TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN CUỐI KỲ LÝ LUẬN CỦA C MÁC VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ MÃ MÔN HỌC VÀ MÃ LỚP.TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN CUỐI KỲ LÝ LUẬN CỦA C MÁC VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ MÃ MÔN HỌC VÀ MÃ LỚP.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
MÃ MÔN HỌC VÀ MÃ LỚP: LLCT120205_21_2_17CLC
NHÓM THỰC HIỆN: APPLE Thứ 3 – tiết: 7 – 8
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Trần Ngọc Chung
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2022 – 2023 Nhóm: APPLE Thứ 2 Tiết 01-02 Tên đề tài: Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
STT
THÀNH
Ghi chú:
− Tỷ lệ % = 100%
− Trưởng nhóm: Nguyễn Huyền Nhã Phương
Nhận xét của giáo viên:
Ngày tháng năm
Giáo viên chấm điểm
Trang 33
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lời giới thiệu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1
3 Đối tượng nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 3
1.1 Tổng quan về giá trị thặng dư 3
1.2 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 3
1.2.1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 3
1.2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 5
1.2.3 Phương Pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch 7
1.3 Mối quan hệ giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 7
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 10
2.1 Thực trạng việc áp dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế Việt Nam 10
2.2Hạn chế 12
2.3 Giải pháp 13
KẾT LUẬN 16
PHỤ LỤC 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 41
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lời Giới Thiệu
Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được khai sinh trên cơ sở nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Việc tìm ra khái niệm của giá trị thặng dư đã làm nổ ra cuộc cách mạng thực sự trong toàn bộ nền khoa học kinh tế, trang bị cho giai cấp vô sản một nền tảng vững chắc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Ngày nay, từ quan niệm đổi mới về chủ nghĩa xã hội, học thuyết này còn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Ở nước ta, việc nghiên cứu, khai thác để vận dụng học thuyết giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của Mác trở thành việc làm cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường ngày một phát triển theo định hướng của xã hội chủ nghĩa.Và cũng chính nhờ sự vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào quá trình sản xuất mà nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bật theo chiều hướng tích cực, Việt Nam từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một nước có nền kinh tế đang phát triển.Song song với đó là công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước cũng đã có thêm những bước tiến xa hơn trên con đường chinh phục tầm cao mới, đặt ra một niềm tin vững chắc về một quốc gia giàu mạnh hơn, một đất nước Việt Nam phát triển hơn trong tương lai.Để có cái nhìn thực tế
và hiểu rõ hơn về giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhóm tác giả sẽ nghiên cứu về đề tài “Lý luận của C.Mác về các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và liên hệ thực tiễn vận dụng những phương pháp ấy vào nền kinh tế thị trường của đất nước hiện nay” Với kiến thức còn hạn chế nên trong quá trình làm tiểu luận không thể tránh khỏi những sai sót, nhóm tác giả rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy để bài tiểu luận được hoàn thành một cách tốt nhất
2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
● Mục tiêu cho phần lý thuyết:
Mục tiêu tìm hiểu tổng quan về giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Bên cạnh đó nhóm tác giả sẽ nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan hệ và sự khác nhau giữa các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để có thể hiểu rõ hơn về giá
Trang 52
trị thặng dư cũng như các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và có thể vận dụng chúng vào thực tế
● Mục tiêu cho phần liên hệ thực tiễn:
Căn cứ vào những khái niệm, lý thuyết đã trình bày nhóm tác giả sẽ tập trung nghiên cứu sâu hơn về giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Song song
đó, nhóm tác giả sẽ đưa ra những luận điểm về việc vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và khẳng định tầm quan trọng của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường Việt Nam
3.Đối tượng nghiên cứu:
● Đối tượng nghiên cứu cho phần lý thuyết:
