1 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lí do chọn đề tài Với vai trò là cấp học nền tảng, giáo dục tiểu học là nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể.
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Với vai trò là cấp học nền tảng, giáo dục tiểu học là "nhằm giúp học sinhhình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạođức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh học tiếp trunghọc cơ sở" Do đó, mục đích giúp học sinh có những kĩ năng, kiến thức đặc biệt
là kiến thức toán học có vị trí rất quan trọng, đó cũng là công cụ cần thiết chocác môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạtđộng có hiệu quả trong thực tiễn
Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng pháttriển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyệnphương pháp suy nghĩa, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề
có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển tríthông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt góp phần giáo dục ý chí nhẫnnại, ý chí vượt khó khăn Vấn đề đặt ra là dạy và học toán như thế nào để vai tròcủa toán học được phát huy và có tác dụng thiết thực
Theo tôi các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí,mục đích và mục tiêu giáo dục của môn toán ở bài học nói chung và trong giờdạy toán ở từng lớp nói riêng Nó không chỉ là cách thức truyền thụ kiến toánhọc, rèn kỹ năng giải toán mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động nhậnthức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một cách khoa học, hiệuquả cho học sinh Chúng ta biết rằng, sản phẩm của giáo dục khác với sản phẩmcủa người thợ may, thợ mộc sản phẩm của giáo dục là đào tạo ra những conngười biết sáng tạo Vì vậy việc lựa chọn, sử dụng ưu thế của từng PPDH saocho phù hợp với mục tiêu, nội dung ở từng loại bài học, ở từng lớp học, ở từnggiai đoạn dạy học nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của họcsinh phải là một nghệ thuật, bản thân người GV cũng phải luôn học hỏi, sángtạo
Trang 2Như vậy, vị trí và nhiệm vụ của môn toán là vô cùng quan trọng Song,qua thực tế giảng dạy tại đơn vị, bản thân tôi thấy nhiều GV vẫn chưa xác địnhđúng vai trò của môn học, chưa nghiên cứu bài dạy kĩ lưỡng, chưa tìm ra cáchdẫn dắt HS tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức bài học chủ động Sử dụng đồ dùngchưa linh hoạt, chưa hiệu quả; chưa chú ý đến các đối tượng HS trong lớp, chưakhai thác hết ý đồ của sách giáo khoa Nhiều GV chỉ gọi một số HS hay phátbiểu, vẫn còn HS chưa tập trung vào bài học, những kĩ năng toán cần phát huycho đối tượng HS có năng lực toán chưa được chú ý, dạy học theo nhóm cònmang tính hình thức, bao quát lớp chưa tốt…
Mặt khác, từ 6/11/2016, Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT hướng dẫncách đánh giá HS tiểu học có hiệu lực Với cách kiểm tra định kì theo 4 mức độnhư hướng dẫn của Thông tư, GV cần phải có sự điều chỉnh trong cách dạy học,chú ý phát huy tính tích cực sáng tạo trong dạy học, giúp HS hiểu sâu, rèn luyệntốt các kĩ năng của bài học Vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờdạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ độngsáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học Vậy giáo viên phải có phươngpháp dạy học như thế nào để truyền đạt kiến thức, phát triển năng lực toán cho
HS, góp phần thực hiện tốt mục tiêu bộ môn này tới học sinh tiểu học Với suynghĩ đó, trong quá trình dạy học ở lớp 4, tôi đã đi sâu vào tìm tòi, thực nghiệm
và rút ra được " Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Toán lớp 4."
