1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG MOBILE MONEY cơ sở lý thuyết chung về mobile money cơ sở pháp lý của mobile money ở việt nam

26 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động kinh doanh ngân hàng Mobile Money cơ sở lý thuyết chung về mobile money cơ sở pháp lý của mobile money ở Việt Nam
Người hướng dẫn PTS. Võ Thị Ngọc Hà
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh doanh ngân hàng
Thể loại Bài báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở pháp lý của Mobile Money ở Việt Nam3.1 Quy định của doanh nghiệp về cung cấp dịch vụ Mobile Money 3.2 Quy định về điều kiện sử dụng dịch vụ Mobile Money 3.3 Quy định về các hoạt độ

Trang 1

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG LỚP L10

GIẢNG VIÊN: VÕ THỊ NGỌC HÀ

NHÓM 5 (MOBILE MONEY)

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN VÀ MỨC ĐỘ ĐÓNG GÓP

Trang 3

— 2 —

Trang 4

3 Cơ sở pháp lý của Mobile Money ở Việt Nam

3.1 Quy định của doanh nghiệp về cung cấp dịch vụ Mobile Money

3.2 Quy định về điều kiện sử dụng dịch vụ Mobile Money

3.3 Quy định về các hoạt động thanh toán trong dịch vụ Mobile Money 3.4 Quy định về bảo mật thông tin trong dịch vụ Mobile – Money

3.5 Quy định về hạn mức sử dụng dịch vụ và phạm vi thực hiện giao dịch hàng hóa, dịch vụ

3.6 Quy định về phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố

4 Thực trạng tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm của thế giới

4.1 Thực trạng phát triển dịch vụ Mobile Money tại Việt Nam

4.2.1 Philippines: Bùng nổ, nhƣng không ổn định

4.2.2 Indonesia: Chậm ở giai đoạn đầu, tăng tốc ở giai đoạn sau

4.2.3 Kenya: Bùng nổ và phát triển mạnh

5 Các lợi ích và rủi ro của dịch vụ Mobile Money

6.2 Thách thức trong phát triển dịch vụ Mobile Money

7 Một số khuyến nghị thúc đẩy dịch vụ Mobile Money tại Việt Nam

Trang 5

2. Cơ sở lý thuyết chung về Mobile Money

2.1 Lịch sử hình thành

Sự hình thành của dịch vụ mobile (MM) xuất phát điểm từ sự phát triểncông nghệ thông qua internet và thương mại điện tử Cùng với sự phát triển củacác chương trình phần mềm mới và số lượng mạng quốc tế kết nối ngày càngtăng, công chúng ngày càng được tiếp cận rộng rãi với internet (Cohen-Almagor, 2011; Edosomwan, Prakasan, Kouame, Watson và Seymour, 2011;Dewing, 2012) và các thiết bị di động, thương mại điện tử ngày càng được pháttriển rộng rãi thông qua các ứng dụng thương mại di động (M - Commerce),cho phép phát triển các hoạt động kinh doanh mua sắm thông qua các sàn giaodịch ảo với các kết nối di động (điện thoại, máy tính bảng và các thiết bị diđộng khác (Muga, 2015) Một trong những kết quả đột phá của M-Commerce

là sự ra đời của MM Dịch vụ MM cũng có thể được coi là một mô hình kinhdoanh di động và cũng là một thành phần bổ sung của M- Commerce Giốngnhư thương mại di động phát triển từ thương mại điện tử, dịch vụ MM cũngphát triển từ tiền điện tử Tiền điện tử dùng để chỉ tiền ảo được lưu trữ trên cácmạng viễn thông như internet để thiết bị di động trong thực hiện các dịch vụgiao dịch tiền tệ Các hình thức ban đầu của dịch vụ MM là thanh toán từ xacho các dịch vụ như mua nhạc chuông và truy cập thông tin thời tiết Các dịch

vụ mạng đã có thể thu thập từ các thuê bao bằng cách khấu trừ từ khách hàngcác giá trị thời gian phát sóng (Alampay và Bala, 2010) Để dịch vụ MM đượcphổ biến rộng rãi, các cá nhân là khách hàng tiềm năng cần cơ sở hạ tầng cơbản hỗ trợ dịch vụ MM là một thiết bị di động

