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

_

1 Bản dịch của Trần Trọng Kim

Trang 16

Triệu Đà kiêm tính, nhà Hán phong Đà làm Nam

Việt Vương, chỉ được sánh với chư hầu của Trung

Quốc, chứ chưa được nêu là một nước, về sau nội

thuộc nhà Hán, nhà Đường, bèn thành quận,

huyện (của Trung Quốc) Đến khi Đinh Tiên

Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục, mở

mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ sách phong của Trung

Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước”1

Việc phong vương không đơn giản, là cuộc đấu

tranh gay go, quyết liệt, phức tạp Không phải vua

Đại Việt nào cũng được phong vương ngay, nhất là

khi quyền lực của dòng họ này chuyển sang dòng

họ khác hoặc sau những lần chiến thắng các cuộc

xâm lược, giết nhiều tướng tá của thiên triều, làm

thiên triều mất mặt, Ví dụ, Hoàng đế Lê Hoàn

lên ngôi cuối năm 980, năm 981 đánh tan cuộc

xâm lược của nhà Tống, uy danh lẫy lừng mà đến

năm 986, vua Tống mới sai sứ sang phong cho Lê

Hoàn chức Tiết độ sứ, rồi chức Kiểm hiệu Thái úy

(năm 988), Đặc tiến (năm 990), Giao Chỉ quận

vương (năm 993), Nam Bình vương kiêm Thị

trung (năm 997) Tính từ khi Ngô Quyền giành lại

độc lập (năm 938) đến tận năm 1175, vua Tống

Cao Tông mới phong vua Lý Anh Tông làm An

Nam quốc vương

lý lẽ để bác lệ triều cống này

Mặc dù vua Đại Việt phải chấp nhận việc thiên triều phong vương, song bên trong thì các vua của nước ta đều xưng đế, coi mình ngang hàng các hoàng đế Trung Hoa, khẳng định Việt Nam là quốc gia độc lập, chủ quyền, không cho thiên tử can thiệp vào công việc nội bộ của nước Nam Đó là tinh thần:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt)

Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

_

1 Bản dịch của Trần Trọng Kim

Trang 17

Núi non, bờ cõi đã chia,

Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

Mặt khác, vào lúc hưng thịnh, vua chúa Đại

Việt cũng coi mình là nước lớn, các nước nhỏ xung

quanh như Chiêm Thành, Hỏa Xá, Thủy Xá, Vạn

Tượng, Cao Miên đều phải thần phục Năm 1815,

vua Gia Long công bố danh sách 13 nước chư hầu

Chế độ sách phong và triều cống đối với các

vua Trung Hoa chấm dứt sau khi thực dân Pháp

xâm lược nước ta, buộc triều đình Huế ký Hiệp

ước Hácmăng, ngày 25 tháng 8 năm 1883 và Hiệp

ước Patơnốt, ngày 6 tháng 6 năm 1884, Việt Nam

trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Ấn tín bị

nung chảy

Kết hợp chặt chẽ đánh với đàm, kiên

quyết bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước khi

bị xâm phạm

Trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, triều đại

nào cũng coi Việt Nam là phiên thuộc, luôn tìm

cách thôn tính, chinh phục Phong kiến Trung Quốc

Lý lập tức sai sứ sang “tạ tội” và triều cống Đề nghị của Lý Thường Kiệt đã mở lối thoát cho quân Tống rút về nước trong danh dự Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, cha ông ta đã kết hợp đánh và đàm nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền Tiếp đó, là cuộc đấu tranh lâu dài đòi sáu huyện,

ba động và cử sáu sứ bộ sang Trung Quốc từ năm

1077 đến 1088 để đòi lại hai động Vật Dương và Vật Ác bị nhà Tống chiếm năm 1077 Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông, nhà Trần đã kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự nhằm giữ gìn hòa bình, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng Cuộc đấu tranh ngoại giao cực kỳ gay go, phức tạp Vua Trần đã chủ động cử sứ bộ Chu Bắc Lãm sang tận Thiểm Tây, Trung Quốc để gặp chúa Mông Cổ là Mông Kha xin ba năm triều cống một lần nhằm giữ quan hệ Kết quả là vào năm 1261, Hốt Tất Liệt

Trang 18

Núi non, bờ cõi đã chia,

Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

Mặt khác, vào lúc hưng thịnh, vua chúa Đại

Việt cũng coi mình là nước lớn, các nước nhỏ xung

quanh như Chiêm Thành, Hỏa Xá, Thủy Xá, Vạn

Tượng, Cao Miên đều phải thần phục Năm 1815,

vua Gia Long công bố danh sách 13 nước chư hầu

Chế độ sách phong và triều cống đối với các

vua Trung Hoa chấm dứt sau khi thực dân Pháp

xâm lược nước ta, buộc triều đình Huế ký Hiệp

ước Hácmăng, ngày 25 tháng 8 năm 1883 và Hiệp

ước Patơnốt, ngày 6 tháng 6 năm 1884, Việt Nam

trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Ấn tín bị

nung chảy

Kết hợp chặt chẽ đánh với đàm, kiên

quyết bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước khi

bị xâm phạm

Trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, triều đại

nào cũng coi Việt Nam là phiên thuộc, luôn tìm

cách thôn tính, chinh phục Phong kiến Trung Quốc

Lý lập tức sai sứ sang “tạ tội” và triều cống Đề nghị của Lý Thường Kiệt đã mở lối thoát cho quân Tống rút về nước trong danh dự Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, cha ông ta đã kết hợp đánh và đàm nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền Tiếp đó, là cuộc đấu tranh lâu dài đòi sáu huyện,

ba động và cử sáu sứ bộ sang Trung Quốc từ năm

1077 đến 1088 để đòi lại hai động Vật Dương và Vật Ác bị nhà Tống chiếm năm 1077 Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông, nhà Trần đã kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự nhằm giữ gìn hòa bình, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng Cuộc đấu tranh ngoại giao cực kỳ gay go, phức tạp Vua Trần đã chủ động cử sứ bộ Chu Bắc Lãm sang tận Thiểm Tây, Trung Quốc để gặp chúa Mông Cổ là Mông Kha xin ba năm triều cống một lần nhằm giữ quan hệ Kết quả là vào năm 1261, Hốt Tất Liệt

Trang 19

đã chấp nhận đề nghị và cấm quân xâm phạm bờ

cõi Đại Việt, khiến cho nền hòa bình tạm thời

được giữ vững Xen giữa ba lần Nguyên - Mông

xâm lược Việt Nam, nhà Trần đã cử nhiều sứ bộ

sang triều cống, thương lượng, bác bỏ các yêu sách

vô lý của nhà Nguyên, giải quyết hậu quả chiến

tranh Đánh giá về ngoại giao triều Trần, tác giả

Lịch triều hiến chương loại chí viết: “Trong

khoảng hơn trăm năm ngăn được sự nhòm ngó

của Trung Quốc mà tăng thêm thanh danh cho

văn hiến nước nhà, đó là nhờ sự giao tiếp đắc nghị

giúp sức vậy”1

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược

nhà Minh, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã kết hợp khéo léo

giữa ngoại giao và chiến trường Nghĩa quân Lam

Sơn đã tiến hành thương lượng với quân Minh đầu

năm 1423, để có được hai năm hòa hoãn, củng cố

lực lượng; tiếp đó, đã kết hợp quân sự và ngoại

giao, binh vận hạ thành Trà Long mà không tốn

một mũi tên, hòn đạn nào; đặc biệt xuất sắc là kết

hợp ngoại giao với quân sự buộc Tổng binh Vương

Thông tham dự Hội thề Đông Quan, cam kết rút

quân về nước theo điều kiện của nghĩa quân

Dưới thời Tây Sơn, ngoại giao tiếp nối của

quân sự, cha ông ta đã rất thành công trong việc

giải quyết hậu quả chiến tranh, ngăn chặn âm

ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được”1 Thực hiện chủ trương sáng suốt trên, sau đại phá quân Thanh, nhiều sứ bộ ngoại giao đã được cử sang Trung Quốc vừa là để ngăn chặn nhà Thanh đánh báo thù, vừa bình thường hóa quan

hệ sau chiến tranh Vua Càn Long chấp nhận giảng hòa, hủy kế hoạch tấn công báo thù, phong vương và gả công chúa cho vua Quang Trung, Hòa hiếu giữa hai nước nhanh chóng được khôi phục Vua Càn Long lại cho vẽ tranh cảnh đón sứ

bộ Nguyễn Quang Hiển, tự đề thơ vào tranh và đặc biệt là đón Quang Trung giả vô cùng long trọng Thành viên sứ bộ, Đoàn Nguyễn Tuấn phải thốt lên: “Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc, chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế”2

