(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945(Luận án tiến sĩ) Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRỊNH THỊ HƯỜNG
QUẢN LÝ LÀNG XÃ Ở TỈNH THÁI BÌNH QUA HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG
TỪ NĂM 1921 ĐẾN NĂM 1945
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
TRỊNH THỊ HƯỜNG
Trang 4
Luận án đã được hoàn thành tại Bộ môn Lịch sử Việt Nam, Khoa Lịch
sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã nhận được những sự giúp đỡ vô cùng quý báu từ các tập thể và cá nhân
Tôi xin bày lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Duy Bính và TS Nguyễn Thị Thu Thủy đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các nhà khoa học trong Tổ Lịch
sử Việt Nam, Ban Chủ nhiệm Khoa cùng các thầy cô Khoa Lịch sử, Phòng sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cơ quan, địa phương tỉnh Thái Bình và các đồng nghiệp đã giúp đỡ nguồn tư liệu trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè
đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Trịnh Thị Hường
Trang 5TT Viết đầy đủ Viết tắt
Trang 6MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tài liệu 3
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận án 5
7 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1 Các công trình nghiên cứu về hương ước, quản lý làng xã qua hương ước
cổ truyền (trước năm 1921) 7
1.1.1 Các công trình của học giả nước ngoài 7
1.1.2 Các công trình của học giả trong nước 8
1.2 Các công trình nghiên cứu về Hương ước cải lương, quản lý làng xã qua
hương ước cải lương 13
1.2.1 Các công trình của học giả nước ngoài 13
1.2.2 Các công trình của học giả trong nước 14
1.3 Các công trình nghiên cứu về làng xã Thái Bình, quản lý làng xã qua hương ước của Thái Bình 18
1.3.1 Các công trình của học giả nước ngoài 18
1.3.2 Các công trình của học giả trong nước 19
1.4 Một vài nhận xét về nguồn tư liệu, tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến đề tài luận án và những vấn đề cần tiếp tục làm rõ 23
1.4.1 Nhận xét về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án 23
1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục làm rõ 25
Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ LÀNG XÃ TRƯỚC NĂM 1921 VÀ HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG Ở THÁI BÌNH 26
2.1 Khái quát về quản lý làng xã ở Thái Bình trước năm 1921 26
2.1.1 Khái quát về tỉnh Thái Bình 26
Trang 72.2 Hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình 40
2.2.1 Khái quát về hương ước 40
2.2.1.2 Các loại hương ước 40
2.2.2 Hương ước cải lương ở Thái Bình 41
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 QUẢN LÝ KINH TẾ Ở LÀNG XÃ THÁI BÌNH QUA
HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG TỪ NĂM 1921 ĐẾN NĂM 1945 61
3.1 Quản lý ruộng đất 61
3.1.1 Quy định về các vấn đề liên quan đến ruộng đất 61
3.1.2 Quy định về các loại ruộng đất 61
3.1.3 Quy định về xử phạt đối với trường hợp chiếm đoạt ruộng đất bất hợp pháp 71
3.2 Quản lý chi thu, sưu thuế 72
3.2.1 Quản lý chi thu 72
3.2.2 Quản lý sưu thuế 78
3.3 Quản lý tài sản chung 81
3.4 Quản lý, bảo vệ sản xuất nông nghiệp 81
3.4.1 Quản lý đường sá, cầu cống, đê điều 81
3.4.2 Bảo vệ ruộng đồng, nguồn nước, sức kéo 83
Tiểu kết chương 3 87
Chương 4 QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH, VĂN HÓA Ở LÀNG XÃ THÁI BÌNH QUA HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG TỪ NĂM 1921 ĐẾN NĂM 1945 89
4.1 Quản lý hành chính 89
4.1.1 Tổ chức hành chính 89
4.1.2 Về chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn của bộ máy quản lý làng xã 90
4.1.3 Về lương, phụ cấp, thưởng phạt cho bộ máy quản lý làng xã 102
4.1.4 Việc mua, bán các chức trong bộ máy quản lý làng xã 106
4.2 Quản lý văn hóa 107
4.2.1 Quản lý giáo dục 107
4.2.2 Quản lý phong tục 111
Tiểu kết chương 4 122
Trang 8Ở TỈNH THÁI BÌNH 123
5.1 Một số thành công, thất bại của Pháp trong việc quản lý làng xã ở Thái Bình 123
5.1.1 Thành công 123
5.1.2 Thất bại 129
5.2 Một số đặc điểm của việc quản lý làng xã qua hương ước cải lương
từ năm 1921 đến năm 1945 ở Thái Bình 134
5.2.1 Tính cụ thể, chặt chẽ 134
5.2.2 Tính cộng đồng, tự quản 137
5.3 Bài học kinh nghiệm cho quản lý làng xã, xây dựng nông thôn mới trong
giai đoạn hiện nay 142
5.3.1 Bài học về xây dựng bộ máy quản lý nhà nước ở nông thôn 142
5.3.2 Bài học về xây dựng và thực hiện hương ước, quy chế ở cơ sở 144
Tiểu kết chương 5 147
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 2.1: Số hương ước cải lương ở Thái Bình từ 1921 đến 1945
(theo thống kê của Cao Văn Biền) 42
Bảng 2.2 Số lượng bản hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình 43
Bảng 2.3 Số làng xã, hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình của tác giả luận án 44
Bảng 2.4 Phân loại hương ước cải lương làng, xã, thôn, phố huyện của
tỉnh Thái Bình 45
Bảng 2.5 Phân bố hương ước tỉnh Thái Bình của Cao Văn Biền 45
Bảng 2.6 Sự phân bố của làng xã có hương ước cải lương ở Thái Bình
của tác giả luận án 46
Bảng 2.7 Số lượng làng xã, bản hương ước cải lương ở Thái Bình 47
Bảng 2.8 Phân loại hương ước cải lương ở Thái Bình theo số trang 48
Bảng 2.9 Niên đại của các hương ước cải lương ở Thái Bình giai đoạn 1921
đến trước 1927 50
Bảng 2.10 Niên đại của các hương ước cải lương ở Thái Bình giai đoạn 1927
đến trước 1941 50
Bảng 2.11 Niên đại của các hương ước cải lương ở Thái Bình giai đoạn 1941
về sau 50
Bảng 2.13 Số lượng hương ước cải lương của các đợt của tỉnh Thái Bình
(theo Cao Văn Biền) 51
Bảng 2.14 Số lượng hương ước cải lương của các đợt của tỉnh Thái Bình
(theo tác giả luận án này) 51
Bảng 4.1 Các lý dịch được trả lương trong làng xã Thái Bình 104
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, làng xã luôn đóng vai trò quan trọng Làng xã đã trở thành một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử Tìm hiểu về làng xã trong lịch sử sẽ giúp chúng
ta không những hiểu sâu sắc hơn những vấn đề cốt lõi của lịch sử dân tộc mà còn góp phần làm sáng tỏ cả những vấn đề của hiện tại và tương lai trong xây dựng, phát triển của đất nước và con người Việt Nam
Vấn đề quản lý làng xã luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu của các nhà nước phong kiến ở Việt Nam Các nhà nước phong kiến, thực dân luôn tìm mọi cách để
“nằm” được làng xã Hiện nay, trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới thì vấn đề quản lý làng xã càng có ý nghĩa quan trọng cấp thiết
Hương ước là một sản phẩm pháp lý do dân làng sáng tạo ra, được sử dụng làm chuẩn mực trong các quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong làng, giữa làng với bên ngoài Nhìn từ góc độ pháp luật, hương ước có giá trị như “bộ luật” của làng, biểu hiện tính “tự trị” làng xã và là sự dung hoà quyền lợi giữa nhà nước phong kiến và làng xã… Hương ước có vai trò quan trọng trong đời sống làng Việt
cổ truyền, trong đó đáng chú ý hơn là với tư cách của một công cụ quản lý làng
xã Các nhà nước phong kiến và cả thực dân đều nhận thấy vai trò của hương ước,
sử dụng hương ước như một công cụ hữu hiệu trong quản lý làng xã Thông qua việc quy định trách nhiệm và chế độ thưởng phạt trước hết và chủ yếu đối với các
cá nhân trong làng xung quanh việc thực hiện các công việc của cộng đồng, hương ước trực tiếp kiểm soát thái độ ứng xử của các thành viên, không phân biệt già trẻ, thuộc bất kỳ hình thức tổ chức và giai tầng xã hội nào Hương ước còn làm nhiệm vụ quan trọng khác: là sợi dây nối liền các tổ chức xã hội trong làng, giúp cho bộ máy quản lý làng xã nắm được các tổ chức cấu thành trong bộ máy của làng Hương ước còn liên kết các tổ chức trong làng lại với nhau, thông qua việc nắm cá
Trang 11nhân để rồi nắm tổ chức và khuôn các tổ chức ấy vận hành thống nhất trong một chỉnh thể hữu cơ
Nghiên cứu vấn đề quản lý làng xã qua hương ước sẽ cung cấp những bài học kinh nghiệm cho việc tổ chức bộ máy quản lý và cách thức quản lý nông thôn mới hiện nay
Thái Bình là tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ nơi người Pháp tiến hành công cuộc Cải lương hương chính mạnh mẽ Việc nghiên cứu về quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở Thái Bình không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đất và người Thái Bình, làng
xã Thái Bình mà còn qua đó hiểu rõ hơn về chính sách cai trị của người Pháp tại địa phương này, bổ sung nhận thức sâu sắc hơn về chính sách cai trị của Pháp đối với nước ta
Vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương
ở Thái Bình là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Với những lí do
