1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Pháp luật đại cương: Phần 1 - Lê Hữu Trung

115 7 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng Pháp luật đại cương: Phần 1 - Lê Hữu Trung
Tác giả Lê Hữu Trung
Người hướng dẫn P. Thạc sĩ Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật đại cương
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 9,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Pháp luật đại cương được biên soạn bởi tác giả Lê Hữu Trung có nội dung gồm 7 chương. Ở phần 1, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu 3 chương đầu tiên. Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nhà nước; Chương 2: Những vấn đề cơ bản về pháp luật; Chương 3: Quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG DAI HOC NONG LAM T.P HO CHI MINH

(TÀI LIỆU HỌC TẬP LƯU HÀNH NỘI BỘ)

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NONG LAM TP.HCM - BAI GIANG PHAP LUAT DAI CUONG

LOI NOI DAU

Trong hệ thống chương trình đào tạo của các Trường Đại học, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn Pháp luật đại cương là môn học bắt buộc

Nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của sinh viên, chúng tôi biên soạn bài giảng môn “PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG' trên cơ sở nghiên cứu và sử dụng đề cương chuẩn

do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Quyết định số 3244/GD-ĐT ngày

cường Pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Qua đó, giúp

người học tạo nên nền tảng cho việc nghiên cứu các khoa học pháp lý chuyên ngành khác và góp phần nâng cao văn hóa pháp lý, ý thức tự giác thực hiện pháp luật, sống

và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tạo dựng tình cảm, củng cố lòng tin của người học về những giá trị chuẩn mực của pháp luật, có thái độ bảo vệ tính đúng đắn, tình nghiêm minh và tính công bằng của pháp luật, đây là yêu cầu cấp thiết hiện

Chúng tôi đã cố gắng tham khảo nhiều tài liệu để phục vụ cho việc biên soạn và

hy vọng sẽ đáp ứng yêu cầu học tập và thực sự giúp sinh viên dễ dàng lĩnh hội kiến thức Tuy nhiên, do yêu cầu nên bài giảng phải đề cập đến nhiều lĩnh vực phức tạp

Vì vậy, để hiễu sâu hơn, kỹ hơn, sinh viên phải hoàn tất yêu cầu kiến thức cơ bản như: Triết học Mác - Lênin; Chính trị học cơ ban cần đảm bảo kế hoạch lên lớp,

học tập, đồng thời tích cực và chủ động trong việc tham khảo các tài liệu đã được

hướng dẫn

Bài giảng đã được bỗ sung và cập nhật những quy định mới nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, có thể không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các giảng viên, bạn đọc và

sinh viên nhằm giúp chúng tôi bỗ sung đầy đủ hơn, tốt hơn cho lần sau

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả: Lê Hữu Trung, Giảng viên chính, Thạc sĩ Quản lý Nhà nước,

Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh,

Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 01 năm 2011.

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM

MỤC LỤC

Lio

Nội dung

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐÈ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

1.1 NGUON GOC SU RA DOI CUA NHA NUOC

1.1.1 Các quan điểm của các Nhà Thần học và Lý thuyết gia tư sản về Nhà nước

1.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác — Lênin về Nhà nước

1.2 BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC

1.2.1 Khái niệm Nhà nước

1.2.2 Bán chất giai cấp của Nhà nước

1.2.3 Bản chất xã hội (Vai trò và giá trị xã hội) của Nhà nước

1.2.4 Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của Nhà nước

1.2.4.1 Nhà nước thiết lập bộ máy quyền lực công

1.2.4.2 Nhà nước phân chia và quản lý dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị

hành chính

1.2.4.3 Nhà nước là một tổ chức quyền lực đuy nhất có chủ quyền quốc gia

1.2.4.4 Nhà nước là một tổ chức duy nhất trong xã hội được quyền ban hành

pháp luật và buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo

1.2.4.5 Nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế

1.3 CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC

1.3.1 Khái niệm chức năng của Nhà nước

1.3.2 Chức năng đối nội

1.3.3 Chức năng đối ngoại

1.4 KIỂU NHÀ NƯỚC -

1.4.1 Khái niệm kiểu nhà nước

1.4.2 Các kiêu Nhà nước trong lịch sử

1.4.2.1- Kiểu Nhà nước chủ nô (Nhà nước nô lệ)

1.4.2.2- Kiểu Nhà nước phong kiến

1.4.2.3- Kiểu Nhà nước tư sản

1.4.2.4- Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

1.5 HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC

1.5.1 Khái niệm hình thức nhà nước

1.5.2 Các khía cạnh của hình thức Nhà nước

1.5.2.1 Hình thức chính thể

1.5.2.2 Hình thức cấu trúc nhà nước

1.5.2.3 Chế độ chính trị

1.6 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

1.7 NHÀ NƯỚC NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM

MỤC LỤC

1.7.1 Sự ra đời của Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam

1.7.2 Bản chất nhà nước nước CHXHCN Việt Nam

1.7.3 Hình thức nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.7.4 Chức năng cơ bản của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.7.4.1 Các chức năng đối nội

1.7.4.2 Các chức năng đối ngoại

1.7.4.3 Những hình thức và phương pháp chủ yếu thực hiện các chức năng cơ

bản của Nhà nước xã hội chủ nghĩa

1.7.5 Bộ máy Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.7.5.1 Tổ chức bộ máy nhà nước

1.7.5.2 Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.7.5.3 Bộ máy nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

MÔ HÌNH TỎ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA VIỆT NAM

[1]- Quốc Hội

[2]- Nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước)

[3]- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

[4]- Tổ chức hệ thống chính quyền địa phương

[5]- Tòa án nhân dân

[6]- Viện Kiểm sát nhân dân

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐÈ CƠ BẢN VÈ PHÁP LUẬT

2.1- NGUON GOC RA DOI CUA PHAP LUAT

2.2- KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG THUỘC TÍNH CÚA PHÁP LUẬT

2.2.1- Khái niệm pháp luật

2.2.2- Những thuộc tính của pháp luật

(1)- Tính quy phạm pho bién

(2)- Tinh xdc dinh chat ché vé mat hinh thức

(3)- Tinh cưỡng chế

2.3- BAN CHAT GIAI CAP CUA PHAP LUAT

2.3.1- Pháp luật luôn thể hiện tính giai cắp

2.3.2- Pháp luật mang tính xã hội

2.3.3- Pháp luật mang tính dân tộc

2.3.4- Pháp luật mang tính kế thừa

2.3.5- Pháp luật mang tính sáng tạo

2.4- HÌNH THỨC CỦA PHÁPLUẬT ›

2.4.1- Khái niệm hình thức của pháp luật

2.4.2- Hình thức bên trong của pháp luật

2.4.3- Hình thức bên ngoài của pháp luật

2.5- QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI KHÁC

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

2.5.1- Quan hệ giữa pháp luật và chính trị 66

2.5.3- Quan hệ giữa pháp luật với Nhà nước 68

2.5.4- Quan hệ giữa pháp luật với đạo đức 68

2.5.5- Quan hệ giữa pháp luật và tôn giáo 69

2.6.1 Khái niệm pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam 69

2.6.2 Bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam 69

2.6.3 Vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam 71 2.6.4 Chức năng của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam 74 2.6.5 Giá trị xã hội của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam 76

Chương 3: QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM 78

PHÁP LUẬT

luật của văn kiện quy phạm pháp luật

3.3.2 Căn cứ vào phạm vi và khối lượng của sự tác động điều chỉnh 88 3.3.3 Phân loại quy phạm pháp luật trong lập pháp, trong thực tiễn pháp lý và 89 trong khoa học

3.3.4 Phân loại quy phạm pháp luật theo các tiêu chuẩn khác 89 3.4 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 90

3.4.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 90

3.5 HE THONG VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT CUA NHÀ NƯỚC VIỆT 91 NAM

3.5.1.3 Nghị quyết của Quốc hội 93

3.5.2.1 Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 93 3.5.2.2 Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước 94

-Biên soạn: Lê Hữu Trung, Giảng viên chính, Thạc sỹ Quản lý nhà nước, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM iV

Trang 6

TRUONG DAI HOC NONG LAM TP.HCM BAI GIANG PHAP LUAT DAI CUONG

3.5.2.9 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các 97

cấp

- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp 98

- Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp 100 3.6 HIEU LUC CUA VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT, NGUYEN TAC AP 100

DUNG, CONG KHAI VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT

3.6.1 Hiệu lực theo thời gian 101 3.6.1.1 Thời điểm phát sinh hiệu lực và việc đăng công báo văn bản quy phạm 101

pháp luật

3.6.1.2 Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật 101

3.6.1.4 Thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật 103

3.6.3 Hiệu lực theo đối tượng do văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh 104 3.6.4 Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật 105

4.1 KHAI NIEM, DAC DIEM VA PHAN LOẠI QUAN HỆ PHÁP LUẬT 107

4.1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật 107

4.2.1.1 Cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật 111 4.2.1.2 Pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật 113 4.2.1.3 Nhờ nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật 116

4.2.3 Nội dung quan hệ pháp luật 117

Trang 7

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

5.1.4.1 Khải niệm áp dụng pháp luật

5.1.4.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật

5.1.4.3 Văn bản dp dung pháp luật

5.1.4.4 Những giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật

5.1.5 Áp dụng pháp luật tương tự

5.1.5.1 Khái niệm áp dụng pháp luật tương tu

5.1.5.2 Các diéu kiện chung khi áp dụng pháp luật tương tự

5.1.5.3 Các điều kiện riêng cho mỗi loại áp dụng pháp luật tương tự

5.2 VIPHẠM PHÁP LUẬT

5.2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật

5.2.2 Những yếu tố cấu thành của hành vi vi phạm pháp luật

5.2.2.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật

5.2.2.2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật

(3) Vi pham pháp luật dân sự

(4) Vi phạm nội quy kỷ luật

- MÔ HINH VE NHUNG HANH VI VI PHAM PHAP LUAT

5.3 TRACH NHIEM PHAP LY

5.3.1 Khai niệm trách nhiệm pháp lý

5.3.2 Cơ sở xác định và truy cứu trách nhiệm pháp lý

5.3.3 Mục đích của trách nhiệm pháp lý

5.3.4 Các loại trách nhiệm pháp lý

Chuong 6 HE THONG PHÁP LUAT VIET NAM

6.1 KHAI NIEM VA CAC BO PHAN CAU THANH HE THONG PHAP LUAT

6.1.1 Khai niém vé hé théng pháp luật

Trang 8

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

6.1.2.3 Ngành luật

6.1.3- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

6.2 LICH SU PHAT TRIEN HE THONG PHAP LUAT VIET NAM

6.2.1 Giai đoạn 1945 — 1954

6.2.2 Giai đoạn 1954 — 1986

6.2.3 Giai đoạn từ 1986 đến nay

6.3 CÁC NGÀNH LUẬT TRONG HE THONG PHAP LUAT VIỆT NAM

Chương 7 PHÁP CHẼ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

7.1 KHÁI NIỆM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

(1) Pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã

hội chủ nghĩa

(2) Pháp chế XHCN là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội và

các đoàn thể quần chúng

(3) Pháp chế XHCN là nguyên tắc xứ sự của mọi công dân

(4) Pháp chế XHCN có quan hệ mật thiết với chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

(5) Pháp chế XHCN luôn luôn quan hệ chặt chẽ gắn bó với pháp luật XHCN,

muốn có pháp chế XHCN trước hết phái có pháp luật XHCN

7.2 NHUNG YEU CÂU CƠ BẢN CỦA PHÁP CHÉ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

7.2.1 Phải bảo đảm tính thống nhất trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật

và thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước

7.2.2 Bảo đảm mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật, thi hành

pháp luật và sử dụng pháp luật

7.2.3 Mọi chủ thể pháp luật phải tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật

7.2.4 Mợi công dân đều bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi cũng như về trách

nhiệm trong việc thực hiện pháp luật

7.2.5 Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã

165

165 -166

vii

Trang 9

TRUONG BAI HOC NONG LAM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

được pháp luật quy định

7.2.6 Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ 172 pháp luật phải hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả Mọi vi

phạm pháp luật phải được ngăn chặn và xử lý công minh

7.3 NHUNG BAO DAM DOI VOI PHAP CHE XA HOI CHU NGHIA 173

7.3.2 Những bảo đảm chính trị 173

7.3.3 Những bảo đảm pháp lý đối với pháp chế và trật tự pháp luật 174

7.3.4 Những bảo đảm tư tưởng đối với pháp chế 174

7.3.5 Những bảo đảm xã hội đối với pháp chế 174 7.4 CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 174

7.4.1 Đảm bảo tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế 175 7.4.2 Tăng cường công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN 175 7.4.3 Tăng cường công tác tổ chức, thực hiện và áp dụng pháp luật 177 7.4.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý 178

nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật

7.5 VAI TRÒ CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG SỰ NGHIỆP 180 XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TÔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