2.2 Mobile Money là gì?

Trang 6

Mobile Money (Thanh toán di động) là dịch vụ thanh toán hàng hóa,dịch vụ trên điện thoại di động bằng thuê bao viễn thông với giá trị nhỏ (dưới

10 triệu đồng/ tháng/ tài khoản)

Có thể hiểu đơn giản Mobile Money là tài khoản thanh toán gắn liền với SIMđiện thoại (thuê bao di động), ngoài việc nghe gọi, nhắn tin thông thường, thuêbao di động của bạn còn có thể thực hiện được nhiều việc khác như chuyểntiền, thanh toán hàng hóa, dịch vụ,… mà không cần tới tài khoản ngân hàng

Mobile Money về bản chất cũng là một dạng ví điện tử (E- Money) tuynhiên Mobile Money không cần tới tài khoản ngân hàng, bạn có thể nạp tiềnvào số điện thoại của bạn và dùng số tiền trong đó để chuyển tiền tới số điệnthoại khác, mua hàng hóa hoặc thanh toán dịch vụ,…

2.3 Cách sử dụng Mobile-Money:

Theo khoản 1 Mục III Quyết định 316/QĐ-TTg, việc sử dụng Money được thực hiện như sau:

Mobile Nạp tiền vào tài khoản Mobile-Money:

+ Nạp tiền mặt tại các điểm kinh doanh

+ Nạp từ tài khoản ngân hàng hoặc Ví điện tử

- Rút tiền mặt từ tài khoản Mobile-Money

+ Rút tại các điểm kinh doanh;

+ Rút tiền từ Mobile-Money về tài khoản ngân hàng hoặc Ví điện tử;

- Thanh toán việc mua hàng hóa, dịch vụ cho Đơn vị chấp nhận thanh toán bằng tài khoản Mobile-Money;

- Chuyển tiền giữa các tài khoản Mobile-Money của khách hàng trong cùng hệthống của Doanh nghiệp thực hiện thí điểm, giữa tài khoản Mobile- Money củakhách hàng với tài khoản thanh toán tại ngân hàng, giữa tài khoản Mobile-Money với Ví điện tử do chính Doanh nghiệp thực hiện thí điểm cung ứng

3. Cơ sở pháp lý của Mobile Money ở Việt Nam

3.1 Quy định về doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ Mobile - Money

Theo khoản 1, Mục II Điều 1 Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày9/3/2021, doanh nghiệp được thí điểm cung ứng dịch vụ MM phải là doanhnghiệp có Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán Ví điện

tử và Giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất, sử dụngbăng tần số vô tuyến điện hoặc là công ty con được công ty mẹ có Giấy phépthiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất sử dụng băng tần số vôtuyến điện cho phép sử dụng hạ tầng, mạng lưới, dữ liệu viễn thông

Ngoài ra, doanh nghiệp có một Đơn vị hoặc bộ phận riêng để vận hành, triểnkhai việc cung ứng dịch vụ MM và phải có phương án cụ thể để quản lý táchbạch tài khoản MM với tài khoản của SIM thuê bao di động của khách hàng (làtài khoản sử dụng cho việc cung cấp và sử dụng dịch vụ thông tin di động, dịch

vụ viễn thông)

Trang 7

Doanh nghiệp thí điểm cũng cần đảm bảo khả năng thanh toán vớikhách hàng của mình: Doanh nghiệp phải mở tài khoản đảm bảo thanh toán tạingân hàng thương mại và số dư trên các tài khoản phải được duy trì không thấphơn so với tổng số dư tất cả các tài khoản MM của các khách hàng tại cùngmột thời điểm Tài khoản đảm bảo thanh toán cho dịch vụ MM phải được táchbạch, riêng biệt với các tài khoản thanh toán khác của Doanh nghiệp thực hiệnthí điểm.