Đối tượng nghiên cứu cho đề tài của nhóm tác giả là giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Nhóm tác giả sẽ tập trung phân tích để hiểu rõ hơn về giá trị thặng dư,quá trình sản xuất giá trị thặng dư ra sao Cùng với đó là phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối , phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch.Đồng thời có thể chỉ ra được mối quan hệ và sự khác nhau giữa các phương này
● Đối tượng nghiên cứu cho phần liên hệ thực tiễn:
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu vấn đề áp dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư trong nền Kinh tế thị trường Việt Nam Nhận thấy được những ưu điểm, hạn chế của từng phương pháp khi áp dụng đối với nền kinh tế thị trường nước ta Từ đó đề xuất kiến nghị những giải pháp góp phần có thể áp dụng những phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cho phù hợp nhất
Trang 63
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1.1 Tổng quan về giá trị thặng dư
Học thuyết giá trị thặng dư được xem là một trong những phát kiến lớn nhất mà C.Mác
đã đóng góp cho nhân loại Giá trị thặng dư là giá trị do chính công nhân làm thuê lao động để tạo ra vượt qua giá trị sức lao động của họ nhưng lại bị các nhà tư bản chiếm đoạt hết Đối với hoạt động sản xuất, các nhà tư bản phải chi cho tư liệu sản xuất và mua sức lao động Mục đích chi trả này là nhằm thu lại một khoản tiền dư ra ngoài số tiền
mà họ phải dùng trong quá trình sản xuất Số tiền dư ra này được gọi là giá trị thặng dư Giá trị thặng dư được C.Mác nghiên cứu theo góc độ hao phí lao động Trong đó những công nhân làm thuê sẽ sản xuất nhiều giá trị hơn mức chi phí mà họ được trả Đây là yếu tố được quy định bởi mức tiền lương tối thiểu chỉ đủ cho họ sinh sống với tư cách người lao động Đối với Mác sự bóc lột sức lao động này chỉ có thể được xóa bỏ khi các nhà tư bản trả cho những người công nhân toàn bộ giá trị mới mà họ đã tạo ra
Như vậy, giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người bán sức lao động (người lao động làm thuê) sản sinh ra nhưng lại thuộc về nhà tư bản (người mua hàng hóa sức lao động)
1.2 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
1.2.1 Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối
Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng vào giai đoạn đầu của chủ nghĩa
tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng các lao động thủ công, hoặc lao động với những máy móc thô sơ, đơn giản ở các công trường thủ công Đó là sự gia tăng về lượng của quá trình sản xuất tạo ra giá trị thặng dư Vì phương pháp giá trị thặng
dư tuyệt đối là giá trị thặng dư mà thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá lượng thời gian lao động cần thiết, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động cần thiết lại không thay đổi Có nghĩa là khi nhà tư bản muốn tăng giá trị thặng dư, thì nhà tư bản sẽ mua thêm máy móc, tư liệu sản xuất, thuê thêm công nhân
để sản xuất ra hàng hóa; nhưng thực tế họ chỉ mua thêm nguyên liệu sản xuất và bắt công nhân hiện có phải cung cấp thêm một lượng sức lao động, đồng thời tận dụng tối
đa công suất của máy móc hiện đang có Mặt lợi ở đây chính là nhà tư bản sẽ không cần phải ứng thêm tư bản, thuê thêm công nhân hay mua thêm các máy móc thiết bị, đồng
Trang 74
thời máy móc lại được khấu hao nhanh hơn, hao mòn và chi phí bảo quản sẽ giảm đi rất nhiều, thời gian thu lợi nhuận sẽ tăng dài hơn VD: Một ngày người công nhân sẽ lao động trong 8 giờ, trong đó thời gian lao động cần thiết là 4 giờ, thời gian lao động thặng
dư sẽ là 4 giờ, vào mỗi giờ công nhân sẽ tạo ra một giá trị mới là 20.000 đơn vị tiền tệ, thì trong một ngày đó người công nhân sẽ tạo ra một lượng giá trị mới là 160.000, bao gồm chi phí sản phẩm là 80.000 còn 80.000 là giá trị thặng dư tuyệt đối, tỷ suất giá trị thặng dư trong trường hợp là 100% Nhưng nếu kéo dài thời gian lao động ra thêm 2 giờ nữa thì khi điều kiện các yếu tố khác không thay đổi thì giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ tăng lên là 120.000, nhà tư bản được lợi thêm 40.000 đơn vị so với trước đó, tỷ suất thặng dư bây giờ sẽ là 150%(Tỷ suất giá trị thặng dư mang biểu hiện của trình độ bóc lột giá trị thặng dư)
Bất kì nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của người công nhân làm thuê ra lâu hơn, nhưng trong thực tế không cho phép họ thực hiện điều này trong một quãng thời gian quá dài Bởi những việc làm đó vượt quá giới hạn sinh lí của con người, trong trường hợp này là người công nhân, một người có thể duy trì mãi với một cường
độ lao động mà lại mang năng suất cao trong cùng một quãng thời gian dài là điều không thể có được, họ cần phải có thời gian ăn ngủ, nghỉ ngơi và giải trí nhằm hồi phục lại sức khoẻ Thật dễ hiểu khi giai cấp tư bản đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của giai cấp công nhân Giai cấp tư sản thì muốn kéo dài thời gian lao động trong ngày, còn giai cấp công nhân lại muốn rút ngắn đi thời gian lao động, do đó độ dài ngày lao động có thể bị