7.6 NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 181

7.6.2 Một số nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền 182

XHCN Việt Nam

-Biên soạn: Lê Hữu Trung, Giảng viên chính, Thạc sỹ Quản lý nhà nước, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCIM viii

Trang 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chương 1

NHỮNG VÁN ĐÈ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC 1.1 NGUÒN GÓC, SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC

Nhà nước là một hiện tượng chính trị - xã hội đa dạng và phức tạp, có liên

quan đến lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp dân cư, các dân tộc, các quốc

gia và tác động trực tiếp đến cuộc sống của tất cả mọi người trong xã hội Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, Nhà nước luôn là trung tâm của các cuộc tranh chấp Các đảng phái chính trị luôn coi trọng mục tiêu giành lấy chính quyền và coi đó là mục tiêu để thực hiện quyền lực của mình Chính quyền ấy

Khi xã hội loài người chưa xuất hiện bắt kỳ một kiểu nhà nước nào, dù dưới một mô hình nào, thì con người chưa thể hình dung được thế nào là Nhà nước và Nhà nước sẽ xuất hiện như thế nào và vào lúc nào Chỉ sau khi Nhà nước ra đời và chỉ đến một giai đoạn lịch sử, khi mà trí tuệ của loài người đã phát triển hoàn thiện, người ta mới có điều kiện đề tìm hiễu về quá khứ, trong

đó nguyên nhân ra đời của Nhà nước luôn là những vấn đề trung tâm của

những tranh luận và thể hiện quan điểm Để nhận thức đúng đắn bản chất của

Nhà nước, cần lý giải đầy đủ nhiều vấn đề, trong đó nhát thiết phải làm sáng tỏ

nguồn gốc hình thành Nhà nước và nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước

Nhà nước là một hiện tượng lịch sử xã hội, tồn tại khách quan, nhưng trong lịch sử đã có nhiều cách lý giải khác nhau về nguồn gốc của nó

Từ những quan điểm giai cấp và cách nhìn khác nhau, người ta cũng có _ những cách đánh giá rất khác nhau về nguồn gốc của Nhà nước Tiêu biểu cho

2 luồng quan điểm về nguồn gốc của Nhà nước là quan điểm của những Nhà thần học và Lý thuyết gia tư sản và đối chọi lại là quan điểm của Mác — Ăngghen

và Lênin

4.1.1 Các quan điểm của các Nhà thần học và Lý thuyết gia tư sản về

4.1.1.1 Thuyét Than hoc

Những người theo thuyết này (đại diện ở thời trung cỗ như Ph.Acvin, trong

xã hội tư sản như Masiten, Koct — Phlore, v.v ) cho rằng: Thượng đế là người

sắp đặt mọi trật tự xã hội Mọi thứ trên đời đều do Thượng đề sinh ra Nhà nước

cũng vậy đều là do đắng tối cao sáng tạo, thể hiện ý Chúa Thượng đề đã sáng tạo ra Nhà nước nhằm bảo vệ trật tự chung Theo họ, Nhà nước là sản phẩm của Thượng đế vừa mang tính vĩnh cửu vừa mang tính siêu nhiên (thần tính) Nhà nước còn hay biến mất tùy thuộc vào ý chí của Thượng đế Do vậy, quyền

lực nhà nước là hiện thân quyền lực của Thượng đề, là vĩnh cửu, tuân theo quyền lực nhà nước là tuân theo ý Thuong dé, là cần thiết và tất yếu

Trang 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LÂM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Những người theo thuyết này (Aritốt, Philmer, Mikhailốp, Merđoóc - nhà dân tộc học Mỹ và v.v ) cho rằng: Nhà nước ra đời từ gia đình, là hình thức tỗ chức tự nhiên của đời sống con người, vì vậy cũng như gia đình, nhà nước tồn tại vĩnh hằng trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước, vê thực chất cũng giống

như quyền lực của người gia trưởng đứng đầu gia đình, nó chỉ là sự kế tiếp

quyên lực người gia trưởng trong gia đình Vì vậy, trong mọi hình thái xã hội, Nhà nước luôn tôn tại và không có tính giai cấp Sự lý giải về nguồn gốc nhà nước của thuyết gia trưởng thực chất nhằm bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế thời phong kiến, nó gắn liền với tôn giáo, thần thánh hóa quyên lực của Nhà

nước quân chủ

1.1.1.3 Thuyết khế ước xã hội

_ Các lý thuyết gia tư san, dién hình là Jean Jacques Rousseau (1712-1778)

và một số khác như Jean Bodin (1530-1596), Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704), S.L Montesquieu (1689-1775), Denis Diderot (1713-

1784), v.v ] cho rằng: Sự ra đời của Nhà nước là kết quả của một khé ước (hợp đồng) xã hội được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự

nhiên không có Nhà nước Vì vậy, Nhà nước phản ảnh lợi ích của các thành

viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyên yêu câu Nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ

T.Hobbes coi Nhà nước là khễ ước xã hội dựa trên cơ sở ý chí của mọi

người nhằm chống lại sự thống trị chuyên chế, tạo ra một trật tự xã hội mới, ở đó các quyên tự nhiên của con người được tôn trọng

J.J.Rousseau phát triển quan điểm về khế ước xã hội bằng luận điểm: “Nhà nước là kết quả của sự phát triển xã hội từ trạng thái tự nhiên sang xã hội công

dân, gắn liền với chế độ sở hữu tư nhân Chế độ tư hữu xuất hiện đã làm biến

dạng các quan hệ tự nhiên của con người, đẫy xã hội vào tình trạng bất công,

áp búc Cho nên Nhà nước xuất hiện trên cơ sở khế ước xã hội là do nhân dân lập ra nhằm bảo vệ quyên bình đẳng giữa họ và xoá bỏ tình trạng áp bức, bắt công.”

Nhw vay, theo J.J.Rousseau: Viéc xuất hiện chế độ tư hữu là nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện Nhà nước Nhà nước là sản phẩm của ý chí chung của

nhân dân, do nhân dân lập ra thể hiện ý chí của nhân dân, do nhân dân kiểm

soát Quyền lực nhà nước không tách rời nhân dân Mọi hoạt động của Nhà nước là vì lợi ích của nhân dân và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân

Phần lớn các nhà tư tưởng tư sản thế kỷ thứ 17, 18 đại diện cho Thuyết khế ước xã hội quan niệm rằng, do việc ký kết hợp đồng thành lập Nhà nước nên các cá nhân chuyễn một số quyên tự nhiên của mình cho Nhà nước, do đó

Trang 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ sở hữu, an toàn tính mạng, tài sản cho các công

dân, trong trường hợp Nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyên tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mắt hiệu lực và nhân dân có quyên lật đỗ Nhà nước và sẽ ký kết khế ước mới

Sự xuất hiện Thuyết khế ước xã hội về nguồn gốc Nhà nước đánh dấu

bước phát triển nhận thức của con người về nguồn gốc Nhà nước, nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của chế độ phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng cho giai cấp tư sản mới ra đời trong việc tham gia nắm chính quyên nhà nước

Về mặt lịch sử, Thuyết khế ước xã hội về nguồn gốc Nhà nước chứa đựng yếu tố tiến bộ xã hội, nó phủ nhận Thuyết thần học về sự ra đời của Nhà nước, đồng thời coi quyền lực nhà nước là sản phẩm hoạt động của con người Vì vậy, Thuyết khế ước xã hội đã trở thành cơ sở cho Thuyết dân chủ cách mạng

và là cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản lật đỗ chế độ phong kiến Với ý nghĩa đó, nó có tính cách mạng và giá trị lịch sử nhất định

Hạn chế lớn nhất của thuyết này là giải thích nguồn gốc Nhà nước trên cơ

sở chủ nghĩa duy tâm, coi Nhà nước ra đời do ý muốn, nguyện vọng chủ quan

của các bên tham gia hợp đồng, không giải thích được cội nguồn vật chất và bản chất giai cắp của Nhà nước

1.1.1.4 Một số học giả tư sản theo Thuyết bạo lực

Đại diện như Gumplovich, E.Đuyrinh, Kaútxky) cho rằng: Nhà nước xuất

hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác, kết quả

là thị tộc chiến thắng lập ra một bộ máy đặc biệt (Nhà nước) đễ nô dịch kẻ chiễn

1.1.1.5 Những người theo Thuyết tam lý

Đại diện như Lpetorazitki, Phoreder ) cho rằng: Nhà nước xuất hiện do nhu câu về tâm lý của con người nguyên thủy luôn muốn phụ thuộc vào các thủ

lĩnh, giáo sĩ, Vì vậy, Nhà nước là tỗ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnh đạo xã hội

Tất cả các quan điểm trên hoặc do hạn chế về mặt lịch sử, do nhận thức

còn thấp kém hoặc do bị chỉ phối bởi lợi ích giai cắp hay cố tình giải thích sai lệch những nguyên nhân đích thực làm phát sinh Nhà nước, nhằm che đậy bản

chất của Nhà nước Đa số họ khi xem xét sự ra đời của Nhà nước đều tách rời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế, và chứng minh rằng Nhà nước là một thiết chế tồn tại trong xã hội, một lực lượng đứng trên xã hội, đứng ngoài xã hội để giải quyết các tranh chấp, điều hòa mâu thuẫn xã hội, nhằm đảm bảo sự 6n định và phồn vinh cho xã hội Theo họ, Nhà

nước không thuộc giai cấp nào, Nhà nước là của tất cả mọi người và Nhà nước

tồn tại mãi mãi cùng xã hội

Trang 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NONG LAM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Ngày nay, trước những căn cứ khoa học và sự thật lịch sử, nhiều nhà tư

tưởng tư sản và tiểu tư sản thừa nhận rằng: Nhà nước là sản phẩm của đấu

tranh giai cấp, là tỗổ chức quyền lực của xã hội có giai cắp nhưng không thừa nhận bản chất giai cấp của Nhà nước mà coi Nhà nước là cơ quan trọng tài đứng ra điều hòa mâu thuẫn giai cấp

4.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc nhà nước

Kế thừa những thành tựu nghiên cứu khoa học của xã hội loài người,

những luận điểm khoa học về sự xuất hiện Nhà nước được Ph Ăngghen trình

bày trong tác phẩm nỗi tiếng “Nguôn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và Nhà

nước", và được V.I.Lênin phát triển thêm trong tác phẩm “Nhà nước và cách

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lênin về Nhà nước thì: “ Xã hội loài

người đã từng trải qua thời kỳ tiền nhà nước là thời kỳ cộng sản nguyên thủy, ở

thời kỳ này chưa thễ và chưa cần sự xuất hiện của Nhà nước và thời kỳ có Nhà nước Đến một lúc nào đó thì xã hội cũng không cân có Nhà nước nữa và Nhà

nước sẽ tự nó tiêu vong, đó là giai đoạn cộng sản chủ nghĩa ”

Chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch

sử xã hội của nhân loại Đó là một xã hội không có giai cấp, chưa có Nhà nước

Nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước lại nay sinh chính

trong xã hội chưa có giai cấp đó

Đặc trưng của xã hội cộng sản nguyên thủy là:

+ Con người sống chung trong cộng đồng;

+ Trình độ thấp kém của lực lượng san xuất, công cụ lao động thô sơ và năng suất lao động thấp Phương kế sinh sống chủ yếu dựa vào việc nhặt

nhạnh trái cây và săn bắt chim thú;

+ Sở hữu tập thể đối với tư liệu sản xuất và phân phối bình đẳng của cải,

cùng làm, cùng hưởng và không có sự phân chia lợi ích Đây là cơ sở của những quan hệ kinh tế trong xã hội cộng sản nguyên thủy

Chính những điều kiện kinh tế đó đã quyết định đời sống xã hội của chế độ

cộng sản nguyên thủy Điều đó dẫn tới trong xã hội không có giai cấp, không có

đấu tranh giai cấp, không có áp bức bóc lột

~Biên soạn: Lê Hữu Trung, Giảng viên chính, Thạc sĩ Quản lý Nhà nước, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

