BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN MÔN: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU Đề tài: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
MÔN: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Đề tài:
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA GIỚI TRẺ
HIỆN NAY
Lớp học phần: DHDTVT15A – 420300319801
Nhóm: 4
GVHD: Lý Thanh Bình
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
MÔN: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Đề tài:
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA GIỚI TRẺ
HIỆN NAY
Lớp học phần: DHDTVT15A – 420300319801
Nhóm: 4
Trang 3Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2022
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh phát triển của khoa học và công nghệ, con người ngày càng có thêm nhiều tiện ích mới trong liên kết và giao tiếp xã hội Mạng xã hội trực tuyến ra đời đã mở
ra một bước ngoặc lớn trong giao tiếp Sức hấp dẫn của mạng xã hội đã khiến nó dần trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống của người dân, nhất là giới trẻ (Theo Trịnh Hòa Bình, 2015)
Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy và sử dụng hàng trăm mạng xã hội khác nhau như: Facebook, Youtube, Twitter, MySpace… Mỗi mạng xã hội đều có những thành công nhất định dựa trên sự phù hợp về yếu tố địa lý, văn hóa Tại Việt Nam cũng có những mạng xã hội rất thành công như: Zing Me, YuMe, Tamtay… (Theo Bùi Thu Hoài, 2014) Trong thời đại được gọi là “Thế giới phẳng”, chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích mà mạng xã hội mang lại (Theo Bùi Thu Hoài, 2014) Mạng xã hội cho phép người dùng truy cập thông tin một cách nhanh chóng, khối lượng thông tin phong phú liên tục được cập nhật, cung cấp nhiều tiện ích về giải trí… Bên cạnh đó, mạng xã hội còn làm thay đổi mạnh mẽ hình thức giao tiếp xã hội nhờ vào khả năng kết nối toàn cầu Con người có thể dễ dàng liên kế t với nhau một cách nhanh chóng, thuận tiện thông qua nhiều hình thức mà không bị giới hạn về không gian địa lý Do đó, lượng thông tin được chia sẻ là vô cùng phong phú, đa dạng Chính vì vậy, tỉ lệ người sử dụng mạng xã hội ngày càng tăng (Theo Bùi Thu Hoài, 2014)
Riêng đối vớ i giới trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh và sinh viên, việc sử dụng mạng
xã hội dần trở thành một xu hướng không thể thiếu Ngoài những tiện ích không thể phủ nhận, việc thường xuyên truy cập mạng xã hội cũng có những tác động tiêu cực đến đời sống của giới trẻ (Theo Phạm Thị Liên, 2016) Ở độ tuổi của mình, sinh viên có thể vẫn chưa có những nhận thức đúng đắn về ảnh hưởng của mạng xã hội ở nhiều khía cạnh khác nhau Do đó, việc sử dụng mạng xã hội mà không có những hiểu biết cần thiết sẽ khiến sinh viên trở nên lạm dụng mạng xã hội, gây ra những hậu quả không mong muốn (Theo Phạm Thị Liên, 2016) Đây luôn là vấn đề được các bậc phụ huynh, nhà trường và
xã hội quan tâm (Theo Phạm Thị Liên, 2016)
Vì những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng sử dụng
Trang 4sử dụng mạng xã hội của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên Từ đó đem lại cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề này
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chính
Tìm hiểu thực trạng sử dụng mạng xã hội của giới trẻ hiện nay
2.2 Mục tiêu cụ thể
Liệt kê các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng sử dụng mạng xã hội ở giới trẻ:
1 Các trang mạng xã hội thường được sử dụng
2 Mức độ sử dụng
3 Không gian và thời gian sử dụng
4 Phương tiện sử dụng
5 Mục đích sử dụng
3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Các trang mạng xã hội nào thường được giới trẻ sử dụng ?
2 Mức độ truy cập vào các trang mạng xã hội của giới trẻ ra sao ?
3 Giới trẻ sử dụng mạng ở đâu và thời gian sử dụng là bao lâu ?
4 Giới trẻ dùng những phương tiện nào để truy cập vào các trang mạng ?
5 Mục đích giới trẻ sử dụng mạng để làm gì ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng (Đối tượng nghiên cứu là tiêu điểm, là vấn đề mà đề tài cần tập trung nghiên cứu giải quyết Đối tượng nghiên cứu của một đề tài có thể là thực trạng, biện pháp, giải pháp về vấn đề nghiên cứu.)
