BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO NGUYỄN NGỌC HÙNG LẬP TRƯỜNG CỦA MỸ ĐỐI VỚI CÁC SỰ KIỆN LIÊN QUAN TỚI VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
NGUYỄN NGỌC HÙNG
LẬP TRƯỜNG CỦA MỸ ĐỐI VỚI CÁC SỰ KIỆN
LIÊN QUAN TỚI VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 9.31.02.06
Hà Nội – 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
NGUYỄN NGỌC HÙNG
LẬP TRƯỜNG CỦA MỸ ĐỐI VỚI CÁC SỰ KIỆN
LIÊN QUAN TỚI VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH
Chuyên ngành : Quan hệ quốc tế
Mã số : 9.31.02.06
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VŨ TÙNG
Hà Nội - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án “Lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh” là công
trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong Luận án là trung thực và chưa được công bố
Hà Nội, tháng 11 năm 2022
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS.Nguyễn Vũ Tùng đã hướng dẫn tôi thực hiện luận án này Trong suốt quá trình thực hiện luận án, thầy đã động viên và tận tình hướng dẫn tôi, từ nguồn tài liệu nghiên cứu, cho đến phương pháp thực hiện, nhất là quyết tâm để hoàn thành luận án và định hướng học tập, nghiên cứu sau này Từ đó tôi đã có thêm động lực và quyết tâm cao để hoàn thành luận án Nếu không có thầy, tôi sẽ không thể nào hoàn thành được luận án này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS.Vũ Dương Huân, GS.TS.Nguyễn Thái Yên Hương, PGS.TS.Nguyễn Thị Hạnh, TS.Đỗ Thị Thanh Bình và các thầy, cô đã tham gia giảng dạy nghiên cứu sinh tại Học viện Ngoại giao, thầy Dương Văn Quảng, thầy Đỗ Sơn Hải, thầy Võ Kim Cương, thầy Hoàng Khắc Nam, cô Trần Thị Vinh, cô Nguyễn Thị Thanh Thủy, cô Khổng Thị Bình, cô Trịnh Thị Xuyến, cô Trần Huyền Trang, thầy
Hà Anh Tuấn , cùng các thầy cô đã đọc, góp ý, phản biện, cho tôi những lời khuyên quý báu để hoàn thiện luận án
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của Phòng Đào tạo sau Đại học, không
có sự giám sát, đôn đốc của Phòng, các nghiên cứu sinh như chúng tôi khó có
nỗ lực để hoàn thành luận án Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, ủng hộ, tạo điều kiện rất nhiều cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án này
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
BẢNG DANH MỤC MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ XÁC ĐỊNH LẬP TRƯỜNG CỦA MỸ ĐỐI VỚI CÁC SỰ KIỆN LIÊN QUAN TỚI VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH 18
1.1 Cơ sở lý luận 18
1.1.1 Lợi ích quốc gia và chính sách đối ngoại 18
1.1.2 Xung đột quốc tế và giải quyết xung đột quốc tế 24
1.1.3 Lập trường của quốc gia đối với tranh chấp, xung đột quốc tế 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1 Bối cảnh quốc tế và chính sách đối ngoại của Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh 31
1.2.2 Sự can dự của Mỹ vào Việt Nam thời kỳ Chiến tranh Lạnh 35
1.2.3 Chủ quyền của Việt Nam và quá trình can dự của Mỹ ở Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh 43
Tiểu kết chương 1 50
CHƯƠNG 2: CÁC SỰ KIỆN LIÊN QUAN TỚI VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA MỸ 52
2.1 Lập trường của Mỹ tại hội nghị San Francisco năm 1951 52
2.1.1 Bối cảnh lịch sử 52
2.1.2 Diễn biến của hội nghị 58
2.1.3 Lập trường của Mỹ 61
2.2 Lập trường của Mỹ đối với tranh chấp tại Hoàng Sa năm 1956 64
Trang 62.2.1 Bối cảnh lịch sử 64
2.2.2 Hoạt động, phản ứng của Mỹ 66
2.2.3 Lập trường của Mỹ 71
2.3 Lập trường của Mỹ đối với xung đột tại Hoàng Sa năm 1974 74
2.3.1 Bối cảnh lịch sử 74
2.3.2 Hoạt động, phản ứng của Mỹ 77
2.3.3 Lập trường của Mỹ 86
2.4 Lập trường của Mỹ đối với xung đột tại Trường Sa năm 1988 90
2.4.1 Bối cảnh lịch sử 90
2.4.2 Hoạt động, phản ứng của Mỹ 93
2.4.3 Lập trường của Mỹ 96
Tiểu kết chương 2 98
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VỀ LẬP TRƯỜNG CỦA MỸ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY 100
3.1 Nhận xét về lập trường của Mỹ 100
3.1.1 Những điểm cơ bản trong lập trường của Mỹ 100
3.1.2 Những nhân tố tác động đến lập trường của Mỹ 105
3.1.3 Tác động tới cục diện tình hình Biển Đông 119
3.2 Một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay 121
3.2.1 Cục diện thế giới, khu vực và tình hình Biển Đông hiện nay 121
3.2.2 Chính sách của Mỹ trong vấn đề Biển Đông hiện nay 127
3.2.3 Một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam 136
Tiểu kết chương 3 144
KẾT LUẬN 146
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 165
Trang 7BẢNG DANH MỤC MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT
ZEALAND, UNITED STATES SECURITY TREATY
Hiệp ước an ninh Úc, New Zealand, Mỹ
FORUM
Diễn đàn khu vực ASEAN
SOUTHEAST ASIAN NATIONS
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
INTELLIGENCE AGENCY
Cục Tình báo trung ương Mỹ
CINCPAC COMMANDER IN CHIEF,
Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế (Mỹ)
Hội nghị cấp cao Đông Á
RELATIONS OF THE UNITED STATES
Các tài liệu chính thức về quan hệ đối ngoại quan trọng của Hoa Kỳ
COURT OF JUSTICE
Tòa án công lý quốc tế
STAFF
Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (Mỹ)
Trang 8MACV THE US MILITARY
ASSISTANCE COMMAND, VIETNAM
Bộ chỉ huy viện trợ quân sự
Mỹ tại Sài Gòn
MIA MISSING IN ACTION Binh lĩnh Mỹ mất tích trong
chiến tranh ở Việt Nam
TREATY ORGANIZATION
Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
COUNCIL
Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ
Trường nghiên cứu quốc tế
S Rajaratnam (Singapore)
TREATY ORGANIZATION
Tổ chức hiệp ước Đông Nam
Á
CONVENTION ON THE LAW OF THE SEA
Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế cũng như an ninh quốc phòng của Việt Nam Về mặt kinh tế, Biển Đông chứa đựng nguồn tài nguyên thủy hải sản phong phú và nguồn tài nguyên dầu mỏ, khí đốt dồi dào, là nguồn sống của người dân nước ta từ xa xưa cũng như phục vụ thiết thực cho công cuộc phát triển kinh tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ta hiện nay Về mặt an ninh quốc phòng, Biển Đông đóng vai trò là tuyến phòng thủ phía đông và nam của đất nước Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại ở Biển Đông, là các
vị trí phòng thủ chiến lược từ hướng biển đối với Việt Nam
Nhiều dữ liệu lịch sử đã ghi nhận, ít nhất từ thế kỷ thứ XVII, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hòa bình, liên tục Chính quyền thời kỳ Việt Nam thuộc Pháp đã tiếp tục tiến hành nhiều hoạt động khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này Trong Chiến tranh thế giới thứ Hai, Nhật Bản đã chiếm hai quần đảo nhưng tại hội nghị San Francisco năm 1951 về giải quyết vấn đề lãnh thổ sau chiến tranh, Nhật Bản đã phải từ bỏ các lãnh thổ đã chiếm đóng, trong đó có hai quần đảo trên Mặc dù vậy, với những biến động của thời cuộc, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh giữa hai khối Đông – Tây diễn ra kéo theo toàn cầu vào vòng xoáy của nó, ngoài sự kiện hội nghị San Francisco năm 1951, vào các năm 1956, 1974 và 1988 đã diễn ra các sự kiện tranh chấp, xung đột tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa Các sự kiện trên đều diễn ra trong thời
kỳ Chiến tranh Lạnh là thời kỳ đặc biệt trong lịch sử thế giới, quan hệ giữa các nước lớn có nhiều diễn biến phức tạp Đây cũng là thời kỳ Mỹ từng bước
Trang 10gián tiếp rồi trực tiếp can thiệp vào tình hình Việt Nam, có vai trò quan trọng đối với những diễn biến xảy ra liên quan đến Việt Nam trong một thời gian dài, trong đó có các sự kiện tranh chấp, xung đột xảy ra ở Biển Đông
Đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngoại giao Việt Nam và ngày càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh tranh chấp ở Biển Đông diễn biến phức tạp trong những năm qua Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực chuyển biến nhanh chóng, sâu sắc, khó lường; cạnh tranh giữa các nước lớn căng thẳng, gay gắt, tác động trực tiếp tới việc triển khai các biện pháp bảo vệ chủ quyền
và đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam Trong bối cảnh đó, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và tuyên truyền về chủ quyền biển đảo đòi hỏi Việt Nam cần tiếp tục bổ sung các luận cứ khoa học, lịch sử và pháp lý
Từ góc độ trên, việc nghiên cứu, làm rõ về lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan đến Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh sẽ đóng góp thêm vào việc nghiên cứu về vấn đề Biển Đông từ góc độ lịch sử, từ đó giúp rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá khứ để đánh giá, vận dụng vào hoạt động thực tiễn hiện tại và tương lai Việc làm rõ
