1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hồ sơ diễn án hành chính 09 Trần Trung Cử lớp 3 Chung 2022

40 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồ sơ diễn án hành chính 09 Trần Trung Cử lớp 3 Chung 2022
Tác giả Hoàng Ngọc Châu
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật đất đai
Thể loại Hồ sơ diễn án hành chính
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 210,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Khiếu kiện quyết định hành chính về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Người khởi kiện Ông Trần Trung Cử Người bị kiện UBND huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Khiếu kiện quyết định hành chính về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Người khởi kiện: Ông Trần Trung Cử

Người bị kiện: UBND huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng

Hồ sơ: ĐTC/09-HC

Họ và tên : Hoàng Ngọc Châu Lớp : B- ĐTC khóa 6.1 HCM SBD : 05

GVHD:

TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 12 năm 2022

Trang 2

A NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I Tên vụ án

Khiếu kiện quyết định hành chính về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất

II Kết quả nghiên cứu hồ sơ

2.1 Tóm tắt nội dung vụ án

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của người khởi kiện là ông Trần Trung Cử như sau:

Ông Trần Văn Đoài và bà Nguyễn Thị Hin có thửa đất thổ cư diện tích851m2, thửa số 11, tờ bản đồ số 41 tọa lạc tại Kênh Trang, xã Tân Hưng, huyệnVĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng

Ông Trần Văn Đoài mất năm 1974

Ngày 19/01/1997, bà Nguyễn Thị Hin được UBND huyện Vĩnh Bảo cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất số 07 / QSDĐ với diện tích 851 m2 tại thửa 11, tờbản đồ số 41 thuộc thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Bà Nguyễn Thị Hin mất năm 1997 Sau khi bà Hin chết, bà Minh là ngườitrực tiếp trông coi mảnh đất của bà Hin

Năm 2011, ông Trần Trung Cử phát hiện diện tích đất ở của bố mẹ ông đãđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ ngày 14/3/2005 vàmang tên hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Nguyễn Thị Thúy Em gái ông là bà TrầnThị Minh đã tự ý chuyển nhượng cho ông Trang và bà Thúy nhưng chưa được sựđồng ý của các anh chị em còn lại

Ngày 05/9/2017, ông Cử đã có đơn gửi các cơ quan chức năng đề nghị xemxét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trang và bà Thúyđồng thời yêu cầu trả lại thửa đất trên cho gia đình ông

Ngày 04/7/2012, ông Cử có đơn khiếu nại đến UBND huyện Vĩnh Bảo vềviệc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trang và bà Thúy là trái phápluật Ngày 31/5/2013, Phòng tài nguyên và môi trường huyện Vĩnh Bảo đã có vănbản trả lời về việc giải quyết đơn khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cấp cho ông Trang và bà Thúy

Trang 3

Ngày 01/10/2013 ông Cử nhận được văn bản trả lời số 762/UBND - TTrngày 24/9/2013 của UBND huyện Vĩnh Bảo về việc trả lời đơn của ông Trần Trung

Người bị kiện - UBND huyện Vĩnh Bảo trình bày không đồng ý với yêu cầu huyển Giấy chứng nhận của ông Cử và khẳng định việc Giấy chứng nhận cho hộ ông Trang và bà Thúy là đúng như sau:

Theo hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang lưu trữ, năm 1997, bàNguyễn Thị Hin mất, không để lại di chúc Sau khi bà Hin chết, bà Trần Thị Minh -con gái bà Hin là người trực tiếp trông coi mảnh đất này

Ngày 13/9/1999, bà Trần Thị Minh viết giấy biên nhận 5.500.000 đồng (nămtriệu năm trăm ngàn đồng) của ông Bùi Trọng Trang, trú tại: Bàm 1, Kênh Trang,Tân Hưng, Vĩnh Bảo với nội dung: “Tôi chuyển nhượng đất thổ cư cũ của gia đìnhtôi ở Bàm l"

Ngày 09/7/2002 , bà Minh viết giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở choông Trang và đề nghị UBND xã Tân Hưng, Phòng Nông nghiệp và phát triển nôngthôn huyện Vĩnh Bảo làm thủ tục chuyển nhượng Bà Minh và ông Trang đã ký vàoGiấy chuyển nhượng trên

Ngày 09/7/2002, bà Trần Thị Tú có viết Giấy chuyển nhượng thừa kế cho

em gái – bà Trần Thị Minh cho quyền sử dụng đất thổ cư của bà Nguyễn Thị Hin –

mẹ đẻ bà Chủ tịch UBND xã Tân Hưng đã xác nhận bà Trần Thị Tú, bà Trần ThịMinh đều là con đẻ của bà Nguyễn Thị Hin vào ngày 2/2/2004 Ngày 24/01/2005,Ban địa chính xã Tân Hưng xác nhận “Bà Nguyễn Thị Hin có khu đất thổ cư số 11,

