BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HỒ CHÍ MINH KHOA CHÍNH TRỊ LUẬT o0o BÀI TẬP TIỂU LUẬN HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH NHÓM.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
-o0o BÀI TẬP TIỂU LUẬN HỌC PHẦN:
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH
NHÓM: 05
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2022
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
-o0o BÀI TẬP TIỂU LUẬN HỌC PHẦN:
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH
Nhóm:05 Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Cẩm Tú
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
1 KHÁI QUÁT VỀ GIA ĐÌNH 3
1.1 Khái niệm và đặc điểm 3
1.2 Khái quát về vị trí của gia đình 3
1.2.1 Gia đình là tế bào của xã hội 4
1.2.2 Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội 5
1.2.3 Gia đình là tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc 5
1.3 Các hình thức gia đình trong lịch sử 6
1.3.1 Những hình thái hôn nhân và gia đình đầu tiên dưới chế độ thị tộc 6
1.3.2 Hôn nhân một vợ một chồng và các biến dạng trong thực tế 8
1.4 Vai trò của gia đình 11
2 CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH 11
2.1 Chức năng tái sản xuất ra con người 11
2.2 Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình 12
2.3 Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng của gia đình 13
2.4 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm của gia đình 13
3 THỰC TRẠNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 14
3.1 Mặt tích cực 14
3.2 Mặt tiêu cực 15
3.3 Liên hệ bản thân 17
PHẦN KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4để ổn định, phát triển xã hội và hình thành, xây dựng các chuẩn mực, giá trị đạo đức,phong tục tập quán, lối sống văn hóa, giáo dục cho đất nước của chính mình.
2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Người ta thường nói, gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại Gia đình có vai tròquyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội Muốn có một xã hội phát triểnlành mạnh thì phải quan tâm xây dựng tế bào gia đình tốt Trong các xã hội dựa trên cơ sởcủa chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình đẳng trong quan hệ xã hội và quan hệgia đình đã hạn chế rất lớn đến sự tác động của gia đình đối với xã hội Chỉ khi con ngườiđược yên ấm, hòa thuận trong gia đình, thì mới có thể yên tâm lao động, sáng tạo và đónggóp sức mình cho xã hội và ngược lại Chính vì vậy, quan tâm xây dựng quan hệ xã hội,quan hệ gia đình bình đẳng, hạnh phúc là vấn đề hết sức quan trọng trong cách mạng xãhội chủ nghĩa Xuất phát từ bối cảnh trên đặt ra câu hỏi: Khái niệm gia đình là gì? Vị trí ra
Trang 5sao? Chức năng của gia đình? Thực trạng của gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mớinày như thế nào? Giải pháp xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam hiện nay? Với mụcđích trả lời cho những câu hỏi trên, em chọn đề tài:” Khái niệm, vị trí và chức năng củagia đình” cho bài tiểu luận của mình.
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của đề tài: giúp cho bản thân cùng với các bạn sinh viên hiểu rõhơn về gia đình Việt Nam trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa
Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu thì cần phân tích rõ ràng, làm sáng tỏ cơ sở lýluận về gia đình, nêu ra thực trạng của gia đình Việt Nam hiện nay và đưa ra được giảipháp xây dựng gia đình trong thời kì mới
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-Đối tượng nghiên cứu: Gia đình trên toàn Thế giới và gia đình ở Việt Nam
-Phạm vi nghiên cứu: Trên toàn thế giới và Việt Nam, đặc biệt là Việt Nam trong thời kìquá độ lên chủ nghĩa xã hội
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với cácphương pháp như: thống nhất logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệthống hóa
6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài khái quát được lý luận chung của chủ nghĩa xã hội khoa học về vấn đề gia đình và
cơ sở xây dựng gia đình trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phân tích sự biến đổicủa gia đình trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay và liên hệ với thực
Trang 6trạng, giải pháp xây dựng, phát triển gia đình ở Việt Nam từ đó liên hệ với bản thân và giađình.