trên đây, tác giả quyết định chọn đề tài Quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua
Hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945 để làm đề tài Luận án của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Trình bày khái quát về quản lý làng xã trước năm 1921 và hương ước cải lương ở Thái Bình
- Làm rõ việc quản lý kinh tế, hành chính, văn hóa ở làng xã Thái Bình qua
hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945
- Rút ra một số nhận xét về việc quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở
tỉnh Thái Bình từ năm 1921 đến năm 1945 làm bài học cho công tác quản lý làng xã người Việt hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những nét cơ bản về cơ sở xuất hiện của hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình, như về làng xã người Việt ở Thái Bình, công cuộc cải lương hương chính của Pháp ở Thái Bình
- Phân tích được thực trạng hương ước, đặc điểm về hình thức, nội dung của
hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình
Trang 12- Phân tích, làm rõ nội dung quản lý hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội đối với làng xã thông qua các bản hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình
- Đánh giá, rút ra bài học từ thực tế quản lý làng xã ở Thái Bình thông qua hương ước cải lương (1921-1945) nhằm phục vụ cho công tác quản lý làng xã, nông dân, nông thôn nói riêng, quản lý nhà nước nói chung hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
bản hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình hiện còn lưu trữ giữ ở Viện Thông tin
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các văn bản hương ước cải
lương tỉnh Thái Bình được lập trong khoảng thời gian từ năm 1922 đến năm 1944, được lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội Việt Nam
Phạm vi không gian: Địa giới của tỉnh Thái Bình thời kỳ 1921-1945 so với
hiện nay có thay đổi, điều chỉnh Tuy nhiên đề tài chỉ nghiên cứu trong không gian những làng xã của Thái Bình hiện nay
Phạm vi nội dung: Với 452 bản hương ước cải lương (1921-1945) của Thái
Bình, luận án tập trung tìm hiểu công tác quản lý về hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội đối với các làng xã người Việt ở Thái Bình giai đoạn 1921-1945
Ở nội dung về quản lý hành chính, luận án sẽ tập trung tìm hiểu về tổ chức hành chính, chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn của bộ máy quản lý làng xã, Về lương, phụ cấp, thưởng phạt cho bộ máy quản lý làng xã, việc mua, bán các chức trong bộ máy quản lý làng xã
Ở nội dung quản lý kinh tế, luận án tập trung tìm hiểu về quản lý ruộng đất, quản
lý chi thu, sưu thuế; quản lý tài sản chung; quản lý, bảo vệ sản xuất nông nghiệp
Ở nội dung quản lý văn hóa, kinh tế, luận án tập trung tìm hiểu về quản lý giáo dục, quản lý phong tục (hôn nhân, tang ma)
4 Nguồn tài liệu
- Các bộ sử, sách, văn bản, luật của chính quyền nhà nước, tỉnh Thái Bình giai
đoạn 1921-1945, như: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nghị định chỉnh
Trang 13đốn lại hương hội các xã Annam ở Bắc Kỳ (1922), Nghị định chỉnh đốn lại Hội đồng tộc biểu các xã Nam dân ở Bắc Kỳ,…
- Các bản hương ước cải lương của Thái Bình giai đoạn 1921-1945
- Các công trình nghiên cứu khác (giáo trình, sách chuyên khảo,…) về hương ước cải lương, về chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương giai đoạn 1921-1945,
về làng xã và chính sách quản lý làng xã trong lịch sử Việt Nam nói chung, giai đoạn 1921-1945 nói riêng
- Tài liệu thực địa thu thập được trong các lần điền dã tại các làng của Thái
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu Hai phương pháp chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic được vận dụng để trình bày lại vấn đề nghiên cứu thông qua tư liệu, đồng thời nhìn nhận vấn đề toàn diện, khách quan
Phương pháp lịch sử: dựng lại một cách khái quát về diện mạo của làng xã
Thái Bình thời kỳ 1921-1945 cùng với nội dung của các chính sách quản lý làng xã (người Việt) trên tất cả các phương diện
Phương pháp logic: trên cơ sở phân tích có thể rút ra một số nhận xét, đánh
giá về công tác quản lý làng xã qua hương ước cải lương (1921-1945), qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý hành chính cấp cơ sở hiện nay
Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, điền dã,…
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các vấn đề chính về hình
thức, thời gian xuất hiện, nội dung của hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái
Trang 14Bình; các vấn đề về quản lý hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương (1921-1945)
Phương pháp điền dã được sử dụng khi tác giả đi thực tế tại một số làng xã
để thu thập những thông tin có liên quan đến làng xã, hương ước cải lương, quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở Thái Bình,…
Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng trong luận án để thống kê hệ
thống hương ước cải lương, hệ thống làng xã ở Thái Bình, so sánh chúng với các khu vực khác để rút ra những điểm riêng biệt của làng xã Thái Bình, hương ước cải lương, vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình
6 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu, trình bày đầy đủ, có hệ thống về vấn đề quản lý làng xã (người Việt) qua hương ước cải lương (1921-1945) ở tỉnh Thái Bình Trên cơ sở đó góp phần làm sáng tỏ một số nội dung sau:
Thứ nhất, luận án trình bày khá toàn diện về hương ước cải lương
(1921-1945) cùng với việc dựng lại diện mạo làng xã tỉnh Thái Bình đương thời
Thứ hai, qua việc khai thác nguồn tư liệu gốc và tư liệu tham khảo luận án
dựng lại một cách cụ thể, đầy đủ và toàn diện các nội dung quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình về hành chính, kinh tế, xã hội, văn hóa qua hương ước cải lương (1921-1945) Từ hiệu quả thực tế mà công tác quản lý làng xã đạt được, rút ra những bài học trong việc giải quyết bài toán về mối quan hệ giữa trung ương và làng xã
Thứ ba, luận án nêu lên được những mặt thành công và thất bại trong công
tác quản lý làng xã qua hương ước cải lương thời kỳ 1921-1945, đặt trong sự so sánh với chính sách quản lý làng xã của các thời kỳ trước Từ đó liên hệ với thực tại, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công cuộc cải cách hành chính ở địa phương hiện nay
Thứ tư, luận án tập hợp và hệ thống hóa những tư liệu liên quan đến làng xã
Thái Bình, hương ước cải lương ở Thái Bình, công tác quản lý làng xã ở Thái Bình giai đoạn 1921-1945 Những tư liệu này sẽ góp thêm một công trình nghiên cứu về làng xã Thái Bình, về chính quyền thực dân Pháp, về chính sách cai trị của thực dân Pháp tại Việt Nam,
Trang 157 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận
án gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Chương 2: Khái quát về quản lý làng xã trước năm 1921 và hương ước cải
lương ở Thái Bình
Chương 3: Quản lý kinh tế ở làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương từ
năm 1921 đến năm 1945
Chương 4: Quản lý hành chính, văn hóa ở làng xã Thái Bình qua hương ước
cải lương từ năm 1921 đến năm 1945
Chương 5: Một số nhận xét về việc quản lý làng xã qua hương ước cải lương
ở tỉnh Thái Bình từ năm 1921 đến năm 1945
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1 Các công trình nghiên cứu về hương ước, quản lý làng xã qua hương ước
cổ truyền (trước năm 1921)
1.1.1 Các công trình của học giả nước ngoài
Trước cách mạng tháng Tám, từ thế kỉ XVII, một số người phương Tây đã
có những ghi chép về Việt Nam, trong đó có ghi chép về làng Việt, tục lệ trong làng
Việt, như: Tập du kí mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài của Jean Baptiste Tavernier (Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2005), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài
năm 1688 của Dampier William (Nxb Thế giới, Công ty Từ Văn, Hà Nội, năm
2011),… đã cho chúng ta một số thông tin về tục lệ, sự ràng buộc của tục lệ đó đối với cư dân trong làng Việt
Công trình La Commune Annamite au Tonkin (Làng xã An Nam ở Bắc kỳ, 1894) của P.Ory đã đề cập đến một số vấn đề về tục lệ, tập quán trong các làng xã ở
Bắc kỳ
Cuốn Les paysans du Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của
P.Gourou (xuất bản lần đầu tại Paris, năm 1936) đã nghiên cứu về văn hóa, cư dân của làng xã đồng bằng Bắc Bộ Trong cuốn này, P Gourou đã trình bày một số nét