Trang 20

đã chấp nhận đề nghị và cấm quân xâm phạm bờ

cõi Đại Việt, khiến cho nền hòa bình tạm thời

được giữ vững Xen giữa ba lần Nguyên - Mông

xâm lược Việt Nam, nhà Trần đã cử nhiều sứ bộ

sang triều cống, thương lượng, bác bỏ các yêu sách

vô lý của nhà Nguyên, giải quyết hậu quả chiến

tranh Đánh giá về ngoại giao triều Trần, tác giả

Lịch triều hiến chương loại chí viết: “Trong

khoảng hơn trăm năm ngăn được sự nhòm ngó

của Trung Quốc mà tăng thêm thanh danh cho

văn hiến nước nhà, đó là nhờ sự giao tiếp đắc nghị

giúp sức vậy”1

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược

nhà Minh, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã kết hợp khéo léo

giữa ngoại giao và chiến trường Nghĩa quân Lam

Sơn đã tiến hành thương lượng với quân Minh đầu

năm 1423, để có được hai năm hòa hoãn, củng cố

lực lượng; tiếp đó, đã kết hợp quân sự và ngoại

giao, binh vận hạ thành Trà Long mà không tốn

một mũi tên, hòn đạn nào; đặc biệt xuất sắc là kết

hợp ngoại giao với quân sự buộc Tổng binh Vương

Thông tham dự Hội thề Đông Quan, cam kết rút

quân về nước theo điều kiện của nghĩa quân

Dưới thời Tây Sơn, ngoại giao tiếp nối của

quân sự, cha ông ta đã rất thành công trong việc

giải quyết hậu quả chiến tranh, ngăn chặn âm

ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được”1 Thực hiện chủ trương sáng suốt trên, sau đại phá quân Thanh, nhiều sứ bộ ngoại giao đã được cử sang Trung Quốc vừa là để ngăn chặn nhà Thanh đánh báo thù, vừa bình thường hóa quan

hệ sau chiến tranh Vua Càn Long chấp nhận giảng hòa, hủy kế hoạch tấn công báo thù, phong vương và gả công chúa cho vua Quang Trung, Hòa hiếu giữa hai nước nhanh chóng được khôi phục Vua Càn Long lại cho vẽ tranh cảnh đón sứ

bộ Nguyễn Quang Hiển, tự đề thơ vào tranh và đặc biệt là đón Quang Trung giả vô cùng long trọng Thành viên sứ bộ, Đoàn Nguyễn Tuấn phải thốt lên: “Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc, chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế”2

Trang 21

Nêu cao chính nghĩa, ngoại giao tâm công

Trong bất kỳ một cuộc chiến tranh nào, mỗi

bên đều tìm cách giành lẽ phải về mình Về phía

chúng ta, là người bị xâm lược, cuộc chiến tranh

là chính nghĩa Để giúp nhân dân hiểu và chống

lại luận điệu lừa bịp của kẻ địch, cha ông ta đều

coi trọng đấu tranh giành ngọn cờ chính nghĩa

Đào Tử Kỳ, sứ giả của vua Trần thế kỷ XIII, nói:

“Sự trực vi tráng, khúc vi lão” (Lý thẳng thì

thắng, lý cong thì thua, không phải lấy lẽ yếu,

mạnh mà bàn được) Nguyễn Trãi trong Bình

Ngô Đại cáo viết:

Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo

Tính chất chính nghĩa là cơ sở tiến hành

phương pháp ngoại giao tâm công Đó là cách

đánh vào lòng người bằng chính nghĩa, lẽ phải,

đạo lý và nhân tính Điển hình của ngoại giao tâm

công Đại Việt là Nguyễn Trãi Ông tuyên bố: Ta

mưu đánh vào lòng người, không chiến mà cũng

thắng Khi quân Minh bị bao vây trong thành

Đông Quan, Nguyễn Trãi đã gửi hàng chục bức

thư cho Vương Thông và các tướng lĩnh quân

Minh, vạch rõ tính chính nghĩa của cuộc khởi

nghĩa, tinh thần nhân đạo của quân dân ta,

khẳng định sự thất bại tất yếu của kẻ xâm lược,

làm cho quân giặc hoang mang Ông đã chỉ ra cho

họ con đường duy nhất là hòa, rút quân trong

danh dự Trong một lá thư gửi Vương Thông,

Nguyễn Trãi phân tích hết sức thuyết phục những nguyên nhân tất yếu phải thất bại:

“ Nay tính hộ các ông thì có sáu điều phải thua:

- Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết, quân ốm Đó là điều phải thua thứ nhất

- Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân

và voi của ta đồn giữ nếu viện binh (của các ngươi) đến thế tất phải thua Viện binh đã thua thế tất các ông bị bắt Đó là điều phải thua thứ hai

- (Ở nước các ông) Quân mạnh, ngựa tốt nay đóng cả ở miền Bắc để phòng bị quân Nguyên, không rỗi nhìn đến phía Nam Đó là điều phải thua thứ ba

- Luôn động can qua, liên tiếp đánh dẹp (người nước ông) nhao nhao thất vọng Đó là điều phải thua thứ tư

- Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình sinh biến Đó là điều phải thua thứ năm

- Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới đồng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng vừa đánh giặc Quân sĩ trong thành đều mệt mỏi, tự chuốc diệt vong Đó

là điều phải thua thứ sáu

Nay giữ cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, ta lấy làm tiếc cho các ông lắm Cổ ngữ có câu:

“Nước xa không cứu được lửa gần” Giá viện binh có đến cũng không ích gì cho sự bại vong”

Trang 22

Nêu cao chính nghĩa, ngoại giao tâm công

Trong bất kỳ một cuộc chiến tranh nào, mỗi

bên đều tìm cách giành lẽ phải về mình Về phía

chúng ta, là người bị xâm lược, cuộc chiến tranh

là chính nghĩa Để giúp nhân dân hiểu và chống

lại luận điệu lừa bịp của kẻ địch, cha ông ta đều

coi trọng đấu tranh giành ngọn cờ chính nghĩa

Đào Tử Kỳ, sứ giả của vua Trần thế kỷ XIII, nói:

“Sự trực vi tráng, khúc vi lão” (Lý thẳng thì

thắng, lý cong thì thua, không phải lấy lẽ yếu,

mạnh mà bàn được) Nguyễn Trãi trong Bình

Ngô Đại cáo viết:

Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo

Tính chất chính nghĩa là cơ sở tiến hành

phương pháp ngoại giao tâm công Đó là cách

đánh vào lòng người bằng chính nghĩa, lẽ phải,

đạo lý và nhân tính Điển hình của ngoại giao tâm

công Đại Việt là Nguyễn Trãi Ông tuyên bố: Ta

mưu đánh vào lòng người, không chiến mà cũng

thắng Khi quân Minh bị bao vây trong thành

Đông Quan, Nguyễn Trãi đã gửi hàng chục bức

thư cho Vương Thông và các tướng lĩnh quân

Minh, vạch rõ tính chính nghĩa của cuộc khởi

nghĩa, tinh thần nhân đạo của quân dân ta,

khẳng định sự thất bại tất yếu của kẻ xâm lược,

làm cho quân giặc hoang mang Ông đã chỉ ra cho

họ con đường duy nhất là hòa, rút quân trong

danh dự Trong một lá thư gửi Vương Thông,

Nguyễn Trãi phân tích hết sức thuyết phục những nguyên nhân tất yếu phải thất bại:

“ Nay tính hộ các ông thì có sáu điều phải thua:

- Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết, quân ốm Đó là điều phải thua thứ nhất

- Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân

và voi của ta đồn giữ nếu viện binh (của các ngươi) đến thế tất phải thua Viện binh đã thua thế tất các ông bị bắt Đó là điều phải thua thứ hai

- (Ở nước các ông) Quân mạnh, ngựa tốt nay đóng cả ở miền Bắc để phòng bị quân Nguyên, không rỗi nhìn đến phía Nam Đó là điều phải thua thứ ba

- Luôn động can qua, liên tiếp đánh dẹp (người nước ông) nhao nhao thất vọng Đó là điều phải thua thứ tư

- Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình sinh biến Đó là điều phải thua thứ năm

- Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới đồng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng vừa đánh giặc Quân sĩ trong thành đều mệt mỏi, tự chuốc diệt vong Đó

là điều phải thua thứ sáu

Nay giữ cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, ta lấy làm tiếc cho các ông lắm Cổ ngữ có câu:

“Nước xa không cứu được lửa gần” Giá viện binh có đến cũng không ích gì cho sự bại vong”