Trang 4

bản đồ số 41 , đã đăng ký vào sổ địa chính thừa kế cho con gái là bà Trần ThịMinh”

Ngày 26/01/2005, ông Bùi Trọng Trang có đơn xin đăng ký quyền sử dụngđất Căn cứ vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Trang và các tài liệu,UBND xã Tân Hưng đã lập hồ sơ và làm thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ trình UBNDhuyện Vĩnh Bảo phê duyệt cấp GCNQSDĐ cho ông Trang Hồ sơ cấp Giấy chứngnhận của ông Trang đảm bảo quy định của Luật đất đai năm 2003

Tại thời điểm bà Minh chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Hin choông Trang và bà Thúy thì UBND xã Tân Hưng không biết bà Hìn có 4 người con là

bà Minh, bà Tú, ông Cử và một người con riêng của bà Hin là bà Vân vì thực tếông Cử và bà Vân đã không còn sinh sống tại địa phương xã Tân Hưng từ nhỏ.Năm 1999, bà Minh là người quản lý sử dụng diện tích đất của bà Hin, bà Minh đãchủ động chuyển nhượng đất và đã nhận đầy đủ tiền của ông Trang Vì vậy, tại thờiđiểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trang, bà Thúy, UBNDhuyện Vĩnh Bảo đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật

Nay ông Cử có đơn đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtmang tên ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy, đề nghị Tòa án giải quyết theoquy định pháp luật

Ngày 23/02/2016, Ông Trần Trung cử có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhândân huyện Vĩnh Bảo hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho ông Trang và Bà Thúy

Ngày 25/02/2016, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo ra thông báo thụ lý vụ

2.2 Quan hệ pháp luật tranh chấp

Ông Trần Trung Cử khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Hảiphòng Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ do hộ ông BùiTrọng Trang và bà Lê Thị Thúy đứng tên sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất theo quy định tại Điều 3 Luật đất đai 2013 là "Chứng thu pháp lý" hay còn gọi

Trang 5

là quyết định hành chính nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hànhchính 2015 đây là quan hệ tranh chấp Khiếu kiện Quyết định hành chính thuộcthẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

2.3 Người tham gia tố tụng

Người khởi kiện: Ông Trần Trung Cử

Địa chỉ: 76/4c Bùi Đình Túy, phường 24, quận Bình Thạnh, TP.HCM

Người bị kiện: UBND huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng

Địa chỉ: Đường 20/8, Thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố HảiPhòng

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.4 Những vấn đề người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất số 123/QSDĐ do UBND huyện Vĩnh Bảo cấp ngày 04/3/2005 của ôngBùi Trọng Trang và Lê Thị Thúy do việc cấp này là sai và ảnh hưởng đến quyền lợiích của ông Cử và các đồng thừa kế của bà Hin

2.5 Người khởi kiện nộp các tài liệu, chứng cứ sau:

Trang 6

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Hin;

- Hồ sơ nhân thân của ông Trang và bà Tú, bà Minh, bà Vân;

- Các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc ông Cử khiếu nại và giải quyếtkhiều nại;

- Các chứng cứ chứng minh thời điểm bà Hin mất;

- Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trang bà Thúy

2.6 Ý kiến của người bị kiện

Không không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cử

2.7 Thẩm quyền của Tòa án

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2014 khiếu kiệnyêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là khiếu kiện thuộc thẩm quyềngiải quyết của Tòa án Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết về việc thi

hành Luật TTHC 2015 quy định “Đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết” Trong vụ án này, ông

Trần Trung Cử khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo hủy Giấychứng nhận đã cấp cho ông Trang và Bà Thúy vào ngày 23/02/2016, ngày25/02/2016, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo ra thông báo thụ lý vụ án số01/2016/TB-TLVA Do đó, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo thụ lý giải quyết làđúng thẩm quyền

2.8 Thời hiệu khởi kiện

Theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015 thìthời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hànhchính đó hoặc biết được hành chính đó

Ngoài ra, Chánh án TANDTC có Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày19/9/2016 giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự; trong đó,

có giải thích: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính Như vậy, khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một chủ thể nào đó, mà đương sự trong vụ án dân sự cho rằng việc cấp giấy đó là không đúng quy định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó trong cùng một vụ án dân

Trang 7

sự theo Điều 34 BLTTDS năm 2015”.

Ngày 18/11/2015, UBND huyện Vĩnh Bảo đã ban hành Quyết định số 2895/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận yêu cầu của ông Cử, ngày 23/02/2016,Ông Trần Trung cử có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo hủyGiấy chứng nhận đã cấp cho ông Trang và Bà Thúy Tòa án thụ lý giải quyết làtrong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật

Trang 8

III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI:

1 Hỏi người khởi kiện:

Hỏi: Ông cho biết mối quan hệ giữa ông và cụ Nguyễn Thị Hin, bà Trần ThịMinh, bà Trần Thị Tú?