về lập trường của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, kết hợp với phân tích
về lập trường và xem xét chiều hướng can dự của Mỹ ở Biển Đông sẽ góp phần dự báo lập trường của Mỹ trong các tranh chấp, xung đột có thể xảy ra trong tương lai, qua đó nhận thức rõ hơn những thuận lợi, khó khăn đặt ra đối với Việt Nam, giúp Việt Nam chủ động chuẩn bị các kịch bản ứng phó, bảo
vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia ở Biển Đông
Với tính thời sự, ý nghĩa khoa học và thực tiễn như trên, được sự gợi
mở của giáo sư hướng dẫn, nghiên cứu sinh chọn thực hiện đề tài: “Lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh” để nghiên cứu, viết luận án tiến sĩ
Trang 112 Tình hình nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1.1 Các nghiên cứu về lợi ích, mục tiêu, chính sách của Mỹ ở Biển Đông
Cho đến nay, đã có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về các khía cạnh liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông như lịch sử xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam; thực trạng tranh chấp, lập trường của các bên liên quan; quan hệ quốc tế, luật pháp, chính sách của các nước…Đáng chú ý, trong khoảng 10 năm trở lại đây, cùng với những diễn biến căng thẳng, phức tạp ở Biển Đông, các công trình nghiên cứu về tranh chấp ở Biển Đông ngày càng nhiều Trong đó, đã có một số tác giả ở cả trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu, luận giải về lợi ích, mục tiêu, chính sách của Mỹ ở Biển Đông
Bài “Những thay đổi trong cách nhìn nhận lợi ích và chính sách của Mỹ ở Biển Đông từ sau ARF 2010” của tác giả Nguyễn Minh Ngọc in trong cuốn
“Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển Đông”, Học viện Ngoại
giao (2015) cho rằng, tuyên bố của ngoại trưởng Hillary Clinton năm 2010 về việc Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông là một dấu mốc đánh dấu sự thay đổi chính sách của Mỹ ở Biển Đông, thể hiện sự quan tâm ở mức cao nhất của
Mỹ đối với các tranh chấp Sự thay đổi lập trường và chính sách của Mỹ cũng
mở ra một số câu hỏi quan trọng, có khả năng tác động lớn đối với cục diện tranh chấp, bởi ngoài Trung Quốc và ASEAN, Mỹ với tư cách là quốc gia có sức mạnh quân sự vượt trội có thể sẽ là một trong những “người chơi” chính
quyết định diễn tiến tranh chấp Bài “Lợi ích của Mỹ ở Biển Đông” của tác
giả Phạm Thùy Trang, tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2009) đã phân tích các lợi ích về tự do hàng hải, kinh tế, an ninh và quân sự của Mỹ ở Biển Đông, từ đó cho rằng khi nhận thấy lợi ích ngày càng tăng thì Mỹ cũng thay đổi chính sách, từ “không can dự” tới “can dự một phần” vào vấn đề Biển Đông Bài
“Chính sách Biển Đông của Mỹ hiện nay” của tác giả Hà Mỹ Hương, tạp chí
Trang 12Lý luận chính trị (2013) đã phân tích về lợi ích, mục tiêu, nội dung và các bước triển khai chính sách của Mỹ ở Biển Đông, trong đó nhấn mạnh một mặt
Mỹ theo đuổi chính sách trung lập, không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền nhưng mặt khác, Mỹ ngày càng dính líu sâu vào quá trình giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á ở Biển Đông Bài
“Những điều chỉnh gần đây trong chính sách Biển Đông của Mỹ” của tác giả
Hà Hồng Hải, tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2014) đã phân tích về lợi ích của
Mỹ và điều chỉnh chính sách đáng chú ý của Mỹ ở Biển Đông từ sau Chiến
tranh Lạnh Bài “Vấn đề Biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh” của tác giả Trần Thị Quỳnh Nga,
tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (2017) cho rằng vấn đề Biển Đông là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách châu Á - Thái Bình Dương của
Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh, thể hiện qua việc thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến
liên quan đến Biển Đông Bài “Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông”
của tác giả Nguyễn Thanh Minh, chuyên trang Nghiên cứu Biển Đông (2017)
đã trình bày các lợi ích của Mỹ ở Biển Đông, quan điểm của Mỹ đối với các tranh chấp, từ đó phân tích chính sách và xu hướng can dự của Mỹ ở Biển
Đông Bài “Biển Đông trong quan hệ Trung - Mỹ” của tác giả Vũ Duy
Thành, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2019) cho rằng, khi Trung Quốc chưa đủ sức thách thức Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thì Biển Đông chỉ chiếm vị trí thứ yếu trong quan hệ Trung - Mỹ nhưng đến nay, có thể thấy vấn
đề Biển Đông đã trở thành một trong những tâm điểm của cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ Nếu như quan hệ Trung - Mỹ sẽ định hình cục diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI, thì vấn đề Biển Đông sẽ là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình vận động đó Một số cuốn sách, công trình khác cũng đề cập đến lợi ích, mục tiêu, chính sách của Mỹ ở
Trang 13Biển Đông Cuốn “Chính sách Biển Đông của Hoa Kỳ trong bối cảnh mới”
của tác giả Phạm Cao Cường chủ biên, Nxb Khoa học xã hội (2019) đã phân tích những nhân tố tác động tới chính sách của Mỹ đối với Biển Đông hiện nay, trong đó nhấn mạnh đến nhân tố Trung Quốc và việc quân sự hóa Biển Đông; nội dung chính sách, trong đó nhấn mạnh điểm xuyên suốt là Mỹ bảo
vệ lợi ích quốc gia của Mỹ tại khu vực; đưa ra dự báo và một số gợi ý cho Việt Nam, trong đó cho rằng Mỹ sẽ tiếp tục áp dụng các biện pháp kiềm chế cứng rắn với Trung Quốc, khuyến nghị Việt Nam cần tiếp tục làm rõ mục tiêu, chính sách của các nước ở Biển Đông
Vấn đề Biển Đông cũng thu hút sự chú ý của rất nhiều học giả nước ngoài Các hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức từ năm 2009 thu hút nhiều tham luận có giá trị của các học giả quốc tế Các trung tâm, viện nghiên cứu có uy tín trên thế giới cũng quan tâm đến vấn đề Biển Đông, thu hút nhiều nghiên cứu về chính sách của các nước liên quan, vai trò của ASEAN, các vấn đề về luật pháp quốc tế…trong đó nhiều tác giả đã quan tâm, nghiên cứu về vấn đề lợi ích, mục
tiêu, chính sách của Mỹ trong vấn đề Biển Đông Bài “U.S Policy towards the Disputes in the South China Sea since 1995” (Chính sách của Mỹ đối với tranh chấp ở Biển Đông từ 1995 đến nay) của tác giả M Taylor Fravel, trang
nghiên cứu của Viện RSIS (2014) đã nhấn mạnh chính sách của Mỹ đối với các tranh chấp ở Biển Đông từ năm 1995 trở đi, với dấu mốc là thời điểm Mỹ
ra tuyên bố liên quan đến lập trường của Mỹ về các tranh chấp ở Biển Đông Tác giả cho rằng, trong tương lai, nếu các tranh chấp chưa được giải quyết, các quốc gia vẫn thực hiện những tuyên bố và hành động nhằm khẳng định và bảo vệ yêu sách của mình, Mỹ sẽ tăng cường hơn nữa sự can dự vào vấn đề
Biển Đông Tham luận “Recent trends in the South China Sea and U.S policy” (Những xu hướng gần đây ở Biển Đông và chính sách của Mỹ) của
Trang 14tác giả Gregg Poling tại hội thảo CSIS năm 2014 cho rằng, căng thẳng ở Biển Đông tiếp tục leo thang với việc Philippines đệ trình vụ kiện về vấn đề Biển Đông lên Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982, việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam Các diễn biến cho thấy tình hình phức tạp và nhấn mạnh sự cần thiết phải quản lý
các tranh chấp ở Biển Đông Bài “Cooperation from strength: The United States, China and the South China Sea” (Hợp tác dựa trên sức mạnh: Mỹ, Trung Quốc và Biển Đông) của hai tác giả Patrick M Cronin và Robert D
Kaplan, thuộc Trung tâm an ninh Mỹ mới (CNAS) (2014) cho rằng, lợi ích của
Mỹ trong khu vực đang bị đe dọa, luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy
cơ “bị xem xét lại” tại Biển Đông, từ đó đưa ra những khuyến nghị cho các nhà
hoạch định chính sách Mỹ Bài “Deciphering the shift in America's South China Sea policy” (Giải mã sự thay đổi trong chính sách Biển Đông của Mỹ)
của tác giả Phuong Nguyen, tạp chí Contemporary Southeast Asia (2016), cho rằng việc Trung Quốc cải tạo đảo quy mô lớn tại quần đảo Trường Sa giai đoạn 2013-2015 đã thúc đẩy một bước ngoặt trong chính sách của Mỹ đối với Biển Đông Khả năng Trung Quốc sử dụng các đảo nhân tạo để thiết lập quyền kiểm soát lớn hơn, hạn chế sự tiếp cận của Mỹ đối với vùng biển và vùng trời ở Biển Đông đã dẫn đến việc đánh giá lại vai trò của Biển Đông như một phần trong lợi ích cốt lõi của Mỹ, trong đại chiến lược của Mỹ ở Tây
Thái Bình Dương Bài “Recalibrating U.S Strategy in the South China Sea” (Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông) của tác giả Joel Wuthnow,
trang nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) (2017) cho
rằng chính sách của Mỹ ở Biển Đông đã không thể giải quyết hoàn toàn hai