3.2 Quy định về điều kiện đăng ký sử dụng dịch vụ Mobile - Money

Căn cứ theo khoản 2 Mục II Điều 1 Quyết định số 316/QĐ-TTg, điềukiện để khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ MM gồm:

Thứ nhất, cá nhân đăng ký và sử dụng dịch vụ MM cung cấp CMND, CCCDhoặc hộ chiếu trùng với thông tin đăng ký số thuê bao di động của khách hàng

Thứ hai, số thuê bao phải có thời gian kích hoạt và sử dụng liên tục ítnhất 3 tháng liền kề tính đến thời điểm đăng ký mở và sử dụng dịch vụ MM.Khách hàng chỉ được mở 1 tài khoản MM tại mỗi doanh nghiệp thực hiện thíđiểm

Doanh nghiệp thực hiện thí điểm phải trang bị, triển khai áp dụng côngnghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) tại các điểm kinh doanh đểnhận biết và xác thực chính xác khách hàng (nhận diện khuôn mặt, mốngmắt, ) khi đăng ký và sử dụng dịch vụ MM

3.3 Quy định về các hoạt động thanh toán trong dịch vụ Mobile - Money

Căn cứ vào khoản 1, mục III Điều 1 Quyết định số 316/QĐ-TTg thì quyđịnh về các hoạt động thanh toán trong dịch vụ MM khá cụ thể Doanh nghiệpcung ứng dịch vụ MM để sử dụng cho các nghiệp vụ sau:

Thứ nhất, nạp tiền mặt vào tài khoản MM tại các điểm kinh doanh, từ tàikhoản thanh toán của khách hàng (chủ tài khoản MM) tại ngân hàng hoặc từ Víđiện tử của khách hàng (chủ tài khoản MM) tại chính Doanh nghiệp thực hiệnthí điểm dịch vụ MM

Thứ hai, rút tiền mặt từ tài khoản MM tại các điểm kinh doanh; rút tiền

từ tài khoản MM về tài khoản thanh toán của khách hàng (chủ tài khoản MM)tại ngân hàng hoặc rút về ví điện tử của khách hàng (chủ tài khoản MM) tạichính Doanh nghiệp thực hiện thí điểm dịch vụ MM

Thứ ba, thanh toán việc mua hàng hóa, dịch vụ cho Đơn vị chấp nhậnthanh toán bằng tài khoản MM

Thứ tư, chuyển tiền giữa các tài khoản MM của khách hàng trong cùng

hệ thống, giữa tài khoản MM của khách hàng với tài khoản thanh toán tại ngânhàng hoặc với ví điện tử do chính doanh nghiệp thực hiện thí điểm cung ứng

Nói cách khác, sau khi mở tài khoản MM, khách hàng có thể nạp tiền,rút tiền, thanh toán việc mua hàng hóa, dịch vụ, chuyển tiền từ tài khoản ngânhàng, ví điện tử hoặc các tài khoản MM khác

Trang 8

3.4 Quy định về bảo mật thông tin trong dịch vụ Mobile – Money

Căn cứ mục V, Điều 1, Quyết định số 316/QĐ-TTg, doanh nghiệp thíđiểm có trách nhiệm bảo mật thông tin của khách hàng khi sử dụng dịch vụ

MM qua một số điểm như sau:

Doanh nghiệp phải xây dựng quy định về việc mã hóa và kiểm soát truycập thông tin khách hàng, thông tin giao dịch để đảm bảo an toàn thông tin, bảo

vệ dữ liệu khách hàng; lưu trữ trên hệ thống dữ liệu về các thông tin liên quanđến tài khoản, số dư tài khoản MM của khách hàng để đảm bảo quyền và lợiích hợp pháp của khách hàng

Doanh nghiệp phải có hệ thống lưu trữ lịch sử giao dịch MM phát sinh;

hệ thống lưu trữ thông tin định danh khách hàng, thông tin định danh thiết bị,địa chỉ IP (trừ giao dịch USSD), địa chỉ kiểm soát truy cập phương tiện truyềnthông MAC (trừ giao dịch USSD), Mã số nhận dạng thiết bị di động quốc tếIMEI, thời gian, nội dung giao dịch, tài khoản gửi, tài khoản nhận, số dư, vị trígiao dịch, từ khi khách hàng mở đến khi đóng tài khoản

3.5 Quy định về hạn mức sử dụng dịch vụ và phạm vi thực hiện giao dịch hàng hóa, dịch vụ

Căn cứ khoản 2 mục III Điều 1 Quyết định số 316/QĐ-TTg về hạn mức

sử dụng dịch vụ MM được quy định như sau: Hạn mức giao dịch không quá 10triệu đồng/tháng/tài khoản MM cho tổng các giao dịch: rút tiền, chuyển tiền vàthanh toán