co giãn và việc xác định độ dài ngắn này phụ thuộc vào việc so sánh lực lượng trong cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp ấy Điểm mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tư bản cũng như lợi ích kinh tế của người lao động được thực hiện theo một thoả hiệp tạm thời được xem là điểm dừng của độ dài ngày lao động
Khi mà độ dài ngày lao động được xác định, các nhà tư bản sẽ tìm ra mọi cách để có thể tăng cường độ lao động của người công nhân Việc tăng cường độ lao động này đồng nghĩa với hao tổn nhiều sức lao động trong một khoảng thời gian nhất định, nên thực chất đây cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày Nhà tư bản cũng có thể tăng thêm các tư liệu lao động, yêu cầu hay thoả thuận với người lao động lao động để đạt cường độ cao hơn mức bình thường, yêu cầu người lao động phải tập trung làm việc
Trang 85
hơn, các thao tác làm việc phải nhanh chóng hơn nữa… điều đó sẽ hao tổn nhiều sức lao động hơn so với bình thường, và cũng sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hơn Nhưng thực tế việc tăng cường độ lao động sẽ khó hơn việc tăng thời gian lao động của người công nhân,
vì nếu muốn thực hiện việc này được thì các nhà tư bản phải chi thêm tiền để thay đổi máy móc
Việc áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối này ngoài việc sẽ gặp nhiều khó khăn như đã đề cập ở trên, theo D.Ricardo đã nói “với sự tăng thêm của một nhân tố sản xuất nào đó, trong điều kiện các nhân tố sản xuất khác là không thay đổi, năng suất của của nhân tố tăng thêm sẽ giảm đi” Chính vì vậy, việc gia tăng các nguyên liệu sản xuất trong khi đó các điều kiện sản xuất khác lại không thay đổi là việc làm không mang lại hiệu quả nếu như các nhà tư bản muốn tăng thu thêm giá trị thặng dư
1.2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Để giải quyết những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối đang gặp phải thì các nhà tư bản đã tiến hành áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối vào quá trình sản xuất Phương pháp này mang sự tiến bộ vượt bậc so với phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối, thể hiện được trình độ sản xuất cũng như trình độ xã hội nay
đã nâng lên một tầm cao mới Phương pháp giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động cần thiết bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động xuống, từ đó làm tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong khi điều kiện độ dài ngày lao động vẫn không đổi Vì giá trị sức lao động được quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao động, nên khi muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải làm giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt cũng như các dịch vụ cần thiết cho người lao động Điều đó chỉ được thực hiện bằng nếu tăng năng suất lao động
xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất
để tạo ra các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ
VD: Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian lao động cần thiết, còn thời gian lao động thặng dư sẽ là 4 giờ, khi đấy tỷ suất thăng dư là 100% Nhưng khi máy móc được thay đổi mà ngày lao động lại không thay đổi thì thời gian lao động cần thiết của người công nhân chỉ còn lại 3 giờ, thời gian lao động thặng dư sẽ tăng lên
là 5 giờ, chính vì vậy tỷ suất thặng dư lúc này đã tăng lên là 166% (Đồng nghĩa với việc trình độ bóc lột cũng tăng lên)
Trang 96
Sự ra đời và phát triển đi đôi với việc máy móc được sử dụng rộng rãi đã làm tăng năng suất lao động lên một cách nhanh chóng Máy móc có lợi thế tuyệt đối so với các công cụ lao động thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người sử dụng bằng sức lao động trực tiếp nên có phần hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi lao động bằng máy móc sẽ không còn những hạn chế đó Vì vậy, năng suất lao động tăng lên rất cao khi sử dụng máy móc, làm giảm đi giá trị tư liệu sinh hoạt, đồng thời hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động cần thiết và kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp cho các nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng
dư hơn Phương pháp giá trị thặng dư tương đối đang ngày càng được nâng cao do các cuộc cách mạng khoa học lúc bấy giờ, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ như vũ bão, đem lại sự phát triển vượt bậc chưa từng có trong lịch
sử loài người, so với cuộc cách mạng khoa học thì nó còn dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không chỉ đơn thuần về công cụ sản xuất như các cuộc cách mạng khoa học, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người bước sang một trang mới, một nền văn minh mới - nền văn minh trí tuệ