Trang 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Sự bất lực của con người trước những khắc nghiệt của thiên nhiên, thường xuyên đấu tranh với những hiện tượng tự phát đã hợp nhất con người trong một

cộng đồng, đó là thị tộc Thị tộc là kết quả của một quá trình tiền hóa lâu dài Nó xuất hiện ở một giai đoạn khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định Thị tộc là một cộng đồng xã hội độc lập, là tổ chức tế bào cơ sở xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy, là tổ chức xã hội đầu tiên của loài người và được hình thành trên cơ sở quan hệ huyết thống

Ở giai đoạn đầu do những điều kiện kinh tế, xã hội và hôn nhân, do vị trí chủ đạo của người phụ nữ, các thị tộc đã được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Dần dần, sự phát triển của kinh tế xã hội đã làm thay đổi quan hệ hôn nhân và

địa vị của người phụ nữ trong thị tộc, người đàn ông đã giữ vai trò chủ đạo trong

_ đời sống thị tộc và vì thế chế độ mẫu hệ đã chuyển thành chế độ phụ hệ

Trong thị tộc, trên cơ sở sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động đã quyết định mối quan hệ giữa người với người trong tỗ chức thị tộc Mọi

người đều bình đẳng, không ai có đặc quyền đặc lợi nào đối với người khác trong cùng một thị tộc Trong thị tộc đã tồn tại sự phân công lao động nhưng mới là sự phân công lao động tự nhiên giữa đàn ông và đàn bà, người già và trẻ nhỏ để thực hiện các loại công việc khác nhau, chứ chưa mang tính xã hội

Sự xuất hiện của tổ chức thị tộc là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại, nó đã đặt nền móng cho việc hình thành hình thái kinh tế - xã hội

đầu tiên trong lịch sử — hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy Tổ chức

thị tộc thực sự là một tổ chức lao động và sản xuất, một bộ máy kinh tế xã hội

Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc gồm những người đàn ông, đàn bà lớn tuổi Hội đồng thị tộc quyết định tất cả các vấn đề quan

trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuát, tiến hành chiến tranh, giải quyết

các tranh chấp nội bộ, những quyết định của Hội đồng thị tộc thê hiện ý chí chung của tất cả mọi thành viên và có tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi người Trong thị tộc, mặc dù chưa có các cơ quan cưỡng chế, nhưng quyền lực

xã hội có hiệu lực rất cao và đã thể hiện tính cưỡng chế mạnh mẽ

Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnh quân

sự để thực hiện quyền lực, quản lý các công việc chung Những người đứng

đầu thị tộc có quyền lực rấtlớn dựa vào tập thể cộng đồng và uy tín cá nhân, sự

ủng hộ và tín nhiệm của các thành viên trong thị tộc Những tù trưởng và thủ

lĩnh quân sự không có đặc quyên đặc lợi nào so với các thành viên của thị tộc

Họ chịu sự kiểm tra của cộng đồng và có thé bị bãi miễn bắt cứ lúc nào nếu uy tín không còn và không được tập thễ cộng đồng ủng hộ nữa

Trang 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Đến một giai đoạn phát triển nhất định, do có sự cắm đoán hôn nhân trong nội bộ thị tộc, nên các thành viên của thị tộc này đã có quan hệ hôn nhân với các thành viên của thị tộc khác, hình thành chế độ ngoại tộc hôn Các thị tộc mà các thành viên của chúng có quan hệ ngoại tộc hôn với nhau đã hợp thành bộ tộc (bào tộc) Do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau, một số bộ tộc đã

liên kết thành bộ lạc và đến giai đoạn cuối cùng của chế độ cộng sản nguyên

thủy thì các liên minh bộ lạc đã hình thành Về cơ bản, tính chất của quyền lực,

cách thức tổ chức quyền lực trong bộ tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc vẫn dựa trên

cơ sở những nguyên tắc tổ chức quyền lực trong xã hội thị tộc Tuy nhiên trong chùng mực nhất định, sự tập trung quyền lực đã cao hơn nhưng quyên lực vẫn mang tính xã hội, chưa mang tính giai cắp

Như vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thủy đã tồn tại quyền lực và hệ thống quản lý các công việc của thị tộc, nhưng đó mới chỉ là quyên lực xã hội, không mang tính chất chính trị, chưa mang tính giai cấp, do toàn xã hội t6 chức

ra và thực hiện dựa trên cơ sở của những nguyên tắc dân chủ thực sự, và phục

vụ lợi ích cho cả cộng đồng Quyền lực này với một hệ thống quản lý đơn giản

không tách rời khỏi xã hội mà hòa nhập với xã hội Nghĩa là đây chưa phải là

Nhà nước

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có pháp luật nhưng đã tồn tại

những quy phạm xã hội như đạo đức, tập quán, tôn giáo, đễ điều chỉnh quan

hệ của các thành viên trong xã hội Các quy phạm xã hội trên thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội được mọi người tự giác tuân theo Việc tuân thủ các quy tắc này trở thành thói quen của con người Nhưng nó cũng được đảm bảo thực hiện bởi sự cưỡng chế của cả thị tộc

Lịch sử xã hội cổ đại đã trải qua 3 lần phân công lao động xã hội, mỗi lần lại tạo ra những tiền đề mới, những bước tiến mới dẫn đến sự tan rã của xã hội

cộng sản nguyên thủy [V.I.Lênin Toàn tập, Tập 29, NXB Sự Thật, Hà Nội,

1972, tr 548]

e Lần phân công lao động xã hội thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt

Trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người không

chỉ sống với bản năng tồn tại mà trong quá trình ấy, con người tiếp tục phat trién

và hoàn thiện Cùng với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, của

công cụ sản xuất, con người được phát triển về thê lực và trí lực, lĩnh hội được

những kỹ năng lao động mới, năng suất lao động tăng lên, con người đã tạo ra sản phẩm dư thừa kéo theo sự phát triển về trình độ vật chất, tinh thần của xã

hội và đòi hỏi sự phân công lao động tự nhiên ở xã hội cộng sản nguyên thủy

phải được thay thế bằng sự phân công lao động xã hội, đã dàn dần tạo ra tiền

đề cho sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy để chuyển lên một hình thái kinh tế - xã hội mới

Trang 16

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chương 1: Những vấn đề cơ bản vê Nhà nước

Trong lao động và cùng với lao động, con người được phát triển, hoạt động của con người ngày càng phong phú, chủ động và tự giác hơn Việc con người

thuần dưỡng được động vật đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển

của xã hội loài người Từ con vật nuôi được thuần dưỡng hình thành đàn gia súc đã trở thành nguồn tích lũy tài sản quan trọng, là mầm móng sinh ra chế độ

tư hữu Nghề chăn nuôi dần dần phát triển mạnh đã tách ra khỏi trồng trọt và trở

thành một ngành kinh tế độc lập

Sau lần phân công lao động đầu tiên, cả chăn nuôi và trồng trọt đều phát

triển, năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều Con người đã tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết đễ duy trì cuộc sống của chính bản thân họ Do đó, đã xuất hiện những sản phẩm lao động dư thừa và đã phát

sinh kha nang chiếm đoạt những sản phẩm dư thừa ấy và đồng thời một nhu

cầu mới phát sinh, nhu cầu về sức lao động Những tù binh chiến tranh trước

kia thường bị giết đi, nhưng trong điều kiện mới do nhu cầu lao động được giữ lại để biến thành nô lệ

Như vậy, sau lần phân công lao động đầu tiên, chế độ tư hữu xuất hiện, xã

hội đã phân chia thành người giàu, kẻ nghèo (các giai cấp chủ nô và nô lệ) Sự

xuất hiện chế độ tư hữu đã tác động và làm thay đổi quan hệ hôn nhân: hôn

nhân một vợ một chồng thay thế hôn nhân đối ngẫu (quàn hôn) Đồng thời với

sự thay đổi đó, chế độ phụ hệ (chế độ gia trưởng) với đặc trưng bằng vai trò

tuyệt đối và quyền lực vô hạn thuộc về người chồng trong gia đình đã tiến tới thay thế chế độ mẫu hệ Gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đe dọa sự tồn tại của thị tộc

Mốc lịch sử quan trọng trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy dẫn tới sự phân

hóa xã hội chính là sự xuất hiện gia đình Gia đình xuất hiện dẫn đến sự phân hóa xã hội thành giai cấp và là tiền đề cho sự xuất hiện của nhà nước sau này

(như Ph.Ăngghen đã khẳng định trong tác phẩm: Nguồn gốc của gia đình, chế

độ tư hữu và nhà nưóc)

edn phân công lao động xã hội thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp

Xã hội tiếp tục phát triển, cùng với sự tồn tại của chăn nuôi và trồng trọt,

thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ Việc tìm ra kim loại và chế tạo công

cụ lao động bằng kim loại đã tạo khả năng nâng cao năng suất lao động, nghề chế tạo đồ kim loại, nghề dệt, làm đồ gốm phát triển và tạo ra những sản phẩm

hoàn hảo Tất cả những điều đó dẫn tới thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp.

Trang 17

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chươïng 1: Những vấn đề cơ bản vê Nhà nước

Hậu quả của phân công lao động xã hội lần thứ hai này là nô lệ ngày càng

phát triển và trở thành một lực lượng phô biến Quá trình phân hóa xã hội được

day nhanh, làm cho sự phân biệt giàu nghèo và mâu thuẫn giai cấp càng thêm sâu sắc

eLần phân công lao động xã hội thứ ba: Buôn ban phat triển, thương nghiệp xuất hiện

Qua hai lần phân công lao động xã hội đã làm cho nền sản xuất tách ra

thành các ngành sản xuất riêng Nền sản xuất phát triển với nhiều ngành nghề chuyên môn hóa làm xuất hiện nhu cầu trao đổi và nền sản xuất hàng hóa đã ra

đời Sự phát triển nền sản xuất hàng hóa dẫn đến buôn bán phát triển, thương nghiệp xuất hiện và thương nghiệp đã tách ra thành một ngành hoạt động độc lập Lần phân công lao động thứ ba này giữ vai trò rất quan trọng và có một ý nghĩa quyết định Nó sinh ra tang lớp thương nhân chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, không tham gia vào sản xuất, đó là giai cấp thương nghiệp “lần dau tiên xuất hiện một giai cấp tuy không tham gia sản xuất một tý nào, nhưng lại chiếm toàn bộ quyên lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuất phải phụ thuộc mình về mặt kinh tế và bóc lột cả hai một giai cấp mà lịch sử loài

người trước đó chưa hề biết đến." [Mác =Ăngghen, Tuyền tập Tập VI, NXB Sự

Thật, Hà Nội, 1984, tr 260]

Sự ra đời và phát triển của thương mại đã dẫn đến sự xuất hiện đồng tiền,

hàng hóa của các hàng hóa Cùng với đó là nạn cho vay nặng lãi, quyền tư hữu

về ruộng đất, chế độ cầm cố phát triển đã làm cho sự tích tụ và tập trung của cải vào tay số ít người giàu có diễn ra nhanh chóng và thúc đây sự bần cùng hoá trong xã hội Từ đó sự phân hóa giữa chủ nô và nô lệ càng thêm sâu sắc

Vào cuối thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy, sự phát triển của lực lượng

sản xuất và công cụ lao động cùng với sự phân công lao động và hình thành

nhiều ngành nghề đã dẫn tới chế độ tư hữu làm chấm dứt sự bình đẳng tự

nhiên giữa con người và dẫn tới sự phân hóa của xã hội hình thành những giai

cấp có lợi ích đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau

để bảo vệ lợi ích của giai cắp mình

Tắt cả những yếu tố trên làm đảo lộn đời sống thị tộc, phá vở sự tồn tại của thị tộc Khi đó, quyền lực công cộng của thị tộc và hệ thống quản lý xã hội ra đời

ra nhằm bảo vệ lợi ích của mọi thành viên thị tộc trong xã hội không có những

mâu thuẫn giai cấp trước đó đã trở nên bát lực, không còn phù hợp với điều

kiện mới và nguyện vọng mới của các tầng lớp người trong xã hội.