Đối tượng khảo sát: học sinh và sinh viên
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: thực trạng sử dụng mạng xã hội của giới trẻ
4.2 Phạm vi nghiên cứu (Phạm vi nghiên cứu là phần giới hạn của đối tượng về không gian, thời gian và quy mô, khía cạnh của vấn đề nghiên cứu.)
Không gian: sinh viên Trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 2 năm 2022 Quy mô: khảo sát khoảng 300 bạn sinh viên của Trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Mình
Chọn biến quan sát là 20, kích thước mẫu tối thiểu n=5*m=5*20 =100, chọn kích thước mẫu là 300
Trang 55 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài chỉ ra những yếu tố về mức độ sử dụng mạng xã hội, không gian sử dụng, thời gian sử dụng và mục đích sử dụng mạng xã hội của giới trẻ có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng mạng xã hội Luận văn giải thích được sự tác động của các yếu tố này đến vấn đề sử dụng mạng của giới trẻ trong bối cảnh mạng xã hội đang phát triển mạnh mẽ
Từ đó, luận văn làm rõ thực trạng sử dụng mạng xã hội của giới trẻ hiện nay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn đã chỉ ra thực trạng sử dụng mạng xã hội ở giới trẻ trên cơ sở khảo sát thực tiễn có sự s o sánh đối chiếu Cùng với sự phát triển của mạng xã hội, giới trẻ đã có những thay đổi trong việc thu thập, tiếp nhận, kết nối, chia s ẻ và truyền phát thông tin (Theo Bùi Thu Hoài, 2014)
Đề tài c ũng đưa ra thêm những nhận thức đúng đắn về ảnh hưởng của mạng xã hội trong cuộc s ống của người dân nói chung và giới trẻ nói riêng Từ những nhận thức mới này, nghiên cứu mong muốn đưa ra định hướng, giúp giới trẻ sử dụng mạng xã hội hiệu quả hơn Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho một số đề tài có liên quan khác (Theo Phạm Thị Liên, 2016)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Mạng xã hội
Có đến 253 triệu kết quả khi tìm kiếm từ khóa “mạng xã hội” trên Google Qua đó thấy được trong cộng động người sử dụng Internet tại Việt Nam từ khóa “mạng xã hội” là một từ khóa rất phổ biến Tuy vậy để hiểu rõ mạng xã hội là gì, tính năng và những ưu điểm của mạng xã hội thì hiện nay có rất nhiều ý kiến khá c nhau, bản thân cụm từ “ social network” cũng có rất nhiều tranh cãi trong cách chuyển ngữ chính xác (Theo Bùi Thu Hoài,2014)
Từ điển Bách khoa Wikipedia định nghĩa về mạng xã hội như sau: “ Mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo (tiếng Anh: social network) là dịch vụ nối kết các thành viên
Trang 6cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian” [4]
Do đó có thể hiểu một cách đơn giản thì mạng xã hội (thế giới ảo) là một xã hội của những thành viên là các cư dân mạng Họ kết nối với nhau qua các nhóm (group), hay dựa trên các thông tin cá nhân, các sở thích cá nhân hoặc lĩnh vực quan tâm Có rất nhiều tranh cãi xảy ra xung quanh khái niệm này do khái niệm chỉ chủ yếu coi mạng xã hội là sự liên kết của những người có chung sở thích, mục tiêu và họ là nhũng người sáng tạo nội dung của mạng xã hội Để đúng với ý nghĩa và mục đích của social network nhiều người cho rằng nên đổi thành thuật ngữ là “mạng giao lưu” (Theo Bùi Thu Hoài, 2014) Theo nhà xã hội học Laura Garton, nhà nghiên cứu chiến lược trường đại học
Toronto thì “khi một mạng máy tính kết nối mọi người hoặc các cá nhân tổ chức lại với nhau thì đó chính là mạng xã hội” [1]
Để hiểu một cách đơn giản thì hình thức kết nối với nhau thông qua mạng máy tính của một nhóm người, các tổ chức hay các thực thể xã hội khác được gọi là mạng xã hội Các mạng xã hội lớn như Facebook, Youtube hay Twitter thường bị nhầm tưởng là mạng
xã hội tuy nhiên đây chỉ là những dịch vụ trực tuyến được phát triển và phản ánh mạng