vấn đề: Trung Quốc tiếp tục tăng cường sức mạnh quân sự và bán quân sự trong khu vực; nguy cơ về một sự cố trên biển leo thang thành cuộc xung đột lớn Chiến lược của Mỹ nên được xác định lại thông qua sự hợp tác được duy
Trang 15trì liên tục; các biện pháp răn đe được điều chỉnh thích hợp hơn; đưa ra các
thông điệp rõ ràng và nhất quán hơn Bài “Getting serious about strategy in the South China Sea” (Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông) của hai tác giả Hal Brands và Zack Cooper, tạp chí Naval War
College Review (2018) nhận định, Mỹ đang gặp khó khăn do không có chiến lược xác định tại Biển Đông Trong gần một thập kỷ qua, với cường độ ngày càng tăng từ năm 2014, Trung Quốc đã dùng biện pháp lấn dần từng bước để
có được ưu thế tại vùng biển quốc tế quan trọng này, làm xói mòn các chuẩn mực và lợi ích mà Mỹ bảo vệ Đến nay, Mỹ vẫn đang tìm biện pháp để ứng phó hiệu quả hơn, tình hình Biển Đông đang ở thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động lại giảm đi
Các tác giả Trung Quốc cũng rất quan tâm tìm hiểu lợi ích, mục tiêu, chính sách của Mỹ ở Biển Đông Bài “美国的南海政策缘何趋于强硬” (Tại sao
chính sách Biển Đông của Mỹ ngày càng cứng rắn) của tác giả Chu Kỳ, tạp
chí Thế giới đương đại (2014), đã phân tích chính sách của Mỹ từ năm 1990 đến 2014 và cho rằng Mỹ đã chuyển từ trung lập, quan sát sang can dự ngày càng sâu, đồng thời phân tích các nguyên nhân khiến Mỹ điều chỉnh chính sách theo hướng ngày càng cứng rắn trong vấn đề Biển Đông Các bài “美国南
海政策剖析” (Phân tích chính sách Biển Đông của Mỹ) của tác giả Sái Bằng Hồng, tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại (2009); “美国的南海政策:目标与战略” (Chính sách Biển Đông của Mỹ: mục tiêu và chiến lược) của tác giả Thời
Vĩnh Minh, tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2015), đã phân tích chính sách Biển Đông của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh, những mục tiêu hướng tới và chiến lược thực thi, xem Mỹ là đối thủ buộc Trung Quốc phải có biện pháp đối phó
Bài “美国对南海问题战略考量的变迁” (Đánh giá biến chuyển trong chính sách
Trang 16Biển Đông của Mỹ) của tác giả Hà Vĩ Bảo, Tạp chí nghiên cứu quốc tế (2016)
đã điểm lại sự can dự của Mỹ vào tình hình Biển Đông từ những năm trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, từ đó cho rằng Mỹ đã chuyển từ lập trường trung lập sang can dự ngày càng sâu vào vấn đề Biển Đông Bài “五不政策: 美国南海
政策解读” (Chính sách “5 không”: Lý giải chính sách Biển Đông của Mỹ) của
tác giả Tín Cường, tạp chí Nghiên cứu nước Mỹ (2014) cho rằng từ nhiều năm nay, Mỹ duy trì lập trường “3 không” gồm: không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền; phản đối cản trở tự do hàng hải; phản đối đơn phương thay đổi hiện trạng Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, xuất phát từ lo ngại
về sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ đã bắt đầu can dự sâu hơn vào Biển Đông, trên cơ sở chính sách “3 không” đã bổ sung thêm 2 điểm: phản đối dựa vào căn cứ lịch sử để đòi hỏi chủ quyền; phản đối việc giải quyết tranh chấp trên biển bằng biện pháp song phương Việc bổ sung này tạo thành khung chính sách “5 không” của Mỹ trong vấn đề Biển Đông
2.1.2 Các nghiên cứu về lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu nhìn lại các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh, trong đó có một
số nghiên cứu đã xem xét, đề cập đến vai trò, hoạt động, lập trường của Mỹ
liên quan đến sự kiện Về hội nghị San Francisco năm 1951, bài “Hội nghị San Francisco (9.1951) với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa” của tác giả Phạm Ngọc Bảo Liêm, Tạp
chí Nghiên cứu lịch sử (2011) đã trình bày về nội dung hội nghị, một số hoạt động của Mỹ tại hội nghị, qua đó nhấn mạnh sự thừa nhận của hội nghị về
chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Bài “Về một số hội nghị quốc
tế liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 17(1943-1951)” của tác giả Nguyễn Thanh Minh, Tạp chí Nghiên cứu Trung
Quốc (2014) đã điểm lại vấn đề Biển Đông tại các hội nghị quan trọng diễn ra giai đoạn 1943 – 1951, từ đó cho thấy xuyên suốt các hội nghị quốc tế, từ Cairo cho đến San Francisco đều đã thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Cuốn “Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa” của tác giả
Nguyễn Nhã, Nxb Giáo dục (2013), đã phân tích bối cảnh dẫn đến các sự kiện tranh chấp đối với hai quần đảo trong lịch sử, từ đó khẳng định chủ
quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Cuốn “Về vấn đề Biển Đông” của tác giả Nguyễn Ngọc Trường, Nxb Chính trị quốc gia
(2014), đã trình bày những nội dung phong phú về vấn đề Biển Đông, như quá trình Việt Nam xác lập chủ quyền, kiểm soát và quản lý hai quần đảo, diễn biến sự can dự của các nước, các bên liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông Tác giả cũng đã điểm lại các sự kiện liên quan xảy ra ở Biển Đông thời Chiến tranh Lạnh, trong đó đã đề cập vai trò của Mỹ trong các sự kiện năm
1974 và năm 1988 Cuốn“Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông” của nhóm
tác giả thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (2019), tập trung trình bày quá trình thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
từ thời xưa cho đến năm 2017, trong đó đã đề cập các sự kiện tranh chấp xảy
ra trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh Cuốn “Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020 ” của các tác giả
Nguyễn Thị Quế và Bùi Đức An, Nxb Chính trị quốc gia (2021), đã phân tích khái quát tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa trước năm 1988; lý giải nguồn gốc, thực trạng tranh chấp từ năm 1988 đến 2020; dự báo kịch bản xảy ra và đề xuất giải pháp giải quyết tranh chấp với phương châm giảm thiểu nguy cơ va chạm, xung đột, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định
Trang 18ở khu vực và trên thế giới Tham luận: “Chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dưới thời chính quyền Sài Gòn” của tác giả Nguyễn Đình Dũng
trình bày tại hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” (Đại học Huế - 2016) đã đề cập đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dưới thời chính quyền Sài Gòn Tác giả đã đề cập đến
sự kiện xảy ra ở Hoàng Sa năm 1956 và năm 1974, trong sự kiện năm 1974 có nói đến việc chính quyền Sài Gòn đã đề nghị Mỹ giúp đỡ nhưng đã không nhận
được hỗ trợ Tham luận: “Quần đảo Hoàng Sa từ sau ngày 19 tháng 1 năm
1974 đến trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Nhìn từ mặt trận ngoại giao của chính phủ Sài Gòn” của tác giả Bùi Văn Tiếng cũng tại hội thảo trên đã trình
bày những hoạt động của chính quyền Sài Gòn trong lĩnh vực ngoại giao sau khi xảy ra sự kiện 19-1-1974, khái quát phản ứng của các bên có liên quan, trong đó có phản ứng của Mỹ
Trong các sự kiện tranh chấp, xung đột đã diễn ra, sự kiện năm 1974
được nhiều tác giả quan tâm Ngoài hai tham luận vừa kể trên, bài “Phản ứng của Hoa Kỳ đối với sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1974)” của tác giả Trần Nam Tiến, tạp chí Lịch sử quân sự (2014),
đã trình bày và phân tích bối cảnh, diễn biến và phản ứng của Mỹ trong sự kiện xung đột năm 1974, nhấn mạnh đến thái độ im lặng, không can thiệp của
Mỹ Bài “Lập trường của Trung Quốc đối với sự kiện Hoàng Sa 1974 và phản ứng ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa: Tiếp cận từ tài liệu lưu trữ của
Bộ Ngoại giao Pháp” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Ninh Xuân Thao,
Phạm Hà Nam, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2022), trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu lưu trữ của Pháp đã trình bày về sự kiện năm 1974, trong khi tập trung làm rõ lập trường của Trung Quốc và phản ứng ngoại giao của chính quyền Sài Gòn, bài viết đã đề cập đến một số chi tiết về vai trò của Mỹ trong sự kiện
này Bài “Trung Quốc chiếm mới các thực thể ở Biển Đông: Bài học lịch sử
Trang 19và quy luật rút ra” của tác giả Lê Như Mai, chuyên trang Nghiên cứu Biển
Đông (2020) đã phân tích các sự kiện Hoàng Sa (1974), cuộc tấn công ở Trường Sa (1988), sự kiện Đá Vành Khăn (1995) và sự kiện Bãi cạn Scarborough (2012) để tìm ra những quy luật khi Trung Quốc hành động Tác giả cho rằng, trong các sự kiện năm 1974 và 1988, Trung Quốc đã tính toán
và hành động khi nhận thấy khả năng không can thiệp của Mỹ và Liên Xô
Một số nhà nghiên cứu nước ngoài cũng có các nghiên cứu liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh và phản ứng, vai trò