Trang 18

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Để điều hành quản lý xã hội mới đòi hỏi phải có một tổ chức mới khác trước về chất Tổ chức đó — do toàn bộ những điều kiện tồn tại của nó quy định

— chỉ đại diện cho quyền lợi của giai cấp nắm ưu thế về kinh tế và nó nhằm thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt sự xung đột công khai giữa các giai cắp hoặc

giữ cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra ở trong vòng trật tự dưới một hình thức

gọi là hợp pháp Tổ chức đó là Nhà nước — và như thế, Nhà nước đã ra đời Nói về nguồn gốc của Nhà nước, trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và Nhà nước", Ph Ăngghen đã viết: “Nhà nước không phải là thé lực bên ngoài được gán ghép vào xã hội Nó là sản phẩm của một xã hội phát

triển tới một giai đoạn nhát định Nó là sự thừa nhận rằng xã hội đó bị hãm trong một sự mâu thuẫn với bản thân nó mà không sao giải quyết được, rằng xã hội

đó đã bị phân chia thành những cực đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó không đủ súc để thoát ra được Nhưng muốn cho những giai cấp có quyên lợi

mâu thuẫn nhau đó không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã

hội trong một cuộc đấu tranh vô ích thì cần phải có một lực lượng tách riêng, tựa

hỗ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột đó và giữ cho sự

xung đột đó nằm trong vòng trật tự."

Như vậy trước đây không phải lúc nào cũng có Nhà nước Đã từng có những xã hội không cần đến Nhà nước, không có một khái niệm nào về Nhà nước và chính quyền Nhà nước cả Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, một giai đoạn tất yếu phải gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp, thì Nhà nước mới trở thành một tất yếu do sự phân chia đó

Khẳng định tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác về Nhà nước Trong tác

phẩm “Nhà nước và cách mạng” Lênin đã nhắn mạnh: “Nhà nước là sản phẩm

và biểu hiện của mâu thuẫn giai cấp không thê điều hòa được Bắt cứ ở đâu hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không

thể điều hòa được thì Nhà nước xuất hiện, chừng nào mâu thuẫn ấy còn tôn tại thì Nhà nước tất yếu sẽ còn tồn tại Nhà nước sẽ tự nó tiêu vong khi không còn những mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thê điều hòa." "Nhà nước xuất

hiện không phải để điều hòa mâu thuẫn giữa các giai cắp, mà để giải quyết mâu

thuẫn, về phía có lợi cho giai cấp thống trị Nhà nước xuất hiện nếu nhìn bê ngoài như là một cơ quan trọng tài đứng ra để giải quyết các mâu thuẫn, nhưng

thực chất là công cụ của giai cấp théng tri dé tran áp các giai cấp khác.”

[V.I.Lênin toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcova, 1976, tr 33, tr 9, 10.]

Như vậy, Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản

nguyên thủy.

Trang 19

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP HCM _ BAL GIANG PHAP LUAT DAI CUONG

của mọi xã hội Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, Nhà nước chỉ ra đời khi nền sản xuất của xã hội phát triển đạt đến một trình độ nhất định, cùng với

sự phát triển đó là sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai

làm xuất hiện Nhà nước Nhà nước do vậy là một hiện tượng thuộc về bản chất

của xã hội có giai cấp

Sự ra đời và tồn tại của Nhà nước là một tất yếu khách quan để khống chế những đối kháng giai cáp, để làm dịu sự xung đột giai cấp, để giữ cho sự xung

Lênin đã nhấn mạnh, đó là sự kiến lập ra một trật tự, trật tự này nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức bằng cách làm dịu đi sự xung đột giai cấp

4.2 BẢN CHÁT CỦA NHÀ NƯỚC

Bản chất của Nhà nước thể hiện qua nguồn gốc, tính giai cấp, vai trò và giá trị xã hội của Nhà nước và những dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước

4.2.1 Khái niệm về Nhà nước

Từ các quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin về nguồn gốc Nhà

nước, có thể nêu ra khái niệm về Nhà nước như sau:

“Nhà nước là một tô chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ

cắp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng.”

Nhà nước do vậy là một hiện tượng thuộc về bản chất của xã hội có giai

cấp đối kháng

4.2.2 Bản chất giai cấp (Tính giai cấp) của Nhà nước

Về bản chất giai cấp của Nhà nước, Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng:

“Nhà nước là một hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng trên một cơ sở kinh té nhất định, đó là công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác 7”

“Nhà nước là bộ máy để cho giai cắp này áp bức giai cấp khác, một bộ

bị lệ thuộc khác ”

Vì vậy, trong xã hội bóc lột, Nhà nước nô lệ, Nhà nước phong kiến cũng

cấp, song nhìn chung chúng đều có những dấu hiệu chung là: Nhà nước luôn

Trang 20

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chuong 1: Nhifng van đề cơ bản về Nhà nước

luôn là một bộ máy đặc biệt nhằm duy trì sự thống trị kinh tế, chính trị, tư tưởng của một thiễu số người thuộc giai cắp bóc lột đối với đại đa số quần chúng nhân dân lao động trong xã hội

Nhà nước xuất hiện và tồn tại trong một xã hội có giai cấp, cho nên Nhà

nước luôn thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc Nhà nước là sản phẩm của xã hội

có giai cấp và là sự biểu hiện của các mâu thuẫn giai cắp đối kháng không thể điều hòa được Bản chất giai cấp của Nhà nước biểu hiện trước hết là bộ máy cưỡng chế đặc biệt của giai cấp thống trị, là công cụ sắc bén nhát dùng để trấn

áp thế lực chống đối và bảo vệ quyền lực thống trị của giai cáp thống trị đối với các giai cấp khác

Quyền lực thống trị đó thường được biểu hiện trên 3 mặt: Quyền lực thống

trị về kinh tế; Quyền lực thống trị về chính trị; Quyền lực thống trị về tư tưởng

Trong đó, quyền lực thống trị về kinh tế luôn giữ vai trò quyết định

- Quyền lực thống trị về kinh tế Giai cắp thông trị nắm trong tay quyền

sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu, trước hết nó tạo ra sự phụ thuộc của các giai cấp bị thống trị về mặt kinh tế đối với giai cắp thống trị Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột Vì vậy, giai

cấp thống trị tổ chức ra bộ máy cưỡng chế đặc biệt, để củng cố quyền lực của giai cắp thống trị về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột Nhờ đó, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị Nói cách khác, giai cấp thống trị đó trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị Bộ máy cưỡng chế đặc biệt này là Nhà nước Theo nguyên nghĩa cỗ điển thì quyền lực chính trị đó là quyền lực nhà nước

- Quyền lực thống trị về chính trị Quyền lực chính trị như Mác va Ph Ăngghen đã chỉ rõ: “thực chất là bạo lực có tỗ chức của một giai cấp khác." Bạo

lực có tổ chức ấy chính là Nhà nước, Nhà nước là công cụ cơ bản của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cắp bởi nó có một bộ máy đặc biệt để cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội Giai cấp thống trị sử dụng Nhà nước

để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình Thông qua Nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung nhất và hợp pháp hóa thành ý chí nhà nước Ý chí nhà nước có sức mạnh bắt buộc các giai

cấp khác phải tuân theo một “trật tự” do giai cắp thống trị đặt ra, phải phục vụ

cho lợi ích của giai cấp thống trị Làm như vậy giai cấp thống trị thực hiện sự chuyên chính của giai cấp mình đối với các giai cắp khác, dùng ý chí của minh

để trói buộc các giai cấp khác Công cụ chủ yếu để thực hiện sự chuyên chính giai cấp đó là Nhà nước, một bộ máy do giai cấp thống trị tổ chức ra

Trang 21

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP HCM _ BAL GIANG PHAP LUAT DAI CUONG

- Quyên lực thống trị về tư tưởng Đễ thực hiện sự chuyên chính giai cấp

không thể chỉ đơn thuần dựa vào bạo lực và cưỡng chế mà còn cần đến sự tác

động về tư tưởng nữa Giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước và các thiết

chế xã hội khác xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng

thống trị trong xã hội, bắt buộc các giai cấp khác phải lệ thuộc mình

Xuyên suốt trong cả 3 hình thức thống trị trên, Nhà nước vừa là mục tiêu,

vừa là công cụ của giai cấp thống trị sử dụng để hợp pháp hóa về ý chí và áp

đặt quyền lực của mình trên toàn xã hội Bạo lực có tổ chức của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác tạo nên bản chất của Nhà nước theo nguyên nghĩa của

từ, tạo nên nền chuyên chính của giai cấp thống trị

Trong chế độ nô lệ, bản chất nhà nước là sự chuyên chính của giai cấp chủ

nô đối với nô lệ và các giai cấp khác; Trong xã hội phong kiến - địa chủ phong kiến, là sự chuyên chính của giai cấp địa chủ phong kiến đối với giai cấp nông dân và những tầng lớp khác trong xã hội; Trong chủ nghĩa tư bản là sự chuyên chính của giai cấp tư sản đối với giai cắp công nhân, nông dân và những người lao động khác trong xã hội

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân lập ra

và mục tiêu tồn tại của nó là vì quyền lợi của nhân dân Vì vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác, là lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội, Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự trở thành bộ máy chuyên chính trong việc bảo vệ sở hữu toàn dân, kết hợp lợi ích chung của toàn xã hội với lợi ích

của mỗi thành viên, đồng thời trần áp các thế lực chống đối, phá hoại lợi ích của

Nhà nước và nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội

4.2.3 Bản chất xã hội (Vai trò và giá trị xã hội) của Nhà nước

Phân tích bản chất của Nhà nước với tính cách là bộ máy thống trị của giai

cấp này đối với giai cấp khác tức là mới xem xét khía cạnh cơ bản của nó Bản

chất nhà nước còn được thể hiện thông qua vai trò xã hội và giá trị xã hội của Nhà nước

Thực tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng, một Nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích của giai cắp, tang

lớp khác trong xã hội Bởi vì, Nhà nước là bộ máy điều hòa mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội Ngoài tư cách là công cụ duy trì, bảo vệ sự thống trị của giai

cấp này đối với giai cấp khác, Nhà nước còn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn bao gồm mọi công dân thuộc mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, là phương tiện

tổ chức bảo đảm lợi ích chung của xã hội

Trang 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Bên cạnh giai cấp thống trị, xã hội không thể không còn tồn tại các giai cấp, các tầng lớp khác Các giai cắp này thường xuyên đấu tranh vì quyền lợi của họ

và luôn mâu thuẫn với giai cấp thống trị Do đó, đối với bất kỳ một Nhà nước nào, vào bat ky thoi dai nao, dé bảo đảm sự ổn định xã hội, bảo đảm sự phát triển bình thường của xã hội, duy trì được quan hệ sản xuất và trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, thì Nhà nước đều phải duy trì trật tự của cả cộng đồng,

bảo đảm an toàn xã hội, ổn định và phát triển, thực hiện hoạt động này hay hoạt

động khác phù hợp với yêu cầu xã hội, như vậy, thông qua đó, Nhà nước cũng đảm bảo lợi ích nhất định của các tầng lớp, giai cấp khác trong chừng mực lợi ích đó không đối lập gay gắt với lợi ích của giai cắp cầm quyên

Vai trò xã hội và giá trị xã hội của Nhà nước còn thể hiện ở chỗ, Nhà nước còn phải tổ chức thực hiện những hoạt động mang tính xã hội khác nhau mả cá nhân công dân không thể giải quyết được, đặc biệt trong thời đại ngày nay như: thực hiện các chương trình phát triễn kinh tế, phát triển giao thông, mở mang các hệ thống thủy lợi, khai hoang, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học

kỹ thuật, xây dựng công trình phúc lợi xã hội, xây dựng nhà ở, trường học, bệnh viện, công viên, đường sá, các chương trình an sinh, bảo vệ môi trường, chống các dịch bệnh, bảo vệ các giá trị xã hội truyền thống, văn hóa, v.v Đây là những đòi hỏi khách quan của xã hội đối với Nhà nước mà — muốn đứng vững được - Nhà nước nào cũng phải quan tâm thực hiện

Vai trò xã hội và giá trị xã hội của Nhà nước tùy thuộc vào bản chất giai cấp

của mỗi Nhà nước:

+ Trong các Nhà nước bóc lột, mặt giai cấp và mặt xã hội của Nhà nước

luôn đối lập nhau, nhưng giai cấp thống trị có thể hy sinh những lợi ích cụ thể của mình để bảo vệ lợi ích chung của giai cấp

+ Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nước hòa quyện tạo thành một thể thống nhát, chúng là hai mặt của một vấn đề

thống nhát bởi vì lợi ích cơ bản của mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc là thống nhất