Căn cứ vào khoản 3, khoản 5 mục II Điều 1 Quyết định số TTg, phạm vi áp dụng thí điểm dịch vụ MM toàn quốc, ưu tiên tại các địa bànthuộc khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo củaViệt Nam Và thời gian thí điểm là 2 năm - kể từ thời điểm doanh nghiệp đầutiên thực hiện thí điểm được chấp thuận triển khai thí điểm dịch vụ MM Việctriển khai thí điểm dịch vụ MM chỉ áp dụng đối với giao dịch nội địa hợp pháptheo quy định pháp luật Việt Nam bằng đồng Việt Nam, không được thực hiệnthanh toán/chuyển tiền cho các hàng hóa, dịch vụ cung cấp xuyên biên giới

316/QĐ-3.6 Quy định về phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố

Căn cứ vào mục V, Điều 1 Quyết định số 316/QĐ-TTg, doanh nghiệpthực hiện thí điểm phải xây dựng các nguyên tắc chung và quy định nội bộ vềphòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố theo quy định của pháp luật hiện hành;thiết lập cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước cóTruyền thông) về các tài khoản MM có dấu hiệu liên quan đến hoạt động phạmthẩm quyền (Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thông tin và tội,

Trang 9

có hành vi vi phạm pháp luật, các giao dịch bất thường, đáng ngờ (thông tincung cấp bao gồm toàn bộ thông tin lưu trữ về tài khoản MM); xây dựng cơ chếtạm khóa/đóng băng các tài khoản MM vi phạm ngay khi phát hiện dấu hiệu viphạm pháp luật.

4. Thực trạng tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm của thế giới

4.1 Thực trạng phát triển dịch vụ Mobile Money tại Việt Nam

Tại Việt Nam, theo Vietnam Digital Landscape (2021), trong số 154,4triệu thuê bao của cả nước, trên tổng dân số 97,75 triệu dân, có 70,3% sử dụngInternet, 73,7% sử dụng mạng xã hội và 73% sử dụng điện thoại thông minh.Mức độ sử dụng Internet và mạng xã hội tăng đáng kể (so với năm 2020 là0,8% đối với Internet và 11% đối với mạng xã hội), với mức độ phủ sóng viễnthông đạt 100%

Hiện tại, thanh toán không dùng tiền mặt và sử dụng các dịch vụ fintechđang là xu hướng chung trên toàn cầu Theo Quyết định số 2545 / QĐ-TTgngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam có mục tiêu thanh toánkhông dùng tiền mặt trong giai đoạn 2016-2020 và Việt Nam cũng đặt ra mụctiêu đến năm 2020, tiền mặt chỉ chiếm 10% tổng phương thức thanh toán(Chính phủ, 2016b) Gần đây nhất là Quyết định số 316 / QĐ-TTg ngày3/9/2021 về việc thí điểm thanh toán tài khoản viễn thông đối với hàng hóa,dịch vụ giá trị nhỏ

Mặt khác, các ngân hàng và trung gian thanh toán cung cấp ví điện tửhiện tập trung ở các khu vực thành thị, sử dụng điện thoại thông minh có kếtnối internet Tỷ lệ bao phủ tài khoản ngân hàng hiện chỉ đạt 30 - 40% dân số vàkhông phải ai có tài khoản ngân hàng cũng có thể thanh toán trực tuyến Ướctính có khoảng 70-80% dân số chưa sử dụng thanh toán điện tử qua thiết bị diđộng (Bách Đông, 2019) Thậm chí ở một số nơi khó khăn, người dân chưa baogiờ có khái niệm về thanh toán điện tử