của Mỹ Tác giả Mara Hurwitt trong nghiên cứu:“U.S Strategy in Southeast Asia: The Spratly Islands dispute” (Chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á: tranh chấp quần đảo Trường Sa) (1993) đã phân tích chính sách của Mỹ đối với
tranh chấp ở quần đảo Trường Sa trong tổng thể chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á Tác giả đã tìm hiểu nguồn gốc vấn đề, các khía lịch sử, pháp lý, quan điểm của các bên liên quan, đánh giá lợi ích của Mỹ, khả năng xảy ra những
vụ xung đột tương tự và đưa ra các lựa chọn chính sách đối với Mỹ Bài “The South China Sea Dispute Re-visited” (Nhìn lại tranh chấp ở Biển Đông)
(1999) của tác giả Ang Cheng Guan đã đánh giá tranh chấp ở Biển Đông bằng cách xem xét các sự kiện năm 1974 và 1988 liên quan đến Việt Nam và sự kiện bãi Vành Khăn năm 1995 liên quan đến Philippines Tác giả cho rằng các sự kiện đã chứng tỏ lập trường tránh xa, không can dự của Mỹ trong vấn
đề Biển Đông là nhất quán từ những năm 1970 Tác giả Stein Tonnesson có
bài “The Paracels: The “other” South China Sea distpute” (Quần đảo Hoàng Sa: một tranh chấp khác ở Biển Đông) (2001) cho rằng tranh chấp ở Biển
Đông không chỉ ở Trường Sa mà còn có tranh chấp ở Hoàng Sa, tuy không phức tạp như ở Trường Sa do chỉ liên quan đến Trung Quốc và Việt Nam nhưng lại có lịch sử lâu dài, qua nhiều biến cố Tác giả điểm lại lịch sử tranh chấp, nhấn mạnh đến tầm quan trọng về chính trị và kinh tế của Hoàng Sa, vai
Trang 20trò của tranh chấp Hoàng Sa đối với quan hệ Việt – Trung và ảnh hưởng, tác động của tranh chấp này đối với việc giải quyết tranh chấp chủ quyền và phân
định biển ở Biển Đông Tác giả Yoshihara có bài "The 1974 Paracels Sea Battle: A Campaign Appraisal" (Hải chiến Hoàng Sa 1974 - một đánh giá về
mặt chiến dịch), Naval War College Review (2016) Dưới góc độ quân sự, bài viết cho rằng cuộc xung đột năm 1974 đã minh họa cho cách thức Trung Quốc thực hiện các chiến thuật như thế nào để ngăn chặn và đánh bại các đối
thủ, giành lợi thế ở Biển Đông Bài “Chính sách của Liên Xô/Nga ở châu Á – Thái Bình Dương và trong tranh chấp ở Biển Đông: quá khứ và hiện tại” của
tác giả Dmitri Mosyakov in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Biển Đông: hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức (2012) đã nhắc đến sự kiện năm 1988 và cho rằng Liên Xô lúc đó có vai trò là chủ thể chính trong chính trị quốc tế ở khu vực Đông Nam Á, có thể tác động đến tình hình Biển Đông để ngăn cản bước tiến của Trung Quốc xuống phía Nam Chỉ đến năm 1988 khi biết rõ Liên Xô đang
khó khăn nội bộ, Trung Quốc mới tiến xuống Trường Sa Bài “Rocking the boat: the Paracels, the Spratlys and the South China Sea arbitration” (Vấn đề phức tạp: Hoàng Sa, Trường Sa và phán quyết Biển Đông) của tác giả Kirsten
Sellars, tạp chí Columbia Journal of Asian Law (2017), đã trình bày quá trình tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ sự kiện năm 1974, sau đó phân tích các nội dung trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Liên hợp quốc trong vụ kiện tranh chấp ở Biển Đông do Philippines khởi xướng Bài nghiên cứu đã dẫn nhiều văn kiện, tư liệu của các cơ quan ngoại giao Mỹ trong sự kiện năm 1974 qua đó trình bày về phản ứng của Mỹ và các bên liên quan trong sự kiện này
Về phía các tác giả Trung Quốc, bài nghiên cứu: “冷战前美国的南中国海
政策:美早已介入南海事务” (Chính sách Biển Đông của Mỹ thời kỳ trước
Trang 21Chiến tranh Lạnh: Mỹ đã sớm can dự vào vấn đề Biển Đông) của tác giả
Trương Minh Lượng, tạp chí Nghiên cứu các vấn đề Nam Hải (2010) đã trình bày và phân tích nền tảng chính sách biển của Mỹ và các sự kiện xảy ra liên quan đến Biển Đông từ những năm trước chiến tranh thế giới thứ Hai, từ đó đi đến kết luận là Mỹ từ rất sớm đã can dự vào vấn đề Biển Đông Tác giả cho rằng chính sách của Mỹ trong giai đoạn trước và trong Chiến tranh Lạnh sẽ là nền tảng cho chính sách Biển Đông của Mỹ sau này Bài “冷战时期美国对华战略下的南海政策研究” (Nghiên cứu về chính sách Biển Đông của Mỹ trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc thời kỳ Chiến tranh Lạnh) của tác giả
Triệu Quyên, Đại học Nam Kinh (2015) cho rằng, Mỹ là cường quốc lớn trên thế giới, có vai trò quan trọng đối với chính trị quốc tế, khu vực, do đó bất cứ thảo luận nào liên quan đến vấn đề Biển Đông cũng không thể không đề cập, phân tích vai trò của Mỹ Đồng thời, qua xem xét các giai đoạn khác nhau trong quá trình Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông cũng cho thấy bất cứ giai đoạn nào, chính sách của Mỹ đều chịu ảnh hưởng của nhân tố Trung Quốc
2.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và vấn đề đặt ra
Do tính rộng lớn và phức tạp của các tranh chấp ở Biển Đông, khó có thể kể hết các công trình nghiên cứu liên quan đến lợi ích, vai trò, chính sách, lập trường của Mỹ liên quan đến tình hình Biển Đông Có thể khẳng định rằng, Mỹ là một nhân tố quan trọng khi nghiên cứu về tình hình tranh chấp ở Biển Đông, trong khi Biển Đông ngày càng trở thành một phần không thể thiếu khi nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ Qua việc sưu tập, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tranh chấp ở Biển Đông, tác giả nhận thấy,
cho đến nay: (i) Số công trình nghiên cứu về tranh chấp ở Biển Đông rất
nhiều và phong phú, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên liên quan đến Mỹ, đa số tập trung vào các đề tài về chính sách, lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh, khi sự can dự của Mỹ vào
Trang 22Biển Đông đã rõ ràng hơn; (ii) Số công trình đề cập và đi sâu phân tích về
hoạt động, vai trò của Mỹ đối với các tranh chấp, xung đột ở Biển Đông trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh không nhiều; số nghiên cứu về lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan đến Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ
Chiến tranh Lạnh lại càng ít; (iii) Đã có một số nghiên cứu đi vào tìm hiểu,
phân tích vai trò, phản ứng, hoạt động của Mỹ đối với một số sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh nhưng các công trình đó thường mới nêu vấn đề mà chưa tập trung đi sâu phân tích,
lý giải, làm rõ lập trường của Mỹ; các phân tích cũng chưa thành hệ thống, chưa bao quát các sự kiện đã xảy ra; nhất là việc dựa vào các tài liệu giải mật của Mỹ liên quan đến giai đoạn này để phân tích, lý giải, làm rõ lập trường của Mỹ cũng chưa nhiều
Mỹ là một trong hai siêu cường thế giới thời kỳ Chiến tranh Lạnh và là cường quốc hàng đầu thế giới trong cục diện “nhất siêu đa cường” hiện nay Tuy không phải là một bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông nhưng với vai trò, vị thế của một cường quốc, lập trường của Mỹ có tác động, ảnh hưởng lớn đến cục diện tình hình Biển Đông Do đó, vấn đề đặt ra là cần tìm hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ và có hệ thống về lập trường của Mỹ đối với các sự kiện tranh chấp, xung đột liên quan đến Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh, góp phần bổ sung, hoàn chỉnh, làm phong phú thêm cho các nghiên cứu hiện có về chính sách, lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông nói riêng và về tình hình tranh chấp ở Biển Đông nói chung, thiết thức phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng trong thực tiễn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, làm rõ lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan đến Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh, góp phần nhận thức rõ những thuận lợi, khó khăn của Việt Nam trong công cuộc bảo vệ chủ
Trang 23quyền biển đảo hiện nay, từ đó gợi mở một số vấn đề về chính sách giúp Việt Nam bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia ở Biển Đông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ bối cảnh xảy ra sự kiện; diễn biến phản ứng của Mỹ; tìm ra và lý giải lập trường của Mỹ trong các sự kiện: hội nghị San Francisco năm 1951; tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa năm 1956; xung đột ở quần đảo Hoàng Sa năm 1974; xung đột ở quần đảo Trường Sa năm 1988
- Khái quát, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng, những điểm nổi bật trong lập trường của Mỹ đối với những sự kiện liên quan đến Việt Nam xảy ra ở Biển Đông thời Chiến tranh Lạnh
- Trên cơ sở đó, gợi mở một số vấn đề chính sách đặt ra với Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan đến Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời Chiến tranh Lạnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian, tập trung nghiên cứu các sự kiện tranh chấp, xung đột
ở Biển Đông từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai cho đến năm 1991 Để đảm bảo tính logic của đề tài, một số sự kiện liên quan diễn ra trong giai đoạn trước và trong Chiến tranh thế giới thứ Hai cũng như tình hình, cục diện quốc