xã hội Do vậy mạng xã hội chỉ đơn giản là hệ thống của những mối quan hệ con người với con người, chứ không phải là mạng máy tính lớn, c ó nhiều thành viên như mọi người thường hiểu (Theo Bùi Thu Hoài, 2014)
Một định nghĩa khác về mạng xã hội cũng nhận được nhiều sự qua n tâm và đồng
tình đó là định nghĩa của PGS.TS Vũ Duy Thông: “Mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thực thể truyền thông trên Internet với nhau thành những cụm mạng nhỏ hơn theo sự liên kết tự nguyện không phân biệt thời gian, không gian” [3]
Mô tả dễ hiểu hơn, đó là một bộ phận của Internet được hình thành từ sự kết hợp tự nguyện những blog, website của các cá nhân hoặc nhóm cá nhân có cùng sở thích, mục đích (Theo Bùi Thu Hoài,2014)
Trong chương 1 Nghị định 97/2008/NĐ – CP, điều 3 – khoản 14 định nghĩa về
mạng xã hội như sau: “Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi, người sử dụng khả năng, tương tác chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo nhật ký (blog), diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác” [2]
Trang 7Từ những trích dẫ n trên có thể liên kết và đưa ra một các hiểu tổng quát cho mạng
xã hội như sau: Các thành viên và liên kết giữa các thành viên là hai nhân tố tạo nên một
xã hội ảo hay có thể hiểu là mạng xã hội Để giải quyết những mong muốn của cộng đồng mạng và có các giá trị xã hội nhất định, dịch vụ Internet cho phép liên kết các thành viên cùng sở thích không phân biệt không gian và thời gian qua những tính năng như kết bạn, chat, email, phim ảnh… dưới cái tên gọi là mạng xã hội (Theo Bùi Thu Hoài, 2014)
M ạ ng xã hội trở thành một thứ thiết yếu mỗi ngày của hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới bởi những tính năng hữu ích cũng như cách mọi người có thể kết nối với nhau Dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán có thể tìm kiếm được bạn bè, đối tác qua các hình thức trên một cách đơn giản (Theo Bùi Thu Hoài, 2014)
1.1.2 Giới trẻ
Thuật ngữ “giới trẻ” được dùng trong khảo sát này được định nghĩa bởi hai yếu tố sau: Thứ nhất, đây là những người có độ tuổi từ 15 – 25 (độ tuổi có rất nhiều biến động
về tâm lý và sinh lý, là khoảng thời gian tạo dựng những nền tảng quan trọng cho sự trưởng thành); Thứ hai, đây là những người mang trong mình những đặc điểm: trẻ, có tri thức và năng lực sáng tạo, dễ tiếp thu cái mới, nhạy cảm đến vấn đề chính trị xã hội (Theo Bùi Thu Hoài, 2014)
Theo quan điểm của tác giả thì sự du nhập và phát triển của mạng xã hội tại Việt Nam đồng thời với s ự lớn lên hoặc ra đời và lớn lên của nhóm công chúng trẻ Sự phát triển của mạng xã hội nói riêng và các công nghệ số nói chung đều có những tác động đến nhóm công chúng trẻ (Theo Bùi Thu Hoài, 2014)
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước theo khung khái niệm
Trịnh Hòa Bình (T.H.Bình, 2015) công bố công trình nghiên c ứu thực trạng sử dụng mạng xã hội trực tuyến và một số gợi ý về chính sách trên bản B của tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào năm 2015 Tác giả đã tiến hành một cuộc khảo sát thực nghiệm với 500 thanh niên ở độ tuổi 16 đến 35, chọn ngẫu nhiên trong số những người đang sử dụng mạng xã hội ở hai thành phố là Hà Nội và Nam Định Trong công trình, tác giả đã làm rõ những vấn đề như: các trang mạng xã hội trực tuyến thường được sử dụng, không
Trang 8gian sử dụng, mức độ và thời lượng truy cập, mục đích sử dụng, mạng lưới liên kết trên mạng xã hội và tác động của mạng xã hội trực tuyến đế n đời sống giới trẻ Kết quả nghiên cứu thông qua 5 yếu tố: các trang mạng xã hội thường được sử dụng, không gian
sử dụng, mức độ, thời lượng truy cập và mục đích sử dụng đã cho thấy việc sử dụng mạng xã hội trực tuyến đang dần trở nên phổ biến và là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của người dân, đặc biệt là giới trẻ