Tóm lại, Việt Nam cần có thêm các công cụ hỗ trợ và các biện pháp phùhợp để bắt kịp xu hướng chung của thế giới và đạt được mục tiêu trong tươnglai gần Tiền mặt chỉ chiếm 10% tổng phương tiện Với mức độ phủ sóng viễnthông lên tới gần 100% dân số (Vietnam Digital Landscape, 2021), cộng vớiđặc điểm địa lý, nhân khẩu và kinh tế của Việt Nam, biện pháp hữu hiệu nhất

và duy nhất tại thời điểm đó chỉ có thể là Mobile Money

Việt Nam đã ủy quyền cho 48 tổ chức phi ngân hàng cung cấp dịch vụtrung gian thanh toán (NHNN, 2022) Tuy nhiên, theo quy định tại Thông tư39/2014 / TT-NHNN và các văn bản sửa đổi có liên quan, tài khoản bảo đảmthanh toán là tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam của tổ chức cung ứngdịch vụ trung gian thanh toán Mở tại các ngân hàng thương mại để đảm bảocung cấp dịch vụ trung gian thanh toán (NHNN, 2014) Do đó, thanh toán điện

tử phải được liên kết với tài khoản ngân hàng (không có sự tham gia độc lập

Trang 10

của tài khoản viễn thông), chẳng hạn như Vietcombank MOMO, MB Viettel, PGBank - Petrolimex, sản phẩm ví của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt.Cho đến nay, các nhà mạng như Viettel, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ViệtNam (VNPT) đã triển khai dịch vụ Mobile Money trên diện rộng Do đó, sựbùng nổ của dịch vụ Mobile Money tại Việt Nam được kỳ vọng trong tương laigần.

-Theo Báo cáo chuyên đề về đo lường hoạt động của người dân trên cácnền tảng số Việt Nam quý I/2022 được Bộ Thông tin và Truyền thông công bố,sau 3 tháng triển khai thí điểm, dịch vụ Mobile money đã đạt được một số kếtquả nhất định Cụ thể, số lượng khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ đạthơn 835.000 khách; trong đó, có 487.000 khách hàng ở nông thôn, miền núi,vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, chiếm 58,3% Số lượng tài khoảnMobile money đang hoạt động - có phát sinh ít nhất một giao dịch đạt 834.376tài khoản, tương đương 99,8%

Số lượng điểm kinh doanh dịch vụ Mobile money là 2.642 điểm, phủkhắp 63 tỉnh, thành phố trong cả nước; trong đó có 537 điểm kinh doanh ởnông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo Số lượng đơn vịchấp nhận sử dụng tài khoản Mobile money để thanh toán là 11.254 đơn vị; và

số lượng giao dịch đạt 7,5 triệu với giá trị lên tới 280 tỷ đồng

Theo đó, 3 doanh nghiệp (DN) là Tổng Công ty truyền thông VNPTMedia, Tổng Công ty Viễn thông MobiFone, Tập đoàn Công nghiệp Viễnthông quân đội – Viettel đã triển khai cung ứng dịch vụ tới khách hàng ngay từcuối tháng 11/2021, đến nay đã có hơn 1,1 triệu khách hàng; trong đó, số lượngkhách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng

xa, biên giới và hải đảo là gần 660.000 khách hàng chiếm hơn 60% tổng sốkhách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ

Đến cuối tháng 3/2022, hơn 3.000 điểm kinh doanh được thiết lập, tổng

số đơn vị chấp nhận thanh toán được thiết lập đến cuối tháng 3/2022 là hơn12.800, tổng số lượng giao dịch đã đạt hơn 8,5 triệu giao dịch với tổng giá trịhơn 370 tỷ đồng

Với số lượng điểm giao dịch rộng khắp của các nhà mạng di động,Mobile money cung cấp cho dân cư khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơichưa có mạng lưới hệ thống ngân hàng, cũng như cho đối tượng chưa hoặckhông có khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng có cơ hội tiếp cận và sử dụngdịch vụ chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng, thuận tiện

Bên cạnh đó, Mobile money mở ra cơ hội cho các nhà mạng khai tháchiệu quả cơ sở hạ tầng, tăng doanh thu và đa dạng hóa dịch vụ cung cấp, tiếntới, hoàn thiện hệ sinh thái kinh doanh Trong bối cảnh triển khai thí điểm khidịch bệnh COVID-19 còn nhiều diễn biến phức tạp, dịch vụ Mobile money

Trang 11

được nhận định đã tạo được niềm tin cho khách hàng sử dụng dịch vụ, đáp ứngmột phần nhu cầu của thực tiễn và từng bước đi vào cuộc sống.