Trang 23

Nguyễn Trãi đã chỉ ra lối thoát duy nhất là

rút quân về nước và Đại Việt cam kết sẽ tạo mọi

điều kiện và đảm bảo an ninh cho việc rút quân

Đồng thời, Nguyễn Trãi khẳng định Đại Việt: “giữ

phận bề tôi, không thiếu chúc công ”1 Bằng ngoại

giao tâm công, trước đó nghĩa quân Lam Sơn đã hạ

được một loạt thành mà không phải đổ xương máu

Ngoại giao tâm công đã trở thành bài học kinh

nghiệm ngoại giao hay của cha ông ta, được vận

dụng rất thành công trong ngoại giao thời đại Hồ

Chí Minh

Kiên trì nguyên tắc, song rất mềm mỏng,

linh hoạt trong ứng xử ngoại giao

Quá trình đấu tranh ngoại giao của cha ông ta

đã dần hình thành một cách ứng xử: rất kiên trì

nguyên tắc, song cũng linh hoạt, mềm mỏng, khéo

léo Nhân tố chủ yếu dẫn đến sự ra đời của nguyên

tắc ứng xử này xuất phát từ đặc trưng văn hóa của

dân tộc Việt Nam Trung Hoa xưa là nước lớn, có

chung biên giới, lại luôn có dã tâm xâm chiếm, đồng

hóa nước Đại Việt Chúng ta chỉ có thể thay đổi được

bạn bè, không ai thay đổi được láng giềng Nói như

Phan Huy Chú: “xét lý thế thực phải như thế”2

cơ cấu chính quyền theo mô hình có sẵn của Trung Hoa, nhưng thực chất là bãi bỏ các quan lại Trung Hoa mà thay vào là quan lại Việt Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn khi lên ngôi đều đã xưng đế, song lúc đầu cũng chỉ xin “thiên triều” phong chức Tiết

độ sứ, Trừ Ngô Quyền, còn tất cả các vua Việt đều nhận sách phong của thiên triều

Việc ứng xử mềm mỏng của cha ông còn thể hiện dù đánh thắng quân xâm lược, song đều nhận trách nhiệm về mình Lê Lợi, Quang Trung đều nhận lỗi về mình và do sự khiêu khích của quan lại địa phương ở biên giới nên mới xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Đại Việt Ví dụ như trong Biểu của Quang Trung gửi hoàng đế Càn Long của nhà Thanh, do sứ bộ Hám Hổ Hầu chuyển ngay sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa

có viết: “ Mồng 5 tháng Giêng năm nay (1789) tôi tiến đến Lê thành những mong Tôn Sỹ Nghị nghĩ lại, họa may có thể đem ngọc lụa thay đồ can qua,

Trang 24

Nguyễn Trãi đã chỉ ra lối thoát duy nhất là

rút quân về nước và Đại Việt cam kết sẽ tạo mọi

điều kiện và đảm bảo an ninh cho việc rút quân

Đồng thời, Nguyễn Trãi khẳng định Đại Việt: “giữ

phận bề tôi, không thiếu chúc công ”1 Bằng ngoại

giao tâm công, trước đó nghĩa quân Lam Sơn đã hạ

được một loạt thành mà không phải đổ xương máu

Ngoại giao tâm công đã trở thành bài học kinh

nghiệm ngoại giao hay của cha ông ta, được vận

dụng rất thành công trong ngoại giao thời đại Hồ

Chí Minh

Kiên trì nguyên tắc, song rất mềm mỏng,

linh hoạt trong ứng xử ngoại giao

Quá trình đấu tranh ngoại giao của cha ông ta

đã dần hình thành một cách ứng xử: rất kiên trì

nguyên tắc, song cũng linh hoạt, mềm mỏng, khéo

léo Nhân tố chủ yếu dẫn đến sự ra đời của nguyên

tắc ứng xử này xuất phát từ đặc trưng văn hóa của

dân tộc Việt Nam Trung Hoa xưa là nước lớn, có

chung biên giới, lại luôn có dã tâm xâm chiếm, đồng

hóa nước Đại Việt Chúng ta chỉ có thể thay đổi được

bạn bè, không ai thay đổi được láng giềng Nói như

Phan Huy Chú: “xét lý thế thực phải như thế”2

cơ cấu chính quyền theo mô hình có sẵn của Trung Hoa, nhưng thực chất là bãi bỏ các quan lại Trung Hoa mà thay vào là quan lại Việt Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn khi lên ngôi đều đã xưng đế, song lúc đầu cũng chỉ xin “thiên triều” phong chức Tiết

độ sứ, Trừ Ngô Quyền, còn tất cả các vua Việt đều nhận sách phong của thiên triều

Việc ứng xử mềm mỏng của cha ông còn thể hiện dù đánh thắng quân xâm lược, song đều nhận trách nhiệm về mình Lê Lợi, Quang Trung đều nhận lỗi về mình và do sự khiêu khích của quan lại địa phương ở biên giới nên mới xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Đại Việt Ví dụ như trong Biểu của Quang Trung gửi hoàng đế Càn Long của nhà Thanh, do sứ bộ Hám Hổ Hầu chuyển ngay sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa

có viết: “ Mồng 5 tháng Giêng năm nay (1789) tôi tiến đến Lê thành những mong Tôn Sỹ Nghị nghĩ lại, họa may có thể đem ngọc lụa thay đồ can qua,

Trang 25

xoay binh xa làm hội xiêm áo Tôi nhũn nhặn xin

yết kiến, nhưng Nghị không hề trả lời

Qua bữa sau, quân Nghị xông vào đánh trước,

vừa mới giao phong đã đổ vỡ, chạy tan bốn ngả,

Trộm nghĩ: binh đao là việc bất đắc dĩ của thánh

nhân Đại hoàng đế tham nghiêm ngự nơi cửu

trùng Những chuyện cương thường, Tôn Sỹ Nghị

không hề tâu rõ từng việc một Hắn che lấp tai, mắt

của nhà vua đến nỗi làm cho sự thể rối ren đến thế

Châu chấu đá xe, tôi thật không dám Song

cửa nhà vua xa cách muôn dặm, hễ tôi nhúc nhích

làm gì liền bị kẻ khốn thần hiếp đáp Không sao

nhịn nổi, nên hình tích mới dường như chống cự

Thiết nghĩ nước tôi từ Đinh, Lê, Lý, Trần trở đi

thế đại đổi thay, chẳng phải chỉ có một họ Nếu ai

có thể làm rào giậu ở phương nam thì thiên triều

lượng rộng như biển, thường vẫn làm ngơ lỗi nhỏ,

Nay lòng người đã chán nhà Lê, con cháu họ Lê

đói kém, hèn yếu, không được lòng dân theo về

Tôn Sỹ Nghị vì cớ nông nổi; không thấu suốt

sự tình và lý do Hắn gây mối binh tranh khiến

cho bọn sinh linh phải cay đắng, khốn khổ,

Tôi đóng quân ở thành Long Biên, nghển cổ

ngóng trông về cửa trời,

Tôi xin kính cẩn sai sứ sang cửa cung khuyết,

xung phiên, sửa lễ cống Lại đem số người hiện còn

của nhà vua dâng nộp để tỏ tấc dạ thật này, ”1

_

1 Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Đại Việt, Sđd, tr 173-179

Tờ biểu phân tích sâu sắc, lập luận vô cùng chặt chẽ, lời lẽ hết sức mềm dẻo, nhún nhường Trong việc tiếp sứ thần Trung Quốc, hoàng đế

Lê Hoàn cũng rất linh hoạt, uyển chuyển Đối với những sứ thần có thái độ ngạo mạn, có tâm địa xấu như Tống Cảo và Vương Thế Tắc, ông có đối sách mạnh, biểu dương sức mạnh quân sự, sự giàu

có, thịnh vượng, uy hiếp tinh thần sứ Tống Còn đối với sứ thần có học thức, giỏi văn thơ như Lý Giác, ông đón tiếp với cách ứng xử khác: rất văn hóa, nêu bật Đại Việt có nhiều nhân tài,

Ứng xử của cha ông ta trong ngoại giao với Trung Quốc hết sức mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển, song kiên quyết, không nhân nhượng nguyên tắc Triều Lý đã kiên quyết, kiên trì đòi bằng được vùng đất bị nhà Tống chiếm trước là hai động Vật Dương, Vật Ác Các vua Trần trước sau như một, bác bỏ những yêu sách phi lý của nhà Nguyên như: đòi vua Trần sang chầu, đòi kê khai dân số, quân dịch và đặt quan Darugatri (cố vấn), và kiên quyết chống thái độ hống hách của

Trang 26

xoay binh xa làm hội xiêm áo Tôi nhũn nhặn xin

yết kiến, nhưng Nghị không hề trả lời

Qua bữa sau, quân Nghị xông vào đánh trước,

vừa mới giao phong đã đổ vỡ, chạy tan bốn ngả,

Trộm nghĩ: binh đao là việc bất đắc dĩ của thánh

nhân Đại hoàng đế tham nghiêm ngự nơi cửu

trùng Những chuyện cương thường, Tôn Sỹ Nghị

không hề tâu rõ từng việc một Hắn che lấp tai, mắt

của nhà vua đến nỗi làm cho sự thể rối ren đến thế

Châu chấu đá xe, tôi thật không dám Song

cửa nhà vua xa cách muôn dặm, hễ tôi nhúc nhích

làm gì liền bị kẻ khốn thần hiếp đáp Không sao

nhịn nổi, nên hình tích mới dường như chống cự

Thiết nghĩ nước tôi từ Đinh, Lê, Lý, Trần trở đi

thế đại đổi thay, chẳng phải chỉ có một họ Nếu ai

có thể làm rào giậu ở phương nam thì thiên triều

lượng rộng như biển, thường vẫn làm ngơ lỗi nhỏ,

Nay lòng người đã chán nhà Lê, con cháu họ Lê

đói kém, hèn yếu, không được lòng dân theo về

Tôn Sỹ Nghị vì cớ nông nổi; không thấu suốt

sự tình và lý do Hắn gây mối binh tranh khiến

cho bọn sinh linh phải cay đắng, khốn khổ,

Tôi đóng quân ở thành Long Biên, nghển cổ

ngóng trông về cửa trời,

Tôi xin kính cẩn sai sứ sang cửa cung khuyết,

xung phiên, sửa lễ cống Lại đem số người hiện còn

của nhà vua dâng nộp để tỏ tấc dạ thật này, ”1

_

1 Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Đại Việt, Sđd, tr 173-179

Tờ biểu phân tích sâu sắc, lập luận vô cùng chặt chẽ, lời lẽ hết sức mềm dẻo, nhún nhường Trong việc tiếp sứ thần Trung Quốc, hoàng đế