về tục lệ, lệ làng, hương ước của các làng xã người Việt và cho thấy rõ tính quy định bắt buộc đối với việc thực hiện theo các tục lệ trong làng xã người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Gourou nhận ra sự chi phối của tục lệ, lệ làng đối với đời sống làng
xã: “Làng là một cộng đồng tự trị, tự giải quyết mẫu thuẫn giữa các thành viên…
Tính độc lập của làng là rõ ràng Nó thể hiện trong câu tục ngữ “Phép vua thua lệ làng”[82,tr.249-250]
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày càng xuất hiện nhiều các
công trình của các tác giả nước ngoài nghiên cứu về làng Việt nói chung, hương ước, quản lý làng xã qua hương ước Có thể kể ra một số tác giả và tác phẩm:
Insun Yu với công trình Luật và xã hội Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII (Nxb
Khoa học xã hội, năm 1994) Nội dung chính của công trình này là trình bày, phân
Trang 17tích luật Việt Nam thời Lê sơ Trong đó, Insun Yu có đề cập đến vấn đề người dân của làng xã chịu sự tác động, quản lý không chỉ của luật pháp của nhà nước mà còn
cả của những tục lệ di làng xã lập ra
Công trình Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ của Philippe
Papin và Olivier Tessier (chủ biên) (Trung tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia xuất bản năm 2001) cũng đề cập một vài khía cạnh về quản lý làng xã truyền thống
ở các làng: Hay (Thanh Ba, Phú Thọ), làng Mộ Trạch (Bình Giang, Hải Dương) Tả Thanh Oai (Thanh Trì, Hà Nội), làng Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) như về các vấn
đề dòng họ, quản lý ruộng đất,
John Kleinen với công trình Facing the Future, Reviving the Past: A Study
of Social Change in a Northern Vietnamese Village (Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ: Một nghiên cứu về thay đổi xã hội ở một làng miền Bắc Việt Nam) của John Kleinen (bản dịch của Hội Khoa học Lịch sử, Nxb Lao động, năm
2013) Ở công trình này, tác giả đã trình bày về quá trình hình thành và phát triển của làng Việt từ thời kỳ thực dân, thời kỳ thuộc địa, thời kỳ chiến tranh, thời cải cách ruộng đất, thời kỳ tập thể hóa Trong đó tác giả dành một chương (Chương 8: Đời sống lệ nghi ở làng) trình bày về phong tục, tập quán ở làng Qua đó tác giả cũng cho thấy các tục lệ, hương ước có vai trò như những luật lệ bắt buộc đối với
cư dân, góp phần điều chỉnh quan hệ xã hội ở làng
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về làng
xã, hương ước, quản lý làng xã người Việt truyền thống khá đa dạng Dưới các góc nhìn khác nhau, vấn đề quản lý làng xã qua hương ước đã được các tác giả nghiên cứu Phần lớn các tác giả đều nhận thức vai trò của hương ước trong điều chỉnh các quan hệ xã hội ở làng, bộ phận quản lý làng xã đã dựa vào hương ước, tục lệ để mà cai trị cư dân
1.1.2 Các công trình của học giả trong nước
Trước Cách mạng tháng Tám, nhiều tác giả trong nước đã quan tâm, nghiên
cứu về làng Việt, hương ước, quản lý làng Việt thông qua hương ước
Công trình Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính đã dành một phần lớn của cuốn sách để nói về “Phong tục hương đảng” chốn hương thôn, làng xã Các ngôi
Trang 18thứ, viên chức, hương ẩm, lễ khao vọng, hương học… Dù chưa sử dụng quản lý làng xã bằng hương ước nhưng Phan Kế Bính đã nhận thấy rõ vai trò của hương
ước trong quản lý làng xã: “Chốn hương thôn thường có ước hẹn riêng với nhau,
lập ra sổ sách, đồng dân ký kết gọi là khoán ước Trong khoán ước có thưởng phạt, trừ ra các việc lớn đã có phép của nhà nước, còn việc nhỏ thì trong dân thôn thi hành lẫn nhau…” [9,tr.163]
Cùng thời gian nửa đầu thế kỷ XX, các tác giả Nguyễn Văn Huyên với: Recherche sur la Commune Annamite (Nghiên cứu xã Annam) (năm 1939), Histoire de la fondation d’une commune annamite au Tonkin (Lịch sử thành lập một
xã Annam ở Bắc Kỳ (năm 1941), La Civilisation annamite (Văn minh An Nam) (năm 1944), ; Nguyễn Văn Khoan, Về ngôi thứ trong làng, (BEFEO, năm 1930,
tr.107-139, tr.132); Ngô Tất Tô với “Việc làng”… ít nhiều có nói đến hương ước,
sự tác động của hương ước đối với cư dân làng xã Bắc Bộ xưa
Kể từ sau năm 1954, việc nghiên cứu về làng xã Việt Nam được đẩy mạnh
Nguyễn Hồng Phong với Xã thôn Việt Nam tác giả đã dành phần lớn của
cuốn sách để viết về bộ máy quản lý thôn xã, tổ chức và sinh hoạt cộng đồng ở xã
thôn: “… Phép vua thua lệ làng … nhà nước không thể muốn tổ chức bộ máy cai
trị ở xã thôn thế nào thì được như thế” [80,tr.140]…
Ở miền Nam, tác giả Lương Đức Thiệp trong chuyên khảo về Xã hội Việt
Nam, ở cuốn thứ nhì tác giả đã dành một số dung lượng để viết về Chính trị và xã hội tổ chức (chương II), để nói về xã thôn Việt Nam, Xã hội sinh hoạt (chương III),
để nói về phong tục [98]
Tác giả Phan Khoang với chuyên khảo Lược sử chế độ xã thôn ở Việt Nam
trên Tập san Sử địa (số 1, 1966) Tác giả đã chỉ rõ tính tự trị của làng xã trên cơ sở
hương ước để tự trị, tự quản “xã có tục lệ riêng Thể lệ là tập tục về các tổ chức
nói trên đều được định rõ trong hương ước nó đối với dân trong làng cũng như hiến pháp đối với dân trong nước vậy Cũng có điều không ghi trong hương ước, nhưng
đã thực hành lâu ngày thành ra tập tục, truyền tự đời nọ đến đời kia, thì dân làng cũng phải tuân theo như đã ghi trong Hương ước” [52,tr.43]
Trang 19Trong hai công trình: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập), Nxb Khoa học
xã hội, năm 1977 - 1978 và Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại (2 tập),
Nxb Khoa học xã hội, năm 1990-1992 của Viện Sử học đều có những bài nghiên cứu
về làng xã, hương ước, quản lý làng xã, như: Vũ Huy Phúc với “Tổ chức quản lý xã
thôn: Chức năng và tính chất”, Nguyễn Đổng Chi với “Quan hệ giữa nhà nước và
làng xã ở Việt Nam trước cách mạng”, Nguyễn Đức Nghinh với “Lệ làng và nho sĩ”[119]
Công trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ của Trần Từ (Nxb
Khoa học xã hội, 1984), trong công trình của mình, trong “mục III: Vận hành của cơ cấu xem như một tổng thể” tác giả đã dành nhiều trang để viết về “những đơn vị hành chính - “ốc đảo” và vai trò hai mặt của hương ước”, thể hiện góc nhìn của một
chuyên gia “Hương ước đã xuất hiện từ bao giờ trong lịch sử của từng làng xã Việt?
Có ý kiến cho rằng đây là luật lệ riêng của làng xã, vốn bất thành văn đến thời Pháp thuộc chép lại thành văn bản để buộc các làng quê vào khuôn phép”[108,tr.98]
Tác giả Văn Tạo với chuyên khảo “Chúng ta kế thừa di sản nào? trong khoa
học và kỹ thuật pháp luật và hương ước nông thôn và nông nghiệp” (Nxb Khoa học
xã hội, 1993) đã chỉ rõ hương ước như một di sản cần được nghiên cứu kĩ lưỡng để rút ra bài học cho quản lý xã hội hiện nay
Tác giả Phan Đại Doãn với Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch
sử (Nxb Chính trị quốc Gia, năm 2004), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội (Nxb Chính trị quốc gia, năm 2010) và Từ làng đến nước một cách tiếp cận lịch sử, (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010) đã trình bày nhiều vấn
đề lý luận và thực tế của làng xã cổ truyền, trong đó có nhiều nội dung đề cập đến hương ước, vai trò của hương ước, việc cư dân tự nguyện thực hiện các quy định của hương ước đồng thời tầng lớp cường hào cũng dựa vào hương ước để bóc lột người nông dân
Tác giả Bùi Xuân Đính với nhiều công trình nghiên cứu về làng xã, về hương
ước, về quản lý làng xã qua hương ước Lệ làng phép nước (Nxb Pháp lý, Hà Nội năm 1985), Hương ước làng ven đô (Bùi Xuân Đính - Đinh Khắc Thuân, Tạp chí Hán Nôm, 1/1991), Hương ước và quản lý làng xã (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 20năm 1998),… Ở các công trình này đều thể hiện rõ vấn đề vai trò của hương ước trong đời sống làng xã, hương ước như bộ luật của làng, nhiều khi có tác dụng điều chỉnh hành vi của cư dân làng hữu hiệu hơn cả luật của nhà nước “Hương ước - công
cụ để nhà nước phong kiến can thiệp và quản lý làng, điều hòa lợi ích giữa làng và nhà nước”[30,tr.95]
Tác giả Vũ Duy Mền với hàng loạt công trình nghiên cứu về hương ước làng
xã: Hương ước - khoán ước trong làng xã (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 năm 1982), Góp phần xác định thuật ngữ “khoán ước”, “hương ước” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3-4 năm 1989), Nguồn gốc và điều kiện xuất hiện Hương ước trong
làng xã ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 năm
1993), Vài nét về hình thức văn bản hương ước làng Việt cổ truyền, (Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 2000), Tìm lại làng Việt xưa, (Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2006)
và Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc bộ (Nxb Chính trị Quốc gia, năm