Trần Hữu Luyến (T.H.Luyến, 2014) công bố công trình nghiên cứu thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên hiện nay trên tạp chí Tâm lý học vào năm 2014 Tác giả đã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với 4.247 sinh viên ở các trường đạ i học thuộc 6 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, trong đó qua xử lý có 4.205 sinh viên sử dụng mạng xã hội Số liệu thu được từ bả ng hỏi được xử
lý với sự trợ giúp của phần mềm SPSS phiên bản 16.0 Nội dung nghiên cứu là mức độ
sử dụng mạng xã hội của sinh viên, các loại mạng xã hội được sinh viên sử dụng, địa điểm sinh viên thường sử dụng mạng xã hội, thời gian sinh viên dành cho việc sử dụng mạng xã hội và quan hệ bạn bè của sinh viên trên mạng xã hội Kết quả nghiên cứu thu được qua 4 yếu tố: mức độ sử dụng, các loại mạng xã hội thường được sinh viên sử dụng, địa điểm s ử dụng và thời gian sinh viên dành cho việc sử dụng mạng xã hội đã cho thấy thực trạng s ử dụng mạng xã hội trong sinh viên hiện nay là rất phổ biến, đại đa số các sinh viên Việt Nam đều sử dụng mạng xã hội; chỉ có một số lượng rất nhỏ, không đáng
kể, chưa sử dụng mạng xã hội và thời gian sinh viên dành cho việc sử dụng mạng xã hội đang ở mức đáng báo động
Nguyễn Thị Kim Hoa (N.T.K.Hoa , 2012) công bố công trình nghiên cứu tác động của mạng xã hội Facebook đối với sinh viên hiện nay trên tạp chí khoa học ĐHQGHN vào nă m 2016 Tác giả đã khảo sát từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 với số lượng 212 sinh viên năm thứ ha i và thứ ba của bốn Khoa là Khoa Xã hội học , Khoa Báo c hí và tuyên truyền ,Khoa Lịch Sử ,Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân Văn Ngoài ra cũng phỏng vấn sâu 21 sinh viên có tính đến cơ cấu giới tính, quê quán, học lực, năm học và khoa Tác giả đã sử dụng số liệu thống kê (tính trung bình và tỉ
lệ phần trăm) Trong công trình tác giả đã khảo sát những tác động của mạng xã hội Facebook đối với sinh viên như : mức độ sử dụng các trang mạng xã hội của sinh viên ,thời điểm truy cập Face book của sinh viên ,mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên , ảnh hưởng của mạng xã hội đến kết quả học tập của sinh viên và một số
Trang 9khuyến nghị Kết quả nghiên c ứu là thu được 3 yếu tố về thực trạng sử dụng mạng của giới trẻ hiện nay:trang mạng được sử dụng,thời gian và địa điểm sử dụng và mục đích sử dụng Qua nghiên cứu mạng xã hội là một công cụ có hai mặt tốt và xấu và đều tác động tới sinh viên ,ưu điểm của mạng xã hội là giúp sinh viên truy cập các nhóm học online , giao lưu với nhiều bạn bè ,bên cạnh đó nhược điểm của mạng xã hội là các mối quan hệ
là ảo ,nếu sử dụng không kiểm soát sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe ,công việc và học tập
Phạm Thị Liên (P.T.Liên, 2016) công bố công trình nghiên cứu hoạt động sử dụng mạng internet của học s inh trung học phổ thông nông thôn trên luận văn thạc sĩ xã hội học vào năm 2016 Tác giả áp dụng phương pháp phân tích tài liệu trên sách ,báo, tạp chí
và các bài viết có liên quan vấn đề hoạt động sử dụng mạng và cách thức ,mục đích sử dụng internet ; phương pháp trưng cầu ý kiến đối với học sinh THPT trường Mỹ Đức B , phát 280 phiếu và thu được 240 phiếu hợp lệ ; phương pháp phỏng vấn sâu với 8 học sinh ở 2 khối 12 và 10 Để xử lý số liệu tác giả đã sử dụng phần mềm thống kê dà nh cho khoa học xã hội SPSS 16.0 Trong công trình tác giả đã khảo sát được hoạt động sử dụng mạng của học sinh THPT như sau : mục đích và nội dung truy cập mạng internet của học sinh , địa điểm và cách thức học sinh truy cập internet ,thời gian và tần suất học sinh THPT nông thôn truy cập mạng ,ảnh hưởng c ủa việc sử dụng mạng internet trong học tập ,ảnh hưởng của việc sử dụng mạng internet đối với hoạt động giải trí , ảnh hưởng của việc sử dụng mạng internet đối với hoạt động giao lưu kết bạn của học sinh Kết quả là thu được 3 yếu tố nói về thực trạng sử dụng mạng c ủa giới trẻ hiện na y : mục đích và nội dung , địa điểm và cách thức và thời gian sử dụng mạng internet Với sự phá t triển ngày càng hiện đại của internet ,thực trạng sử dụng mạng internet của học sinh THPT ở nông thôn ngày càng nhiều Bên cạnh đó internet đã và đang tác động đến mọi mặt về cuộc sống của học sinh