Lê Hoàn cũng rất linh hoạt, uyển chuyển Đối với những sứ thần có thái độ ngạo mạn, có tâm địa xấu như Tống Cảo và Vương Thế Tắc, ông có đối sách mạnh, biểu dương sức mạnh quân sự, sự giàu

có, thịnh vượng, uy hiếp tinh thần sứ Tống Còn đối với sứ thần có học thức, giỏi văn thơ như Lý Giác, ông đón tiếp với cách ứng xử khác: rất văn hóa, nêu bật Đại Việt có nhiều nhân tài,

Ứng xử của cha ông ta trong ngoại giao với Trung Quốc hết sức mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển, song kiên quyết, không nhân nhượng nguyên tắc Triều Lý đã kiên quyết, kiên trì đòi bằng được vùng đất bị nhà Tống chiếm trước là hai động Vật Dương, Vật Ác Các vua Trần trước sau như một, bác bỏ những yêu sách phi lý của nhà Nguyên như: đòi vua Trần sang chầu, đòi kê khai dân số, quân dịch và đặt quan Darugatri (cố vấn), và kiên quyết chống thái độ hống hách của

Trang 27

lấy ít địch nhiều Phương sách này đã từng bước

hình thành và trở thành một nguyên lý trong đấu

tranh ngoại giao của Đại Việt

Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành được quyền tự

trị, song phải đến năm 1175, nghĩa là gần 300

năm sau, Trung Quốc mới chịu công nhận nước ta

là một quốc gia có chủ quyền, sách phong vua Lý

Anh Tông là An Nam quốc vương

Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế năm 980, song chỉ

được phong chức Tiết độ sứ, một chức quan đứng

đầu quận, huyện và sau 16 năm, đến tận năm 996

mới đấu được chức Nam Bình vương

Nhà Lý phải đấu tranh suốt năm năm kể từ

lúc quân Tống bị đánh bại mới thu hồi được đất

Quảng Nguyên Nhà Trần suốt 35 năm đấu tranh

quân sự, ngoại giao, từng bước đẩy lùi những

hành động ngang ngược, yêu sách láo xược và ba

lần đập tan chiến tranh xâm lược mới buộc quân

Nguyên bãi binh Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống

quân Minh do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo phải

mất 10 năm mới giành được thắng lợi,

Phẩm chất của các nhà ngoại giao Việt

Nam trong lịch sử

Trong lịch sử bang giao thời phong kiến Việt

Nam, việc chọn người đi sứ, nhất là đi sứ sang

Trung Hoa rất quan trọng và yêu cầu rất cao Mục

đích của việc đi sứ thường là đề nghị phong vương,

sang triều cống, sang đàm phán về đất đai, đàm

phán hòa bình, giải quyết hậu quả chiến tranh, mừng vua mới lên ngôi hay mừng phong Hoàng Thái tử, v.v Đi sứ sang Trung Quốc thường là những quan tài giỏi, đỗ đạt cao như: Lê Văn Thịnh, người đỗ đầu khoa thi đầu tiên trong lịch sử Việt Nam (thời Lý thế kỷ XI); Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (thời Trần thế kỷ XIV); Trạng nguyên Nguyễn Trực và Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (nhà Lê thế

kỷ XV); Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (nhà Lê thế kỷ XVI - XVII); Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo (nhà Lê thế kỷ XVII); nhà bác học Lê Quý Đôn (nhà Lê thế kỷ XVIII); Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm (thời Tây Sơn thế kỷ XVIII); cử nhân Trịnh Hoài Đức (nhà Nguyễn thế kỷ XIX), v.v

Các đại quan được triều đình cử tiếp sứ giả Trung Hoa cũng được coi là các nhà ngoại giao Họ đều là những quan đỗ đạt cao, có kiến thức sâu rộng như: Trạng nguyên Nguyễn Hiền (nhà Trần thế kỷ XIII); Trạng nguyên Lương Thế Vinh (nhà

Lê thế kỷ XV), v.v

Các nhà ngoại giao Việt Nam đều là những nhà văn hóa lớn, có kiến thức uyên bác về lịch sử, văn hóa, địa lý của cả Việt Nam và Trung Quốc, hiểu sâu sắc về thời cuộc và giỏi thơ phú, v.v Mỗi người lại có những biệt tài riêng như Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, rất giỏi đánh cờ và đã đánh thắng Trạng cờ Trung Hoa; Trạng nguyên Lương Thế Vinh còn là nhà toán học tài hoa, đã thành công trong việc cân voi, đo tờ giấy mỏng theo yêu

Trang 28

lấy ít địch nhiều Phương sách này đã từng bước

hình thành và trở thành một nguyên lý trong đấu

tranh ngoại giao của Đại Việt

Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành được quyền tự

trị, song phải đến năm 1175, nghĩa là gần 300

năm sau, Trung Quốc mới chịu công nhận nước ta

là một quốc gia có chủ quyền, sách phong vua Lý

Anh Tông là An Nam quốc vương

Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế năm 980, song chỉ

được phong chức Tiết độ sứ, một chức quan đứng

đầu quận, huyện và sau 16 năm, đến tận năm 996

mới đấu được chức Nam Bình vương

Nhà Lý phải đấu tranh suốt năm năm kể từ

lúc quân Tống bị đánh bại mới thu hồi được đất

Quảng Nguyên Nhà Trần suốt 35 năm đấu tranh

quân sự, ngoại giao, từng bước đẩy lùi những

hành động ngang ngược, yêu sách láo xược và ba

lần đập tan chiến tranh xâm lược mới buộc quân

Nguyên bãi binh Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống

quân Minh do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo phải

mất 10 năm mới giành được thắng lợi,

Phẩm chất của các nhà ngoại giao Việt

Nam trong lịch sử

Trong lịch sử bang giao thời phong kiến Việt

Nam, việc chọn người đi sứ, nhất là đi sứ sang

Trung Hoa rất quan trọng và yêu cầu rất cao Mục

đích của việc đi sứ thường là đề nghị phong vương,

sang triều cống, sang đàm phán về đất đai, đàm

phán hòa bình, giải quyết hậu quả chiến tranh, mừng vua mới lên ngôi hay mừng phong Hoàng Thái tử, v.v Đi sứ sang Trung Quốc thường là những quan tài giỏi, đỗ đạt cao như: Lê Văn Thịnh, người đỗ đầu khoa thi đầu tiên trong lịch sử Việt Nam (thời Lý thế kỷ XI); Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (thời Trần thế kỷ XIV); Trạng nguyên Nguyễn Trực và Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (nhà Lê thế

kỷ XV); Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (nhà Lê thế kỷ XVI - XVII); Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo (nhà Lê thế kỷ XVII); nhà bác học Lê Quý Đôn (nhà Lê thế kỷ XVIII); Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm (thời Tây Sơn thế kỷ XVIII); cử nhân Trịnh Hoài Đức (nhà Nguyễn thế kỷ XIX), v.v

Các đại quan được triều đình cử tiếp sứ giả Trung Hoa cũng được coi là các nhà ngoại giao Họ đều là những quan đỗ đạt cao, có kiến thức sâu rộng như: Trạng nguyên Nguyễn Hiền (nhà Trần thế kỷ XIII); Trạng nguyên Lương Thế Vinh (nhà

Lê thế kỷ XV), v.v

Các nhà ngoại giao Việt Nam đều là những nhà văn hóa lớn, có kiến thức uyên bác về lịch sử, văn hóa, địa lý của cả Việt Nam và Trung Quốc, hiểu sâu sắc về thời cuộc và giỏi thơ phú, v.v Mỗi người lại có những biệt tài riêng như Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, rất giỏi đánh cờ và đã đánh thắng Trạng cờ Trung Hoa; Trạng nguyên Lương Thế Vinh còn là nhà toán học tài hoa, đã thành công trong việc cân voi, đo tờ giấy mỏng theo yêu