2010),… cũng cho thấy rõ vai trò của hương ước là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong làng, nhà nước phong kiến thông qua hương ước để thu thuế, quản lý dân đinh, quản lý tài sản,… của đất nước “Hương ước như là bộ luật chưa hoàn chỉnh của mỗi làng xã” [63,tr.339], “… Phép vua thua lệ làng Lệ làng đã lấn sân phép nước Nhà nước quân chủ hình như cũng biết mình bị lấn sân nhưng cũng
mặc kệ, vì sao làng xã cũng bị khống chế, lệ thuộc rồi Chính nhờ thái độ mặc kệ
tương đối đó mà nhà nước đã tạo ra được ranh giới an toàn cho mình và làng xã vẫn sống theo hương ước riêng - lệ riêng - rất riêng của từng làng” [63,tr.354]
Đào Trí Úc với công trình Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở
nông thôn Việt Nam hiện nay (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2004) đã trình
bày những vấn đề cơ bản về về hương ước xưa và nay, mối quan hệ giữa pháp luật
và hương ước đồng thời nêu bật lên vị trí, vai trò của hương ước với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn hiện nay
Lê Hồng Sơn với đề tài khoa học cấp Bộ: “Hương ước-Những vấn đề lịch sử
và lý luận quản lý Nhà nước đối với việc ban hành hương ước trong giai đoạn hiện nay ” (Viện khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội năm 1996 Mã số 2001-100)
Công trình đã khái quát sơ bộ về quá trình hình thành và phát triển hương ước Việt
Trang 21Nam Trình bày một số nội dung cơ bản của hương ước và các giai đoạn phát triển của nó Phân tích mối quan hệ giữa hương ước và pháp luật, cơ chế soạn thảo hương ước xưa và nay, sự quản lý của Nhà nước đối với hương ước trong lịch sử và
sự nhìn nhận về hương ước từ góc độ quản lý Nhà nước
Nguyễn Thanh Tuấn với đề tài khoa học cấp cơ sở: “Vai trò của hương ước
mới trong quản lý kinh tế xã hội tại nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” (Viện
Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội năm
1997 Mã số 2001-490) Nội dung chính của công trình là đã khảo cứu sự biến đổi lịch sử của hương ước và đánh giá tính chất tích cực và hạn chế của hương ước cũ, xác định vị trí, vai trò của hương ước mới tại nông thôn đồng bằng Bắc bộ thời kỳ đổi mới, đưa ra một số kiến nghị về quản lý kinh tế, xã hội nông thôn và về việc xây dựng, thực hiện hương ước mới ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ
Lê Đức Tiết với công trình Về Hương ước lệ làng (Nxb Chính trị quốc gia,
năm 1998) Đây là công trình nghiên cứu về hương ước, lệ làng trong lịch sử làng
xã người Việt Tác giả đã nêu những tác động, ảnh hưởng của hương ước, lệ làng với sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc Bên cạnh đó, tác giả còn dành 1 chương để nói về sự kế thùa và phát huy những mặt tích cực của hương ước cổ để phục vụ sự nghiệp giữ nước và dựng nước của Việt Nam
Nguyễn Quang Ngọc với Một số vấn đề làng xã Việt Nam, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2009… Các công trình nêu trên đều đề cập những nét khái quát về quá trình hình thành phát triển làng xã Việt Nam từ khi ra đời đến nay, cũng như đề cập đến hương ước lệ làng,… đưa ra những nhận định về quá trình hình thành và phát triển của hương ước ở Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, đánh giá hương ước là công cụ hữu hiệu mà Nhà nước dùng để quản lý làng xã
Ngoài ra, còn hàng loạt các công trình của nhiều tác giả nghiên cứu về làng
xã, về hương ước,… như: Hồ Đức Thọ với Lệ làng Việt Nam trong tâm thức dân
gian, Nxb Văn hoá - Thông tin, năm 2003; Nguyễn Anh Thư với Lệ làng, Nxb Văn
hoá Dân tộc, năm 2003; Ngô Đức Thịnh với Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt
Nam (Nxb KHXH, năm 2003); Nguyễn Tá Nhí với Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam: những suy ngẫm, (Nxb Tư pháp, năm 2005), Tuyển tập
Trang 22hương ước, tục lệ, (Nxb Hà Nội, năm 2010); Lệ làng Thăng Long của Đỗ Thị Hảo,
Nxb Thời Đại, năm 2010; …Các công trình này có những đối tượng nghiên cứu khác nhau, song, về vấn đề hương ước thì đều có điểm chung là đánh giá cao vai trò của hương ước trong vấn đề tự quản của làng xã, là một công cụ để nhà nước phong kiến thực hiện quản lý xã hội
1.2 Các công trình nghiên cứu về Hương ước cải lương, quản lý làng xã qua hương ước cải lương
1.2.1 Các công trình của học giả nước ngoài
Thật khó để tách bạch những nghiên cứu về quản lý làng xã qua hương ước cải lương với hương ước cổ truyền Các nội dung đó thường có những đan xen Căn
cứ vào nội dung nghiên cứu có liên quan đến hương ước cải lương, quản lý làng xã qua hương ước cải lương, có thể nêu ra một số công trình sau:
Từ góc độ nhân học luật pháp, các nhà nhân học, dân tộc học, folklore học đã
đề cập đến các vấn đề lí thuyết, phương pháp sưu tầm và nghiên cứu luật tục các dân tộc Các tác giả đã bàn tới nhiều vấn đề về luật tục như: Alan Dundes đề cập đến vấn đề khái niệm luật tục (folk law), Anlan Watson đề cập đến vấn đề tiếp cận luật tục, Van Den Dergh đề cập đến khái niệm luật tục trong khung cảnh lịch sử, Obei Hag Ali nói tới vấn đề chuyển đổi luật tục trong luật pháp, … Các vấn đề phương Đông cũng được đặt ra như vấn đề văn bản hóa luật tục (T.O.Elias, 1994), sưu tầm luật tục (Simon Roberts, 1994),… Những vấn đề ứng dụng luật tục trong xã hội cũng được quan tâm, nhất là vấn đề luật tục và bảo vệ và khai thác hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên (S.Wiber, 1996) [115,tr.11]
Ở Việt Nam, đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu về hương ước, luật tục cũng được chú ý
Paul Doumer trong tác phẩm L’Indochine française (souvernirs), (Paris 1905) đã có những đánh giá về đặc điểm làng xã Việt Nam, tính tự trị, tự quản “mỗi
lãng xã là một nước cộng hòa thu nhỏ” của làng xã Việt Nam, được thể hiện qua
hương ước
Năm 1927, L.Sabatier đã cho công bố bộ luật tục Êđê Klei duê bhiăn kđi
(Tập quán pháp) Đến năm 1940, D.Antomarchi đã dịch sang tiếng Pháp và công bố
Trang 23công trình này trên tạp chí Trường Viễn Đông Bác cổ (BEFEO)1
Công trình này thống kê, sắp xếp các nội dung của luật tục Ê đê theo các chủ đề và điều khoản dưới dạng thức của một luật định
1.2.2 Các công trình của học giả trong nước
Những năm 20 của thế kỷ XX, một loạt bài viết về cải lương hương chính, về hương ước cải lương được đăng tải trên tạp chí Nam Phong, Tạp chí Thanh Nghị
Tiêu biểu đó là: Đặng Xuân Viện với bài Hương chính cải lương, Tạp chí Nam phong số 141 năm 1929; Hoàng Hữu Đôn với Cải lương hương tục, tạp chí Nam phong số 36 năm 1920; Nguyễn Như Ngọc với bài Bàn góp về vấn đề cải
lương hương chính, tạp chí Nam phong, số 41 năm 1920; Phó Đức Đôn với bài Bàn
về việc cải lương phong tục ở nông thôn xứ Bắc kỳ, tạp chí Nam phong, số 29 năm
1919; Trần Duy Nhất với bài Bàn về hương chính xứ Bắc Kỳ, tạp chí Nam phong,
số 59 năm 1922,…
Trên tạp chí Thanh Nghị có một loạt bài với cùng tiêu đề “Việc cải lương
hương chính ở Bắc Kỳ”, trêm các số 1-14 năm 1941, 1945
Công trình Cải lương hương ước tân biên (Song ngữ Việt Hán; - H :
Imprimerie Tonkinoire, 1921 - 51tr) của Mai Trung Cát Quyển sách có 2 phần: cải lương hương chính và cải lương hương lệ gồm 206 điều khoản từ việc đặt Hội đồng
kỳ mục, lập sổ thu chi, bổ thuế giản lính, tuần phòng, kiện cáo, cầu cống đường sá, giao thiệp ứng tiếp
Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” (xuất bản lần đầu năm 1938, tại Quan Hải Tùng thư) tác giả Đào Duy Anh đã trình bày về Sự cải lương trong hương
thôn (từ trang 151-159, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2002), nguyên nhân của việc
ra đời hương ước cải lương, và tệ cường hào nhũng loạn chốn hương thôn Việc ban hành hương ước cải lương ở Bắc Bộ và Nam Bộ…Ở đây, rõ ràng tác giả đã thấy rõ mục đích của việc ban hành quy định về hương ước của thực dân Pháp là muốn thong qua hương ước để quản lý làng xã Việt Nam
1
Năm 1984, Nguyễn Hữu Thấu đã dịch bản luật tục ra tiếng Việt từ bản tiếng Pháp Dựa trên văn bản luật tục Êđê của L Sabatier và các bộ luật tục mới sưu tầm được, Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu đã biên soạn cuốn “Luật tục Êđê (tập quán pháp)” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1996)
Trang 24Tác phẩm Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong (Nxb Văn - Sử - Địa,
năm 1959) đã giành một phần nghiên cứu về tục lệ, hương ước làng xã Tác giả đã
chỉ ra mối quan hệ giữa lệ làng với bộ máy nhà nước: “… Phép vua thua lệ làng Xã
thôn không chỉ đơn thuần là một đơn vị hành chính của quốc gia, mà nó là một đơn