Vì vậy, sẽ sai lầm trong nhận thức và hành động nếu chỉ nhắn mạnh một chiều bản chất giai cấp của Nhà nước mà không tháy vai trò xã hội và giá trị xã

hội của Nhà nước

Đặc biệt, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, Nhà

nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì việc chú ý đúng mức tới

giá trị xã hội của Nhà nước lại càng hết sức cần thiết Điều đó là cơ sở để thiết

lập chế độ trách nhiệm của Nhà nước đối với các công dân, Nhà nước thực

hiện các dịch vụ phục vụ nhân dân

Trang 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG 4.2.4 Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của Nhà nước

Nhà nước xuất hiện dù với bất cứ nguyên nhân nào, có bản chất gì nhưng

mọi Nhà nước đều có những dấu hiệu đặc thù, làm cho nó khác về chất so với

tổ chức của xã hội thị tộc — bộ lạc và với các tổ chức chính trị - xã hội khác do giai cấp thống trị thiết lập và sử dụng để quản lý xã hội, với các đặc trưng đó

làm cho Nhà nước trở thành một tổ chức đặc biệt, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị, có thể tác động một cách toàn diện, mạnh mẽ và có hiệu quả

nhát đối với đời sống nhà nước, xã hội, dân cư, thể hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị một cách tập trung nhất

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nhà nước có các đặc trưng

cơ bản sau:

1.2.4.1 Nha nước thiết lập bộ máy quyên lực công

Nhà nước thiết lập một bộ máy quyền lực công cộng đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư mà dường như tách ra ngoài xã hội, đứng trên xã hội, nhưng lại trực tiếp cai trị xã hội Quyền lực này mang tính chính trị, giai cấp Trong bộ máy ấy, chính quyền là biểu tượng căn bản của sức mạnh quyền

lực đó Nó là một bộ máy khổng lồ bao gồm hệ thống các cơ quan quản lý các

lĩnh vực của đời sống xã hội, như: tuyên truyền, cỗ động, cưỡng chế, đàn áp, và các cơ quan quản lý kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, mà cơ cấu xã hội thị

tộc, bộ lạc chưa hề biết tới

Nhà nước xây dựng và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm duy trì xã hội theo những khuôn mẫu do Nhà nước vạch ra trên cơ sở ý chí và quyền lợi

của giai cắp mà nó là người đại diện

4.2.4.2 Nhà nước phân chia và quản lý dân cư theo lãnh thỗ thành các đơn

vị hành chính

Lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước Mọi Nhà nước đều có lãnh

thổ riêng của mình, dé cai trị hay quản lý, mọi Nhà nước đều chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã, v.v Việc phân chia nay dan đến việc hình thành các cơ quan quản lý trên từng đơn vị hành chính - lãnh thổ Nhà

nước tổ chức và thực hiện quyền lực của mình trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ Điều này có nghĩa là quyền lực nhà nước có hiệu lực tác động đến toàn bộ

cư dân trên lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia và không phân biệt quan hệ

huyết thống, sắc tộc, màu da và dân tộc đa số hay thiểu số Đặc trưng này làm

xuất hiện mối quan hệ giữa từng cá nhân trong cộng đồng với Nhà nước Mối

quan hệ này thể hiện dưới dạng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do pháp luật quy định.

Trang 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Đặc trưng này phân biệt sự khác nhau giữa Nhà nước với các tổ chức thị tộc, bộ lạc trước kia Các tỗổ chức thị tộc, bộ lạc được hình thành va tồn tại trên

cơ sở những quan hệ huyết thống

4.2.4.3 Nhà nước là một tỗ chức quyền lực duy nhất có chủ quyền quốc gia

Chủ quyền quốc gia là thuộc tính gắn liền với Nhà nước Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị - pháp lý, đó là quyền lực tối cao và độc lập của Nhà nước, thể hiện quyền tự quyết định của Nhà nước trong việc giải quyết mọi chính sách về đối nội và đối ngoại mà không phụ thuộc vào bắt kỳ một quốc gia nào hay một thế lực nào từ bên ngoài, và quyền lực của Nhà nước có hiệu lực

trên toàn bộ đất nước đối với tất cả dân cư và các tổ chức xã hội, là sự tập

trung thống nhất quyền lực xã hội vào trong tay Nhà nước

Dấu hiệu chủ quyền quốc gia của Nhà nước còn thể hiện sự độc lập, bình

đẳng giữa các quốc gia với nhau dù đó là quốc gia lớn hay nhỏ

4.2.4.4 Nhà nước là một tỗ chức duy nhắt trong xã hội được quyền ban

hành pháp luật và buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo

Pháp luật do Nhà nước đặt ra có tính bắt buộc chung đối với mọi tổ chức,

mọi thành viên trong xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước tổ chức quản lý và điều hành xã hội trên cơ sở hệ thống pháp luật đó

Nhà nước và pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại và phụ thuộc vào nhau; không thể có Nhà nước mà lại thiếu pháp luật và ngược lại

Pháp luật phản ánh ý chí của Nhà nước Vì vậy, mỗi Nhà nước khác nhau đều

có hệ thống pháp luật của mình

1.2.4.5 Nhà nước quy định và tiễn hành thu các loại thuế

Nhà nước là một tổ chức duy nhát trong xã hội được quyền xác định các loại thuế, quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc với số lượng và thời hạn ấn định trước, để xây dựng ngân sách quốc gia

phục vụ cho bộ máy quyền lực và các chương trình đầu tư phát triển cũng như

phục vụ cho việc thực hiện các chủ trương và chính sách về phát triển kinh tế,

văn hóa, y tế, giáo dục, xã hội và giải quyết những công việc chung của xã hội

do Nhà nước đề ra

Những đặc trưng trên đây của Nhà nước nói lên sự khác biệt giữa Nhà

nước với các tổ chức chính trị - xã hội khác, đồng thời phần nào đó phản ánh

bản chất, vị trí và vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị của xã hội có giai cấp

Trang 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

1.3.1 Khái niệm chức năng của Nhà nước

Bản chất và vai trò xã hội của Nhà nước được thể hiện trực tiếp trong các chức năng của Nhà nước Việc tìm hiểu chức năng của Nhà nước giúp chúng ta

hiểu rõ hơn bản chất, vai trò xã hội, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của mỗi kiểu nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

- Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản, chủ

yếu diễn ra bên ngoài của Nhà nước nhằm thực hiện hiện những mục tiêu và

nhiệm vụ chung của Nhà nước

Chức năng là một phạm trù khái quát hóa từ rất nhiều nhiệm vụ mà Nhà nước cần phải đảm nhiệm Chức năng có tính bao trùm gắn liền với sự ra đời

và sự mắt đi của Nhà nước Chức năng của Nhà nước là vai trò của Nhà nước,

có tính khách quan, lâu dài, bao trùm lên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, tư tưởng,

Cần phân biệt chức năng của Nhà nước với nhiệm vụ của Nhà nước

- Nhiệm vụ của nhà nước là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới, là những vấn đề chủ yếu đặt ra mà Nhà nước phải giải quyết Nhiệm vụ của Nhà nước tùy thuộc vào bản chất và vai trò xã hội của Nhà nước, vào điều kiện lịch sử của

mỗi quốc gia qua từng giai đoạn cụ thễ

Nhiệm vụ của Nhà nước tùy thuộc nội dung tính chất được chia thành: mục

đích chung, cơ bản, lâu dài — nhiệm vụ chiến lược

Ví dụ: Nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ tổ quốc của Nhà nước

ta

Để thực hiện những nhiệm vụ chiến lược ấy, Nhà nước phải thực hiện

những nhiệm vụ cụ thể trong những khoảng thời gian nhất định

Ví dụ: Nhiệm vụ hiện đại hóa và công nghiệp hóa đang đặt ra hiện nay Giữa nhiệm vụ và chức năng có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau Một nhiệm vụ của Nhà nước có thể làm phát sinh một hay nhiều chức

năng, nói cách khác, nhiệm vụ của Nhà nước là cơ sở để xác định số lượng, nội dung, phương thức thực hiện chức năng của Nhà nước, còn chức năng của nhà

nước là phương tiện thực hiện nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước

Ví dụ: Nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện thông qua chức

năng tổ chức nền kinh tế, chức năng giáo dục, văn hóa, xã hội, điều chỉnh lao

động và mức tiêu dùng của nhân dân

Như vậy, một nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước được thực hiện bởi nhiều

nhiệm vụ cụ thể, cấp bách và cần thiết

Trang 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Ví dụ: Chức năng tổ chức nền kinh tế không chỉ liên quan tới việc giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội Trong chức năng tổ chức nền kinh tế, Nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ: xây dựng cơ sở kinh tế, tác động vào sự phát triển

cơ cấu xã hội, vào quá trình loại trừ dần các mâu thuẫn xã hội, nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Chức năng của Nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của Nhà

nước và được quy định một cách khách quan bởi cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp xã hội Nói cách khác, mỗi Nhà nước khác nhau có những mặt hoạt động

khác nhau tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước cũng như những nhiệm vụ đặt

ra đối với Nhà nước Vì vậy, các chức năng của Nhà nước có quan hệ gắn bó

hữu cơ với nhau tạo thành một thể thống nhất

+ Chức năng của các kiểu nhà nước bóc lột là bảo vệ duy trì chế độ sở

hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đàn áp nhân dân lao động, bảo vệ và duy trì quyền lợi của giai cấp thống trị, tiến hành các cuộc xâm lược nhằm nô dịch các

dân tộc khác,

+ Chức năng cơ bản của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là bảo vệ chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, bảo vệ quyền lợi của đông đảo quân

chúng nhân dân lao động, trần áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị đánh

đỗ nhưng luôn tìm cách khôi phục địa vị của chúng, tổ chức quản lý các mặt đời sống xã hội, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa công bằng, văn minh

đáp ứng lợi ích của nhân dân lao động và cả cộng đồng Chính chức năng tổ

chức xây dựng xã hội mới đã thể hiện đậm nét bản chất giai cấp và tính xã hội

của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì

nhân dân, đó là sự khác biệt về chất cơ bản nhất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa với các kiểu nhà nước khác

Các chức năng của Nhà nước luôn luôn được bỗ sung và được phát triển bằng những nội dung mới, phù hợp với nhiệm vụ và tình hình mới của đất nước

và xu hướng thời đại trong mỗi giai đoạn phát triển xã hội

Ví dụ: Chức năng trước đây của Nhà nước ta trong giai đoạn đấu tranh giải phóng đất nước là vận động các tầng lớp nhân dân tập trung sức lực vào công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, bằng khẩu hiệu tất cả cho tiền tuyến, tat

cả cho chiến thắng Ngày nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của

Nhà nước ta là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã

hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, do đó, chức năng quản lý kinh tế

của Nhà nước ta hiện nay là rất quan trọng Chức năng quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay có nội dung và phương thức thực hiện mới hơn, năng động, mềm

dẽo, linh hoạt hơn, phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường so với cơ chế

quản lý theo kế hoạch hóa tập trung, bao cấp trước đây.