Trang 29

cầu của sứ thần Trung Hoa; Nhà bác học Lê Quý

Đôn có kiến thức uyên thâm về nhiều ngành khoa

học từ lịch sử đến địa lý, pháp luật, chính trị,

thiên văn, văn học, thơ ca Ông còn là tác giả của

14 bộ sách như: Đại Việt Thông sử, Kiến văn Tiểu

lục, Vân đài Loại ngữ, và theo Phan Huy Chú,

trong Lịch triều Hiến chương Loại chí thì ông còn

là tác giả của 17 công trình khác

Với tính chất “mang chuông đi đấm xứ người”,

các nhà ngoại giao - sứ thần Việt Nam có trách

nhiệm đại diện cho một quốc gia văn hiến, không

thua kém gì văn hiến Trung Hoa để xóa bỏ thói

quen của “Con Trời” gọi nước Việt Nam là “Man

Di” Đặc biệt sứ thần phải “không làm nhục mệnh

Vua” Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ, các sứ thần

phải có kiến thức uyên thâm và đặc biệt phải

thông minh, có tài ứng đối Lịch sử còn ghi lại tài

ứng đối tuyệt vời của sứ thần Mạc Đĩnh Chi với

quan lại triều Nguyên từ việc đáp lại câu đối ở cửa

ải Nam Quan để được đi qua, đến xé màn mỏng

chim sẻ đậu trên cành trúc, làm thơ vịnh chiếc

quạt trước mặt vua Nguyên, đối đáp với các quan

lại nhà Nguyên, v.v Do khâm phục kiến thức sâu

rộng và biệt tài ứng đối của Trạng nguyên Mạc

Đĩnh Chi, vua Nguyên đã phong ông là Lưỡng

quốc Trạng nguyên Nhà bác học Lê Quý Đôn với

tài trí thông minh tuyệt vời, mẫn tiệp, kiến thức

uyên thâm về nhiều lĩnh vực, làm cho các quan lại

nhà Thanh phải hết sức khen ngợi, kính phục mà

nói rằng: “Thượng quốc tôi có tiếng là văn hiến, nhiều nhân tài, nhưng so với sứ thần đây thì cũng chỉ được vài người” Học vấn uyên bác của

Lê Quý Đôn làm cho cả sứ thần Lưu Cầu cũng phải kính phục

Các nhà ngoại giao - sứ thần Việt Nam trong lịch sử đều phải biết làm thơ, phú để thể hiện thần dân của một nước có học, có văn hiến Các nhà ngoại giao thường làm thơ để thi và tiếp các quan lại địa phương ra đón trên đường đến thủ đô,

để phụ họa với các quan trong triều, để chúc tụng vua, để tiễn biệt, v.v Lịch sử ngoại giao của cha ông ta đã ghi lại một số sự kiện tiêu biểu Đỗ Pháp Thuận hay Sư Đồ Thuận là người học rộng, giỏi việc đối đáp nên được Hoàng đế Lê Hoàn mời vào triều bàn việc nước Mùa Xuân năm 987, biết Lý Giác, một người giỏi văn thơ, được nhà Tống cử sang sứ nước ta, nên vua Lê Hoàn đã cử Đỗ Pháp Thuận giả làm người lái đò, đón sứ thần Trung Hoa Thấy hai con ngỗng trời đang bơi, Lý Giác liền ngâm hai câu thơ Sư Đỗ Thuận nghe xong, đọc tiếp luôn hai câu tạo thành bài thơ tuyệt hay

Lý Giác thấy người lái đò mà cũng giỏi làm thơ, hay chữ như vậy rất có ấn tượng và cảm phục Một mẩu chuyện khác là về tài văn thơ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi khi đi sứ sang nhà Nguyên Lúc ông đang có mặt ở Yên Kinh thì Công chúa Nguyên Thế Tổ mất (cũng có sách nói là Hoàng hậu) Lễ tang tổ chức trọng thể và các sứ thần

Trang 30

cầu của sứ thần Trung Hoa; Nhà bác học Lê Quý

Đôn có kiến thức uyên thâm về nhiều ngành khoa

học từ lịch sử đến địa lý, pháp luật, chính trị,

thiên văn, văn học, thơ ca Ông còn là tác giả của

14 bộ sách như: Đại Việt Thông sử, Kiến văn Tiểu

lục, Vân đài Loại ngữ, và theo Phan Huy Chú,

trong Lịch triều Hiến chương Loại chí thì ông còn

là tác giả của 17 công trình khác

Với tính chất “mang chuông đi đấm xứ người”,

các nhà ngoại giao - sứ thần Việt Nam có trách

nhiệm đại diện cho một quốc gia văn hiến, không

thua kém gì văn hiến Trung Hoa để xóa bỏ thói

quen của “Con Trời” gọi nước Việt Nam là “Man

Di” Đặc biệt sứ thần phải “không làm nhục mệnh

Vua” Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ, các sứ thần

phải có kiến thức uyên thâm và đặc biệt phải

thông minh, có tài ứng đối Lịch sử còn ghi lại tài

ứng đối tuyệt vời của sứ thần Mạc Đĩnh Chi với

quan lại triều Nguyên từ việc đáp lại câu đối ở cửa

ải Nam Quan để được đi qua, đến xé màn mỏng

chim sẻ đậu trên cành trúc, làm thơ vịnh chiếc

quạt trước mặt vua Nguyên, đối đáp với các quan

lại nhà Nguyên, v.v Do khâm phục kiến thức sâu

rộng và biệt tài ứng đối của Trạng nguyên Mạc

Đĩnh Chi, vua Nguyên đã phong ông là Lưỡng

quốc Trạng nguyên Nhà bác học Lê Quý Đôn với

tài trí thông minh tuyệt vời, mẫn tiệp, kiến thức

uyên thâm về nhiều lĩnh vực, làm cho các quan lại

nhà Thanh phải hết sức khen ngợi, kính phục mà

nói rằng: “Thượng quốc tôi có tiếng là văn hiến, nhiều nhân tài, nhưng so với sứ thần đây thì cũng chỉ được vài người” Học vấn uyên bác của

Lê Quý Đôn làm cho cả sứ thần Lưu Cầu cũng phải kính phục

Các nhà ngoại giao - sứ thần Việt Nam trong lịch sử đều phải biết làm thơ, phú để thể hiện thần dân của một nước có học, có văn hiến Các nhà ngoại giao thường làm thơ để thi và tiếp các quan lại địa phương ra đón trên đường đến thủ đô,

để phụ họa với các quan trong triều, để chúc tụng vua, để tiễn biệt, v.v Lịch sử ngoại giao của cha ông ta đã ghi lại một số sự kiện tiêu biểu Đỗ Pháp Thuận hay Sư Đồ Thuận là người học rộng, giỏi việc đối đáp nên được Hoàng đế Lê Hoàn mời vào triều bàn việc nước Mùa Xuân năm 987, biết Lý Giác, một người giỏi văn thơ, được nhà Tống cử sang sứ nước ta, nên vua Lê Hoàn đã cử Đỗ Pháp Thuận giả làm người lái đò, đón sứ thần Trung Hoa Thấy hai con ngỗng trời đang bơi, Lý Giác liền ngâm hai câu thơ Sư Đỗ Thuận nghe xong, đọc tiếp luôn hai câu tạo thành bài thơ tuyệt hay

Lý Giác thấy người lái đò mà cũng giỏi làm thơ, hay chữ như vậy rất có ấn tượng và cảm phục Một mẩu chuyện khác là về tài văn thơ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi khi đi sứ sang nhà Nguyên Lúc ông đang có mặt ở Yên Kinh thì Công chúa Nguyên Thế Tổ mất (cũng có sách nói là Hoàng hậu) Lễ tang tổ chức trọng thể và các sứ thần

Trang 31

được mời dự Sứ Việt Nam được vua Nguyên mời

đọc văn tế viết sẵn chỉ có bốn chữ “Nhất” Ông

không hề bối rối và đọc ngay:

“Thanh thiên nhất đóa vân,

Hồng lô nhất điểm tuyết,

Ngọc uyển nhất chi hoa,

Dao trì nhất phiếm nguyệt,

Y!

Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết”

Dịch nghĩa:

Một đám mây trên trời xanh,

Một giọt tuyết trong lò đỏ,

Một cành hoa vườn thượng uyển,

Một vầng trăng Dao trì

Than ôi!