PHẦN NỘI DUNG
1 KHÁI QUÁT VỀ GIA ĐÌNH
1.1 Khái niệm và đặc điểm
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thốnghoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau, cóvai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội C.Mác và Ph Ăngghen, khi đềcập đến gia đình đã cho rằng:” … hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, conngười bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ,cha mẹ và con cái, đó là gia đình”
Cơ sở hình thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản, quan hệ hôn nhân (vợ và chồng) vàquan hệ huyết thống (cha mẹ và con cái ) – mối quan hệ tồn tại trong sự gắn bó, liên kết,ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau bởi nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiễm của mỗi người,được quy định bằng pháp luật hoặc đạo lý
Trong gia đình, ngoài hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữacha mẹ với con cái, còn có các mối quan hệ khác, quan hệ giữa ông bà với cháu chắt, giữaanh chị em với nhau, giữa cô, dì, chú bác với cháu, quan hệ cha mẹ nuôi với con nuôi…Các quan hệ này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và biến đổi, phát triển phụ thuộc vàotrình độ phát triển kinh tế và thể chế chính trị - xã hội
Như vậy, gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì vàcủng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng,cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình
1.2 Khái quát về vị trí của gia đình
Trang 71.2.1 Gia đình là tế bào của xã hội
“Gia đình là một tế bào cơ bản và tự nhiên cấu thành nên từng cộng đồng, xã hội Giađình giữ vai trò trung tâm trong đời sống của mỗi con người, là nơi bảo đảm đời sống vậtchất và tinh thần của mỗi cá nhân, là một trong những giá trị xã hội quan trọng bậc nhấtcủa người Á Đông, trong đó có Việt Nam Do vậy sức mạnh trường tồn của quốc gia, dântộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của gia đình.”
Đối với sự phát triển của xã hội trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào, sự vững vàng bền bỉcủa nền tảng gia đình cũng sẽ là yếu tố quyết định đến sự giàu mạnh, thịnh vượng của đấtnước Cho nên, việc quan tâm coi trọng đến yếu tố gia đình chính là hướng đi đúng đắncho việc tạo dựng một xã hội phát triển ổn định và bền vững Theo Ph.Ăngghen: “ Theoquan điểm duy vật thì nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến cùng là sản xuất vàtái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một loại
là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo nhà ở và những công cụ cần thiết đểsản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người Là sự truyền nòigiống Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định
và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là dotrình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình “ Chính
vì thế gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, là nhân tố tồn tại
và phát triển của xã hội, là nhân tố cho sự tồn tại và phát triển của một đất nước Gia đìnhnhư một tế bào tự nhiên, là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên xã hội nếu không có gia đình để táitạo ra con người thì xã hội không tồn tại và phát triển được Vì vậy mà, muốn xã hội tốtthì phải cùng nhau xây dựng nên một gia đình tốt
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:” nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hộitốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội chính là giađình Mức độ tác động của gia đình phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ xã hội, vàođường lối, chính sách của gia cấp cầm quyền“ Ta có thể thấy mức độ tác động của gia
Trang 8đình đối với xã hội còn phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ xã hội Trong các chế xãhội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình,quan hệ xã hội đã hạn chế rất lớn đến sự tác động của gia đình đối với xã hội Do đó, chế
độ chế độ xã hội, đường lối cũng như chính sách mà giai cấp cầm quyền của một đất nước
có tầm quan trọng đến từng cá nhân, gia đình và xã hội vì gia đình là tế bào của xã hội
1.2.2 Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội
Mỗi cá nhân chỉ có thể sinh ra trong gia đình Không thể có con người sinh ra từ bênngoài gia đình Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự hìnhthành và phát triển tính cách của mỗi cá nhân Và cũng chính trong gia đình, mỗi cá nhân
sẽ học được cách cư xử với người xung quanh và xã hội
Gia đình là cầu nối giữa mọi thành viên trong gia đình với xã hội Nhiều thông tin về xãhội tác động đến con người thông qua gia đình Xã hội nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn
về một người khi nhận rõ hoàn cảnh gia đình của người ấy Nhiều nội dung quản lý xã hộikhông chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội, mà còn thông qua hoạt động củagia đình để tác động đến con người; nghĩa vụ và quyền lợi xã hội của mỗi người đượcthực hiện với sự hợp tác chung của các thành viên trong gia đình Qua đó ý thức công dânđược nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có ý nghĩa thiết thực
1.2.3 Gia đình là tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc
Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống của mỗithành viên, mỗi công dân của xã hội Chỉ trong gia đình, mới thể hiện mối quan hệ tìnhcảm thiêng liêng giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái
Gia đình là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc những công dân tốt cho xã hội Sự hạnh phúc giađình là tiền đề để hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của xã hội Vì vậymuốn xây dunwjg xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình Hồ chủ tịch nói: “Gia đìnhtốt thì xã hội tốt, nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho xã hội tốt hơn”
Trang 9Gia đình là nơi cung cấp nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiệnnay ngày càng đòi hỏi trình độ và yêu cầu cao, đó phải là những người “giàu lòng yêunước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống
có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính” Gia đình chính “là môi trườngquan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” để hình thành nênnhững phẩm chất tốt đẹp của mỗi cá nhân, mỗi con người, góp phần đắc lực vào chiếnlược phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các mụctiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội Thế nhưng, các cá nhânkhông chỉ sống trong quan hệ gia đình mà còn có những quan hệ xã hội Mỗi cá nhânkhông chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của xã hội Không thể có conngười bên ngoài xã hội Gia đình đóng vai trò quan trọng để đáp ứng nhu cầu về quan hệ
xã hội của mỗ cá nhân Ngược lại, bất cứ xã hội nào cũng thông qua gia đình để tác độngđến mỗi cá nhân Mặt khác, nhiều hiện tượng của xã hội cũng thông qua gia đình mà cóảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức,lối sống Có thể thấy rằng, trong sự phát triển chung của xã hội hiện nay, gia đình luônđóng một vai trò quan trọng Không thể có một xã hội giàu mạnh, văn minh nếu nhưkhông dựa trên cơ sở xây dựng những gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ Vì vậy, xâydựng và phát triển gia đình với những giá trị tốt đẹp trong xã hội hiện đại là một trongnhững yếu tố cốt lõi trong mục tiêu chung của xây dựng nền văn hóa mới XHCN
1.3 Các hình thức gia đình trong lịch sử
1.3.1 Những hình thái hôn nhân và gia đình đầu tiên dưới chế độ thị tộc
Giai đoạn đầu tiên, loài người sống theo từng bầy đàn, dựa vào săn bắn và hái lượm,chưa có phân công lao động, quan hệ tính giao còn tự do mà lịch sử gọi là quần hôn Đây
Trang 10là thời kỳ của chế độ thị tộc, thời kỳ này, theo các sử gia xác định, có thể đã kéo dài hàngchục vạn, thậm chí hàng triệu năm.
Chế độ quần hôn được thể hiện ở các hình thái gia đình như sau:
a Kiểu gia đình huyết tộc:
Đây là giai đoạn đầu của chế độ quần hôn, chủ yếu có các đặc điểm: Quan hệ hôn nhânđược xây dựng theo các thế hệ, mỗi thế hệ (như thế hệ cha mẹ, thế hệ con cái) tập trungtheo những nhóm hôn nhân nhất định Và quan hệ tính giao chỉ hạn chế giữa những ngườitrong nhóm đó khi xét thấy khác thế hệ, tức là quan hệ tính giao theo trực hệ bị loại trừ(cấm giữa cha mẹ và con cái)
b Gia đình Puna luan
Đây là giai đoạn cao hơn của chế độ quần hôn Quan hệ tính giao bị thu hẹp hơn nữa,không còn theo trực hệ (cha mẹ với các con), nhưng vẫn còn theo bàng hệ (giữa anh chị
em với nhau)