tế, khu vực sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc cũng được đề tài xem xét
Về mặt không gian, nghiên cứu chủ yếu các sự kiện xảy ra trong phạm
vi khu vực Biển Đông, song do đề tài có quan hệ với Mỹ và các nước lớn nên bao gồm cả phạm vi ở một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô
Về mặt nội dung, đề tài nghiên cứu bốn sự kiện liên quan đến Việt Nam
trong vấn đề Biển Đông diễn ra trong các năm 1951, 1956, 1974 và 1988
Trang 245 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu
- Phương pháp luận: Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nghiên cứu quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại, đứng trên lập trường chính thống của Nhà nước Việt Nam hiện nay về các vấn đề lịch sử, chủ quyền biển đảo để phân tích, làm rõ các nội dung nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu quan hệ quốc tế, như phân tích lợi ích, phân tích chính sách đối ngoại, phân tích nội dung văn bản, quan sát sự kiện, qua đó xác định lập trường của
Mỹ trong mỗi sự kiện thể hiện qua lợi ích, chính sách đối ngoại, phản ứng với
sự kiện và các văn bản liên quan của Mỹ Đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp lịch sử và lô-gic, kết hợp với phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo để trình bày lập trường của Mỹ theo trình tự thời gian, xâu chuỗi lô-gic các sự kiện, so sánh lập trường của Mỹ qua các sự kiện, tổng hợp, rút ra được những điểm chung, các nhân tố ảnh hưởng đến lập trường của Mỹ, dự báo, đưa ra khuyến nghị về chính sách
- Nguồn tài liệu: Bên cạnh việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có,
luận án sử dụng các tài liệu gốc về lịch sử ngoại giao thuộc chương trình tư liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ mới được công bố để tái tạo, diễn giải sự kiện, qua
đó phân tích, lý giải về lập trường của Mỹ đối với các sự kiện đã diễn ra
6 Những đóng góp của luận án
Luận án là nghiên cứu mới từ góc độ Việt Nam về lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ
Chiến tranh Lạnh Về mặt khoa học, đây là một nghiên cứu có tính hệ thống,
bao quát các sự kiện đã xảy ra; đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn xác định lập trường của Mỹ; phân tích, lý giải lập trường của Mỹ đối với các
sự kiện, qua đó rút ra được những điểm chung, những nhân tố ảnh hưởng đến
Trang 25lập trường của Mỹ và tác động đến cục diện tình hình Biển Đông Về mặt thực tiễn, qua xem xét lập trường của Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh, luận án đã gợi
mở một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, từ đó góp phần vào việc nghiên cứu, hoạch định chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia của Việt Nam ở Biển Đông
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án chia thành 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở xác định lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh: phân
tích cơ sở lý luận và thực tiễn xác định lập trường của Mỹ đối với các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh
Chương 2: Các sự kiện liên quan tới Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thời kỳ Chiến tranh Lạnh và lập trường của Mỹ: bốn sự kiện diễn ra vào các
năm 1951, 1956, 1974 và 1988 được trình bày theo trình tự thời gian, mỗi sự kiện trình bày bối cảnh xảy ra, tóm tắt diễn biến chính, phản ứng, lập trường của Mỹ và phân tích các yếu tố tác động, hình thành lập trường đó
Chương 3: Nhận xét về lập trường của Mỹ và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam hiện nay: trình bày nhận xét về lập trường của Mỹ và tác động đối
với cục diện Biển Đông; phân tích những điểm duy trì và điều chỉnh trong lập trường của Mỹ hiện nay; gợi mở một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc
Luận án liên quan đến lịch sử, chủ quyền biển đảo của Việt Nam, là vấn
đề mà các nhà nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế hết sức quan tâm Đây
là vấn đề khó, có nhiều nội dung còn cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu
Vì vậy, nghiên cứu sinh kính mong các thầy, cô và các nhà nghiên cứu quan tâm xem xét, bổ sung ý kiến quý báu để luận án được hoàn thiện hơn, góp phần vào công tác nghiên cứu khoa học và vận dụng trong thực tiễn
Trang 261.1.1 Lợi ích quốc gia và chính sách đối ngoại
Trong lịch sử, từ khi loài người xuất hiện và từng bước biết cố kết với nhau thành các nhóm người, bộ tộc, lợi ích chung của nhóm người, bộ tộc cũng từng bước được hình thành Ban đầu, lợi ích chỉ ở mức sơ khai như cùng nhau săn bắn, hái lượm, chống trả thú dữ hay sự tấn công của các tộc người khác Cùng với sự tiến triển của lịch sử, các quốc gia, dân tộc được hình thành, lợi ích chung của cộng đồng người lập nên quốc gia, dân tộc cũng lớn hơn rất nhiều, bao gồm lợi ích duy trì và mở rộng lãnh thổ kiểm soát; lợi ích bảo vệ quyền lực của nhóm người, dòng họ thống trị; lợi ích gây ảnh hưởng lên các vùng đất xung quanh
Khi thế giới bước vào thời kỳ cận, hiện đại, các mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển, vấn đề lợi ích quốc gia cũng được xem xét, bàn luận nhiều hơn Đây cũng là khái niệm trung tâm trong lập luận của trường phái Hiện thực trong lý luận về quan hệ quốc tế Đại biểu của phái Hiện thực là Hans Morgenthau cho rằng, lợi ích quốc gia là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào, là thực thể khách quan, được hình thành trên cơ sở đặc thù địa chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường quốc tế Thủ tướng Anh Henry Palmerston, người chi phối chính sách đối ngoại của nước Anh nửa đầu thế kỷ XIX cũng nêu bật ý nghĩa của lợi ích quốc gia khi cho rằng, nước Anh không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng không có đồng minh vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn Trong khi đó, trường phái Tự do trong lý luận quan hệ quốc tế lại không cho rằng lợi ích quốc gia là nhân tố quyết định chính sách đối ngoại, trái lại họ nhấn mạnh hơn đến vai trò của bản
Trang 27sắc với các yếu tố như ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị lịch sử, văn hóa trong việc
thống nhất dân tộc và định hình chính sách đối ngoại [30; tr.102-104]
Cho đến nay, khái niệm lợi ích quốc gia và việc bảo vệ lợi ích quốc gia tiếp tục được nhiều học giả xem xét, nghiên cứu, dưới các góc độ, cách diễn giải khác nhau Có tác giả nêu khái niệm, lợi ích quốc gia là toàn bộ những nhu cầu sống còn, trường tồn và phát triển của một quốc gia đã được nhận thức và biến thành mục tiêu của chính sách đối ngoại trong quan hệ với thế giới bên ngoài, ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định, là công cụ hết sức quan trọng trong phân tích chính sách đối ngoại [30; tr.107] Có tác giả khác cho rằng, trên phương diện quan hệ quốc tế, lợi ích quốc gia là những lợi ích chủ yếu của quốc gia có chủ quyền trong quan hệ với bên ngoài Lợi ích gắn liền với quốc gia có chủ quyền và những lợi ích trong quan hệ đối ngoại mới được gọi
là lợi ích quốc gia (national interest), trong khi đó các lợi ích đối nội thường được gọi là lợi ích công (puclic interest) Lợi ích quốc gia thường được phản ánh trong mục đích và mục tiêu chính sách đối ngoại của quốc gia [45; tr.58-59] Có tác giả lại nhấn mạnh, lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất mà tất cả các nước theo đuổi, và đó là gốc rễ của các vấn đề hợp tác và cạnh tranh, hòa bình và chiến tranh trong quan hệ quốc tế từ xưa tới nay [40; tr.190-192]
Như vậy, có thể khái quát, lợi ích quốc gia là những lợi ích cốt yếu, quan trọng của quốc gia trong quan hệ với các chủ thể bên ngoài, là một trong những khái niệm cơ bản trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, vừa đóng vai trò là
cơ sở trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của một đất nước, vừa là công cụ không thể thiếu để phân tích chính sách đối ngoại của quốc gia Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm lợi ích quốc gia vẫn là một khái niệm gây tranh cãi, thậm chí còn là một khái niệm mơ hồ mà các nhà chính trị có thể sử dụng
và lợi dụng [103; tr 203] Nguyên nhân chủ yếu là do nội hàm của khái niệm này không phải là bất biến mà phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, trong những bối cảnh nhất định Việc xác định nội dung của lợi ích quốc gia và thứ
Trang 28tự ưu tiên là vấn đề thuộc lĩnh vực quyết sách chính trị, phụ thuộc vào từng thời kỳ, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau, từ đó việc triển khai chính sách để đạt được lợi ích cũng rất khác nhau [40; tr.193]