Phương pháp giá trị thặng dư tương đối là một phương pháp sản xuất theo chiều sâu, là khi lao động giản đơn được thay thay thế bởi lao động phức tạp Để có lợi cho mình các nhà tư bản bắt buộc phải chú trọng đến nhân cách sáng tạo của lao động làm thuê Điều này đã chứng minh rằng lao động trí óc, lao động có trình độ kĩ thuật cao sẽ ngày càng mang vai trò quyết định cho việc sản xuất giá trị thặng dư và tầng lớp công nhân này sẽ đạt mức sống tương đối cao Cũng chính những điều đó đã làm cho một số người lao động lầm tưởng rằng họ không còn bị bóc lột sức lao động, sức lao động của họ đã được trả công một cách thoả đáng, khi đó họ an tâm làm việc mà không hề hay biết rằng một khối lượng lớn giá trị mới do sức lao động của mình làm ra đã bị nhà tư bản chiếm đoạt mất Hơn nữa, với tốc độ phát triển một cách chóng mặt của các loại máy móc công nghệ, tác hại của sóng điện từ những thiết bị tin học hiện đại sẽ làm cho người lao động
bị hao phí đi rất nhiều sức lực, phát sinh thêm nhiều bệnh nghề nghiệp, các bệnh này có thể phát sinh ngay trong quá trình còn đang lao động của người công nhân nhưng cũng
có thể để lại nhiều di chứng và sau một thời gian dài mới biểu hiện bệnh
1.2.3 Phương pháp giá trị thặng dư siêu ngạch
Trang 107
Một dạng nữa của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch, đây là cái đích mà các nhà tư bản sẽ hướng tới Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do áp dụng các công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của nó Xét trong từng trường hợp thì giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi ngay khi công nghệ đó đã được phổ biến rộng rãi, nhưng xét theo phạm vi trên toàn xã hội thì đây một hiện tượng thường xuyên Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch chính là kì vọng của các nhà tư bản và là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các nhà tư bản phải cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất và tăng năng suất lao động nhằm làm cho năng suất xã hội tăng lên một cách nhanh chóng Bởi vậy C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
3.Mối quan hệ giữa các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
a) Điểm tương đồng :
Cả 3 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đều có nét tương đồng giống nhau Chẳng hạn đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động Nhà tư bản tìm mọi cách để đạt được giá trị thặng dư mà mình mong muốn bằng cách kéo dài thời gian lao động lúc đó tỷ suất giá trị thặng dư không ngừng tăng lên
Bên cạnh đó, hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản.Không chỉ vậy cả hai loại đó đều
là một bộ phận giá trị mới do công nhân tạo ra, đều có nguồn gốc là lao động bị bóc lột
và không được trả công
b) Điểm khác biệt
Mỗi phương pháp có một đặc trưng riêng Chính những cái riêng ấy làm nên những mặt
mà chỉ có từng phương pháp một mới thể hiện đúng và rõ bản chất nhất
Nếu như, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được thực hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động để tăng giá trị thặng dư, còn đối với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối trong thời buổi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển nhà tư bản
đã sử dụng phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội để tạo ra
Trang 11Bị giới hạn về ngày lao động, giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không.Phương pháp sản xuất thặng dư tuyệt đối vẫn còn nhiều khúc mắc và chưa thực sự hiệu quả giúp cho nhà tư bản đạt được gía trị thặng dư như mong muốn Còn đối với phương pháp thặng
dư tương đối nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật nên không bị giới hạn về thời gian nên giá trị thặng dư sẽ không ngừng tăng lên
muốn Thì, với cải tiến khoa học công nghệ, phương pháp thăng dư tương đối
không giới hạn về thời gian Bởi việc áp dụng công nghệ sản xuất mới tạo khả
ngừng tăng lên
Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động Ngày nay việc
tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới,
sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của háng hóa, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch Cũng giống như giá trị thăng dư tương đối thì thặng dư siêu ngạch cũng dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động nhưng sự khác nhau của 2 phương pháp này được thể hiện ở chỗ giá trị thặng
dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu được Sự khác nhau của chúng còn được biểu hiện ở chỗ: giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu được xét về quan hệ của giai cấp công nhân và toàn bộ giai cấp các nhà tư bản Giá trị