Trần Thị Hồng Đức (T.T.H.Đức, 2014) công bố công trình nghiên cứu sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam ở 6 thành phố lớn là Hà Nội, Hả i Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh trên tạp chí khoa học xã hội và o năm 2014 Tác giả đã điều tra bằng bảng hỏi trên 4.247 s inh viên từ năm thứ nhất tới năm thứ 4 với tuổi trung bình là 20,42 (trong đó, nam: 1.791 người - chiếm 43,2% và nữ là 2.359 người
- chiếm 56, 8%) ở 6 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Các số liệu điều tra được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Đối với phần thực trạng sử dụng và vấn đề bảo mật thông tin trên mạng xã hội của
Trang 10sinh viên, phương pháp xử lý số liệu tập trung vào các phép toán thống kê mô tả (tính điểm trung bình, chỉ số phần trăm của các phương án lựa chọn và tương quan chéo) Tác giả sử dụng phân tích thống kê suy luận (phân tích tương quan nhị biến) khi xem xét số liệu về nhu cầu và áp lực sử dụng mạng xã hội Ở hai phần này, tác giả sử dụng thang Likert 4 bậc Điểm trung bình của các item hoặc các biến cho thấy có tương quan thuận giữa các nhu cầu sử dụng mạng xã hội hoặc các áp lực sử dụng mạng xã hội khi so sánh với nhau Nghiên cứu dùng phép phân tích nhân tố cho hai thang đo này nhằ m tìm ra các nhóm nhu cầu và các nhóm áp lực Dựa vào điểm trung bình chung và độ lệch chuẩn chung của toàn thang đo, tác giả xác định được 3 mức xếp hạng là thấp, trung bình và cao khi phân tích các nhóm nhu cầu và các nhóm áp lực đối với việc sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Trong công trình, tác giả đã trình bày một số kết quả về thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam: giới tính sử dụng mạng xã hội, các mạng xã hội được sinh viên sử dụng nhiều, trung bình số giờ sinh viên sử dụng mạng xã hội , bảo mật thông tin trên mạng xã hội, nhu cầu sử dụng mạng xã hội và những á p lực sinh viên
có thể gặp phải khi sử dụng mạng xã hội Qua các kết quả nghiên cứu đó cần có sự định hướng cho sinh viên trong việc sử dụng MXH liên quan đến thời gian, mục đích sử dụng, cũng như những cách thức bảo vệ bản thân khi tham gia vào cộng đồng mạng
Hoàng Thị Ngọc (H.T.Ngọc, 2018) công bố công trình nghiên cứu ảnh hưởng của mạng xã hội đến hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yên trên tạp chí khoa học và công nghệ vào năm 2018 Tác giả đã điều tra bằng bảng hỏi trên 300 sinh viên tại trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yên Trong công trình, tác giả đã làm rõ những vấn đề như: Mức độ sử dụng M XH của sinh viên trường ĐHSPKT Hưng Yên, thời gian sử dụng Facebook trong một ngày, sử dụng Facebook cho mục đích học tập, mức độ sử dụng Facebook ảnh hưởng đến kết quả học, tác động tiêu cực từ Facebook đế n hoạt động học tập, tác động tích cực từ Facebook đế n hoạt động học tập Kết quả thu được cả 5 yếu tố này đều phản ánh lên ảnh hưởng của mạng xã hội đến hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yên, từ đó tác giả đưa
ra một số khuyến nghị đối với sinh viên, những người dùng Facebook nói riêng và mạng xã hội nói chung cần nâng cao kỹ năng quản lý thời gian, hành vi của mình trong môi trường mạng xã hội
Huỳnh Văn Sơn (H.V.Sơn, 2014) công bố công trình nghiên cứu thực trạng việc sử dụng Facebook của thanh thiếu niên 15_18 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh trên tạp chí