Mây rã, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết1

Một bài văn tế quá đặc sắc, đã nói lên lòng

thương tiếc sâu sắc đối với công chúa đã quá cố

Năm 1597, Phùng Khắc Khoan sang Yên Kinh để

cầu phong cho vua Lê Thế Tông, đã phải chờ bốn,

năm tháng mà không được vào chầu Ông đã làm

36 bài thơ chúc thọ, dâng lên vua Minh Vua xem

xong khen là trung hậu, rồi đặc cách phong ông là

trạng nguyên Đây chính là những trường hợp

ngoại giao bằng văn chương và đã thành công

_

1 Nguyễn Thế Long: Chuyện đi sứ, tiếp sứ thời xưa,

Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.153-154

Một đòi hỏi nữa đối với các sứ thần là lòng can đảm, không sợ chết, không sợ tù tội Đào Tử

Kỳ được vua Trần Nhân Tông cử sang sứ Nguyên, căm tức vì ba lần thất bại trong việc xâm lược Việt Nam, hòng kiếm cớ xâm lược lần nữa, vua Nguyên đe dọa sứ thần ta Đào Tử Kỳ đã vạch mặt kẻ xâm lược, kiên quyết đấu tranh về việc vua Trần không sang chầu và bị giam một năm Năm 1413, Nguyễn Biểu đi sứ bị tướng nhà Minh thết đãi bằng cỗ đầu người, hòng đe dọa, lung lạc tinh thần sứ giả Ông không hề khiếp đảm, bình tĩnh ăn và làm thơ nói về sự kiện này Quan quân nhà Minh thấy vậy rất kính phục khí phách, tài năng của Nguyễn Biểu và cho về Sau

đó theo lời xàm tấu của tên Việt gian, ông bị bắt lại và bị giết Trước khi chết ông đã vạch trần bộ mặt xâm lược, giả nhân, giả nghĩa của quân Minh Năm 1637, Giang Văn Minh đi sứ sang nhà Minh Trong buổi tiếp Sứ thần Đại Việt, vua Minh ra câu đối đầy khiêu khích, nhắc đến việc

Mã Viện dựng cột đồng ở Giao Châu: “Đồng trụ

chí kim đài dĩ lục” (Cột đồng đến nay rêu đã phủ

xanh) Giang Văn Minh đã dũng cảm, khảng

khái đáp lại bằng vế đối: “Đằng giang tự cổ huyết

do hồng” (Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ)

nói lên ba lần thất bại thảm hại của thiên triều trên sông Bạch Đằng nên đã bị vua Minh khép tội chết vì “khinh mạn thiên triều”

Trang 32

được mời dự Sứ Việt Nam được vua Nguyên mời

đọc văn tế viết sẵn chỉ có bốn chữ “Nhất” Ông

không hề bối rối và đọc ngay:

“Thanh thiên nhất đóa vân,

Hồng lô nhất điểm tuyết,

Ngọc uyển nhất chi hoa,

Dao trì nhất phiếm nguyệt,

Y!

Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết”

Dịch nghĩa:

Một đám mây trên trời xanh,

Một giọt tuyết trong lò đỏ,

Một cành hoa vườn thượng uyển,

Một vầng trăng Dao trì

Than ôi!

Mây rã, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết1

Một bài văn tế quá đặc sắc, đã nói lên lòng

thương tiếc sâu sắc đối với công chúa đã quá cố

Năm 1597, Phùng Khắc Khoan sang Yên Kinh để

cầu phong cho vua Lê Thế Tông, đã phải chờ bốn,

năm tháng mà không được vào chầu Ông đã làm

36 bài thơ chúc thọ, dâng lên vua Minh Vua xem

xong khen là trung hậu, rồi đặc cách phong ông là

trạng nguyên Đây chính là những trường hợp

ngoại giao bằng văn chương và đã thành công

_

1 Nguyễn Thế Long: Chuyện đi sứ, tiếp sứ thời xưa,

Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.153-154

Một đòi hỏi nữa đối với các sứ thần là lòng can đảm, không sợ chết, không sợ tù tội Đào Tử

Kỳ được vua Trần Nhân Tông cử sang sứ Nguyên, căm tức vì ba lần thất bại trong việc xâm lược Việt Nam, hòng kiếm cớ xâm lược lần nữa, vua Nguyên đe dọa sứ thần ta Đào Tử Kỳ đã vạch mặt kẻ xâm lược, kiên quyết đấu tranh về việc vua Trần không sang chầu và bị giam một năm Năm 1413, Nguyễn Biểu đi sứ bị tướng nhà Minh thết đãi bằng cỗ đầu người, hòng đe dọa, lung lạc tinh thần sứ giả Ông không hề khiếp đảm, bình tĩnh ăn và làm thơ nói về sự kiện này Quan quân nhà Minh thấy vậy rất kính phục khí phách, tài năng của Nguyễn Biểu và cho về Sau

đó theo lời xàm tấu của tên Việt gian, ông bị bắt lại và bị giết Trước khi chết ông đã vạch trần bộ mặt xâm lược, giả nhân, giả nghĩa của quân Minh Năm 1637, Giang Văn Minh đi sứ sang nhà Minh Trong buổi tiếp Sứ thần Đại Việt, vua Minh ra câu đối đầy khiêu khích, nhắc đến việc

Mã Viện dựng cột đồng ở Giao Châu: “Đồng trụ

chí kim đài dĩ lục” (Cột đồng đến nay rêu đã phủ

xanh) Giang Văn Minh đã dũng cảm, khảng

khái đáp lại bằng vế đối: “Đằng giang tự cổ huyết

do hồng” (Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ)

nói lên ba lần thất bại thảm hại của thiên triều trên sông Bạch Đằng nên đã bị vua Minh khép tội chết vì “khinh mạn thiên triều”

Trang 33

Các sứ thần ta còn có tài quan sát, biết làm

tình báo Đặng Nhữ Lâm, sứ thần đời vua Trần

Nhân Tông, bên cạnh công tác ngoại giao đã vẽ

bản đồ về địa thế cung điện triều Nguyên, ghi

chép tình hình quân sự, ký họa địa hình núi non

trên đường đi và tìm mua sách về địa lý (loại sách

cấm người nước ngoài) Phó sứ Trần Lư (thời Lê

Hiển Tông), năm 1505 được cử đi sứ Trung Hoa đã

nghiên cứu kỹ và đã học được kỹ thuật sơn son

thếp vàng, thếp bạc, về truyền lại cho dân ta

Chánh sứ Phùng Khắc Khoan thì mang được hạt

ngô, vừng giống về nước dạy dân ta gieo trồng,

chăm sóc và học được kỹ thuật dệt the lụa bằng tơ

tằm qua lần đi sứ Trung Hoa Và còn nhiều tấm

gương như vậy trong lịch sử nước nhà

Đôi điều về sứ thần

Các vua Đại Việt cử sứ thần sang Trung Hoa

trước hết đều có mục đích triều cống, xin sách

phong Ngoài ra, việc đi sứ còn có các mục đích

khác như mừng vua mới lên ngôi, phong hoàng

thái tử, tạ ơn, báo tang, xin kinh Phật, sách, Mặt

khác, Đại Việt còn cử sứ thần sang Trung Hoa để

đấu tranh với thiên triều về vấn đề đất đai và

thăm dò tình hình Các vua quan Trung Hoa

thường hay thử thách sứ thần Đại Việt bằng cách

đe dọa, đặt ra thơ, phú, vế đối lắt léo, hoặc xỏ

xiên, khiêu khích, cốt thử trình độ học vấn, tài trí

thông minh, tháo vát, đôi khi để làm nhục sứ ta

Như vậy, việc đi sứ là việc hệ trọng quốc gia, là cuộc đấu lý, đấu trí, bảo vệ danh dự quốc gia Chính vì vậy, người được cử đi sứ đều là những quan lại có học vị, có tri thức uyên bác, sâu rộng, có bản lĩnh kiên cường và khôn khéo, linh hoạt trong ứng xử Đồng thời, sứ thần cũng phải là người không sợ khó khăn, gian khổ, có dũng khí và lòng dũng cảm như trạng nguyên Lê Văn Thịnh, Đào Tông Nguyên (nhà Lý), Đặng Nhữ Lâm, Mạc Đĩnh Chi, Giang Văn Minh (nhà Trần), Nguyễn Trãi, Nguyễn Đăng Cảo, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hãng, Lê Quý Đôn (nhà Lê), Ngô Thì Nhậm,

Vũ Văn Dũng, Võ Huy Tấn (nhà Tây Sơn), v.v Nhiều sứ thần triều Trần đi sứ sang Nguyên là như đi vào cõi chết, như Đỗ Khắc Chung vào trại Ô

Mã Nhi Nguyễn Biểu đến trại Trương Phụ (tướng nhà Minh) để dâng biểu thì bị thử thách tinh thần bằng cỗ đầu người và bị giết hại Đào Tử Kỳ bị giam ở Giang Lăng 1 năm, Lê Quang Bí năm 1548

đi sứ bị giam lỏng 18 năm Không ít sứ thần bị sát hại như Nguyễn Nhật Tư và Lê Ngân sang cầu phong cho Trần Quý Khoáng năm 1411 và bị giết

Sứ thần Giang Văn Minh cũng bị vua Thanh sát hại trong chuyến đi sứ năm 1637,

Ngoài việc đi sứ sang Trung Hoa, việc đón tiếp các sứ thần Trung Hoa sang Đại Việt cũng là công việc bang giao hệ trọng Các vua Trung Hoa thường cử sứ thần là thượng thư hoặc các đại quan như tổng đốc, tuần phủ các tỉnh biên giới