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ quan điểm chương trình cần thực hành, vận dụng nên nóichung nội dung chương trình Toán đã tinh giảm, tập trung vào các kiến thức kỹnăng cơ bản bám sát thực tế, tích hợp được nhiều kĩ năng Để HS vận dụng tốtcác kĩ năng bài học thì các em phải hiểu bản chất của các đơn vị kiến thức đượchọc rồi nhớ và luyện tập, vận dụng.Muốn vậy, vai trò hướng dẫn của GV để HSchủ động tìm ra kiến thức là rất quan trọng Nhằm mục đích tìm ra con đường,cách thức phù hợp nhất cho các đối tượng học sinh, để giúp học sinh tự chiếmlĩnh kiến thức bằng cách đi từ cái đã biết, tư duy, tìm tòi để tự tìm ra kiến thức
Trang 3mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên Với mong muốn tích lũy kinh nghiệm quacác tiết dạy để HS tự chiếm lĩnh kiến thức môn Toán một cách nhẹ nhàng, dễhiểu Giúp HS chủ động lĩnh hội kiến thức, từ đó hiểu sâu, nhớ lâu, phát huytính tư duy sáng tạo cho HS, biến những ý nghĩ "học Toán thật là khó" của một
số học sinh thành hứng thú học Toán chính là mục đích của đề tài này
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các phương pháp dạy học, các kĩ thuật dạy học tích cực Ápdụng các kinh nghiệm dạy học của bản thân từ đó tìm ra các biện pháp, kĩ thuậtphù hợp, hiệu quả nhất để phát huy tính tích cực của HS trong dạy học mônToán lớp 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Nghiên cứu tài liệu:
Nắm bắt hệ thống các bài học trong chương trình Toán 4, nắm vững mụctiêu môn học, tiết học, lựa chọn các biện pháp phù hợp
Nghiên cứu tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên TH13, TH14,TH15
Tham khảo qua các tài liệu đổi mới phương pháp giáo dục phục vụ dạyhọc Toán nói chung, Toán 4 nói riêng
Tham khảo các tạp chí giáo dục
Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn làm đồ dùng dạy Toán
Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT hướng dẫn cách đánh giá HS tiểu học.Tham khảo các thông tin, nguồn tài liệu toán học trên Internet
1.4.2 Nghiên cứu thực tế.
Tiến hành ra đề và khảo sát để lấy số liệu đối chứng
Nắm bắt, phân loại đối tượng HS
Thực hành lập kế hoạch bài học để áp dụng Chuẩn bị đồ dùng hạy học.Thực hiện dạy học thực nghiệm trên lớp theo kế hoạch
Dự giờ trao đổi với đồng nghiệp để so sánh, đối chiếu việc áp dụng cácbiện pháp dạy học thuộc phạm vi nghiên cứu
Trang 4Ghi chép, tích lũy các biện pháp qua thực tế giảng dạy để đúc rút kinhnghiệm.
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Trên cơ sở sáng kiến kinh nghiệm của năm học trước, qua thực tế vậndụng tại lớp dạy, sáng kiến được bổ sung thêm hai biện pháp dạy học nhằmphát huy tính tích cực của học sinh trong môn Toán lớp 4 là:
Biện pháp 5: Khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải trong một bài toánnhắm phát huy tính sáng tạo, khả năng phát hiện của học sinh
Biện pháp 6: Khai thác sâu các bài tập trong sách giáo khoa nhằm phát triển tưduy và gây hứng thú học tập cho học, để dạy học đến cá thể học sinh
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sang kiến kinh nghiệm
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổimới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến cách thứcđánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới PPDH Mục đíchcủa đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo; rènluyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiếnthức vào các tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn; có niềm vui vàhứng thú trong học tập