Hỏi: Ngoài ông bà ra, cụ Nguyễn Thị Hin còn người con nào khác không?Hỏi: Cụ Nguyễn Thị Hin chết năm nào?

Hỏi: Khi cụ Hin mất, có để lại di chúc không?

Hỏi: Khi còn sống, cụ Hin có tạo lập được tài sản gì không?

Hỏi: Khi còn sống, cụ Hin có tặng cho thửa đất cho bà Trần Thị Minh không?

Có giấy tờ chứng minh việc tặng cho không?

Hỏi: Sau khi mẹ ông mất, các anh chị em ông có lập thủ tục kê khai di sảnthừa kế không?

Hỏi: Ông có biết việc bà Minh viết giấy biên nhận và giấy chuyển nhượngQSD đất cho ông Trang không?

Hỏi: Ông biết việc ông Trang được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đấtmảnh mất của mẹ ông từ khi nào?

Hỏi: Sau khi biết được ông đã làm gì?

Hỏi: Đơn khiếu nại của ông đã được trả lời như thế nào?

Hỏi: Lý do vì sao UBND không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông?

Hỏi: Tại sao ông cho rằng Giấy chứng nhận cấp cho ông Trang là sai?

Hỏi: Tại phiên tòa ngày hôm nay, ông có yêu cầu gì?

2 Hỏi người bị kiện:

Hỏi: Ông cho biết nguồn gốc thửa đất số 11, tờ bản đồ 41, diện tích 815m2?

Ai là người đứng tên GCNQSD đất?

Hỏi: Ông cho biết cụ Hin mất năm nào??

Hỏi: Cụ Hin có bao nhiêu người con?

Hỏi: UBND huyện Vĩnh Bảo căn cứ vào đâu để cấp Giấy chứng nhận Quyền

sử dụng đât cho ông Trang?

Hỏi: Các hồ sơ kèm theo đó là gì?

Trang 9

Hỏi: Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của ông Trang nộpngày nào?

Hỏi: Việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất có tiến hành đo đạc về hiện trạng sửdụng đất không? Có xác định vị trí thửa đất không? Có ký giáp ranh đất không?Hỏi: Khi thẩm tra về đất, có xem xét nguồn gốc đất không?

Hỏi: Tại thời điểm ông Trang nộp hồ sơ, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đấtmang tên ai?

Hỏi: Sau khi UBND huyện Vĩnh Bảo nhận hồ sơ đề nghị cấp GCN, UBND cótiến hành thẩm tra hồ sơ không?

Hỏi: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Hin, nhưngtrên hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất lại là bà Trần Thị Minh, UBND

có xác minh vấn đề này không?

Hỏi: Hồ sơ liên quan đến việc thừa kế, UBND xã Tân Hưng có trình choUBND huyện Vĩnh Bảo không?

Hỏi: UBND huyện Vĩnh Bảo có yêu cầu UBND xã cung cấp không?

Hỏi: UBND huyện Vĩnh Bảo xác nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng giữa bàMinh và ông Trang vào ngày nào?

Hỏi: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của ông Trang và bà Thúy được cấpvào ngày nào?

Hỏi: Tại sao ngày 15/04/2005, UBND huyện Vĩnh Bảo mới xác nhận vào Hợpđồng chuyển nhượng nhưng giấy chứng nhận lại cấp ngày 04/03/2005?

Hỏi: UBND huyện Vĩnh Hảo đã căn cứ văn bản pháp luật để cấp Giấy chứngnhận cho ông Trang

Hỏi: Tại phiên tòa ngày hôm nay, ông ý kiến như thế nào về yêu cầu khởi kiệncủa người khởi kiện?

3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trang 10

IV Dự thảo bài phát biểu

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN

DÂN THÀNH PHỐ HẢI

PHÒNG

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN

DÂN HUYỆN VĨNH BẢO

Của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Căn cứ khoản 4 Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ các Điều 43, 190 và 249 Luật tố tụng hành chính năm 2015

Hôm nay, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo mở phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ

án hành chính yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa:

Người khởi kiện: Ông Trần Trung Cử, sinh năm: 1948

Địa chỉ: 76/4c Bùi Đình Túy, phường 24, quận Bình Thạnh, TP.HCM

Người bị kiện: UBND huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng

Địa chỉ: Đường 20/8, Thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố HảiPhòng

Người đại diện của UBND huyện Vĩnh Bảo:

Ông Trịnh Khắc Tiến – Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo

Giấy ủy quyề số 1056/UQ-UBND ngày 15/8/2016

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1938

Địa chỉ: Số nhà 54, Đường 208, Thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện AnDương, TP Hải Dương