Trang 34

Các sứ thần ta còn có tài quan sát, biết làm

tình báo Đặng Nhữ Lâm, sứ thần đời vua Trần

Nhân Tông, bên cạnh công tác ngoại giao đã vẽ

bản đồ về địa thế cung điện triều Nguyên, ghi

chép tình hình quân sự, ký họa địa hình núi non

trên đường đi và tìm mua sách về địa lý (loại sách

cấm người nước ngoài) Phó sứ Trần Lư (thời Lê

Hiển Tông), năm 1505 được cử đi sứ Trung Hoa đã

nghiên cứu kỹ và đã học được kỹ thuật sơn son

thếp vàng, thếp bạc, về truyền lại cho dân ta

Chánh sứ Phùng Khắc Khoan thì mang được hạt

ngô, vừng giống về nước dạy dân ta gieo trồng,

chăm sóc và học được kỹ thuật dệt the lụa bằng tơ

tằm qua lần đi sứ Trung Hoa Và còn nhiều tấm

gương như vậy trong lịch sử nước nhà

Đôi điều về sứ thần

Các vua Đại Việt cử sứ thần sang Trung Hoa

trước hết đều có mục đích triều cống, xin sách

phong Ngoài ra, việc đi sứ còn có các mục đích

khác như mừng vua mới lên ngôi, phong hoàng

thái tử, tạ ơn, báo tang, xin kinh Phật, sách, Mặt

khác, Đại Việt còn cử sứ thần sang Trung Hoa để

đấu tranh với thiên triều về vấn đề đất đai và

thăm dò tình hình Các vua quan Trung Hoa

thường hay thử thách sứ thần Đại Việt bằng cách

đe dọa, đặt ra thơ, phú, vế đối lắt léo, hoặc xỏ

xiên, khiêu khích, cốt thử trình độ học vấn, tài trí

thông minh, tháo vát, đôi khi để làm nhục sứ ta

Như vậy, việc đi sứ là việc hệ trọng quốc gia, là cuộc đấu lý, đấu trí, bảo vệ danh dự quốc gia Chính vì vậy, người được cử đi sứ đều là những quan lại có học vị, có tri thức uyên bác, sâu rộng, có bản lĩnh kiên cường và khôn khéo, linh hoạt trong ứng xử Đồng thời, sứ thần cũng phải là người không sợ khó khăn, gian khổ, có dũng khí và lòng dũng cảm như trạng nguyên Lê Văn Thịnh, Đào Tông Nguyên (nhà Lý), Đặng Nhữ Lâm, Mạc Đĩnh Chi, Giang Văn Minh (nhà Trần), Nguyễn Trãi, Nguyễn Đăng Cảo, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hãng, Lê Quý Đôn (nhà Lê), Ngô Thì Nhậm,

Vũ Văn Dũng, Võ Huy Tấn (nhà Tây Sơn), v.v Nhiều sứ thần triều Trần đi sứ sang Nguyên là như đi vào cõi chết, như Đỗ Khắc Chung vào trại Ô

Mã Nhi Nguyễn Biểu đến trại Trương Phụ (tướng nhà Minh) để dâng biểu thì bị thử thách tinh thần bằng cỗ đầu người và bị giết hại Đào Tử Kỳ bị giam ở Giang Lăng 1 năm, Lê Quang Bí năm 1548

đi sứ bị giam lỏng 18 năm Không ít sứ thần bị sát hại như Nguyễn Nhật Tư và Lê Ngân sang cầu phong cho Trần Quý Khoáng năm 1411 và bị giết

Sứ thần Giang Văn Minh cũng bị vua Thanh sát hại trong chuyến đi sứ năm 1637,

Ngoài việc đi sứ sang Trung Hoa, việc đón tiếp các sứ thần Trung Hoa sang Đại Việt cũng là công việc bang giao hệ trọng Các vua Trung Hoa thường cử sứ thần là thượng thư hoặc các đại quan như tổng đốc, tuần phủ các tỉnh biên giới

Trang 35

mang sắc phong và ấn tín sang Việt Nam Vì vậy,

các vua Đại Việt cũng cử các đại quan có kiến thức

uyên thâm, có bản lĩnh và khôn khéo để tiếp sứ

như sư Đỗ Thuận, trạng nguyên Nguyễn Hiền,

Lương Thế Vinh,

Sứ đoàn

Thành phần sứ đoàn thường phụ thuộc vào

tình hình chính trị, bang giao và yêu cầu của

chuyến đi Theo Lê Quý Đôn, từ thời Lê, thành

phần sứ đoàn gồm:

- 1 viên chánh sứ;

- 2 viên phó sứ;

- 5 viên thư ký của chánh sứ;

- 8 viên thư ký của 2 phó sứ;

- 3 viên thông ngôn;

- 2 thầy thuốc;

- 2 người có nhiệm vụ ghi chép

Lộ trình sứ đoàn: Qua mục Nam Quan, sứ

đoàn theo đường bộ qua các tỉnh miền Hoa Nam,

sau đó đi thuyền lên kinh đô Trung Quốc Khi

Nam Tống chưa bị diệt, sứ đoàn nhà Trần đi theo

đường Vân Nam Hành trình trên đất Trung

Quốc, tại Nam Quan, phía Trung Quốc cử đội

Trường tống quan, qua các địa phương, các tỉnh cử

Đoạn tống quan (trong địa phận của mình) đi theo

tiếp đãi và hộ tống Khi qua các tỉnh, sứ đoàn đều

yết kiến tổng đốc sở tại để cho xem quốc thư, giấy

thông hành và cống phẩm

Quy trình trình quốc thư: quốc thư được trình

ở bộ Lễ Sứ đoàn tiến vào dinh thượng thư theo cửa bên trái và túc trực ở đó Gian giữa đặt bàn to, trần thiết sang trọng Sửa soạn xong, quan tham tri bộ Lễ mời chánh sứ tiến vào và bệ dâng quốc thư lên Nhân viên phòng thông dịch đón và đưa lên thượng thư Quan thượng thư trịnh trọng đặt quốc thư lên giữa bàn và quay về chỗ cũ Chánh

sứ, hai phó chánh sứ và sứ đoàn lần lượt khấn ba khấn, chín vái rồi lui ra Bộ Lễ nhận quốc thư trình lên Hội đồng cơ mật

Việc đón tiếp sứ thần Trung Hoa sang phong vương phải tuân thủ những quy định được đề ra

trong các bộ luật lễ như Đại Minh tập lễ, Đại

Thanh tập lễ Các bộ luật lễ này quy định rất cụ

thể, chi tiết, ví dụ như khi vào bái kiến thiên tử thì phải vái lạy bao nhiêu, như thế nào, Phan

Huy Chú sau này đã ghi lại trong Lịch triều hiến

chương loại chí, phần viết về “Bang giao chí” Lời

lẽ trong các bài biểu, trần tình, thư, công văn phúc đáp của các vua Đại Việt rất nhún nhường,

hạ mình, song luôn giữ vững nguyên tắc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, tự tôn dân tộc

Cần phải thấy rằng, trong hàng ngàn năm phong kiến, các đế chế và sĩ phu Trung Hoa thường coi nước ta là ngoại phiên, di địch, có cái nhìn rất kỳ thị dân tộc ta Ông cha ta trong những dịp bang giao sứ sự đã chứng minh một cách hùng hồn rằng, Việt Nam có một nền văn hóa riêng -

Trang 36

mang sắc phong và ấn tín sang Việt Nam Vì vậy,

các vua Đại Việt cũng cử các đại quan có kiến thức

uyên thâm, có bản lĩnh và khôn khéo để tiếp sứ

như sư Đỗ Thuận, trạng nguyên Nguyễn Hiền,

Lương Thế Vinh,

Sứ đoàn

Thành phần sứ đoàn thường phụ thuộc vào

tình hình chính trị, bang giao và yêu cầu của

chuyến đi Theo Lê Quý Đôn, từ thời Lê, thành

phần sứ đoàn gồm:

- 1 viên chánh sứ;

- 2 viên phó sứ;

- 5 viên thư ký của chánh sứ;

- 8 viên thư ký của 2 phó sứ;

- 3 viên thông ngôn;

- 2 thầy thuốc;

- 2 người có nhiệm vụ ghi chép

Lộ trình sứ đoàn: Qua mục Nam Quan, sứ

đoàn theo đường bộ qua các tỉnh miền Hoa Nam,

sau đó đi thuyền lên kinh đô Trung Quốc Khi

Nam Tống chưa bị diệt, sứ đoàn nhà Trần đi theo

đường Vân Nam Hành trình trên đất Trung

Quốc, tại Nam Quan, phía Trung Quốc cử đội

Trường tống quan, qua các địa phương, các tỉnh cử

Đoạn tống quan (trong địa phận của mình) đi theo

tiếp đãi và hộ tống Khi qua các tỉnh, sứ đoàn đều

yết kiến tổng đốc sở tại để cho xem quốc thư, giấy

thông hành và cống phẩm

Quy trình trình quốc thư: quốc thư được trình

ở bộ Lễ Sứ đoàn tiến vào dinh thượng thư theo cửa bên trái và túc trực ở đó Gian giữa đặt bàn to, trần thiết sang trọng Sửa soạn xong, quan tham tri bộ Lễ mời chánh sứ tiến vào và bệ dâng quốc thư lên Nhân viên phòng thông dịch đón và đưa lên thượng thư Quan thượng thư trịnh trọng đặt quốc thư lên giữa bàn và quay về chỗ cũ Chánh

sứ, hai phó chánh sứ và sứ đoàn lần lượt khấn ba khấn, chín vái rồi lui ra Bộ Lễ nhận quốc thư trình lên Hội đồng cơ mật