vị xã hội với những truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng riêng biệt, cho nên nhà nước không thể muốn tổ chức bộ máy cai trị ở xã thôn thế nào thì được như thế…” [80,tr.140], mục đích duy trì lệ làng của chính quyền thực dân “…Cho nên nhà nước thực dân, như ta đã biết, không những không xóa bỏ lệ làng mà nói chung còn duy trì lệ làng”, “Còn mọi quan trọng như đặt khoản lệ, lập hương ước, quản trị các tài sản… đều do hội đồng tộc biểu và hội đồng kỳ mục quyết định”
Nguyễn Đổng Chi với “Quan hệ giữa nhà nước và làng xã ở Việt Nam trước cách
mạng”, Nguyễn Đức Nghinh với “Lệ làng và nho sĩ”, Dương Trung Quốc với “Bộ máy quản lý làng xã Việt Nam thời cận đại qua các văn bản “Cải lương hương chính” của chính quyền thực dân Pháp”, Nghiêm Văn Thái với “Một nguồn sử liệu phong phú –
Những văn bản hương ước cận đại”,… những nghiên cứu này đã góp phần cho thấy được mối quan hệ giữa hương ước và bộ máy quản lý nhà nước thực dân, mục đích cho lập hương ước cải lương của thực dân Pháp, …
Năm 1994, cuốn “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong
lịch sử” của tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc được xuất bản, là một
thành tựu trong việc nghiên cứu tình hình quản lý nông thôn Việt Nam qua các thời
kỳ lịch sử khác nhau Các tác giả đã dành hơn 30 trang viết về chính sách quản lý làng xã, đề cập hầu hết tất cả các nội dung quản lý Ngoài ra, từ việc nghiên cứu công tác quản lý nông thôn ở mỗi thời kỳ, tác giả còn rút ra một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc quản lý nông thôn hiện đại
Trang 25Tác giả Bùi Xuân Đính với các tác phẩm: “Lệ làng phép nước” (Nxb Pháp
lý, Hà Nội, năm 1995) và “Hương ước và quản lý làng xã” (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, năm 1988) Trong tác phẩm “Lệ làng phép nước”, tác giả đã đề cập đến
mối quan hệ hai chiều giữa lệ làng và phép nước, qua đó phân tích những giá trị
pháp lý và tác động 2 mặt của lệ làng Còn với tác phẩm “Hương ước và quản lý
làng xã”, tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của hương ước trong quản lý làng xã,
đưa ra những gợi mở cho vấn đề xây dựng và phát huy vai trò của hương ước mới trong quản lý làng xã hiện nay
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế do Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian tổ chức: Luật
tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
năm 2000) Đây là công trình tập hợp những bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu
về luật tục của các dân tộc với các nội dung lớn: Luật tục và khai thác,quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; Luật tục và các quan hệ sở hữu tài nguyên thiên nhiên; Luật tục và việc xây dựng và củng cố các các quan hệ xã hội quan hệ xã hội, xây dựng đời sống mới Nội dung cuốn Kỷ yếu này đề cập nhiều đến luật tục ở Tây Nguyên nhưng qua đó nhiều vấn đề lý luận về luật tục, hương ước, tập quán pháp… cũng được đề cập
Trong công trình “Lệ làng truyền thống với việc hình thành ý thức pháp luật cho
nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Nguyễn Văn Long, Luận án Tiến sĩ Triết học,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2002), tác giả đã trình bày và nêu lên quá trình hình thành mối quan hệ giữa lệ làng và luật nước trong lịch sử Đặc thù của
lệ làng trong quá trình đổi mới và ảnh hưởng của nó trong việc hình thành ý thức pháp luật,
Trong Luận án Hương ước mới - một phương tiện góp phần quản lý xã hội ở
nông thôn Việt Nam hiện nay của Nguyễn Huy Tính (Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại
học Luật Hà Nội, năm 2003) đã phân tích những biến đổi lịch sử từ hương ước làng
xã cổ truyền đến hương ước mới, khẳng định hương ước mới là phương tiện tự quản, tự điều chỉnh hữu hiệu của làng xã, có quan hệ biện chứng với pháp luật, đồng thời tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện hương ước mới
Trang 26Luận văn Vấn đề quản lý làng xã ở tỉnh Phú Thọ từ năm 1920 đến trước năm
1945 (qua nội dung hương ước cải lương thời cận đại) của Dương Hà Hiếu (Khoa
Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2009) đã trình bày một số vấn đề về quản lý làng xã ở tỉnh Phú Thọ qua hương ước cải lương như: vấn đề tổ chức bộ máy quản
lý làng xã, vấn đề tuần tra canh phòng bảo vệ an ninh làng xã, quy định thuế khóa, tài chính, vấn đề quan hệ giữa các cá nhân trong làng xã, gia đình và công tác hòa giải, quy định về cưới cheo, tang ma, khao vọng Mặc dù đối tượng là hương ước cải lương ở tỉnh Phú Thọ, khác với hương ước cải lương ở tỉnh Thái Bình nhưng luận văn này cũng đã cung cấp nhiều tư liệu để tác giả nghiên cứu, so sánh với công tác quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình qua hương ước cải lương
Luận án Hương ước cải lương tỉnh Bắc Ninh (1921-1944) của Nguyễn Thị
Huệ (Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2016) đã trình bày những vấn đề cơ bản về khái niệm, hình thức, nội dung của hương ước cải lương ở Bắc Ninh Vấn đề quản
lý làng xã qua hương ước không phải là nhiệm vụ nghiên cứu của luận án song qua công trình này cũng đã thể hiện rõ mối quan hệ giữa nhà nước thực dân với hương
ước cải lương: “Hương ước cải lương Bắc Ninh được ra đời do chính sách cải
lương hương chính của chính quyền thực dân, được coi là công cụ phục vụ đắc lực cho thực dân” Công trình này cũng mới chỉ giới hạn trình bày về hương ước cải
lương ở Bắc Ninh mà chưa nói đến Thái Bình, chưa đề cập đến vấn đề tác động của hương ước cái lương đến quản lý làng xã qua hương ước cải lương như thế nào
Công trình Chính sách Cải lương hương chính ở Đồng bằng Bắc Kỳ và tác
động của nó đến đời sống làng xã thời Pháp thuộc (trường hợp tỉnh Hà Đông) của
Nguyễn Thị Lệ Hà (nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2019) Cuốn sách trình bày về hệ thống chính quyền làng xã từ cổ truyền đến khi thực dân Pháp ban hành chính sách cải lương hương chính, tác giả đã phân tích rõ những tác động của chính sách ấy đến đời sống làng xã ở tỉnh Hà Đông nói riêng và đồng bằng Bắc kỳ nói chung trên các lĩnh vực chủ yếu gồm: bộ máy quản lý, kinh tế, văn hóa - xã hội Tuy nhiên Hà Đông là tỉnh mà Pháp tiến hành thí điểm cải lương hương chính nên
sẽ có những điểm khác với tỉnh khác, nhất là Thái Bình – tỉnh đồng bằng, ven biển Hơn nữa, nội dung công trình của Nguyễn Thị Lệ Hà là trình bày về tác động của
Trang 27chính sách cải lương hương chính đến Hà Đông chứ không đi sâu vào khia cạnh quản lý làng xã qua hương ước cải lương như thế nào – Đó là nguyên nhân dẫn đến
tác động, biến đổi của làng xã
Công trình Hương ước cải lương ở Việt Nam thời thuộc Pháp đầu thế kỷ XX
của Đinh Khắc Thuân (Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: "Giao lưu Văn hoá Việt – Pháp: Thành tựu và triển vọng" (Echanges culturels franco-vietnamiens: réalisations et perspectives) diễn ra vào ngày 16 - 17/04/2018 tại Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội) đã trình bày về sự ra đời của hương ước cải lương, đặc điểm văn bản hương ước cải lương, nội dung và vai trò hương ước cải lương của chính quyền thuộc địa với quản lý làng xã người Việt, cũng như biên soạn hương ước mới ngày nay ở Việt Nam
Ngoài ra, trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Nghiên cứu lập
pháp,… có hàng loạt bài về hương ước, làng xã thời cận đại
Mấy nét về tình hình các làng xã tỉnh Bắc Ninh thời kì 1921- 1945 qua hương ước (tác giả Cao Văn Biền, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, 1994), Kho hương ước cải lương hương chính ở Bắc Kỳ (tác giả Cao Văn Biền, Tạp chí Nghiên
cứu lịch sử, số 3, 298 (1998)), Hương ước cải lương huyện Hoàn Long, tỉnh Hà
Đông (Nguyễn Lan Dung, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 10/2010), Việc thu thuế trong làng xã qua tư liệu hương ước cải lương tỉnh Thái Nguyên (của Đỗ Hằng
Nga, Phạm Quốc Tuấn đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Thái Nguyên, số 183(7)-2018, trang 57-61),…
1.3 Các công trình nghiên cứu về làng xã Thái Bình, quản lý làng xã qua hương ước của Thái Bình
1.3.1 Các công trình của học giả nước ngoài
Alexandre de Rhodes với công trình Histoire du royaume de Tunquyn (1651)
(Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài; Uỷ ban Đoàn kết tôn giáo xuất bản, 1994) Ở
công trình này, mặc dù chỉ là những ghi chép sơ lược nhưng cũng cung cấp những thông tin về đời sống văn hóa của cư dân Thái Bình hồi thế kỷ XVII
M l'Abbé Richard với Histoire naturelle, civile et politique du Tonquyn
(1778, Tome I) (Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị Đàng Ngoài) đã đề cập vài chi