Phương pháp dạy học là lĩnh vực phức tạp và đa dạng Hiện có nhiều tàiliệu, nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về PPDH ở Tiểu học nói chung,PPDH Toán nói riêng Điều đó, một mặt tạo cơ hội cho GV được tiếp cận vớinhiều nguồn thông tin phong phú, đa dạng, nhưng mặt khác cũng gây lúng túngcho một số GV trong quá trình thực hiện đổi mới PPDH
Từ mục đích đổi mới PPDH, giáo viên cần căn cứ vào nội dung , tính chấttừng bài; căn cứ vào trình độ học sinh, sở trường của GV và điều kiện hoàn cảnhcủa lớp học mà có những cách thức, biện pháp phù hợp giúp HS lĩnh hội kiếnthức, kết hợp sử dụng các PPDH một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả
Trang 52.2 Thực trạng của vấn đề
2.2.1 Về phía giáo viên:
Việc đổi mới PPDH đã được thực hiện trong nhiều năm qua Trong thực
tế dạy học vẫn còn một số GV chưa chú ý đúng mức tới việc vận dụng ưu điểm
và phối hợp các PPDH như thế nào cho phù hợp với đối tượng học sinh củamình Nguyên nhân là do giáo viên chưa nghiên cứu kĩ các phương pháp, kĩthuật cần thiết và tích cực áp dụng cho từng bài dạy, Tổ chức các hình thức dạy
và học chưa phong phú, chưa đạt được hiệu quả Do vậy, chưa lôi cuốn được sựtập trung chú ý nghe giảng của học sinh, chưa kích thích được khả năng tư duycủa HS Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, truyền đạt kiến thứccòn mang tính áp đặt, giảng giải, đơn điệu
Nội dung mỗi bài học thường nằm ngay trong tiêu đề bài học GV chưachú ý đúng mức đến việc giúp HS hiểu nghĩa của các từ ngữ trong đầu bài, chưachú ý đến ý nghĩa thực tế của bài toán Quá trình dẫn dắt khai thác nội dungchưa logic, chưa tạo ra những tình huống có vấn đề để HS tự nhớ lại kiến thức
cũ vận dụng làm bài, chủ động, sáng tạo trong tư duy để tìm ra kiến thức mới,vận dụng các hình thức dạy học còn mang tính hình thức Trong thực hành GVcũng chưa khai thác hết những đơn vị kiến thức cần củng cố, những kiến thứccần mở rộng hay chốt lại cách thực hiện
Việc sử dụng đồ dùng dạy học không kém phần quan trọng Đồ dùng dạyhọc phong phú, mới lạ, hay đơn giản đều phải có tác dụng thu hút các giác quan,tăng sự chú ý của học sinh vào bài giảng Điều quan trọng là phải tạo chỗ dựacho quá trình suy nghĩ, tri giác tiếp theo Những đồ dùng dạy học càng thu hút
và huy động được nhiều các giác quan của học sinh thì càng có hiệu quả Một sốgiáo viên chỉ vẽ hình và cho học sinh quan sát, tìm kiến thức mới trên hìnhKhông cho các em thao tác và như thế các em chỉ huy động được giác quan thịgiác (nhìn lên bảng) và thính giác (nghe cô giảng bài) Thực tế, một số giáo viên
ít dành thời gian cho việc nghiên cứu, chuẩn bị thiết bị, đồ dùng dạy học phục
vụ cho tiết dạy đạt hiệu quả dẫn tới việc tiếp thu bài môn Toán chưa cao
2.2.2 Về phía học sinh:
Trang 6Qua giảng dạy tôi thấy, rất nhiều HS chưa tìm thấy hứng thú học Toán,ngại học toán Học sinh chưa chịu khó, tích cực tư duy, suy nghĩ, tìm tòi trongquá trình học Cho nên sau khi học xong bài, các em chỉ nắm được lượng kiếnthức thầy giảng theo kiểu ghi nhớ máy móc, làm bài theo các bước, không thểgiải thích được các bước giải, hoặc rất nhanh quên và kỹ năng tính toán hạn chế.
Ví dụ: Khi học xong các các phép tính với phân số các em vẫn còn nhầmlẫn: cộng hai phân số cùng mẫu số cũng quy đồng rồi cộng tử số, có khi nhânphân số các em cũng quy đồng mặc dù khi học xong bài mới các em vân dụnglàm bài rất tốt Hoặc nhầm lẫn giữa các bước làm của các bài toán điển hình,giữa các tính chất được học trong chương trình