4.2 Bài học kinh nghiệm của Thế giới

4.2.1 Philippines: Bùng nổ, nhưng không ổn định

Philippines là quốc gia có tỷ lệ người không sở hữu tài khoản ngân hàngthấp, địa hình bị chia cắt bởi nhiều đảo nên gây khó khăn cho việc thành lậpcác chi nhánh ngân hàng trên toàn quốc trên thực tế chỉ có 2.000 trên tổng số7.500 đảo có người sinh sống Chỉ khoảng 50% các đảo có người sinh sống có

sự xuất hiện của ngân hàng, trong đó có 36% thành thị chưa có ngân hàng nàoxuất hiện (GSMA, 2012)

Sự phát triển của điện thoại di động là cơ hội giúp dịch vụ MobileMoney có cơ hội bứt phá tại quốc gia này năm 2000 có 3% dân số Philippines

sử dụng di động, đến năm 2009 con số này là 68% (GSMA, 2009) TheoSatista (2021b), số người Philippines sử dụng di động là 82,3 triệu người năm

2021 và dự đoán đạt 90 triệu năm 2025 Có thể thấy, tiềm năng của thị trường

di động và thanh toán di động ở Philippines là rất lớn

Thực tế, việc phát triển Mobile Money gặp một số khó khăn Philippines

bị liệt kê vào danh sách xếp hạng rủi ro cao về tài trợ khủng bố cần theo dõi(năm 2001), dẫn đến khung pháp lý cho dịch vụ Mobile Money chặt chẽ hơn.Khách hàng phải đến đăng ký trực tiếp và xuất trình giấy tờ tùy thân có dánảnh hợp lệ

Các nhà mạng và ngân hàng phải lưu trữ tất cả dữ liệu giao dịch trongvòng 5 năm và báo cáo các giao dịch nghi ngờ là rửa tiền hoặc tài trợ khủng bốtheo định mức

Qua từng năm, định mức này tăng dần, từ hơn 4.000.000 peso/tàikhoản/giao dịch năm 2001 lên hơn 500.000 peso/tài khoản/giao dịch năm 2017

Những đại lý nếu muốn thực hiện chức năng nạp/rút tiền phải có giấyphép chuyển tiền và hoàn thành khóa học tập huấn về quy định pháp lý chốngrửa tiền và tài trợ khủng bố

Những quy định quá khắt khe khiến dịch vụ thanh toán qua di động bịtrì trệ trong nhiều năm Năm 2017, khung pháp lý được điều chỉnh có lợi hơncho khách hàng

Theo đó, thay vì chia thành 4 loại định mức như trước, thì hiện tại chỉcòn 2 loại định mức là giới hạn chuyển tiền hàng ngày và giới hạn số tiền trongmỗi lần giao dịch (SMART Money), định mức chuyển tiền hàng tháng(GCash)

Có thể thấy rằng, khung pháp lý đối với dịch vụ Mobile Money tạiPhilippines ban đầu là siết chặt với các quy định chặt chẽ, nhưng vẫn kết hợp

mô hình thử nghiệm và học hỏi (Test and Learn), sau đó có các điều chỉnh với

Trang 12

mục đích duy trì sự ổn định và mang đến lợi ích cho khách hàng cũng như cácbên liên quan mà vẫn đảm bảo hạn chế tối đa rủi ro.

4.2.2 Indonesia: Chậm ở giai đoạn đầu, tăng tốc ở giai đoạn sau

Indonesia có nhiều nét tương đồng với Philippines về mặt địa lý khi địahình bị chia cắt bởi hơn 17.000 hòn đảo, nên người dân sống tại những hòn đảo

xa không có điều kiện để tiếp cận dịch vụ tài chính của ngân hàng Chỉ có6.000 đảo có người sinh sống; 1 000 trong số đó được định cư vĩnh viễn Cáchòn đảo lớn bao gồm vùng đồng bằng ven biển với nhiều núi

Tuy nhiên, tại Indonesia, tỷ lệ sử dụng Internet ở Indonesia cho giaiđoạn 2021-2022 đạt 77,2%, nó tăng trưởng mạnh mẽ với tỷ lệ người trưởngthành sở hữu nhiều hơn một tài khoản di động Điều này tạo kỳ vọng giúpMobile Money nhanh chóng phát triển, nhưng thực tế là không dễ dàng