Vợ chồng trong gia đình Puna luan không chung sống mà chỉ là “Người bạn thân thiết”(theo tiếng người da đỏ châu Mỹ) Các ông chồng không ở chung với các bà vợ, ai ở nhànấy (sống với mẹ mình), trẻ con sinh ra chỉ biết mẹ, không biết tới cha Khi một phụ nữchết thì tài sản để lại cho các con sinh ra bởi người mẹ đó và các anh em trai cùng các chị
em gái thừa kế Đây là loại gia đình tộc cùng có chung một bà mẹ, tất cả những người củacác thế hệ trong gia đình này hợp lại thành cái mà chúng ta gọi là Thị tộc
c Kiểu hôn nhân gia đình đối ngẫu (theo cặp)
Do ý thức xã hội của con người về hôn nhân phát triển, từ hình thức hôn nhân Puna luan,các cặp vợ chồng tách ra thành từng đôi riêng rẻ, hình thành một hình thức hôn nhânmới : hôn nhân cặp đôi hay còn gọi là hôn nhân đối ngẫu
Trang 11Công lao trong việc tạo ra hình thức hôn nhân này thuộc về phụ nữ, do họ có nhu cầu cần
sự gắn bó cao hơn so với đàn ông, tức là người phụ nữ thời đó nhận thấy muốn đượcthuộc về chỉ một người đàn ông thôi
Tuy vậy, hôn nhân đối ngẫu trong điều kiện chế độ thị tộc không thể bền vững được, nórất dễ bị người vợ hoặc người chồng phá vỡ do không có cơ sở pháp lý và những cơ sởtình cảm ràng buộc chặt Con cái do hôn nhân đó sinh ra vẫn thuộc về thị tộc mẹ nhưtrước Sở dĩ như vậy là do gia đình đó vẫn bị phụ thuộc kinh tế vào đại gia đình là thị tộc.Gia đình đối ngẫu vẫn chưa phải là một đơn vị kinh tế Nó chỉ là một đơn vị hôn phối,một cặp hôn nhân trong thị tộc Còn thị tộc vẫn là một đơn vị kinh tế cơ bản của xã hộiđó
1.3.2 Hôn nhân một vợ một chồng và các biến dạng trong thực tế
a Những điều kiện kinh tế xã hội của hôn nhân một vợ một chồng
Hôn nhân một vợ một chồng là hình thức hôn nhân cao hơn, mới hơn và bền vững hơnhôn nhân đối ngẫu, nó phát sinh trong xã hội khi có được những điều kiện kinh tế xã hộicần thiết
Về lao động, mức độ phân công lao động và chuyên môn hóa cao, làm cho năng suất laođộng phát triển tới mức có của cải dư thừa, kinh tế gia đình xuất hiện bên cạnh các hìnhthức kinh tế khác Gia đình đối ngẫu chiếm lấy những của cải dư thừa đó để riêng chomình
Với việc chiếm giữ tài sản làm của riêng, gia đình đối ngẫu dần dần đối lập với thị tộc,trở thành đơn vị kinh tế độc lập – gia đình một vợ một chồng ra đời
Trong gia đình này, người chồng bắt đầu nắm vị trí thống trị, vợ và các con của họ ở vàothế “bị trị” và thực tế họ là tài sản của người chồng Có được vị trí đó là do lúc này ngườichồng làm những nghề nghiệp đưa lại hiệu suất và thu nhập cao hơn còn người vợ chỉ làm
Trang 12những công việc nội trợ, nuôi con trong nhà, không làm ra của cải vật chất cho gia đìnhnên bị phụ thuộc.
Chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã cho phép xác định được người cha đẻ của các controng gia đình mà trong các hình thức hôn nhân trước đó chưa xác định được Ngườichồng nảy ra xu hướng lợi dụng địa vị vững vàng hơn ấy để thay đổi trật tự thừa kế cổtruyền đặng làm lợi cho con cháu mình Vì vậy, cần xóa bỏ chế độ huyết tộc theo mẫuquyền đi đã huyết tộc theo cha và quyền thừa kế theo cha được xác lập (F Engels) Giai đoạn này thị tộc bắt đầu tan rã trước tư tưởng tư hữu đang phát triển, thị tộc phảinhường chỗ cho gia đình cá thể (gia đình một vợ một chồng)
Chế độ thị tộc không giai cấp với sự xuất hiện của gia đình một vợ một chồng đã chuyểnsang chế độ tư hữu và có giai cấp Cuộc cách mạng này đã xảy ra ngay từ trong gia đình
b Hôn nhân một vợ một chồng trong các chế độ xã hội
+ Trong chế độ chiếm hữu nô lệ
Ở xã hội này, chế độ một vợ một chồng bắt đầu mang tính giả tạo, đối với chủ nô và nóchỉ tuân thủ đối với đàn bà Sự hiện diện của các nô lệ gái đã thuộc về người chủ nô cả vềthể xác lẫn tâm hồn thì người vợ của các chủ nô cũng chỉ còn là một nô lệ, một công cụgiải trí và sinh đẻ đơn thuần mà thôi
Thực tế lịch sử hình thành Nhà nước La Mã đã chứng minh rằng khi xã hội này hìnhthành các cơ quan Nhà nước thì xã hội cũng bắt đầu xuất hiện chế độ gia trưởng trong giađình và được luật pháp bảo vệ
+ Trong chế độ phong kiến
Xuất phát từ sự tôn thờ và duy trì chế độ đẳng cấp, trọng nam khinh nữ trong xã hộiphong kiến mà chế độ một vợ một chồng bị biến dạng: Xã hội hà khắc với phụ nữ (chỉ có
Trang 13một chồng) còn đàn ông được luật pháp cho phép có nhiều vợ (đa thê), điển hình là phongkiến phương Đông (Việt Nam, Trung Quốc và các nước theo đạo Hồi).