Trang 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chươïng 1: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước

Cần phân biệt chức năng của Nhà nước với chức năng của những cơ quan nhà nước Chức năng cơ bản của Nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu

của cả bộ máy nhà nước mà mỗi cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực

hiện ở các mức độ và phạm vi khác nhau tùy thuộc vào vị trí, vai trò và thẩm quyền của mình

Chức năng của mỗi cơ quan nhà nước là phương diện hoạt động cụ thé

của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện một hoặc một số chức năng, nhiệm vụ

chung của Nhà nước Vì vậy, một chức năng của Nhà nước có thể giao cho

nhiều cơ quan nhà nước thực hiện

Ví dụ: Chức năng bảo đảm pháp chế và trật tự pháp luật được giao cho rất

nhiều cơ quan nhà nước ở các cấp khác nhau như Quốc Hội, Chính phủ, Tòa

án, Viện Kiểm sát, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, V.V

Nhưng mỗi cơ quan nhà nước có chức năng đặc thù riêng để thực hiện chức năng chung đó

Ví dụ: Quốc Hội thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc Hội đối với mọi cơ quan nhà nước Tòa án thực hiện chức năng xét xử vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp Các cơ quan kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát thống nhất việc tuân theo pháp luật và công

tố Chính phủ thực hiện các chức năng bảo đảm pháp chế và trật tự pháp luật

chung trong cả nước nhưng chỉ trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành, v.V

Có nhiều cách khác nhau để phân loại chức năng của Nhà nước Có thể phân loại chức năng của Nhà nước thành các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại; hoặc thành các chức năng cơ bản và các chức năng không cơ bản, hoặc thành các chức năng lâu dài và các chức năng tạm thời, v.v Mỗi cách phân loại có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định

Ví dụ, Phân biệt chức năng cơ bản và chức năng không cơ bản, qua đó nhận thức được mặt hoạt động nào là chủ yếu của Nhà nước, nhiệm vụ nào là nhiệm vụ trọng tâm của Nhà nước trong một giai đoạn cụ thé

Cách phân loại thông dụng nhất là căn cứ vào đối tượng tác động của chức

năng nhà nước là trong nội bộ quốc gia (hoạt động đối nội) hay đối với các quốc gia và tổ chức nước ngoài (hoạt động đối ngoại) mà hoạt động của Nhà nước

có thể tập trung vào hai chức năng: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại 4.3.2 Chức năng đối nội

Chức năng đối nội là những mặt hoạt động diễn ra bên trong nội bộ của

quốc gia, thông qua việc thực hiện chức năng này, Nhà nước thể hiện quyền lực

chính trị của giai cáp thống trị xã hội trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, như:

Trang 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, trắn áp các thế lực chống đối và phản động, nhằm bảo vệ và củng cố quyền sở hữu của giai cắp thống trị đối với tư liệu sản xuất cũng như của cải do xã hội tạo ra, bảo vệ trật tự

pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

- Tổ chức, quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia về kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế, khoa học kỹ thuật v.v

- Thông tin, tuyên truyền nhằm chiếm lĩnh và nhất quán hoạt động theo định huớng tư tưởng của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội

1.3.3 Chức năng đối ngoại

Chức năng đối ngoại là những hoạt động thể hiện ra trong mối quan hệ của

Nhà nước với các Nhà nước, các dân tộc, các tổ chức quốc tế khác Theo đó chủ yếu là:

- Tổ chức phòng thủ đất nước chống lại sự xâm lược của các thế lực bên

ngoài;

- Không ngừng phát động chiến tranh xâm lược nhằm thu phục được nhiều

nô lệ (nhà nước chiếm hữu nô lệ), hoặc gây chiến tranh liên miên nhằm thôn

tính đất đai và tài nguyên (Nhà nước phong kiến), hoặc tiến hành chiến tranh

xâm lược nhằm tìm kiếm, phân chia thị trường, thuộc địa, vơ vét tài nguyên và

lực lượng công nhân từ các thuộc địa (Nhà nước tư sản mà đỉnh cao là chủ

nghĩa đế quốc)

Ngày nay, trong xu thế hòa bình, hợp tác, chức năng đối ngoại thể hiện ở

việc tổ chức, thực hiện các quan hệ hợp tác song phương, đa phương trên

nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ

môi trường, V.V

Cả hai chức năng đối nội và đối ngoại luôn luôn thể hiện tính giai cắp và

luôn có mối liên hệ hỗ tương, bổ sung ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó chức năng đối nội giữ vai trò chỉ phối và chủ yếu, vì chúng động chạm đến những điều kiện tồn tại của bản thân chế độ, xã hội trong một quốc gia Không thể có chính sách

đối ngoại đúng đắn khi mà tình hình đối nội không én định Xác định chức năng

đối ngoại trên cơ sở thực hiện chức năng đối nội; nếu thực hiện tốt các chức năng đối nội sẽ có thuận lợi cho việc thực hiện các chức năng đối ngoại, và

ngược lại, việc thực hiện thành công hay thất bại chức năng đối ngoại sẽ ảnh

hưởng tốt hoặc cản trở việc thực hiện chức năng đối nội

Ví dụ: Để thực hiện tốt chức năng đảm bảo ồn định an ninh - chính trị bảo

vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, thì Nhà

nước ta phải phối hợp với các quốc gia khác trong đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế

Trang 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP HCM _ BAL GIANG PHAP LUAT DAI CUONG

Xét theo bản chất giai cấp và vai trò của Nhà nước, thì chức năng của Nhà nước được phân thành: chức năng trấn áp và chức năng xã hội

+ Chức năng tran áp, là biểu hiện cụ thể nhất, đặc trưng nhất của bản

chất giai cấp của Nhà nước Bởi vì, Nhà nước là công cụ bảo đảm sự thống trị

giai cấp, thống trị xã hội của giai cấp thống trị, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, đàn áp các giai cấp khác, bắt các giai cấp khác, các tầng lớp khác phải phụ

thuộc, phải phục tùng mình

+ Chức năng xã hội, giải quyết những công việc chung của xã hội, bảo

đảm một phần những lợi ích của các giai cắp, các tầng lớp khác

Các chức năng của Nhà nước được thực hiện dưới những hình thức và

phương pháp nhất định Nội dung những hình thức và phương pháp ấy bắt

nguồn và trực tiếp thể hiện bản chất cũng như mục tiêu của Nhà nước

Nhà nước nào cũng thực hiện các chức năng của mình dưới các hình thức pháp lý cơ bản: hoạt động lập pháp; hoạt động chập hành pháp luật; hoạt động bảo vệ pháp luật

Các phương pháp cơ bản để thực hiện các chức năng của Nhà nước là

phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế

Trong các Nhà nước bóc lột, phương pháp cưỡng chế được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong quan hệ với các tầng lớp nhân dân lao động Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thuyết phục được sử dụng với tính cách là phương pháp chủ yếu, còn phương pháp cưỡng chế chỉ được thực hiện ở những lúc và những nơi mà sự áp dụng phương pháp thuyết phục, giáo dục không đem lại hiệu quả

1.4 KIỂU NHÀ NƯỚC

1.4.1 Khái niệm Kiểu nhà nước

Nói đến một kiểu nhà nước nào đó, tức là nói đến Nhà nước ấy là bộ máy thống trị của giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở kinh tế nào, và nó tương ứng với

hình thái kinh tế - xã hội nào Vì vậy, để xác định một Nhà nước thuộc kiểu nào

phải xác định cơ sở kinh tế - xã hội mà Nhà nước đó tôn tại Nói cách khác, cơ

sở để xác định kiểu nhà nước là dựa vào những đặc trưng kinh tế - xã hội cơ bản quy định bản chất giai cắp của Nhà nước

Học thuyết Mác — Lênin về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở khoa học để

phân chia các Nhà nước trong lịch sử thành các kiểu nhà nước khác nhau

Nhà nước thuộc phạm trù kiến trúc thượng tầng của của một hình thái kinh

tế - xã hội nhất định Mỗi hình thái kinh tế - xã hội xuất hiện thì tương ứng với chúng là một kiểu nhà nước được hình thành Do vậy, Nhà nước chỉ có thễ hình thành và tồn tại trên cơ sở đảm bảo sự tương ứng với một hạ tầng cơ sở cụ thê, trong đó điều kiện kinh tế và trình độ dân trí giữ vai trò quan trọng

Trang 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Như vậy, “ Kiểu nhà nước (mô hình hoặc dạng tổ chức nhà nước) là tông thể những đặc điểm cơ bản, đặc thù của một Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tôn tại, phát triển của Nhà nước gắn liên với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.”

Lịch sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội, trong đó có 4 hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp là: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và

xã hội chủ nghĩa Thích ứng với 4 hình thái kinh tế - xã hội đó là 4 kiểu nhà nước: Nhà nước chiếm hữu nô lệ, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và

Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Sự thay thế các kiểu nhà nước không phải là một quá trình tự nó, mà nó được diễn ra thông qua cách mạng xã hội Bởi vì giai cấp thống trị đại diện cho

phương thức sản xuất cũ không bao giờ tự rời bỏ Nhà nước và địa vị thống trị

của mình Do đó, giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới phải tập hợp

lực lượng để lật đỗ kiểu nhà nước cũ và thiết lập kiểu nhà nước mới Kết quả là kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu nhà nước trước

Đó là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử

Sự thay thế kêu nhà nước không diễn ra một cách tức thời mà là một quá trình chuyển biến từng bước và có tính kế tiếp Quá trình này diễn ra nhanh hay

chậm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau ở từng quốc gia và từng giai

_1.4.2 Các kiểu nhà nước trong lịch sử

1.4.2.1 Kiểu Nhà nước chủ nô (Nhà nước chiếm hữu nô lệ)

Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người,

nó ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ thị tộc, sự xuất hiện chế độ tư hữu và

sự phân chia xã hội thành hai giai cắp chủ yếu là chủ nô và nô lệ Ngoài ra còn

có những tầng lớp khác như thợ thủ công, những người lao động tự do, tuy có địa vị khác với nô lệ, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào giai cắp chủ nô về kinh tế,

chính trị và tư tưởng

Nhà nước chủ nô hình thành trên cơ sở của hình thái kinh tế - xã hội nô lệ với một phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ mà đặc trưng là sự thống trị

toàn diện, tuyệt đối của thiểu số chủ nô đối với nô lệ Trong phương thức đó,

giai cắp chủ nô không chỉ chiếm hữu tư hữu về tư liệu sản xuất, về sản phẩm lao động do nô lệ tạo ra mà còn chiếm hữu cả những người nô lệ Còn giai cấp

nô lệ tuy chiếm đa số trong dân cư, nhưng không có tư liệu sản xuất, phải phụ

thuộc hoàn toàn vào chủ nô cả thể xác và tinh thần, và chỉ được coi như một

thứ tài sản, công cụ sản xuất biết nói (công cụ lao động sống) của chủ nô và có

thể bị chủ nô đem bán, trao đổi như hàng hóa hoặc cho, tặng hay giết đi

Trang 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NONG LAM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chính những đặc điểm trên đây về kinh tế và kết cấu giai cấp trong xã hội chiếm hữu nô lệ đã quyết định bản chất (giai cấp) của nhà nước chủ nô Như Lênin đã khẳng định: “Nhà nước chủ nô bao giờ cũng là một bộ máy đem lại

cho chủ nô quyên lực và khả năng cai trị tất cả những người nô lệ là một

bộ máy đề duy trì những người nô lệ trong địa vị phụ thuộc và cho phép

một bộ phận này của xã hội (giai cấp chủ nô) cưỡng bức và đàn áp bộ

phận kia (giai cấp nô lệ)”

Bản chất giai cấp của Nhà nước chủ nô được thé hiện trong các chức

năng: đối nội và đối ngoại của nó Về đối nội, Nhà nước chủ nô bảo vệ và củng

cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ (lực lượng lao

động chủ yếu trong xã hội); đàn áp những cuộc đấu tranh của nô lệ và các tầng

lớp bị bóc lột khác bằng nhiều biện pháp, trong đó bằng bạo lực là chủ yếu

Về đối ngoại, Nhà nước chủ nô tiến hành chiến tranh xâm lược dé bat tu binh về làm nô lệ, mở rộng đất đai, bờ cõi Có thể nói chiến tranh xâm lược là biện pháp chủ yếu để bỗ sung và làm tăng thêm sức lao động cân thiết cho giai

cấp chủ nô

Bản chất giai cấp của Nhà nước chủ nô còn được thể hiện trong cơ cấu tổ

chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nhà nước chủ nô thực chất chỉ là

công cụ bạo lực để thực hiện nền chuyên chính của giai cắp chủ nô, để duy trì

sự thống trị về kinh tế, chính trị và tư tưởng của chủ nô, duy tri tinh trang bat

bình đẳng trong xã hội và để đàn áp, áp bức, bóc lột nô lệ và những người lao động khác

Các Nhà nước chủ nô đã tồn tại trong lịch sử đều mang đặc điểm chung, chúng đều là công cụ của giai cắp chủ nô dùng đề áp bức, bóc lột tận xương tủy

sức lao động của nô lệ và đàn áp các cuộc nổi dậy của người nô lệ Chúng cho

mình được quyền sử dụng nô lệ như một công cụ lao động sống và quyền giết

bỏ nô lệ như những súc vật và không hề bị lên án

Đó cũng là nguyên nhân đẩy mâu thuẫn đối kháng giữa chủ nô và nô lệ đến đỉnh tột cùng và trong bối cảnh đó, giai cấp phong kiến với khẩu hiệu giải phóng người nô lệ đã đứng lên thực hiện cuộc cách mạng lật đồ giai cấp chủ nô

và lập nên Nhà nước phong kiến

1.4.2.2 Kiễu Nhà nước phong kiến

Nhà nước phong kiến là một kiểu nhà nước bóc lột tiến bộ hơn Nhà nước chủ nô Nó ra đời trên cơ sở sụp đỗ của chế độ chiếm hữu nô lệ, thay thế Nhà nước chủ nô Cơ sở kinh tế của Nhà nước phong kiến là chế độ sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất và sự chiếm đoạt một phần sức lao động của nông dân Như Lênin đã viết: “Đối với