Có nhiều nhân tố tác động đến việc xác định lợi ích quốc gia như trình
độ phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố lịch sử, văn hóa dân tộc, các nhân tố địa chính trị, vị trí và vai trò của quốc gia trên trường quốc tế Lợi ích quốc gia cũng được hình thành theo nhiều cách khác nhau, có thể là lợi ích chung của cả quốc gia trong quan hệ với bên ngoài, có thể là lợi ích của giai tầng cầm quyền, hoặc có thể là kết quả của sự đấu tranh, thỏa hiệp hay liên minh giữa các nhóm lợi ích trong nước Lợi ích quốc gia phản ánh lợi ích chung của
cả đất nước trong quan hệ với bên ngoài thường thể hiện đầy đủ nhất lợi ích thực sự của quốc gia và do đó có tính bền vững hơn Vì thế, các lợi ích liên quan đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ là những lợi ích tối quan trọng, xuyên suốt của quốc gia cho dù quốc gia trải qua các thời kỳ lịch sử, các chính quyền, thể chế khác nhau
Lợi ích quốc gia là những mục tiêu cao nhất mà các nước theo đuổi, nhưng khi đi vào cụ thể, lợi ích của các quốc gia khác nhau là khác nhau, phụ thuộc nhiều vào tình hình trong nước, vị trí quốc gia trên trường quốc tế, cách thức và phương tiện thực hiện lợi ích, đối tác và đối tượng trong từng mối quan hệ cụ thể Ngoài lợi ích tối quan trọng liên quan đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, khi đã trở thành cường quốc tầm thế giới, quốc gia sẽ tìm kiếm lợi ích trong việc trở thành bá quyền toàn cầu, ngăn chặn không để một quốc gia nào khác thách thức vị trí siêu cường của họ Khi Mỹ chưa trở thành cường quốc hàng đầu thế giới, lợi ích quốc gia của Mỹ là phát huy ảnh hưởng ở khu vực châu Mỹ Latinh, tuy nhiên khi Mỹ đã trở thành một trong hai siêu cường hàng đầu thế giới, lợi ích quốc gia của Mỹ là duy trì vị trí bá chủ trong thế giới tư bản và ngăn chặn, tiêu diệt đối thủ là Liên Xô, trở
thành bá chủ toàn cầu
Trang 29Khi cụ thể hóa lợi ích quốc gia, yêu cầu đặt ra là lợi ích quốc gia cần được xác định phù hợp với vị thế, tiềm lực của quốc gia, nhưng đồng thời cũng phải dựa trên những tiêu chuẩn về đạo đức, hành xử mang tính phổ quát của nhân loại Lợi ích quốc gia không thể vượt quá khả năng của quốc gia, nếu không sẽ không có cơ sở, nguồn lực để thực hiện Lợi ích quốc gia cũng cần phải được xây dựng trên các tiêu chuẩn về đạo đức phổ quát, là những nguyên tắc trải qua quá trình lịch sử lâu dài đã được loài người cùng nhau xây dựng và thừa nhận Điều đó bao hàm ý nghĩa lợi ích mà các quốc gia theo đuổi cần phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, nếu không sẽ trở thành lạc lõng, trái với nguyện vọng chung, bị dư luận phản đối, thậm chí là bị cộng đồng quốc
tế hợp lực tiêu diệt như trường hợp của các nước theo chủ nghĩa phát xít trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ Hai Quốc gia nào cũng bảo vệ lợi ích quốc gia của mình, nhưng không thể bằng cách xâm phạm lợi ích quốc gia khác, lợi ích chung của cộng đồng quốc tế Có như thế lợi ích quốc gia mới chính đáng, mới được cộng đồng quốc tế ủng hộ Ngày nay, lợi ích của các quốc gia phải trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi Tuy nhiên, thực tế đời sống chính trị quốc tế vẫn diễn ra nhiều trường hợp các nước bảo vệ lợi ích quốc gia phi lý của mình, chà đạp lợi ích chính đáng của các nước khác
Để bảo vệ lợi ích quốc gia, nhà nước thực thi chính sách trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra Chính sách của nhà nước bao gồm chính sách đối nội và chính sách đối ngoại Về chính
sách đối ngoại, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm khác nhau Từ điển Thuật ngữ ngoại giao cho rằng, chính sách đối ngoại là: (i) Các chính
sách về chính trị và an ninh được thực thi bởi một nhà nước trong quan hệ với thế giới bên ngoài; (ii) Tất cả các chính sách (bao gồm cả chính sách về kinh tế) được thực thi bởi một nhà nước trong quan hệ với thế giới bên ngoài [99;
tr.94] Từ điển Thuật ngữ quan hệ quốc tế cho rằng, chính sách đối ngoại là
Trang 30chiến lược hoặc một loạt các hành động có kế hoạch được xây dựng bởi những nhà hoạch định chính sách của một quốc gia đối với các quốc gia khác hoặc các thể chế quốc tế, nhằm mục đích đạt được những mục tiêu cụ thể của lợi ích quốc gia [100; tr.6] Tựu chung lại, có thể thấy chính sách đối ngoại là tập hợp các chiến lược, quyết định mà quốc gia sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và các chủ thể quan hệ quốc tế, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh, văn hóa, xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau phù hợp với lợi ích của quốc gia đó
Thời kỳ cổ đại, trung đại, thậm chí cho đến cận đại, các quốc gia chủ yếu quan hệ với các nước lân bang, phạm vi, lĩnh vực quan hệ cũng hạn hẹp nên vai trò của công tác đối ngoại còn hạn chế Ngày nay trong thời đại toàn cầu hóa, không quốc gia nào có thể tồn tại biệt lập, vai trò của đối ngoại trở lên hết sức quan trọng, việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ lợi ích quốc gia Chính sách đối ngoại đúng đắn và hiệu quả góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, thúc đẩy sự thịnh vượng
về kinh tế, mở rộng ảnh hưởng của quốc gia trên trường quốc tế Đối với các quốc gia có mức độ ảnh hưởng lớn, có mục tiêu duy trì sức mạnh ở phạm vi khu vực hoặc toàn cầu thì chính sách đối ngoại càng giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi, cũng như đối với nền chính trị quốc tế Chẳng hạn, với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga…chính sách đối ngoại của họ có vai trò và tác động rất lớn, không chỉ đối với sự ổn định và phát triển trong nước, đến vai trò, vị thế của họ trên trường quốc tế, mà còn ảnh hưởng mang tính quyết định đối với việc hình thành cục diện quốc tế, trật tự thế giới Trong khi đó, với các nước vừa và nhỏ, việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại đúng đắn giúp họ có được vị thế tốt nhất trên trường quốc tế để phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước mình, đồng thời tham gia vào quá trình định hình cục diện quốc tế
và trật tự thế giới ở những mức độ nhất định
Trang 31Có nhiều yếu tố tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại, bao gồm: sức mạnh tổng hợp của quốc gia, gồm các yếu tố cấu thành sức mạnh hiện tại và cả những yếu tố tạo thành sức mạnh tiềm tàng của quốc gia; lợi ích quốc gia về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, sự vững mạnh của chế độ chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội, việc phát huy vai trò, ảnh hưởng trên trường quốc tế; các mục tiêu cụ thể mà chính sách đối ngoại được hoạch định, thiết kế để đạt được; các nhân tố bên ngoài
và bên trong có ảnh hưởng đến việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại Ngoài ra, các yếu tố khác như vai trò cá nhân các nhà lãnh đạo; các thông tin từ các cơ quan tư vấn; ảnh hưởng của các nhóm lợi ích; tác động của
dư luận, truyền thông…cũng có tác động quan trọng đến việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của quốc gia Chẳng hạn, ở một số nước, các nhóm lợi ích về sản xuất vũ khí có thể thúc đẩy quốc gia tiến hành các cuộc chiến tranh ở nước ngoài Ngược lại, truyền thông có thể tạo thành dư luận, tác động, buộc các nhà lãnh đạo phải tính toán, chấm dứt một cuộc viễn chinh
xa xôi gây tổn thất cho đất nước
Quá trình triển khai chính sách đối ngoại của các quốc gia sẽ tạo thành các mối tương tác lẫn nhau giữa các nước, các mối tương tác này vô cùng đa dạng, có thể là tích cực, cũng có thể là tiêu cực, từ đó tạo thành sự phong phú của các mối quan hệ quốc tế Do đó, để hiểu được sự vận hành của hệ thống quan hệ quốc tế, cần phải hiểu được chính sách đối ngoại của các quốc gia, chủ thể chính, cơ bản trong quan hệ quốc tế Công việc này phân tích quá trình đưa ra quyết định, các yếu tố tác động, nguyên nhân và kết quả của chính sách đối ngoại Việc phân tích chính sách đối ngoại sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn các sự kiện quốc tế đã diễn ra như thế nào, tại sao một quốc gia lại có thái độ, quan điểm, phản ứng trước một sự kiện quốc tế theo những cách thức khác nhau
Trang 321.1.2 Xung đột quốc tế và giải quyết xung đột quốc tế
Do lợi ích quốc gia của các nước khác nhau có những điểm song trùng, song cũng có những điểm khác biệt, nên khi các nước triển khai chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia sẽ dẫn tới khả năng hoặc các nước sẽ thúc đẩy hợp tác khi lợi ích song trùng, hoặc đấu tranh với nhau khi lợi ích có