Trước thực trạng trên, trong quá trình dạy học tôi nghiên cứu, đúc rút kinhnghiệm, vận dụng các phương pháp dạy học trong chương trình toán 4, trongtừng bài học để HS tiếp thu bài chủ động, tích cực
Để phục vụ cho việc nghiên cứu sáng kiến, tôi tiến hành khảo sát chấtlượng học sinh lớp 4A6 đầu năm học để đối chiếu chất lượng Kết quả khảo sátmôn Toán như sau:
Tổng số
học sinh
Điểm(9 - 10 )
Điểm( 7 - 8 ) Điểm ( 5 - 6 )
Điểm( Dưới 5 )
Trong chương trình Toán 4, tên đầu bài chính là kiến thức trọng tâm củabài Khi dạy học bài mới, GV cần chú ý giải nghĩa các thuật ngữ toán học mới
mà HS lần đầu làm quen Liên hệ với các từ ngữ chứa các thuật ngữ thườngdùng trong cuộc sống Kể thêm cho HS biết về những mẩu chuyện vui ứng dụnghay nguồn gốc của kiến thức bài học Điều này sẽ giúp HS định hình và hiểu vấn
Trang 7đề bài học tốt hơn, yêu thích học Toán hơn Tùy thuộc vào từng bài học mà GV
có thể chọn thời điểm giải nghĩa hay liên hệ cho phù hợp
Ví dụ: Bài “Phân số”
Đây là bài học mà lần đầu tiên HS được tiếp xúc với thuật ngữ "phân số".Sau khi cho HS nhận biết phân số cần giải thích để HS hiểu : Phân số là chỉ cácphần của đơn vị hoặc các đơn vị So sánh với số tự nhiên để thấy số tự nhiên chỉ
số lượng các đơn vị Kể thêm: “ Khi loài người bắt đầu có sự phân hóa giàunghèo thì cũng là lúc nhu cầu đếm và chia phát sinh Để chia cho kết quả côngbằng, phân số được ra đời Lịch sử ghi nhận phân số được đưa thành kí hiệuToán học đầu tiên là của người Ai Cập cách đây khoảng 3.650 năm Lúc đó, cácphân số đều chỉ có tử số là 1, các mẫu số là số tự nhiên lớn hơn 0 Ngày ấy, loàingười thống nhất gọi đó là những phân số Ai Cập.”
Ví dụ: Bài "Quy đồng mẫu số các phân số"
Đây cũng là bài học mà lần đầu tiên HS được tiếp xúc với thuật ngữ "quyđồng" Sau khi giới thiệu bài học, GV cần giúp HS hiểu nghĩa của từ này bằngcách Tìm hiểu nghĩa của từng từ: "quy" là gom lại, đưa về, tính về ,"đồng" là
"cùng" ,"quy đồng" trong toán học được hiểu là tính về cùng Vậy "quy đồngmẫu số" là tính về cùng mẫu số ( làm cho các mẫu số giống nhau)
Ví dụ: Bài "Tính chất giao hoán của phép cộng"
Thuật ngữ " tính chất giao hoán" cũng là lần đầu tiên HS được tiếp xúc
Vì tên thuật ngữ này liên quan đến nội dung tính chất nên GV cần giúp HS hiểunghĩa của từ ngay từ đầu bài học: "giao hoán" là trao đổi vị trí từ đó hiểu nộidung tính chất giao hoán của phép cộng là thay đổi vị trí ( đổi chỗ) các số hạngtrong phép cộng Điều đó giúp HS hiểu do chỉ thay đổi vị trí các số hạng chứkhông phải thay đổi các số hạng nên tổng không thay đổi Thực tế rất nhiều HSnêu tính chất sai: “ Khi thay đổi các số hạng trong một tổng thì tổng khôngthay đổi”
Ví dụ: Bài "Tỉ lệ bản đồ"
Trước tiên cần cho HS hiểu nghĩa của từ “ bản đồ” là hình vẽ thu nhỏ mộtkhu vực hay toàn bộ bề mặt Trái Đất theo một tỉ lệ nhất định.Vậy khi thu nhỏ thì
Trang 8có sự chênh lệch về kích thước của vật trên hình vẽ và kích thước của vật thật.Vậy “ tỉ lệ bản đồ” là tỉ số giữa kích thước của vật trên hình vẽ ( bản đồ) vớikích thước vật thật của nó Tỉ lệ bản đồ cũng cho ta biết vật thật đã được thu nhỏkích thước bao nhiêu lần Việc hiểu nghĩa các thuật ngữ này giúp HS hiểu về ýnghĩa của kiến thức bài học, là kiến thức quan trọng cho việc tiếp thu và vậndụng giải các bài toán về ứng dụng tỉ lệ bản đồ.
Có thể nói, việc HS hiểu nghĩa của các thuật ngữ toán học sẽ giúp HS cónhiều thuận lợi trong quá trình hình thành hoặc tìm ra kiến thức mới và như vậyviệc ghi nhớ kiến thức cũng tốt hơn
Biện pháp 2: Giúp học sinh phát hiện, tự chiếm lĩnh kiến thức và hiểu sâu kiến thức trọng tâm của bài học Đúc rút thành các bước giải, công thức giải.