Trang 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỒNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chuong 1: Nhitng van dé co bản vê Nhà nước

người nông nô, sự áp bức giai cấp, sự lệ thuộc vẫn còn tôn tại, nhưng lãnh chúa không được coi là có quyền sở hữu đối với nông dân như đối với một đồ vật; nó chỉ có quyền chiếm đoạt kết quả lao động của nông dân

và cưỡng bức nông dân phải làm tròn một số nghĩa vụ nào đó” Nghĩa vụ

đó bao gồm hiện vật, địa tô lao dịch

Nhà nước phong kiến gắn liền với phương thức sản xuất phong kiến Trong phương thức này, quan hệ sản xuất phong kiến phản ánh chế độ sở hữu

tư nhân về đất đai và quyền phát canh thu tô của tầng lớp địa chủ quý tộc

Người nô lệ đã được giải phóng và trở thành nông nô Tuy họ không còn bị xem

là một công cụ lao động sống như dưới thời kỳ nô lệ, song họ vẫn bị trói chặt

vào ruộng đất của địa chủ và quý tộc và họ vẫn tiếp tục bị bóc lột nặng nề không

kém gì dưới thời nô lệ

Xét về bản chất, Nhà nước phong kiến là công cụ của giai cấp địa chủ

phong kiến để thực hiện nền chuyên chính đối với nông dân, những người thợ

thủ công và các tầng lớp lao động khác, là phương tiện để giai cấp địa chủ,

phong kiến duy trì địa vị kinh tế, bảo vệ lợi ích và thực hiện sự thống trị của

mình đối với toàn xã hội

Về đối nội, Nhà nước phong kiến bảo vệ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, duy trì các hình thức bóc lột đối với nông dân và nhân dân lao động, đàn áp bằng quân sự những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nhân dân lao động Nhà nước phong kiến còn câu kết với những người có chức sắc trong tôn giáo, lợi dụng tôn giáo để đàn áp, khống chế và chỉ phối đời sống tư

tưởng của quần chúng nhân dân

Về đối ngoại, Nhà nước phong kiến tiến hành những cuộc chiến tranh liên

miên để chiếm đất, mở rộng vương triều, mở rộng lãnh thổ để mưu lợi ích cho

triều đại của mình, cho giai cấp địa chủ phong kiến

Nhà nước phong kiến trở thành bộ máy đắc lực của bọn địa chủ và quý tộc

và được sử dụng để bảo vệ những đặc quyền của giai cắp địa chủ quý tộc cũng như đàn áp lại sự phản kháng của nông dân

Nhà nước phong kiến, đặc biệt là phong kiến phương Đông được xây dựng

và tổ chức một cách phức tạp với một hệ thống các nguyên tắc vừa mang tính chất pháp lý vừa mang màu sắc đạo đức, lẫn lộn giữa pháp luật và đạo đức với những hình phạt hết sức tàn nhẫn đối với con người như tru di tam tộc, cho voi

xé xác, cho hỗ phanh thây,

1.4.2.3 Kiều Nhà nước tư sản

Do sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và sự hình thành quan hệ tư

bản trong lòng xã hội phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, chề độ phong kiến rơi vào tình

-Biên soạn: Lê Hữu Trung, Giảng viên chính, Thạc sĩ Quản lý Nhà nước, Trưởng Đại học Nông Lâm TP.HCM Tran g 23

Trang 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước

bài my dân, giải phóng nông nô khỏi sự bóc lột của phong kiến, làm cuộc cách

mạng tư sản lật đỗ Nhà nước phong kiến và thành lập Nhà nước tư sản

Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước bóc lột cuối cùng trong lịch sử, và là

kiểu nhà nước bóc lột hoàn thiện nhất, phát triển nhất trong các kiểu nhà nước

bóc lột

Xét về mặt lịch sử, sự ra đời của Nhà nước tư sản với những thể chế dân

chủ tư sản, là một tiến bộ to lớn, là một bước ngoặt mới trong xã hội loài người,

là động lực thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp, mở đường cho sức sản xuất phát triển Tuy nhiên, gắn liền với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Nhà

nước tư sản cũng chỉ là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản đối với giai cấp

công nhân và nhân dân lao động mà thôi

Nhà nước tư sản là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng của

xã hội tư sản, nó được xây dựng trên cơ sở kinh tế là chế độ chiếm hữu tư nhân

tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Vì vậy, xét về bản chất, Nhà nước tư sản,

dù được tổ chức dưới hình thức nào (cộng hòa tổng thống hay cộng hoa dai nghị, .) đó vẫn là kiểu nhà nước bóc lột và bao giờ cũng là công cụ bạo lực chủ

yếu và trực tiếp của nền chuyên chính tư sản, duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản

V.I.Lênin đã khẳng định: “Những hình thức của Nhà nước tư sản thì hết

sức khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một; Chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào thì cũng tất nhiên phải là nên chuyên chính

tư sản.”

Ngày nay, trước những biến đổi mới của tình hình thời đại, Nhà nước tư

sản đang có những biến đổi để thích nghỉ với điều kiện mới Nhưng dù cố gắng đến đâu, dù có biến đổi như thế nào thì bản chất của Nhà nước tư sản vẫn

không thay đổi - vẫn là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản đối với quảng

đại quần chúng nhân dân lao động, là công cụ trắn áp của thiểu số người bóc lột

đối với đa số quần chúng bị bóc lột

Bản chất giai cấp của Nhà nước tư sản được che dấu sau những quan niệm my dân và xu nịnh như nhà nước toàn dân, nhà nước phúc lợi chung Với

những chiêu bài giả tạo đó, giai cắp tư sản đã ve vãn và làm cho không ít người

ngộ nhận rằng giai cấp tư sản nhân ái, đạo đức

Chính vị lãnh tụ thiên tài C.Mác, bằng Học thuyết về Giá trị thặng dư đã vạch trần bản chất bóc lột của giai cấp tư sản Từ việc sử dụng bộ máy nhà

nước của giai cấp tư sản, đã thai nghén đề đến giai đoạn tột cùng đã sinh ra

một quái thai - Chủ nghĩa đề quốc

Trang 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước

Tóm lại, Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến va Nha nước tư sản, mặc

dù mỗi kiểu có những đặc điểm riêng gắn liền với bản chất giai cắp của mỗi kiểu nhà nước đó, nhưng cả ba đều là các kiểu nhà nước khác nhau của giai cấp thống trị bóc lột, chúng đều có chung bản chất — đều là “Nhà nước theo nguyên

nghĩa” Cả ba kiểu nhà nước đó đều được xây dựng trên cơ sở của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, và đều là công cụ để bảo vệ chế độ tư

hữu về tư liệu sản xuất; duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của các giai cấp thống trị bóc lột đối với đông đảo quần chúng nhân dân lao động

1.4.2.4 Kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Sự ra đời của Nhà nước XHCN mang tính tất yếu khách quan, phù hợp với

quy luật vận động và phát triển của xã hội Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của

Nhà nước XHCN là những tiền đề kinh tế, xã hội và chính trị phát sinh trong

lòng xã hội tư sản

Vào nửa cuối thế kỷ thứ XIX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ

rõ rệt tính trì trệ, kìm hãm sự phát triển sản xuất của xã hội, không còn phù hợp

với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển đến mức xã hội

hóa cao

Mặt khác, vì muốn tiềm kiếm lợi nhuận cao, giai cấp tư sản đã thực hiện sự bóc lột dã man và đẩy giai cấp công nhân đến chỗ bằn cùng hóa Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân ngày càng trở nên gay gắt Bên

cạnh đó, giai cấp tư sản đã thực hiện những chính sách và sử dụng những biện

pháp phản động, phản dân chủ, chà đạp lên chính những tiêu chuẩn dân chủ

mà giai cắp tư sản đã đề ra trước đây dẫn đến xã hội tư sản diễn ra sự phân hóa và chia rẽ sâu sắc Cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cắp công nhân không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng Nhà nước tư sản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp, không chỉ tạo ra sản phẩm công nghiệp mà họ còn quên rằng, trong quá trình ấy họ cũng làm tăng thêm một đội ngũ tfo lớn lực lượng giai cắp công nhân với sự giác ngộ về Chủ

nghĩa Mác — Lênin — Những người sau đó trở thành người đảo mồ chôn Chủ nghĩa tư bản

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cắp vô sản, được trang bị vũ khí tư tưởng khoa học của chủ nghĩa Mác — Lênin, giai cấp vô

sản đã đứng lên lãnh đạo quần chúng lao động tiễn hành cuộc cách mạng vô

- gắn thành công tháng 10 năm 1917, lật đỗ ách thống trị của giai cấp tư sản, giải phóng mình và các tầng lớp nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, thiết

lập nên một kiểu nhà nước hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử loài người — Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Trang 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chương 1: Những vấn đề cơ bản vê Nhà nước

Nhà nước XHCN là một Nhà nước kiểu mới, đặc biệt của một xã hội mới, Nhà nước không còn nguyên nghĩa Nhà nước XHƠN ra đời với một bản chất hoàn toàn mới mẻ đã tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn Bản chất đó do

cơ sở kinh tế — xã hội và đặc điểm tổ chức thực hiện quyền lực chính trị trong

chủ nghĩa xã hội quy định Cơ sở kinh tế của Nhà nước XHƠN là quan hệ sản

xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp

công nhân là giai cấp lãnh đạo xã hội, quyền lực nhà nước thuộc về giai cắp công nhân và nhân dân lao động Nhà nước XHCN là công cụ duy trì sự thống trị của đa số với thiểu số bóc lột, thực hiện dân chủ với đa số nhân dân lao động, chuyên chính với thiểu số bóc lột, chống đối

Nhà nước XHCN cũng có những dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước nói chung Trước hết, đó là sự tồn tại của bộ máy đặc biệt để cưỡng chế, có một

đội quân chuyên nghiệp để quản lý Cũng là bộ máy của giai cắp thống trị nhưng

có bản chất hoàn toàn khác hẳn với các kiểu nhà nước bóc lột, nó luôn luôn là

bộ máy chuyên chính của giai cắp vô sản, là công cụ quyền lực của giai cấp

công nhân liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác, là lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội, được giai cấp công nhân và nhân dân lao

động sử dụng để phục vụ cho đông đảo quan chung nhan dân lao động Bởi vì,

đó là kiểu nhà nước của nhân dân, do nhân dân lập ra và mục tiêu tồn tại của

nó là vì quyền lợi của nhân dân

Chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước XHCN ở từng giai đoạn có sự khác nhau, nhưng nó luôn luôn là bộ máy chuyên chính của giai cấp vô sản, được

giai cắp công nhân và nhân dân lao động sử dụng để nhằm thực hiện mục tiêu

của Nhà nước XHƠN là: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới với nền kinh

tế mới, văn hóa mới và con người mới với tư tưởng tiễn bộ và đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội, trên nguyên tắc tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của mọi thành viên, đồng thời giữ vững nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng là một chức năng mới hết sức quan trọng của Nhà nước XHƠN

Chức năng cơ bản của Nhà nước XHCN hoàn toàn khác so với các Nhà

nước trước Nhà nước XHCN có nhiệm vụ củng cố và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân và các hình thức sở hữu hợp pháp khác về tư liệu sản xuất cũng như

sản phẩm do xã hội tạo ra, xây dựng nền dân chủ XHCN và nền kinh tế thị

trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHƠN Nhà nước XHCN

quan tâm trong việc kết hợp lợi ích chung của toàn xã hội với lợi ích của mỗi

thành viên, trong đó lấy lợi ích tập thể làm nền tảng, tổ chức quản lý các mặt đời

sống xã hội, xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN công bằng, văn minh đáp ứng

Trang 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LẦM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chườơïng 1: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước

lợi ích của nhân dân lao động và cả cộng đồng, đồng thời trấn áp các thế lực

chống đối, phá hoại lợi ích của Nhà nước và nhân dân Chính chức năng tố

chức xây dựng xã hội mới đã thể hiện đậm nét bản chất giai cấp và tính xã hội của Nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân và vì dân, đó là sự khác biệt

về chất cơ bản nhất của Nhà nước XHCN với các kiêu nhà nước khác

Chức năng đối ngoại của Nhà nước XHƠN hoàn toàn ưu việt hơn so với các Nhà nước trước đó Với chức năng này, Nhà nước XHCN không những bảo

vệ đất nước, chống lại sự xâm lược của nước ngoài mà còn luôn tôn trọng độc

lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác và còn luôn ủng hộ

phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc vì hòa bình, thống nhất và độc lập dân tộc cũng như tiến bộ xã hội; Thực hiện chính sách và đường lối quốc tế vô sản

cũng như chính sách nhân đạo xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một tỗ chức đặc biệt của quyên

lực chính trị, có bộ máy chuyên trách đễ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân và

nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong xã hội xã hội chủ nghĩa

4.5 HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC

1.5.1 Khái niệm Hình thức nhà nước

Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước và

những biện pháp để thực hiện quyền lực ấy Nói cách khác, hình thức nhà nước phản ánh cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực của giai cấp thống trị

Về nguyên tắc, hình thức nhà nước bao giờ cũng phụ thuộc vào bản chất của Nhà nước Tuy nhiên khi xác định cách thức tổ chức bộ máy quyền lực của mình, giai cắp thống trị không thể không quan tâm tới sự tác động của các yếu

tố như tương quan giai cấp, hoàn cảnh địa lý, truyền thống dân tộc, các quan

điểm pháp lý, thực trạng tình hình quốc tê,

Hình thức nhà nước là một khái niệm chung và thường được thé hiện theo

3 khía cạnh chủ yếu: hình thức chính thể và hình thức cấu trúc nhà nước và chế

độ chính trị

Hình thức nhà nước có quan hệ chặt chẽ với kiểu nhà nước, trong đó, kiểu

nhà nước là yếu tố quyết định hình thức nhà nước Do vậy, cùng một hình thức nhà nước, nhưng thuộc những kiểu nhà nước khác nhau thì có những đặc điểm khác nhau.