sự mâu thuẫn, xung đột Khái niệm xung đột chỉ sự chống đối nhau do có trái ngược hoặc mâu thuẫn gay gắt về điều gì đó [76; tr.1877] Trong phạm vi quốc gia, xung đột thường xuyên xảy ra và được điều chỉnh, giải quyết bằng luật pháp của quốc gia Ở phạm vi quốc tế, trong quá trình thực thi, triển khai chính sách đối ngoại, bảo vệ lợi ích quốc gia của mỗi nước, giữa các quốc gia
có thể xuất hiện các khác biệt, mâu thuẫn liên quan đến hệ thống luật pháp, các giá trị văn hóa, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, về lao động, thương mại, đầu tư, hôn nhân, gia đình, quốc tịch…Các khác biệt này thường được giải quyết thông qua tư pháp quốc tế Trong khi đó, những khác biệt, mâu thuẫn lớn hơn, liên quan đến các vấn đề cốt lõi, cơ bản của một quốc gia như độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, liên quan đến chiến tranh và hòa bình…sẽ được xem xét, giải quyết dưới góc độ công pháp quốc tế Tuy nhiên, thực tế vai trò của công pháp quốc tế còn hạn chế và các mâu thuẫn giữa các quốc gia thường ít khi được giải quyết triệt để bằng biện pháp này, dẫn đến xảy ra xung đột quốc tế và thậm chí là chiến tranh giữa các nước để giải quyết mâu thuẫn
Khái niệm xung đột quốc tế chỉ tình trạng xã hội nảy sinh khi hai hay nhiều chủ thể quan hệ quốc tế có mục đích mâu thuẫn với nhau trong cùng một vấn đề liên quan[45; tr.192] Khái niệm này nêu rõ bản chất của xung đột
là mâu thuẫn Không có mâu thuẫn thì không có xung đột và khi mâu thuẫn nảy sinh giữa các chủ thể quan hệ quốc tế thì xung đột trở thành xung đột quốc tế Mâu thuẫn giữa các chủ thể quan hệ quốc tế có thể nảy sinh và hiện
Trang 33diện trong mọi yếu tố cấu thành quan hệ quốc tế, bao gồm động cơ, hành vi, kết quả, tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, cả trong phương diện nhận thức và thực tiễn Do đó, có thể nói xung đột quốc tế là hiện tượng diễn
ra thường xuyên và phổ biến trong đời sống quốc tế
Ở đây cũng cần phân biệt giữa xung đột và chiến tranh, cũng là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử nhân loại Khái niệm chiến tranh chỉ cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các đơn vị chính trị đối kháng và gây ra hậu quả đáng kể [45; tr.193] Như vậy, xung đột và chiến tranh có chung bản chất là mâu thuẫn, đối kháng, không có mâu thuẫn, đối kháng thì không có xung đột và chiến tranh Tuy nhiên, xung đột khác với chiến tranh, sự khác biệt này thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu như tính chất mâu thuẫn, hình thức biểu hiện và quy mô, mức độ thiệt hại Tính chất mâu thuẫn trong chiến tranh cao hơn, gay gắt hơn, liên quan đến những vấn đề không thể nhân nhượng, do đó chiến tranh thường gắn với hình thức sử dụng bạo lực quân sự,
để lại hậu quả, thiệt hại to lớn về nhân mạng, vật chất Trong khi đó, tính chất mâu thuẫn trong xung đột thường ít nghiêm trọng hơn so với chiến tranh, do
đó xung đột có thể không dẫn tới hình thức đấu tranh vũ trang, nếu có xảy ra đấu tranh vũ trang cũng để lại thiệt hại ít hơn Bên cạnh đó, chiến tranh thường có thời gian diễn ra dài hơn, lâu hơn, trong khi xung đột có thể bùng phát, diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn rồi chấm dứt nhanh chóng
Căn cứ vào nội dung của mâu thuẫn, có thể chia xung đột quốc tế thành một số hình thức chính là: xung đột về quyền lực, xung đột về tư tưởng, xung đột về sắc tộc, xung đột về tôn giáo, xung đột về kinh tế, xung đột về biên giới lãnh thổ Trong đó, xung đột về biên giới lãnh thổ là sự đòi hỏi đồng thời của các bên về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ nào đó Lãnh thổ có tầm quan trọng đặc biệt với quốc gia về nhiều phương diện, là nền tảng để thành lập quốc gia, địa bàn cư trú, nơi cung cấp tài nguyên, nguồn lực để duy trì cuộc
Trang 34sống, phát triển kinh tế Lãnh thổ còn mang ý nghĩa tinh thần gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc, với chủ quyền của quốc gia,
do đó biên giới, lãnh thổ trở thành lợi ích quốc gia và mang giá trị thiêng liêng không thể thỏa hiệp Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép, ngay từ thế kỷ
thứ XV, vua Lê Thánh Tông nước ta đã từng nói: Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện bỏ đi được Nếu người nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ để lại mà làm mồi cho giặc thì kẻ đó sẽ bị trừng trị nặng
Xung đột về biên giới lãnh thổ cũng là hình thức xung đột quốc tế phổ biến, liên quan đến các vấn đề cốt yếu về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia Do đó, khi nói đến xung đột quốc tế, ta thường liên tưởng nhiều hơn đến các cuộc xung đột giữa các quốc gia về biên giới lãnh thổ Khi một cuộc xung đột về biên giới lãnh thổ chưa xảy ra, trên cơ sở
dự báo được tình hình thông qua các diễn biến căng thẳng trong quan hệ giữa các nước, các bên liên quan có thể thực hiện các biện pháp ngăn ngừa xung đột Các biện pháp ngăn ngừa xung đột được tiến hành bằng cách hạn chế các điều kiện khiến cuộc xung đột xảy ra như: thúc đẩy giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên về biên giới, lãnh thổ bằng công pháp quốc tế; ngăn chặn, răn đe bằng lực lượng quân sự mạnh hơn để các bên phải cân nhắc, không tiến hành các biện pháp phiêu lưu về quân sự; sử dụng các công cụ của các tổ chức, thể chế quốc tế như Hội đồng bảo an Liên hợp quốc để ra các nghị quyết ngăn ngừa trước ý định gây xung đột; kịp thời thông báo, hỗ trợ cho một bên củng cố lực lượng, làm cho bên có ý định gây xung đột nhụt ý chí, từ bỏ ý định gây xung đột
Trong trường hợp xung đột không bị ngăn chặn và cuối cùng xảy ra, các quốc gia liên quan thường cân nhắc, xem xét cách thức phản ứng, đưa ra lập trường của mình Nếu quốc gia không muốn dính líu vào xung đột, cách thức thường được đưa ra là giữ thái độ im lặng Điều này thường đồng nghĩa với
Trang 35việc chấp nhận trên thực tế diễn biến hay kết quả của cuộc xung đột, không can thiệp hay dính líu vào cuộc xung đột đó Nếu như quốc gia phải lên tiếng như trong trường hợp là nước láng giềng, có quyền, lợi ích liên quan , điều này thường đi kèm với việc tuyên bố mong muốn các bên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tránh tái diễn xung đột Cách thức phản ứng như vậy thường cho thấy quan điểm đứng trung lập, dù có thể mang hàm ý chỉ trích bên
sử dụng vũ lực trước hoặc bên có hành động vi phạm luật pháp quốc tế Trong khi đó, nếu quốc gia muốn can thiệp, tác động đến diễn biến và kết quả của cuộc xung đột, có thể có nhiều biện pháp tùy vào mục đích muốn đạt tới Quốc gia có thể đảm nhận vai trò trung gian hòa giải giữa hai bên Điều này thường diễn ra khi quốc gia có quan hệ hữu nghị với các bên tham gia vào cuộc xung đột nên muốn đóng vai là người kiến tạo hòa bình Ở khía cạnh còn lại, quốc gia có thể đứng về một bên trong cuộc xung đột, ra tuyên bố chỉ trích, phản đối bên còn lại, ủng hộ các nỗ lực ngoại giao, pháp lý, thậm chí là hỗ trợ quân sự cho bên được họ ủng hộ Việc phân tích các khía cạnh trên giúp chúng ta xem xét khi xung đột quốc tế về biên giới, lãnh thổ xảy ra, quốc gia liên quan đã có
những lựa chọn nào và họ đã lựa chọn ra sao, tại sao lại đưa đến lựa chọn đó 1.1.3 Lập trường của quốc gia đối với tranh chấp, xung đột quốc tế
Bên cạnh khái niệm chính sách đối ngoại thường được sử dụng nhiều trong nghiên cứu, học thuật, trong lĩnh vực quan hệ quốc tế chúng ta còn thấy
có khái niệm lập trường, thường được sử dụng trong hoạt động đối ngoại như tại các buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, các tuyên bố, thông cáo của quốc gia trước một vấn đề quốc tế Tuy nhiên, trong thực tế, khái niệm lập trường trong lĩnh vực đối ngoại lại chưa được bàn luận nhiều
Theo từ điển tiếng Việt, lập trường là chỗ đứng và thái độ khi nhận thức
và xử lý một vấn đề [76; tr.998] Như vậy, trong khi chính sách là những chủ trương, biện pháp để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ lớn, tổng quát thì lập
Trang 36trường lại là xuất phát điểm, thái độ, cách hành xử khi nhận thức, xử lý một vấn
đề cụ thể Suy rộng ra, trong khi chính sách đối ngoại của một quốc gia bao hàm một ý nghĩa rộng lớn, hình thành một chỉnh thể, một khuôn khổ, chủ trương, biện pháp lớn cho những hành động của quốc gia đó trong lĩnh vực đối ngoại nói chung hoặc trong quan hệ với một chủ thể khác ở bên ngoài thì lập trường là quan điểm, thái độ, phản ứng, cách xử lý của quốc gia đó trước một vấn đề cụ thể hoặc trước một sự kiện cụ thể phát sinh trong quan hệ quốc tế Trên cơ sở đó,
có thể nêu khái niệm: Lập trường của quốc gia trước một cuộc xung đột, tranh chấp quốc tế là quan điểm, thái độ, cách thức xử lý của quốc gia đối với cuộc xung đột, tranh chấp quốc tế đó Lập trường thường là biểu hiện cụ thể của chính sách đối ngoại, nằm trong khuôn khổ chính sách đối ngoại của quốc gia