Đối với việc định danh khách hàng, khách hàng phải trực tiếp cung cấpgiấy tờ định danh do Chính phủ Indonesia ban hành, nhưng vì nhiều ngườitrong số họ là người di cư từ quốc gia khác và không muốn từ bỏ giấy tờ tại quênhà, nên Chính phủ Indonesia từ chối cấp giấy tờ định danh

Về giá trị giao dịch, trong trường hợp giao dịch vượt quá 100.000.000rupi/tổng giao dịch (năm 2006) và được điều chỉnh thành 500.000.000 rupihoặc với số tiền ngoại tệ có giá trị tương đương cho mỗi lần hay tổng các lầngiao dịch, các nhà mạng phải báo cáo cho Cơ quan tình báo tài chính Indonesia(Indonesian Financial Intelligence Unit - PPATK)

Đến tháng 9/2017, Ngân hàng Trung ương Indonesia đã ban hành khungpháp lý mới và phân chia định danh theo mức độ rủi ro của khách hàng Các cánhân không có đầy đủ giấy tờ hợp lệ vẫn có thể mở tài khoản bằng một tấmhình và thư giới thiệu từ địa phương nếu họ được đánh giá thuộc nhóm ít rủi ro

Nhìn chung, Indonesia siết chặt quản lý dịch vụ Mobile Money trongnhiều năm đầu và chỉ cởi mở hơn trong 2 năm gần đây nhằm thu hút ngườidùng Tuy nhiên, Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Indonesia cho đến nayvẫn chưa có quyết định chính thức về việc cho phép các nhà mạng toàn quyềnkiểm soát các hoạt động giao dịch

Có thể thấy rằng, Indonesia có khuynh hướng đưa ra các quy định chặtchẽ nhằm ổn định thị trường thanh toán cho đến khi các hoạt động đi vàokhuôn khổ thì mới bắt đầu điều tiết nhằm thu hút khách hàng để phát triển thịtrường, tức là “chậm ở giai đoạn đầu, tăng tốc ở giai đoạn sau”

4.2.3 Kenya: Bùng nổ và phát triển mạnh

Theo một báo cáo năm 2018 của Ngân hàng Thế giới (WB), Kenya làquốc gia có GDP thấp (87,91 tỷ USD) và tỷ lệ người sử dụng Internet cũng rấtthấp (17,8%), nên việc tiếp cận dịch vụ tài chính như ngân hàng điện tử… gặpnhiều khó khăn

Trang 13

Thực tế, người dân Kenya không có yêu cầu đa dạng về chức năng đốivới việc thanh toán, mà mục đích chính của họ là chuyển/nhận tiền từ thành thị

về quê nhà

Vì vậy, dịch vụ Mobile Money (M-Pesa) ra đời đã đáp ứng được nhucầu này, đồng thời giúp họ tiết kiệm thời gian, chi phí giao dịch so với các dịch

vụ truyền thống của ngân hàng

Tại thời điểm M-Pesa ra mắt, không có khung pháp lý chính thức chodịch vụ này và đến năm 2010 mới được ban hành

Để giải quyết vấn đề về định danh khách hàng, theo quy định, các nhàmạng phải đăng ký và thẩm định thông tin của tất cả các khách hàng sử dụngdịch vụ của M-Pesa Theo đó, khách hàng cần cung cấp giấy tờ tùy thân nhưthẻ công dân hay hộ chiếu cá nhân được Chính phủ Kenya cấp

Về cơ bản, tất cả người dân Kenya đều có thẻ công dân, nên thủ tụcđăng ký thanh toán qua di động trở nên đơn giản Bên cạnh đó, để đảm bảoquyền lợi về tài sản của khách hàng, đồng thời phòng chống các hành vi rửatiền và tài trợ khủng bố, Ngân hàng Trung ương Kenya yêu cầu M-Pesa phảithành lập quỹ tín thác (Trust Fund) dưới sự giám sát, kiểm tra của cơ quan này(nhưng không can thiệp thêm vào bất kỳ hoạt động nào của M-Pesa)