Trang 28tiết về vùng đất Thái Bình, về sự thành lập các làng xã ở vùng ven biển, sự du nhập của đạo Công giáo vào đây
Công trình “Notice sur la province de Thai Binh” (Chú thích về tỉnh Thái
Bình) (F.H Schneider, 1899) Đây là công trình của chính quyền thực dân Pháp tại
Đông Dương về tỉnh Thái Bình Nội dung của công trình gồm: Lịch sử từ những năm đầu khi Pháp đến và cho tới ngày nay; Việc thành lập tỉnh và sự phân chia hành chính; Danh sách các quan cai trị Pháp và Nam Triều; về y tế, giáo dục, pháp luật, sở cảnh sát, kinh tế, nông, công, thương nghiệp… Qua công trình, những nét
cơ bản về Thái Bình được người Pháp nghiên cứu, ghi chép lại
Tác phẩm Notice sụt de Thai binh Ký hiệu M10372, lưu tại Thư viện Quốc
gia Việt Nam có niên đại những năm 1930 bởi trong danh sách các công sứ Thái Bình tác giả có chép "Colas - quan cai trị hạng nhì từ ngày mùng 3 tháng 11 năm 1933" Đặc biệt trong sách chú thích về tỉnh Thái Bình là những số liệu thống kê về các hoạt động kinh tế và văn hóa xã hội sau hơn 40 năm thành lập khá chính xác khoa học và có giá trị về mặt sử liệu
1.3.2 Các công trình của học giả trong nước
* Các công trình nghiên cứu viết về Thái Bình mà ít nhiều có liên quan tới làng
xã, hương ước
Tác phẩm Thái Bình phong vật chí của Phạm Văn Thụ (1858-1930) Hiện có
tới 6 bản khác nhau, lưu trữ tại nhiều nơi Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có 01 bản, kí hiệu ký hiệu R.626, sách dày 60 tờ, khổ 29x16cm Tại Viện Hán Nôm có 04
bản, gồm: 01 bản kí hiệu A.1263 với tên sách là Thái Bình phong vật chí, dày 45 tờ, khổ 31x21cm; 01 bản kí hiệu A 2361 với tên sách Thái Bình phong vật chí, dày 35
tờ, khổ 28x15cm; 01 bản ký hiệu A.1754 với tên sách là Thái Bình thông chí, màu
đen in trong ô nền đỏ, bìa màu vàng, dày 53 tờ, khổ 30x17cm; 01 bản ký hiệu A 82
với tên sách là Thái Bình tỉnh thông chí, dày 56 tờ, khổ 28x17cm
Tại Thư viện Paris (Cộng hòa Pháp) còn có 1 bản mang tên Thái Bình phong
vật chí, ký hiệu EFEO.II/6/900
Tuy nhiều bản như vậy nhưng theo Nguyễn Thúy Nga [65,tr.46] thì thực chất
06 bản trên là một cuốn sách của Phạm Văn Thụ Và bản đang lưu trữ tại Thư viện
Trang 29Quốc gia Việt Nam với kí hiệu R.626 là bản gốc, còn các bản khác là dị bản được sao chép lại Và chúng tôi sử dụng bản này để nghiên cứu
Nội dung sách Thái Bình phong vật chí cung cấp thông tin về địa lý, các đơn
vị hành chính, làng xã tỉnh Thái Bình qua các thời kì, lai lịch một số nhân vật khoa bảng của Thái Bình, về truyền thống văn hóa của Thái Bình trong lịch sử,…
Sách Tỉnh Thái Bình in năm 1933 của Dương Thiệu Tường cũng có nhận xét:
Tuy mới thành lập nhưng Thái Bình là một trong những tỉnh lớn của xứ Bắc Kỳ ( tài liệu địa chỉ Thái Bình)
Cuốn Thái Bình địa dư ký (hiện còn lưu giữ, ký hiệu A500, Viện Hán Nôm)
là cuốn sách đầu tiên viết về Thái Bình với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh có thể cuốn sách này được viết vào khoảng sau năm 1907
Sự tiến triển của đường bờ biển Thái Bình trong Holoxen muộn - hiện đại và vấn đề quai đê lấn biển (Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 01 năm
1988) của tác giả Nguyễn Đức Khả đã nghiên cứu về cấu tạo đường bờ biển ở Thái Bình các thời kì trong lịch sử Công trình đã cung cấp những thông tin quan trọng
về quá trình lấn biển của Thái Bình, giúp chúng ta hình dung địa hình, lãnh thổ Thái Bình qua các thời kỳ
Công trình Tên làng xã ở Thái Bình của nhóm tác giả Bùi Thọ Ty, Nguyễn
Đình Giốc (Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao Thái Bình xuất bản năm 1990) đã cung cấp những thông tin giá trị về địa danh làng xã ở Thái Bình Từ cách giải thích những địa danh làng xã ở Thái Bình cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta thấy những nét văn hóa làng xã của Thái Bình
Kỷ yếu Hội thảo “Thái Bình truyền thống và hiện đại” (do Sở Văn hóa
-Thông tin Thái Bình, xuất bản 1991) có một số bài viết về làng xã Thái Bình, hương
ước Thái Bình, như bài: “Làng xã Thái Bình trước Cách mạng Tháng 8-1945 (mấy
gợi ý qua nghiên cứu hương ước)” của Nghiêm Văn Thái; “Góp thêm chút ít tư liệu bàn về sự hình thành làng xã ở Thái Bình” của Dương Quảng Châu; hay tham luận
của tác giả Dương Kinh Quốc, với “Việc thành lập tỉnh Thái Bình - Nguyên nhân và
ảnh hưởng trong những năm cuối thế kỷ XIX,… Những bài viết này ở từng góc nhìn,
Trang 30đối tượng khác nhau đã bước đầu nghiên cứu, cung cấp những thông tin giá trị về làng xã, văn hóa, hương ước cải lương ở Thái Bình
Công trình Đất và người Thái Bình của tác giả Bùi Duy Lan (Nxb Thống
kê, Hà Nội, 2003) đã khái quát những nét cơ bản về sự hình thành, tiến trình lịch sử,
đời sống văn hóa, lễ hội, phong tục, tập quán của Thái Bình
Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Nguyễn Đức Nghinh, Phan
Phương Thảo (1997), Hệ thống tư liệu Địa bạ Việt Nam - Địa bạ Thái Bình (Nxb
Thế Giới, Hà Nội) Đây là bộ sách nghiên cứu, biên dịch các địa bạ thời Nguyễn của tỉnh Thái Bình Địa bạ Thái Bình đã cung cấp những thông tin chân xác về các đơn vị hành chính (xã hoặc thôn cũng có khi là ấp, giáp, phường) của tỉnh Thái Bình dưới Triều Nguyễn về các vấn đề: vị trí địa lý, diện tích ruộng đất, các chức dịch kê khai và lập địa bạ,… Những thông tin chân xác từ địa bạ này có vai trò quan trọng giúp dựng lại diện mạo Thái Bình nói chung, làng xã Thái Bình dưới triều Nguyễn
Lễ hội truyền thống ở Thái Bình của Nguyễn Thanh (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, năm 2010), cung cấp những thông tin về các lễ hội lớn ở Thái Bình Các lễ hội này đều gắn với các làng xã và đó chính là một phần quan trọng của đời sống văn hóa làng xã ở Thái Bình
Công trình Địa chí Thái Bình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2010
Công trình là sự tổng hợp tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,… của Thái Bình Vấn đề làng xã, văn hóa làng, Địa chí Thái Bình cũng có những trình bày khái quát về sự hình thành làng xã, đời sống văn hóa làng xã, …
Tài liệu địa chí Thái Bình, nhiều tập, là công trình tập hợp tư liệu, những
chuyên khảo về Thái Bình, từ Sắc phong, tới tục lệ, hương ước, khoán ước, Thần tích, văn bia, đặc biệt là tập hợp một số sách khái quát dạng địa chí về Thái Bình cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XX, bằng cả chữ Hán và tiếng Pháp
Công trình Văn hóa làng ở Thái Bình của Phạm Minh Đức, Phạm Hóa (do
Sở Văn hóa -Thông tin Thái Bình, xuất bản 2010) với nội dung chính là trình bày về
32 làng tiêu biểu ở tỉnh Thái Bình Trong các nội dung trình bày về các làng xã này,
Trang 31công trình cũng có nhiều nội dung phản ánh về hương ước, tục lệ của các làng xã ở Thái Bình
Ngoài ra, có một số luận án nghiên cứu về tỉnh Thái Bình, có thể kể tới như:
Vấn đề thủy lợi ở Thái Bình từ 1883-1945 ( Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Lịch sử,
Đại học Sư phạm Hà Nội, 1996) của Nguyễn Văn Am; Thủy nông trong sự nghiệp
lấn biển ở huyện Tiền Hải, Thái Bình (Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Lịch sử Lịch
sử, Viện Dân tộc học, năm 1996) của Đoàn Đình Thi; Tiền Hải từ sau khi thành lập
(1828) đến cuối thế kỷ XIX (Luận án tiến sĩ Sử học, Viện Sử học, năm 2001) của
Phạm Thị Nết Sự chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình
cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (Luận án tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm 2002) của Phạm Thị Lan, Biến đổi văn hoá làng
dệt Phương La, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (Luận án Tiến sĩ Văn hoá học,
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, năm 2016) của Bùi Thị Dung, Đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo của người Việt vùng đồng bằng Sông Hồng qua hương ước (Luận
văn Thạc sỹ, Đại học Khoa học Xã hội nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006) của Nguyễn Thị Quế Hương,…
* Các công trình trực tiếp viết về hương ước Thái Bình
Xây dựng làng xã văn hóa ở Thái Bình của Sở Văn hóa Thông tin Thể thao
Thái Bình, xuất bản năm 1995 Cuốn sách gồm 2 phần phần 1 trình bày những vấn
đề chung về xây dựng làng xã văn hóa ở Thái Bình, khai thác tiền năng văn hóa làng để xây dựng làng xã văn hóa ở Thái Bình, về hương ước, quy ước của Thái Bình; phần 2 trình bày về quan điểm chỉ đạo, tiến trình, kết quả của việc xây dựng làng xã văn hóa ở Thái Bình Ở các trang từ trang 230 đến 318, cuốn sách giới thiệu một số bản hương ước cải lương của Thái Bình thời cận đại
Bài viết Kho hương ước cải lương hương chính ở Bắc Kì của Cao Văn Biền
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3 năm 1998 (từ trang 73 đến trang 83) Mặc