Nhưng thực tế lịch sử thế giới đã chứng minh rằng dù ở phương Đông hay phương Tâythì hôn nhân và gia đình xây dựng trên nền tảng đạo đức phong kiến đều là trọng namkhinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của đàn ông, hôn nhân theo đẳng cấp ( đòi hỏi phảimôn đăng hộ đối), bảo vệ và duy trì tông tộc phong kiến
+ Trong chế độ tư bản chủ nghĩa
Trong xã hội TBCN, về hình thức, thì nhà nước tư sản duy trì chế độ một vợ một chồng,tức là hôn nhân một vợ một chồng trên nền tảng luật pháp, còn trong thực tế vẫn tồn tạiđầy rẫy sự phóng túng của đàn ông và đàn bà về quan hệ tình dục (ngoại tình) Xã hội tưbản vẫn tìm mọi cách để duy trì chế độ tư hữu tư sản
Trong bất kỳ nhà nước tư sản nào trên thế giới, dù ý thức xã hội có biến đổi đến mức nào,thì từ xưa đến nay các quan hệ hôn nhân gia đình trong xã hội vẫn luôn luôn được xâydựng trên sự tính toán về kinh tế và các quan hệ hôn nhân đó vẫn nhuốm đầy màu sắc tiềnbạc và tài sản
+ Trong chế độ Xã hội chủ nghĩa
Dưới CNXH, Nhà nước tạo những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và luật pháp để thựchiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng Vì đây là mục tiêu quan trọng của cách mạngXHCN
Trong Nhà nước XHCN, vị trí của người phụ nữ được tôn trọng, họ có những quyềnngang với nam giới, không còn ở địa vị phụ thuộc, nên trong quan hệ hôn nhân, họ được
tự do để quyết định, không ai có quyền ép buộc, kể cả cha mẹ, ông bà
Trong xã hội XHCN, hôn nhân và gia đình đã trở thành mối quan tâm của xã hội Nhànước dùng luật pháp điều chỉnh các quan hệ về hôn nhân phát triển theo hướng phù hợpvới lợi ích của mọi công dân, Nhà nước sử dụng luật hôn nhân và gia đình như một
Trang 14phương tiện để xây dựng các quan hệ xã hội mới, nền văn hóa mới và con người mới phùhợp với bản chất xã hội.
1.4 Vai trò của gia đình
+ Gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên của con người, mà ở đó con người sinh ra và lớnlên, đồng thời là môi trường giao tiếp đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách đối vớimỗi người
+ Nơi bảo tồn, chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống, là thành trì chống lại các tệnạn xã hội
+ Trường học đầu tiên và suốt đời của con người “Ý nghĩa cơ bản và mục đích của cuộcsống gia đình – đó là giáo dục con cái” “Gia đình cùng với những mối quan hệ giữa concái và bố mẹ là trường học đầu tiên giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất Bố và
mẹ, các anh chị, ông và bà là những người giáo dục đầu tiên của trẻ ở lứa tuổi trước khiđến trường và họ vẫn là những người tiếp tục giáo dục khi con cháu họ đã đi học” (V.A.Xu-khôm-lin-xki)
+ Nơi gắn bó, liên kết các thành viên thường xuyên, lâu dài và bền vững ; là tổ ấm đemlại hạnh phúc cho cá nhân Chính bởi vậy, “tình yêu gia đình – đó là tình cảm phổ biếnnhất và bền vững nhất… với ý nghĩa là nhân tố có ảnh hưởng tới cuộc sống của conngười, nó là tình cảm quan trọng nhất và tốt đẹp nhất trong tất cả tình cảm tốt đẹp của conngười” (H.G Tréc-nư-sép-xki)
2 CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH
2.1 Chức năng tái sản xuất ra con người
Chức năng này được coi là một giá trị của gia đình mà từ cổ chí kim loài người phải thừanhận Bản thân F Engel, một nhà duy vật vĩ đại cũng cho rằng theo quan điểm duy vật,nhân tố quyết định trong lịch sử suy cho cùng là sự tái sản xuất ra bản thân con người,
là sự truyền nòi giống Chức năng sinh sản của gia đình là một giá trị trường tồn