Đối với các bài học là bài nhận biết kiến thức mới, GV cần tạo ra các tìnhhuống có vấn đề, giúp HS tự phát hiện vấn đề của bài học rồi sử dụng kiến thức
đã học, kinh nghiệm của bản thân (hoặc kinh nghiệm của các bạn trong nhómnhỏ) để tìm mối liên hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết, từ đó tự tìmcách giải quyết vấn đề
Chẳng hạn dạy bài “ Chia hai số có tận cùng là các chữ số 0 ” (SGK Toán
4 trang 80)
* GV đưa ví dụ 1: 320 : 40 = ?
Yêu cầu HS nhận xét đặc điểm của số bị chia, số chia để nhận ra phépchia hai số có tận cùng là các chữ số 0 Đây là vấn đề cần giải quyết Việc yêucầu HS tìm thương của phép chia này là tình huống gợi vấn đề, là yêu cầu nhậnthức mà HS chưa thể giải quyết được ngay, nhưng bằng vốn kiến thức đã học, sựhướng dẫn của GV thì HS có thể tìm ra cách làm Có thể hướng dẫn như sau:
+ Bước 1: Định hướng cho HS vận dụng tính chất chia một số cho mộttích để tìm kết quả
320 : 40 = 320 : ( 10 x 4)
= 320 : 10 : 4
Trang 9= 32 : 4
= 8+ Bước 2: HS nhận xét nhận ra 320 : 40 = 32 : 4 Đây là vấn đề của bàihọc mà GV cần giúp HS phát hiện GV tổ chức cho HS hợp tác, trao đổi nhómnhỏ để nhận thấy phép chia 320 : 40 đã được rút gọn thành phép chia 32 : 4 HSphải lí giải được số bị chia, số chia đã cùng giảm 10 lần, và khi cùng giảm nhưvậy thì thương không thay đổi
+ Bước 3: Rút ra nhận xét: Khi chia 320 : 40 ta có thể cùng xóa một chữ
số 0 ở tận cùng của số bị chia, số chia , rồi chia như thường
Với cách làm trên, HS vừa chủ động chiếm lĩnh kiến thức, vừa hiểu bảnchất cách làm mà không tiếp thu thụ động theo hướng dẫn từng bước của GV
* Ví dụ 2: 32000 : 400 = ?
HS có thể vận dụng những hiểu biết ở ví dụ 1 để tìm thương của phépchia này
Trong thực tế giảng dạy, tôi đã gặp 2 trường hợp xảy ra:
Trường hợp 1: Những HS có khả năng phát hiện vấn đề thực hành và tìm ngayđược kết quả của phép tính Các em đã giảm số bị chia và số chia 100 lần bằngcách cùng xóa ở số chia và số bị chia mỗi số hai chữ số 0
Trường hợp 2: Những HS tiếp thu chậm hơn thì thực hiện tuần tự như ví dụ 1
Như vậy, việc HS tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề ở ví dụ 1 đã giúp
HS hiểu sâu ví dụ 1, là cơ sở cho sự liên tưởng đến cách giải quyết vấn đề của ví
dụ 2
Có thể nói, việc giúp HS tự mình phát hiện và tự giải quyết vấn đề sẽ giúp
HS tiếp thu kiến thức nhanh, hiệu quả và ghi nhớ lâu vì đó là trải nghiệm củacác em
Trang 10Bên cạnh đó, GV cần sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi giúp HS hiểu và rút raghi nhớ nội dung bài học Bởi lẽ trong quá trình học, HS phát hiện và tìm cáchgiải quyết vấn đề theo suy nghĩ của mình hoặc của nhóm HS có thể nhớ cácbước làm của sách khi chuẩn bị bài nhưng chưa hiểu mục đích, ý nghĩa của từngbước, trình tự các bước Vì vậy, cần có sự hướng dẫn của GV bằng hệ thống câuhỏi lo gic phù hợp, nhằm hướng HS thực hiện nhiệm vụ học tập, giúp HS hiểuđúng và hiểu sâu nội dung bài học.