dù bài viết nghiên cứu chung về hương ước cải lương của Bắc Kì nhưng đã có những thống kê cụ thể về số lượng, sự phân bố của hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình Tuy nhiên việc thống kê số lượng hương ước cải lương ở Thái Bình trong bài viết này
là chưa đầy đủ (tác giả luận án sẽ phân tích kĩ ở chương 2 của luận án này)
Trang 32Hương ước Thái Bình của tác giả Nguyễn Thanh (Nxb Văn hóa Dân tộc,
năm 2000) Đây là công trình nghiên cứu trực tiếp về hương ước của Thái Bình Tác giả đã nêu những nét đại cương về vùng đất con người Thái Bình và những nét khái quát về hương ước (cổ và cải lương) Thái Bình Ba vấn đề lớn (khuyến học, vệ nông, và bảo vệ môi trường), những quy ước cụ thể trong hương ước Thái Bình Giới thiệu toàn văn hai bản hương ước tiêu biểu, đó là hương ước Đại Hữu và hương ước Phi Liệt) Giá trị chính của công trình là các bản hương ước cải lương của Thái Bình được tác giả đưa vào công trình Đặc biệt, công trình cũng đã cho thấy mối quan hệ giữa hương ước cải lương với những hoạt động của bộ máy quản
lý làng xã ở Thái Bình thời cận đại
Luận văn Hương ước với việc xây dựng làng văn hóa ở huyện Quỳnh Phụ,
tỉnh Thái Bình của Dương Xuân Thoan (luận văn thạc sỹ văn hóa học, Đại học Văn
hóa Hà Nội, 2004, 117 trang) Luận văn trình bày những nét khái quát về hương ước cổ truyền, hương ước cải lương, giá trị của các bản hương ước đó đối với công cuộc xây dựng làng văn hóa ở huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình
Nhận diện văn hóa làng Thái Bình của Nguyễn Thanh (Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, năm 2010), đã trình bày những vấn đề tổng quát về làng xã Thái Bình,
về phong tục, tập quán của làng xã Thái Bình, về làng nghề, chợ làng, văn học dân gian, di sản Hán Nôm, lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng,… Trong đó chương 15 trình bày
về Hương ước (trang 643-775) Ở đây tác giả liệt kê một số bản hương ước cải lương của Thái Bình, có một vài nhận định về hương ước cải lương, quan hệ giữa hương ước cải lương với sự thống trị của Pháp ở Thái Bình
1.4 Một vài nhận xét về nguồn tƣ liệu, tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề cần tiếp tục làm rõ
1.4.1 Nhận xét về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Vấn đề làng xã, hương ước, hương ước cải lương nói chung, quản lý làng xã bằng hương ước cải lương nói riêng đã được rất nhiều nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu Một số công trình đã đi sâu nghiên cứu về hương ước cải lương ở một số địa phương cụ thể (như Bắc Ninh, Hà Đông, )
Trang 33Phần lớn các công trình đều phán ánh tầm quan trọng của hương ước, hương ước cải lương trong quản lý xã hội, quản lý làng xã Các nhà nước phong kiến cho các làng xã tự lập hương ước, dựa vào hương ước để giáo dục, giáo hóa, tăng cường
uy quyền của nhà vua, của hệ tư tưởng Nho giáo, trung quân đối với dân làng Chính quyền thực dân Pháp hồi đầu thế kỷ XX nhận thấy vai trò của hương ước đối với việc quản lý làng xã nên đã quy định hình thức, cấu trúc của hương ước, yêu cầu các làng
xã lập hương ước để qua đó nắm lấy làng xã, quản lý chặt chẽ dân cư
Tuy nhiên, có thể nói rằng chúng ta vẫn chưa nhận thức hết về vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương Hai luận án sử học điển hình về hương ước cải lương
đó là: Hương ước cải lương tỉnh Bắc Ninh (1921-1944)(của Nguyễn Thị Huệ, Đại học Sư phạm Hà nội, năm 2016) và Chính sách Cải lương hương chính ở Đồng
bằng Bắc Kỳ và tác động của nó đến đời sống làng xã thời Pháp thuộc (trường hợp tỉnh Hà Đông) của Nguyễn Thị Lệ Hà (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2019)
khai thác sâu về hương ước cải lương ở hai địa phương này nhưng chỉ đề cập đến hương ước cải lương ở Bắc Ninh hoặc Hà Đông mà chưa nói đến hương ước cải lương ở Thái Bình và chưa nói đến khia cạnh quản lý làng xã qua hương ước cải lương như thế nào
Hơn nữa thực tiễn công cuộc cải cách hành chính, công cuộc xây dựng nông thôn mới đang diễn ra hiện nay đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết về công tác quản lý làng
xã Do vậy, tiếp tục đi sâu tìm hiểu về vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương vẫn là việc làm cần thiết, có giá trị khoa học và thực tiễn
Đối với vấn đề quản lý làng xã ở Thái Bình qua hương ước cải lương, qua tiếp xúc tài liệu, chúng tôi nhận thấy:
Thứ nhất, làng xã, hương ước nói chung, hương ước cải lương, quản lý làng xã
ở Thái Bình qua hương ước cải lương nói riêng đã được giới thiệu, nghiên cứu về một số khía cạnh, đã cung cấp một số tư liệu, sự kiện lịch sử, những lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào trình bày có hệ thống, đầy đủ, sâu sắc về vấn đề này Một số công trình trực tiếp trình bày về hương ước cải lương
ở Thái Bình nhưng có những thiếu sót, thống kê, nghiên cứu chưa đầy đủ về hương ước cải lương ở Thái Bình
Trang 34Thứ hai, tính đến thời điểm hiện nay, Hương ước Thái Bình của tác giả Nguyễn
Thanh (Nxb Văn hóa dân tộc, 2000) có thể coi là công trình có tính tổng hợp hơn cả
về hương ước Thái Bình Tuy nhiên, đây chỉ là công trình mang tính tổng hợp tư liệu
mà chưa có sự phân tích về hình thức, nội dung của hương ước Vấn đề quản lý làng
xã ở Thái Bình qua hương ước cải lương chưa được nghiên cứu kĩ lưỡng
Trang 35Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ LÀNG XÃ TRƯỚC NĂM 1921
VÀ HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG Ở THÁI BÌNH 2.1 Khái quát về quản lý làng xã ở Thái Bình trước năm 1921
2.1.1 Khái quát về tỉnh Thái Bình
2.1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, có tọa độ địa lý: 20,17-20,44 độ vĩ Bắc; 106,06-106,39 độ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng Phía Tây, Tây Nam giáp tỉnh Nam Định
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở Thái Bình rất phong phú với trữ lượng tương đối lớn như: khí đốt, sét chịu lửa, cao lanh, nước khoáng,…
Với vị trí địa thế như vậy, nên từ buổi đầu dựng nước, nơi đây đã là chốn dừng chân của lớp người đi khai hoang mở đất
2.1.1.2 Khái quát lịch sử
Theo Bản đồ lịch sử phát triển châu thổ Sông Hồng [54, tr.13] thì đất đai thuộc địa vực Thái Bình có toàn bộ vùng đất hai huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà một phần đất đai phía Tây Bắc huyện Đông Hưng, Vũ Thư, Thụy Anh cũ (nay thuộc
Trang 36huyện Thái Thụy) có lịch sử từ 3.000 - 2000 năm Hầu hết đất đai thuộc các huyện
Vũ Thư, Thụy Anh, phía nam huyện Đông Hưng và phía bắc huyện Kiến Xương có lịch sử từ 2.000 – 1.000 năm Vùng Nam Kiến Xương, Tiền Hải và vùng ven biển huyện Thái Ninh cũ (nay thuộc huyện Thái Thụy) có lịch sử từ 1.000 năm trở lại đây theo xu hướng muộn dần gần như song song với bờ biển hiện nay Những vùng đất có độ tuổi xấp xỉ 1000 năm trở lại đây ngày càng chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng diện tích đất đai của Thái Bình
Thời kỳ Văn Lang, Âu Lạc, vùng đất tỉnh Thái Bình ngày nay thuộc bộ Lục Hải [106, tr.145], thời Bắc thuộc, thuộc hương Đa Cương quận Giao Chỉ
Thời thuộc Hán, vùng đất Thái Bình thuộc huyện An Định quận Giao Chỉ Thời thuộc Đường nằm trong huyện Chu Diên, Châu Giao [106, tr.146]
Thời Đinh, đầu Tiền Lê vùng đất này thuộc Đằng Châu Năm 1005, dưới
thời Lê Long Đĩnh, đổi tên thành phủ Thái Bình Danh xưng Thái Bình có từ đây
Thời nhà Lý, chia cả nước thành 24 lộ, vùng đất này gồm các lộ Kiến Xương, Long Hưng [106, tr.147]
Thời nhà Trần, vùng đất nay là tỉnh Thái Bình gồm các lộ Long Hưng, phủ Kiến Xương, phủ Tân Hưng và lộ An Tiêm Đến cuối thời Trần, lộ An Tiêm lệ thuộc phủ Tân Hưng [106, tr.148]
Thời thuộc Minh đổi phủ Tân Hưng làm phủ An Lạc, phủ Long Hưng đổi làm trấn Man, sau lại đổi phủ trấn Man làm châu trấn Man
Thời Hậu Lê và Tây Sơn, tỉnh Thái Bình ngày nay thời Lê có ba Phủ là Tân Hưng (sau đổi là tiên Hưng), Thái Bình Kiến Xương Thời kỳ đầu nhà Hậu Lê vùng này thuộc Nam đạo Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) thuộc thừa tuyên Thiên Trường, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đổi làm thừa tuyên Sơn Nam, năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi làm xứ Sơn Nam đến giữa năm Hồng Thuận 10 (1510-1516) gọi là Trấn
Thời Mạc, Mạc Ðăng Dung lấy 3 phủ Tân Hưng, Thái Bình, Kiến Xương (Thái Bình), Khoái Châu (Hưng Yên), Thượng Hồng, Hạ Hồng (Hải Dương, Hải Phòng) lập Dương Kinh, vùng đất Thái Bình thuộc về Dương Kinh
Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), chia Sơn Nam làm hai lộ Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ (gồm các phủ Thái Bình, Nghĩa Hưng, Kiến Xương và Tiên Hưng)