Trang 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NONG LAM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chươïng 1: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước

Ví dụ: Trong mọi kiểu nhà nước đều có nền cộng hòa, nhưng cộng hòa chủ

nô khác hẳn với cộng hòa phong kiến được xác lập ở những thành thị (như ở Giônơ, Phơlorenxơ của Italia; ở Nốpgorớt và Psơcốp của Nga, v.v Quyền lực nhà nước ở các thành phố này tập trung trong tay giới quý tộc thành thị) Các

nền cộng hòa trên đây cũng khác với cộng hòa tư sản Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa lại là một hình thức nhà nước mới, khác hẳn các nền cộng hòa trên về

ban chat

Sở dĩ như vậy là vì kiểu nhà nước phụ thuộc trực tiếp vào cơ sở kinh tế và

bản chất giai cắp của Nhà nước

Ngoài ra, hình thức nhà nước còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như:

- Trước hết là phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp, kế

cả sự ảnh hưởng của các thế lực chính trị bên ngoài

Ví dụ: Do sự thỏa hiệp của giai cấp tư sản với giai cắp phong kiến mà trong

một loạt nước sau Cách mạng tu san đã tồn tại hình thức nhà nước quân chủ

lập hiến (như ở Nhật Bản, Anh, Hà Lan, .)

- Hai là, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của xã hội

Ví dụ: Do sự nảy sinh và phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

trong lòng xã hội phong kiến, vào giai đoạn cuối của xã hội phong kiến đã hình

thành Nhà nước quân chủ chuyên chế

- Ba là, phụ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, truyền thống dân tộc và bối

cảnh quốc tế

Ví dụ: Hình thức quân chủ lập hiến ở Camphuchia, Úc, hình thức Nhà

nước liên bang ở Đức, Mỹ, Ấn Độ

Trong lịch sử phát triển của nhân loại kể từ khi xuất hiện xã hội có giai cấp

cho đến nay, đã tồn tại bốn kiểu quan hệ sản xuất (cơ sở hạ tầng kinh tế): chiếm

hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Tương ứng với

bốn kiểu cơ sở hạ tầng ấy là bốn kiểu kiến trúc thượng tầng (bốn kiểu nhà

nước) - Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và Nhà

nước xã hội chủ nghĩa Ứng với mỗi kiểu nhà nước lại có những hình thức tổ

chức rất đa dạng, tùy thuộc vào những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong

quan hệ qua lại giữa các cơ quan đó với nhau và với nhân dân, cũng như mức

độ tham gia của nhân dân vào sự hình thành các cơ quan này.

Trang 38

TRƯỜNG DAI HOC NONG LAM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Hình thức chính thể gồm có 2 dạng cơ bản là: chính thể Quân chủ và chính

thé Cộng hòa

- Chính thể Quân chủ: Trong hình thức này, quyền lực tối cao của Nhà

nước tập trung toàn bộ hay một phân trong tay một người đứng đầu Nhà nước (đó là Vua, Hoàng đế, Quốc vương), theo nguyên tắc thừa kế (cha truyền con

nối)

Hình thức chính thể quân chủ thường được chia thành 2 loại:

+ Chính thể Quân chủ tuyệt đối: Người đứng đầu Nhà nước có quyền lực vô hạn Điển hình nhất của hình thức này là Nhà nước phong kiến phương Đông, nơi mà toàn bộ quyền lực thuộc về nhà Vua, nhà Vua nắm cả quyền hành pháp lẫn quyền lập pháp và quyền ấy không hề bị giới han

+ Chính thể Quân chủ hạn chế: Người đứng đầu Nhà nước chỉ nắm một phần quyền lực nhà nước tối cao và bên cạnh đó còn có một cơ quan quyền lực khác

Ví dụ: Nghị viện trong Nhà nước tư sản và Hiến pháp do Nghị viện lập ra nhằm hạn chế một phần quyên lực nhà Vua

Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, giai cắp tư sản luôn tìm mọi biện pháp nhằm làm cho quyền lực của nhà Vua ngày càng giảm dần

Ngày nay, quyền lực của nhà Vua ở một số nước như: Anh, Hà Lan, Nhật Bản,

Tây Ban Nha, Thai Lan, trên thực tế chỉ còn mang tính chất hình thức và truyền thống, nghỉ lễ (còn gọi là Quân chủ đại nghị)

- Chính thể Cộng hòa: Với hình thức này, quyền lực tối cao của Nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại diện, các cơ quan này được bầu ra, hoạt động mang tính tập thể và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định (nhiệm

kỳ) theo quy định của pháp luật

Chính thể Cộng hòa chia thành 2 hình thức là Cộng hòa quý tộc và Cộng

hòa dân chủ

+ Chính thể Cộng hòa quý tộc : quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện quyền lực nhà nước được pháp luật quy định chỉ dành riêng cho các tầng lớp quý tộc

+ Chính thể Cộng hòa dân chủ : quyền tham gia bau ctr dé lap ra co’

quan đại diện quyền lực nhà nước được pháp luật quy định cho tất cả các tầng lớp nhân dân (thông qua phổ thông đầu phiếu của toàn dân)

Tuy nhiên, quyền bầu cử đó của công dân có trở thành hiện thực hay

không, hoặc ở mức độ nhưữ thế nào còn tùy thuộc vào chế độ cộng hòa đó là

Cộng hòa tư sản hay Cộng hòa xã hội chủ nghĩa.

Trang 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NONG LÂM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước

Ngày nay, trên thế giới, chính thể cộng hòa được phổ biến ở tất cả các

nước xã hội chủ nghĩa và ở đa số các nước tư bản chủ nghĩa

Đối với Nhà nước tư bản chủ nghĩa thì chính thể cộng hòa được chia làm

hai dạng: Cộng hòa đại nghị và Cộng hòa tỗng thống Nhưng, dù được tổ chức

dưới hình thức nào thì đó cũng chỉ là dân chủ đối với tầng lớp giai cắp tư sản,

còn đối với quảng đại quần chúng nhân dân lao động thì đó là dân chủ hạn chế,

dân chủ giả hiệu Bởi vì, các nhà nước bóc lột thường đặt ra những quy định nhằm hạn chế hoặc vô hiệu hóa quyền tham gia bầu cử của nhân dân lao động

Đối với Nhà nước XNCN, hình thức chính thể phỗ biến là Cộng hòa dân

chủ, với đặc trưng cơ bản là sự tham gia rộng rãi của quảng đại quần chúng

nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan đại diện quyền lực của mình

và kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan đó

4.5.2.2 Hình thức cấu trúc nhà nước

Hình thức cấu trúc nhà nước là cơ cấu hành chính — lãnh thổ của Nha

nước, là sự tổ chức nhà nước theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ, đồng thời

xác định mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành nhà nước, giữa các

cơ quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương trong

hoạt động quản lý và điều hành xã hội, tạo nên chế độ chính trị

Có 2 hình thức cấu trúc nhà nước điển hình là Nhà nước đơn nhất và Nhà nước liên bang

- Nhà nước đơn nhất là Nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất, mà

trong đó hệ thống quyền lực nhà nước được đảm bảo tập trung, thống nhất bằng cách tổ chức một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa

phương Các địa phương được tổ chức thành các đơn vị hành chính — lãnh thé

như tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường) Cac don vi hanh chinh — lanh thổ này không có yếu tố chủ quyền như một nhà nước riêng Trong Nhà nước đơn nhất chỉ có những cơ quan quyền lực, quản lý, xét xử tối cao chung, một

Hiến pháp và một hệ thống pháp luật chung cho cả nước Tất cả các cơ quan

nhà nước các cấp đều phải tuân thủ những nguyên tắc và quy định chung do nhà nước trung ương quy định

- Nhà nước liên bang là Nhà nước được hình thành trên cơ sở do hai hay nhiều Nhà nước thành viên liên hợp lại với nhau Trong đó, Nhà nước liên bang

có chủ quyền quốc gia chung, đồng thời mỗi nước thành viên có chủ quyền quốc gia riêng

Trong một Nhà nước liên bang luôn tồn tại 2 hệ thống cơ quan quyền lực

và luật pháp.

Trang 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM BÀI GIẢNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

* Hệ thống cơ quan quyền lực và luật pháp chung cho toàn Liên bang;

* Hệ thống cơ quan quyền lực và luật pháp của từng Bang hay từng nước thành viên

Trong hai hệ thống trên, hệ thống cơ quan quyền lực và luật pháp của nhà nước liên bang có tính nguyên tắc chung và có hiệu lực tối cao

Ví_dụ: Nhà nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức, _ Công hòa Liên bang Nga, là loại hình Nhà nước liên bang

Ngoài ra, còn có một hình thức cấu trúc nhà nước khác nữa đó là Nhà nước liên minh, con gọi là Nhà nước liên bang không chặt chẽ Trong đó, mối liên hệ giữa các cơ quan tối cao của Nhà nước liên mỉnh với các Nhà nước

thành viên lỏng lẻo hơn Chủ quyền của các nước thành viên trong Nhà nước

liên minh cũng lớn hơn nhiều so với chủ quyền của Nhà nước thành viên trong Nhà nước liên bang

Nhà nước liên minh là sự liên kết tạm thời của các quốc gia nhằm thực

hiện một số nhiệm vụ và mục đích nào đó Sau khi đạt được nhiệm vụ, mục đích

đó, nhà nước liên minh có thể tự giải tán, hoặc có trường hợp phát triển thành Nhà nước liên bang

Ví dụ: Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ từ 1776 đến 1787 là nhà nước liên minh, sau đó trở thành nhà nước liên bang; Đức (1815 — 1867) và Thụy Sĩ (1848) là nhà nước liên minh

1.5.2.3 Chế độ chính tri

Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, biện pháp, phương tiện mà

các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước

Chế độ chính trị quan hệ mật thiết tới đời sống chính trị của xã hội nói

chung và vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp tới hình thức nhà nước, mà trước hết là hình thức chính thể Bởi vậy, khi nghiên cứu hình thức nhà nước, điều quan

trọng không chỉ là xác định hình thức chính thể (là quân chủ hay cộng hòa), mà

còn cần phải xác định chế độ chính trị của Nhà nước đó, chỉ khi đó, chúng ta

mới xác định được thực chất hình thức nhà nước, hình thức chính thể của nó Chế độ chính trị thể hiện cụ thể là: Ai thực hiện quyền lực? Thực hiện

quyền lực bằng cách nào? Ai có quyền quyết định tối cao về mặt nhà nước? Nói

cách khác, chế độ chính trị thể hiện những đặc điểm của Nhà nước: dân chủ

hay phi dân chủ, quyền tự do dân chủ của công dân và sự tham gia của họ vào

quá trình thiết lập các cơ quan chính quyền nhà nước ở mức độ nào?

Ngày đăng: 23/12/2022, 18:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w