Ví dụ trong bài “ Chia hai số có tận cùng là các chữ số 0 ” như đã đề cập
ở trên
Sau khi HS phát hiện ra 320 : 40 = 32 : 4, GV đưa ra một số câu hỏigiúp HS hiểu tại sao 320 : 40 = 32 : 4
Ở ví dụ1 Có thể hỏi như sau:
Câu 1: Số bị chia và số chia đã thay đổi như thế nào ? ( Cùng giảm 10 lần).Câu 2: Khi cùng giảm số bị chia, số chia cùng một số lần như nhau (10lần) thì thương như thế nào? ( Thương không thay đổi)
Câu 3: Khi chia 320 :40 ta có thể thực hiện như thế nào cho thuận tiện?( Cùng bớt ở số chia và số bị chia một chữ số 0 )
Nhưng sang ví dụ 2, GV không dùng câu hỏi như ví dụ 1 nhưng HS vẫn
có thể hiểu, giải thích cách làm của mình như ví dụ1
Để giúp HS hiểu sâu hơn nội dung bài học, GV có thể đặt câu hỏi:
Câu 1: Khi cùng xóa 1,2,3 chữ số 0 ở tận cùng của số chia, số bị chiacủa một phép chia để được một phép chia mới thì thành phần nào của phép chiathay đổi, thành phần nào không thay đổi? ( Số bị chia, số chia và số dư trongtrường hợp chia có dư thay đổi vì cùng giảm 10,100, 1000 lần Thương khôngthay đổi.)
Trả lời được câu hỏi này là cơ sở để HS có thể xác định được số dư trongphép chia trường hợp chia có dư Đây là yêu cầu cao hơn, kích thích sự tư duy,
mở rộng kiến thức cho đối tượng HS có khả năng tư duy tốt
Trang 11Câu 2: Khi thực hiện phép chia nên xóa chữ số 0 ở số nào trước? ( xóa ở
số chia trước, làm vậy sẽ tránh nhầm lẫn trong trường hợp số bị chia có nhiều chữ
số 0.)
Những định hướng về kiến thức cần khai thác và cách dẫn dắt của GVnhư trên, ngoài việc giúp HS hiểu bản chất của cách thực hiện, ghi nhớ cách làmcòn là cơ sở cho việc giải các bài toán củng cố và mở rộng có liên quan đến chiahai số có tận cùng là chữ số 0
Từ ghi nhớ bài học “ Chia hai số có tận cùng là các chữ số 0 ” GV địnhhướng để HS rút ra các bước thực hiện sẽ giúp HS dễ nhớ hơn là đọc thuộc quytắc:
Bước 1: Cùng xóa một, hai, ba,… chữ số 0 ở tận cùng của số chia, số bịchia.( xóa số chia trước)
Bước 2: Chia như thường
Đối với các bài học khác nếu có thể GV cũng chuyển quy tắc thành cácbước làm phù hợp sẽ giúp việc ghi nhớ của HS dễ dàng hơn
Ví dụ: Bài "Ứng dụng của tỉ lệ bản đồ" (SGK Toán 4 trang 156)
Đây là hai bài toán liên quan đến tỉ lệ bản đồ Từ kiến thức của bài “ Tỉ lệbản đồ” HS đã biết ý nghĩa của tỉ lệ bản đồ và các thành phần trong tỉ lệ bản đồ
Ví dụ; tỉ lệ bản đồ 1: 300 cho biết độ dài thu nhỏ là 1 đơn vị đo độ dài( cm,dm, ) ứng với độ dài thực tế là 300 đơn vị đo độ dài ( cm, dm,…), và độ dài thật
đã được thu nhỏ 300 lần.( 300 còn gọi là số lần thu nhỏ) Từ đó HS sẽ có cơ sởlập luận các bước giải, giải được bài toán và rút ra công thức chung:
Trong chương trình Toán 4 có hai bài toán về "Ứng dụng của tỉ lệ bảnđồ” GV cần phân biệt cho HS hai bài toán ứng dụng liên quan là: Tìm độ dàithật và tìm độ dài thu nhỏ ( độ dài trên bản đồ) bằng cách giải như sau:
Độ dài thật = Độ dài thu nhỏ × số lần thu nhỏ
Độ dài cần thu nhỏ = Độ dài thật : số lần thu nhỏ ( Độ dài thật cùng đơn
vị với độ dài cần thu nhỏ)
Thực tế áp dụng, HS phân biệt và nhớ hai bài toán ứng dụng rất tốt