Việc đón tiếp sứ thần Trung Hoa sang phong vương phải tuân thủ những quy định được đề ra

trong các bộ luật lễ như Đại Minh tập lễ, Đại

Thanh tập lễ Các bộ luật lễ này quy định rất cụ

thể, chi tiết, ví dụ như khi vào bái kiến thiên tử thì phải vái lạy bao nhiêu, như thế nào, Phan

Huy Chú sau này đã ghi lại trong Lịch triều hiến

chương loại chí, phần viết về “Bang giao chí” Lời

lẽ trong các bài biểu, trần tình, thư, công văn phúc đáp của các vua Đại Việt rất nhún nhường,

hạ mình, song luôn giữ vững nguyên tắc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, tự tôn dân tộc

Cần phải thấy rằng, trong hàng ngàn năm phong kiến, các đế chế và sĩ phu Trung Hoa thường coi nước ta là ngoại phiên, di địch, có cái nhìn rất kỳ thị dân tộc ta Ông cha ta trong những dịp bang giao sứ sự đã chứng minh một cách hùng hồn rằng, Việt Nam có một nền văn hóa riêng -

Trang 37

nền văn hóa ấy tuy có tiếp thu văn hóa Hán

Đường, như Triều Tiên, nhưng không kém gì văn

hóa Hán Đường ngay ở trên đất Trung Hoa Thơ

ca cũng vậy Do hạn chế, bế tỏa của một vùng văn

hóa đồng văn, ông cha ta chưa thể hình dung ra

một nền văn hóa nào cao hơn và khác hơn văn hóa

Trung Hoa Hơn nữa, do sự nghiệt ngã trong quan

hệ bang giao, sứ thần ta không dễ gì biểu dương

nền văn hóa văn học chân chính, phong phú về

lòng yêu nước, tự hào dân tộc và nhân ái thương

người, hình thành từ nền văn hóa, văn học dân

gian giàu bản sắc, tâm hồn dân tộc và từ sự tiếp

biến văn hóa, văn học nước ngoài Nhưng điều chủ

yếu là ông cha ta đã có ý thức về tính độc lập, về

lòng tự hào đối với trình độ văn hóa của một đất

nước có nền văn hiến lâu đời

sư Khi vua Lê Hoàn hỏi ông về kế sách trị quốc,

ông đã làm bài thơ nổi tiếng “Quốc tộ” (Vận nước) Bài thơ chỉ có bốn câu, hàm súc, cô đọng, nói lên khát vọng của muôn đời, khát vọng hòa bình, hạnh phúc Trong bài thơ ông cũng nêu lên việc ứng xử của nhà vua với muôn dân

Quốc tộ như đằng lạc Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Trang 38

nền văn hóa ấy tuy có tiếp thu văn hóa Hán

Đường, như Triều Tiên, nhưng không kém gì văn

hóa Hán Đường ngay ở trên đất Trung Hoa Thơ

ca cũng vậy Do hạn chế, bế tỏa của một vùng văn

hóa đồng văn, ông cha ta chưa thể hình dung ra

một nền văn hóa nào cao hơn và khác hơn văn hóa

Trung Hoa Hơn nữa, do sự nghiệt ngã trong quan

hệ bang giao, sứ thần ta không dễ gì biểu dương

nền văn hóa văn học chân chính, phong phú về

lòng yêu nước, tự hào dân tộc và nhân ái thương

người, hình thành từ nền văn hóa, văn học dân

gian giàu bản sắc, tâm hồn dân tộc và từ sự tiếp

biến văn hóa, văn học nước ngoài Nhưng điều chủ

yếu là ông cha ta đã có ý thức về tính độc lập, về

lòng tự hào đối với trình độ văn hóa của một đất

nước có nền văn hiến lâu đời

sư Khi vua Lê Hoàn hỏi ông về kế sách trị quốc,

ông đã làm bài thơ nổi tiếng “Quốc tộ” (Vận nước) Bài thơ chỉ có bốn câu, hàm súc, cô đọng, nói lên khát vọng của muôn đời, khát vọng hòa bình, hạnh phúc Trong bài thơ ông cũng nêu lên việc ứng xử của nhà vua với muôn dân

Quốc tộ như đằng lạc Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Trang 39

nước ta Lý Giác vốn là một văn thần, học thức

rộng, thơ văn giỏi Vì vậy, để sứ Tống thấy nước ta

có nền văn hiến cao, nhiều nhân tài, vua Lê Hoàn

đã cử nhà sư Đỗ Thuận tiếp sứ

Được lệnh vua, sư Đỗ Thuận giả làm người

chèo thuyền trong đoàn thuyền lên đón sứ Tống

gần chùa Sách (huyện Nam Sách, Hải Dương), Lý

Giác được bố trí ở thuyền do sư Đỗ Thuận chèo

Tương truyền, một buổi chiều, đứng mạn thuyền

ngắm sông nước, mây trời, thấy hai con ngỗng

thong thả bơi, Lý Giác bất giác ngâm:

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nha

Dịch thơ:

Ngỗng kìa ngỗng một đôi

Ngửa mặt nhìn chân trời

Sư Đỗ Thuận liền ngâm tiếp:

Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bãi thanh ba

Dịch thơ:

Lông trắng nhờ nước biếc

Rẽ sóng chèo hồng bơi1

Bốn câu thơ trên hợp thành một bài thơ tuyệt

hay Lý Giác rất khâm phục người “lái đò” không

những biết làm thơ, họa thơ, mà còn có kiến thức

văn học uyên thâm Hai câu thơ của Lý Giác

_

1 Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông

tin, in lần thứ hai, Hà Nội, 2005, t.1, tr.230

ngâm lấy ý trong bài thơ của Lạc Tấn Vương, nhà thơ nổi tiếng đời Đường và Lý Giác đã điều chỉnh vài chữ cho hợp Vậy mà ông “lái đò” lại ngâm tiếp hai câu cuối, thay vài chữ cho hợp cảnh và hợp với hai câu của Lý Giác

Lý Giác vô cùng khâm phục tài làm thơ và hiểu biết của sư Đỗ Thuận Khi về đến Công quán

đã làm một bài thơ tặng sư Đỗ Thuận, trong đó tỏ

ý tôn trọng Lê Hoàn không khác gì vua Tống

Trang 40

nước ta Lý Giác vốn là một văn thần, học thức

rộng, thơ văn giỏi Vì vậy, để sứ Tống thấy nước ta

có nền văn hiến cao, nhiều nhân tài, vua Lê Hoàn

đã cử nhà sư Đỗ Thuận tiếp sứ

Được lệnh vua, sư Đỗ Thuận giả làm người

chèo thuyền trong đoàn thuyền lên đón sứ Tống

gần chùa Sách (huyện Nam Sách, Hải Dương), Lý

Giác được bố trí ở thuyền do sư Đỗ Thuận chèo

Tương truyền, một buổi chiều, đứng mạn thuyền

ngắm sông nước, mây trời, thấy hai con ngỗng

thong thả bơi, Lý Giác bất giác ngâm:

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nha

Dịch thơ:

Ngỗng kìa ngỗng một đôi

Ngửa mặt nhìn chân trời

Sư Đỗ Thuận liền ngâm tiếp:

Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bãi thanh ba

Dịch thơ:

Lông trắng nhờ nước biếc

Rẽ sóng chèo hồng bơi1

Bốn câu thơ trên hợp thành một bài thơ tuyệt

hay Lý Giác rất khâm phục người “lái đò” không

những biết làm thơ, họa thơ, mà còn có kiến thức

văn học uyên thâm Hai câu thơ của Lý Giác

_

1 Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông

tin, in lần thứ hai, Hà Nội, 2005, t.1, tr.230

ngâm lấy ý trong bài thơ của Lạc Tấn Vương, nhà thơ nổi tiếng đời Đường và Lý Giác đã điều chỉnh vài chữ cho hợp Vậy mà ông “lái đò” lại ngâm tiếp hai câu cuối, thay vài chữ cho hợp cảnh và hợp với hai câu của Lý Giác

Lý Giác vô cùng khâm phục tài làm thơ và hiểu biết của sư Đỗ Thuận Khi về đến Công quán

đã làm một bài thơ tặng sư Đỗ Thuận, trong đó tỏ

ý tôn trọng Lê Hoàn không khác gì vua Tống

Ngày đăng: 23/12/2022, 19:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w