Trang 37Thời Tây Sơn (1788 - 1802) vẫn giữ 3 phủ, phủ vẫn kiêm nhiệm các huyện như thời Lê, chỉ đổi tên huyện Thanh Lan thành huyện Thái Ninh
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi Sơn Nam Thượng làm trấn Sơn Nam, Sơn Nam hạ làm trấn Nam Định Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đem phủ Tiên Hưng
lệ thuộc vào tỉnh Hưng Yên, phủ Kiến Xương, phủ Thái Bình lệ thuộc vào tỉnh Nam Định [106, tr.149] Huyện Thanh Lan đổi gọi là huyện Thanh Quan và tách khỏi phủ Tiên Hưng, lệ vào phủ Kiến Xương thuộc tỉnh Nam Ðịnh Năm Tự Ðức thứ 3 (1850) lại đưa huyện Thanh Quan lệ vào phủ Thái Bình Cùng thời gian lại tách phủ Thái Bình làm hai: phủ Thái Bình kiêm quản các huyện Thanh Quan, Ðông Quan, Thụy Anh Phân phủ Thái Bình quản hai huyện Quỳnh Côi, Phủ Dực
Tháng 9 năm 1828, huyện Tiền Hải được thành lập trên cơ sở số diện tích mới được mở cộng với tổng Ðại Hoàng của huyện Chân Ðịnh, tổng Tân Bồi của huyện Thanh Quan và tổng Hà Cát của huyện Giao Thủy (Nam Ðịnh)
Ngày 21/03/1890, toàn quyền Ðông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Thái Bình, gồm các huyện: Thanh Quan, Thụy Anh, Ðông Quan, Trực Ðịnh, Thư Trì,
Vũ Tiên, Tiền Hải, Phụ Dực, Quỳnh Côi (thuộc Nam Ðịnh) và huyện Thần Khê (thuộc Hưng Yên) [110]
Ngày 9 tháng 2 năm 1893, thành lập Tổng Thuận Vi trong huyện Thư Trì [113]
Từ ngày 26 tháng 7 năm 1893, huyện Quỳnh Côi được sáp nhập thêm 5 làng: Đông Quỳnh, Tân Mỹ, Hy Hà, Đông Châu và Hà Lang của tỉnh Hưng Yên [113]
Từ ngày 9 tháng 8 năm 1894, theo Quyết định của Kinh lược Bắc Kì, tổng Tân Bồi huyện Tiền Hải bên tả ngạn sông Trà Lí được sáp nhập vào huyện Thanh Quan [114]
Năm Thành Thái thứ 6 (1894) cắt thêm 2 huyện Hưng Nhân, Duyên Hà (thuộc Hưng Yên) nhập trở lại Thái Bình Lúc này, tỉnh Thái Bình với tư cách là tỉnh - đơn vị hành chính độc lập gồm 3 phủ: Tiên Hưng, Kiến Xương, Thái Ninh và
12 huyện: Duyên Hà, Hưng Nhân, Tiên Hưng, Thụy Anh, Ðông Quan, Thái Ninh, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thư Trì, Vũ Tiên, Trực Ðịnh, Tiền Hải
Nghị định của Thống sứ Bắc kì ngày 20 tháng 4 năm 1912, phủ Thái Ninh được đổi thành huyện Thái Ninh [115]
Trang 38Theo cuốn “Địa dư các tỉnh Bắc Kì” năm 1930, tỉnh Thái Bình có diện tích
), gồm 3 phủ: Kiến Xương, Thái Ninh và Tiên Hưng,
9 huyện: Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Đông Quan, Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Duyên Hà và Hưng Nhân, 95 tổng và 820 xã [56, tr.101] “Năm 1933, Thái Bình có
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ngày 10/04/1946, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bỏ đơn vị tổng đổi phủ thành huyện Toàn tỉnh lúc này có 12 huyện, 1 thị xã với 829 xã, thôn
Sau năm 1954, tỉnh Thái Bình có 13 đơn vị hành chính gồm thị xã Thái Bình
và 12 huyện: Đông Quan, Duyên Hà, Hưng Nhân, Kiến Xương, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Thái Ninh, Thư Trì, Thụy Anh, Tiền Hải, Tiên Hưng, Vũ Tiên
Ngày 17 tháng 6 năm 1969, 2 huyện Đông Quan vā Tiên Hưng hợp nhất thành huyện Đông Hưng; 2 huyện Hưng Nhân, Duyên Hà và 5 xã: Bắc Sơn, Đông Đô, Hòa Bình, Chi Lăng và Tây Đô của huyên Tiên Hưng hợp nhất thành huyện Hưng Hà; 2 huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực hợp nhất thành huyện Quỳnh Phụ; 2 huyện Thái Ninh và Thụy Anh hợp nhất thành huyện Thái Thụy; 2 huyện Vũ Tiên và Thư Trì hợp nhất thành huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình còn 1 thị xã và 7 huyện Ngày 29 tháng 4 năm 2004, thị xã Thái Bình được nâng lên thành thành phố Thái Bình
2.1.1.3 Dân cư, truyền thống văn hóa
Theo kết quả Tổng Điều tra Dân số và nhà ở năm 2019, Thái Bình có: 1.860
447 người Số dân thành thị: 196.422, số dân nông thôn: 1.664.025 Dân tộc Kinh: 1.856.826, các dân tộc khác: 904.574, dân tộc khác: 3.621 người Mật độ dân số của tỉnh là 1173 người/ km [2, tr.68-71]
Thời cận đại, theo thống kê dân số và mật độ dân số của Thái Bình tăng lên khá nhanh Năm 1921 mới chỉ có 871.651 người thì đến năm 1938, dân số Thái
Điểm nổi bật trong cư dân Thái Bình là người Kinh chiếm tỉ lệ tuyệt đối Cư dân Thái Bình là cư dân nông nghiệp, mang trong mình văn hóa nông nghiệp đặc trưng của đồng bằng sông Hồng
Trang 39
Người dân Thái Bình cần cù, thông minh, sáng tạo, đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau, khắc phục khó khăn bền bỉ, san ghềnh, lấp trũng, đào sông, đắp
đê, thau chua rửa mặn, mở đất, lập làng Thái Bình là vùng đất văn hiến, khoa bảng nổi trội, thời nào cũng có nhân tài, người đỗ đại khoa, tiêu biểu là Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ; Bảng nhãn Lê Quý Đôn,
đầu dựng nước, năm 40, vùng đất Thái Bình là nơi nữ tướng Vũ Thị Thục dấy binh khởi nghĩa dưới cờ Hai Bà Trưng Thế kỷ thứ X, vùng đất Bố Hải Khẩu (nay thuộc tỉnh Thái Bình) được Trần Lãm chọn làm nơi nương tựa cho Đinh Bộ Lĩnh thống nhất giang sơn Thái Bình là nơi phát tích, dựng nghiệp của nhà Trần Thời Pháp thuộc, nhân dân Thái Bình hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy,… Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, “hơn 50 vạn người con Thái Bình đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường” [105, tr.435] Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các thế hệ tiền nhân xưa đã để lại trên đất Thái Bình hàng nghìn di tích văn hóa đặc sắc: đình, đền, miếu, chùa, từ đường, văn chỉ… “Hiện tại toàn tỉnh Thái Bình có 2969 di tích đã được kiểm kê, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 115 di tích quốc gia” [107] Thái Bình cũng là một vùng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng mà lễ hội truyền thống đã có và hiện còn ở Thái Bình đáng được xem là tiêu biểu về số lượng, đa dạng về loại hình với khoảng 200 lễ hội được lưu giữ Hiện Thái Bình có 8 lễ hội [107] được vinh danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: hội chùa Keo (Vũ Thư), lễ hội đền Trần (Hưng Hà), hội đền
3
Theo thống kê năm 2018, Thái Bình có 290 làng nghề được cấp bằng công nhận như: chạm bạc Đồng Xâm, thêu Minh Lãng, …
Trang 40Những di vật khảo cổ học phát hiện được ở Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy phản ánh rằng vùng đất phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh cách đây hơn 2.000 năm đã có
cư dân đến sinh sống khai hoang đất đai phát triển nghề trồng lúa nước và đánh bắt cá
Đến thế kỷ thứ VI, công việc khai hoang ở các địa phương vùng hạ lưu sông Hồng trong đó có vùng đất Thái Bình được đẩy mạnh một bước Đến thế kỷ thứ XI, vùng đất này trở thành "vựa lúa của cả nước" [105, tr.641]
Dưới thời Lý, Trần việc khai hoang được thuận lợi nhiều trang, ấp làng xóm mới ra đời nhiều nhất là ở vùng Hưng Nhân, Duyên Hà, Quỳnh Côi, Phụ Dực
Dưới nước thời Lê Sơ, công cuộc khai hoang ở lại càng được đẩy mạnh Theo ghi chép của Nguyễn Trãi trong Địa dư chí năm 1435, số lượng làng xã ở Thái Bình là trên 463 đơn vị, trong đó có 457 xã, 2 thôn, 2 trang, 2 bãi [105, tr.642]
Thế kỷ XIX, công cuộc khai hoang ở bãi Cồn Tiên được thực hiện nhanh chóng chỉ trong 6 tháng đã lập nên 7 tổng, 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp với 18.970 mẫu ruộng, 8.000 mẫu đất, 2.350 xuất đinh, đưa tới sự ra đời của huyện Tiền Hải [105, tr.646] Cùng thời gian này nhiều vùng đất khai hoang của huyện Thụy Anh được khai phá Đầu thế kỷ XIX, tổng số làng xã của Thái Bình thời gian này, theo
Các tổng trấn xã danh bị lãm là 602 xã, thôn, trang, phường, sở (nằm trong 03 phủ,
11 huyện) [105, tr.153] Thập kỷ 80 của thế kỷ XIX, số làng xã của Thái Bình theo
Đồng Khánh địa dư chí là 627 xã, thôn, trang, trại, giáp, lý (nằm trong 03 phủ, 01
phân phủ, 12 huyện, 89 tổng) [105, tr.155] Năm 1893, theo tài liệu của Tòa sứ Thái Bình, thì tỉnh này có 548 xã (nằm trong 02 phủ, 10 huyện, 79 tổng) [105, tr.153]
Đầu thế kỷ XX, Nguyễn Thanh trong cuốn Nhận diện văn hóa làng Thái
Bình đưa ra bản thống kê 995 làng xã ở Thái Bình từ đầu thế kỷ XIX đến cách mạng
tháng Tám năm 1945 [89, tr.795-841] Theo thống kê của P.Gourou, năm 1926 Thái
Bình có 814 [105, tr.127] làng xã (xem thêm Phụ lục 6) Trong cuốn Địa danh Thái
Bình xưa nay đưa ra bản thống kê gồm 820 làng xã ở Thái Bình ở giai đoạn những
năm 30 của thế kỷ XX [90, tr.156-187] Địa chí Thái Bình cũng đưa ra con số là
819 xã nhưng không có thống kê cụ thể Chúng tôi thống kê từ quyển Tên làng xã
và địa dư các tỉnh Bắc kỳ của Ngô Vi Liễn thì đến trước cách mạng tháng Tám năm
1945, tỉnh Thái Bình có 819 làng xã [56, tr.101] Ở luận án này, tác giả lấy con số