Sau khi phát triển đến một mức độ nhất định, các quy định pháp lý củadịch vụ này dần được thắt chặt hơn, thay vì nới lỏng như ban đầu

Tuy nhiên, tỷ lệ người sử dụng dịch vụ này vẫn tăng đáng kể qua cácnăm, điều này cho thấy dịch vụ Mobile Money là rất quan trọng với người dânKenya

Các ngân hàng thay vì là đối thủ cạnh tranh đã chuyển sang hợp tác vàtrở thành đối tác của M-Pesa Nhìn chung, sự bùng nổ và phát triển của dịch vụthanh toán qua di động tại Kenya theo khuynh hướng tương hỗ giữa các bênliên quan: Nhà mạng, ngân hàng và khách hàng

5. Các lợi ích và rủi ro của dịch vụ Mobile Money

5.1 Lợi ích của Mobile Money

Theo GSMA (2018), Gutierrez và Tony (2014), Tobin (2011), Winn vàKoker (2013), dịch vụ Mobile Money ngày càng cho thấy được hoạt động thiết thực, cụ thể như sau:

- Đối với người dân sử dụng: lợi ích lớn nhất được mọi người quan tâmđến là việc sử dụng Mobile Money an toàn hơn so với sử dụng bằng tiềnmặt Đặc biệt đối với những ai chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng hoặc sửdụng dưới dạng trải nghiệm sẽ giúp quá trình thanh toán, chuyển tiềncực kì đơn giản và thuận tiện hơn Bên cạnh đó dịch vụ Mobile Moneylàm tăng khả năng tiếp cận đến các dịch vụ tài chính đến mọi tầng lớp xãhội

Ngày đăng: 23/12/2022, 04:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Rủi ro của Mobile Money. Truy cập tại: https://phutho.gov.vn/vi/nguy-co-bao-mat-va-rui-ro-trong-trien-khai-mobile-money#:~:text=Trong%20giao%20d%E1%BB%8Bch%2C%20d%E1%BB%8Bch%2 0v%E1%BB%A5,%C4%91%E1%BA%BFn%20kh%C3%B4ng%20th%E1%BB%83 %20giao%20d%E1%BB%8Bch . 6. Kim Anh (2021) , Mobile Money là gì? Sử dụng như thế nào?, upload 10/03/2021 tại https://luatvietnam.vn/tin-phap-luat/mobile-money-la-gi-su-dung-the-nao-230-29339-article.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro của Mobile Money
1. GSMA (2018), State of the industry report on mobile money 2018. [Online]: Available. https://www.gsma.com/r/wp-content/uploads/2019/02/2018-State-of-the-Industry-Report-on-Mobile-Money-1.pdf Link
2. Gutierrez E. & Tony C. (2014), Mobile money services development: The cases of the Republic of Korea and Uganda, World Bank Policy Research Working Paper No. 6786. World Bank, Washington, DC. © World Bank.http://documents.worldbank.org/curated/en/503961468174904206/Mobile-money-services-development-the-cases-of-the-Republic-of-Korea-and-Uganda Link
7. TS. Lê Minh Toàn (Công ty Luật Lê Minh), TS. Dương Hải Hà (Học viện CNBCVT), Cơ hội và những thách thức khi triển khai dịch vụ Mobile money tại Việt Nam, upload 16-10-2022 tại https://ictvietnam.vn/co-hoi-va-nhung-thach-thuc-khi-trien-khai-dich-vu-mobile-money-tai-viet-nam-20210924085847289.htm Link
8. Lê Thanh Tâm & Nguyễn Thị Thu Trang (2021), Phát triển dịch vụ mobile money: cơ hội và thách thức tại Việt Nam, upload 29/09/2021 tạihttps://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/Phat-trien-dich-vu-mobile-money-co-hoi-va-thach-thuc-tai-Viet-Nam-158 Link
3. Tobin P. (2011), Understanding mobile money ecosystem: Roles, structure and strategies, 10th International Conference on Mobile Business, Conference Paper, July 2011 DOI: 10.1109/ICMB.2011.19 Khác
4. Winn J.K & Koker L. (2013), Introduction to mobile money in developing countries: Financial inclusion and financial integrity conference special issue, Washington Journal of law, Technology & Arts, Vol 8, No. 3, pp.155-63 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w