Về hình thức biểu hiện, chính sách đối ngoại của quốc gia thường được nêu trong các văn kiện quan trọng của quốc gia như báo cáo, cương lĩnh của đảng cầm quyền; tuyên bố về chính sách đối ngoại của chính phủ; văn kiện về các vấn đề chiến lược an ninh quốc gia (cho thấy chính sách đối ngoại nói chung của quốc gia đó); tuyên bố chung trong các chuyến thăm chính thức (thể hiện chính sách đối ngoại của quốc gia với quốc gia) Qua xem xét, phân tích nội dung của các văn kiện, tuyên bố trên, ta có thể biết được chính sách đối ngoại của quốc gia đó, cũng như chính sách của quốc gia đó với các đối tượng, đối tác, vấn đề liên quan Trong khi đó, lập trường của một quốc gia đối với một cuộc tranh chấp, xung đột quốc tế cụ thể lại thường được biểu hiện thông qua một số hình thức chủ yếu như: tuyên bố, trả lời của người phát ngôn của Bộ Ngoại giao trong các buổi họp báo; nội dung các cuộc trao đổi, tiếp xúc ngoại giao của các quan chức có trách nhiệm; nội dung công hàm quốc gia lưu hành tại Liên hợp quốc; phát biểu của đại diện quốc gia tại các phiên họp, thảo luận tại các hội nghị, diễn đàn của các tổ chức quốc tế, nhất là tại Đại hội đồng và Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, cũng như việc lựa chọn
Trang 37lá phiếu tại các cuộc thảo luận, ra nghị quyết Qua xem xét các nội dung trên,
ta có thể biết được lập trường của quốc gia trước vấn đề, sự kiện quốc tế, bao gồm việc quốc gia có quan tâm đến sự kiện đó không (có quan tâm không, quan tâm đến mức nào), ủng hộ hay phản đối bên nào hay không có quan điểm gì; muốn giải quyết vấn đề theo biện pháp, hình thức nào
Do chính sách đối ngoại là những nguyên tắc, phương châm trong hành
xử của quốc gia trong lĩnh vực đối ngoại, được nêu ra trong các văn kiện quan trọng của quốc gia, do đó thường có tính ổn định, được thực hiện trong thời gian dài và thường được công bố công khai nên dễ tiếp cận hơn Trong khi đó, lập trường là thái độ, phản ứng của quốc gia trước một sự kiện tranh chấp, xung đột cụ thể, được xác định trong các trường hợp cụ thể; quá trình ra quyết định cũng thường khép kín, không dễ dàng tiếp cận, lý giải Hơn nữa, lập trường của quốc gia trước một sự việc cụ thể có thể không hoàn toàn nằm trong khuôn khổ chính sách đối ngoại, đồng thời không phải lúc nào cũng được thông báo, công bố rộng rãi, nên trong nhiều trường hợp để xác định được lập trường, người nghiên cứu phải đi ngược lại từ việc xem xét các phản ứng, hành động cụ thể của quốc gia, chứ không thể chỉ dựa vào chính sách đối ngoại Chẳng hạn, một quốc gia trong khi tuyên bố chính sách đối ngoại là bảo vệ hòa bình thế giới, song trên thực tế vẫn có thể ngầm ủng hộ, cung cấp
vũ khí cho một thế lực hiếu chiến ở nước ngoài, hoặc hậu thuẫn cho các hành
vi vi phạm luật pháp quốc tế Từ đó có thể thấy, lập trường của quốc gia trước một sự kiện quốc tế có thể có mối quan hệ "chặt" hoặc "lỏng" với chính sách đối ngoại, lúc "chặt" là khi lập trường trùng khớp, nằm trong khuôn khổ chính sách đã đề ra, lúc"lỏng" là khi lập trường không trùng khớp, thậm chí có thể
đi ngược lại với chính sách đối ngoại được tuyên bố
Các yếu tố tác động đến việc hình thành lập trường của quốc gia trước một cuộc tranh chấp, xung đột quốc tế cũng tương tự như các yếu tố tác động
Trang 38đến việc hình thành chính sách đối ngoại, nhưng mang tính cụ thể hơn, đồng thời còn chịu một số yếu tố tác động khác Cũng như chính sách đối ngoại của một quốc gia, lập trường trước một cuộc tranh chấp, xung đột quốc tế chịu ảnh hưởng của cục diện quốc tế nói chung, nhưng bị chi phối nhiều hơn bởi tình hình quốc tế vào thời điểm phát sinh xung đột: lúc đó tình hình quốc tế ra sao, quan hệ giữa các nước lớn thế nào, bầu không khí quốc tế đang căng thẳng hay hòa dịu Nó cũng phụ thuộc vào sức mạnh tổng hợp của quốc gia như điều kiện về đất đai, tài nguyên, dân số, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nhưng phụ thuộc nhiều hơn vào tình hình quốc gia ở thời điểm phát sinh sự kiện: lúc đó quốc gia có sẵn sàng các nguồn lực không, có khó khăn gì trong nội bộ không, có gặp phải quá nhiều các vấn đề khác cần quan tâm không, lợi ích của quốc gia tại thời điểm đó cụ thể là gì
Bên cạnh đó, lập trường của quốc gia trước một cuộc tranh chấp, xung đột quốc tế còn chịu tác động của một số nhân tố khác như phụ thuộc vào việc quốc gia quan sát, xem xét phản ứng dư luận thế giới, khu vực trước sự kiện
đó Đây là thực tế thường diễn ra trong đời sống chính trị quốc tế khi trước một sự kiện phát sinh, quốc gia có xu hướng tham khảo lập trường các nước khác để đưa ra lập trường của mình sao cho có lợi nhất Đồng thời, lập trường cũng chịu tác động từ quan điểm của ban lãnh đạo quốc gia, những người có trách nhiệm ra quyết sách đối ngoại tại thời điểm đó, những cá nhân đó có quan điểm, ưu tiên gì trong vấn đề đối ngoại sẽ tác động không nhỏ đến lập trường của quốc gia trước một cuộc tranh chấp, xung đột quốc tế
Dựa trên các nhân tố ảnh hưởng vừa trình bày ở trên, để phân tích và xác định được lập trường của quốc gia trước một sự kiện tranh chấp, xung đột quốc
tế, có thể dựa trên khung phân tích 3 cấp độ thường được sử dụng khi phân tích chính sách đối ngoại, đó là: cấp độ hệ thống quốc tế, xem xét cục diện quốc tế
ở thời điểm xảy ra tranh chấp, xung đột; cấp độ quốc gia, xem xét lợi ích quốc
Trang 39gia đang theo đuổi lúc đó; cấp độ cá nhân, xem xét vai trò của lãnh đạo quốc gia ở thời điểm xảy ra xung đột Ba cấp độ này sẽ giúp xác định, luận giải rõ hơn lập trường quốc gia trước cuộc tranh chấp, xung đột quốc tế
tế trong khối SEV thành lập năm 1949 và sự hợp tác về quân sự trong khối Vacxava thành lập năm 1955
Trong khi đó, hệ thống tư bản chủ nghĩa cũng trải qua những biến đổi lớn Các nước tư bản Tây Âu như Anh, Pháp là bên thắng trận nhưng đều suy yếu, các nước tư bản khác là Đức, Italia, Nhật Bản là bên bại trận với nền kinh tế kiệt quệ Riêng Mỹ với vị trí địa lý nằm giữa hai đại dương, không bị chiến tranh tàn phá nên là nước chịu thiệt hại ít, trái lại còn thu lợi từ các khoản cho vay và buôn bán vũ khí cho các nước tham chiến Sau chiến tranh,
Mỹ chiếm đến gần một nửa sản lượng công nghiệp của các nước tư bản, giữ 70% lượng vàng dự trữ của thế giới, độc quyền về bom nguyên tử, nổi lên là siêu cường số một trên thế giới, có sức mạnh nổi trội cả về kinh tế, chính trị, quân sự, đóng vai trò mang tính quyết định trong việc sắp xếp lại trật tự thế
Trang 40giới và các vấn đề an ninh quốc tế sau chiến tranh Điều kiện đó thúc đẩy tham vọng làm bá chủ toàn cầu của Mỹ
Sau chiến tranh, quan hệ hợp tác giữa Mỹ và Liên Xô trong phe Đồng minh thời chiến tranh từng bước xói mòn Ngày 22-2-1946, George Kennan, Đại biện lâm thời của Mỹ tại Liên Xô đã gửi một "bức điện dài" về Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó nêu lên quan điểm mang tính thù địch và đề xuất chính sách cứng rắn của Mỹ đối với Liên Xô [87; tr.33] Phân tích trong bức điện của Kennan có ảnh hưởng lớn đối với việc định hình chính sách của Mỹ chống Liên Xô thời kỳ Chiến tranh Lạnh Ngày 12-3-1947, Tổng thống Truman đọc thông điệp trước Quốc hội, đề ra chiến lược “ngăn chặn”, đặt ra cho Mỹ “sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản”, duy trì địa vị bá chủ toàn cầu của Mỹ [87; tr.28] Những biến đổi trong so sánh lực lượng sau Chiến tranh thế giới thứ Hai cùng với chính sách thù địch của Mỹ với Liên Xô đã dẫn đến sự hình thành trật tự hai cực Xô – Mỹ đứng đầu hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nhau Cuộc đối đầu Xô – Mỹ gay gắt và toàn diện là yếu tố quan trọng nhất chi phối các mối quan hệ quốc tế và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính sách đối ngoại của các siêu cường trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh
Để thực hiện tham vọng bá chủ toàn cầu, ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, Mỹ đã triển khai chính sách đối ngoại với mục tiêu ngăn chặn Liên Xô, chủ nghĩa xã hội, phong trào cách mạng thế giới do Liên
Xô ủng hộ, tiến tới tiêu diệt, xóa bỏ các lực lượng này ra khỏi đời sống chính trị quốc tế Bên cạnh đó, quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh cũng là quá trình vận động của Mỹ nhằm gạt bỏ vai trò của các cường quốc, chiếm lĩnh các vị trí an ninh mà các nước thực dân như Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan trước đây nắm giữ [57; tr.107] Qua đó, Mỹ xác lập vị trí lãnh đạo toàn diện của Mỹ trong khối tư bản chủ nghĩa, chi phối, buộc các