Trang 11

- Bà Trần Thị Minh, sinh năm 1957

Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

- Bà Trần Thị Tú, sinh năm 1949

Địa chỉ: KDC Tiền Hải, Thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng

- Ông Bùi Trọng Trang, sinh năm 1964

Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

- Bà Lê Thị Thúy, sinh năm 1965

Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

- Ông Phạm Văn Quyết, sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

- Ông Phạm Quang Hồng, sinh năm 1960

Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

- Bà Bùi Thị Quýt, sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

I Việc tuân theo pháp luật tố tụng

1 Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án:

a) Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểmnày thấy rằng:

Trang 12

- Thời hạn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện kéo dài là vi phạm thời hạn theo quyđịnh Điều 122 Luật tố tụng hành chính 2015;

- Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo thụ lý giải quyết vụ án không đúng thời hạnquy định tại Điều 123 BLTTHC2015;

Đề nghị Tòa án khắc phục để yêu cầu sửa đổi, bổ sung và thụ lý các vụ án khácđúng quy định

- Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định theo Điều 38 Luật tố tụng hành chính,như thông báo cho đương sự biết về việc thụ lý vụ án hành chính, thông báo nộp tiềntạm ứng án phí theo quy định tại Điều 125, Điều 126 Luật Tố tụng Hành chính;

- Yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, thông báo và mở phiên họpkiểm tra việc giao nộp chứng cứ và đối thoại theo Điều 133, 136, 138 Luật Tố tụnghành chính;

- Tổ chức đối thoại giữa các đương sự được quy định tại Điều 20;

- Ngày 24/6/2016 Tòa án nhân dân ra Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét

xử theo quy định tại khoản 3 Điều 130, ngày 24/8/2016, Tòa án nhân dân huyện VĩnhBảo ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng thời hạn quy định tại Điều 130 và gửiquyết định cho các đương sự và Viện kiểm sát đúng quy định tại Điều 146;

- Hồ sơ vụ án chuyển cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 147Luật tố tụng hành chính

b) Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa:

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Điều 39Luật tố tụng hành chính như nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa đúng thành phầnquy định, phần tham gia hỏi tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại điều 177Luật tố tụng hành chính, phần ý kiến tại phiên tòa của Hội thẩm nhân dân đảm bảotheo quy định của pháp luật

c) Việc tuân theo pháp luật của Thư ký tại phiên tòa:

Tại phiên tòa hôm nay Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại Điều 41Luật tố tụng Hành chính như: Phổ biến nội quy phiên tòa theo Điều 153 Luật tố tụnghành chính, kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người đượctriệu tập đến phiên tòa cũng như sự có mặt, vắng mặt của các đương sự

Nhìn chung phần thủ tục tại phiên tòa được tiến hành đầy đủ đúng theo quy định

về trình tự của Luật tố tụng Hành chính về thủ tục phiên tòa sơ thẩm như:

Trang 13

- Chuẩn bị khai mạc phiín tòa theo Điều 167 Luật tố tụng hănh chính;

- Khai mạc phiín tòa theo Điều 169 Luật tố tụng hănh chính, hỏi câc đương sự

về thực hiện sửa, đổi bổ sung rút đơn khiếu kiện theo Điều 172 Luật tố tụng hănhchính;

- Việc hỏi câc đương sự được thực hiện đúng thứ tự vă nguyín tắc hỏi theo quyđịnh tại Điều 177;

- Kết thúc việc hỏi Thẩm phân đê cho đương sự tiến hănh tranh luận, trình tựphât biểu khi tranh luận cũng được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định tại Điều 188

vă Điều 189 Luật tố tụng hănh chính

Qua công tâc kiểm sât từ khi thụ lý vụ ân đến khi được Hồi đồng xĩt xử khôngphât hiện vi phạm

2 Việc tuđn theo phâp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:

a) Việc tuđn theo phâp luật của người khởi kiện

Từ khi thụ lý vụ ân cũng như tại phiín tòa hôm nay ông Trần Trung Cử đê thựchiện đúng quy định tại điều 55, 56 Luật tố tụng hănh chính như cung cấp tăi liệu,chứng cứ có liín quan đến vụ kiện theo Điều 9, Điều 78 Luật tố tụng hănh chính;Tham gia phiín họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia đốithoại vă chấp hănh tốt nội quy phiín tòa theo Điều 153, Điều 157 Luật tố tụng hănhchính

b) Việc tuđn theo phâp luật của người bị kiện

UBND huyện Vĩnh Bảo đê ủy quyền cho công chức thuộc cơ quan của mình lẵng Trịnh Khắc Tiến, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo tham gia tố tụng, ủyquyền năy đúng quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật tố tụng hănh chính Ông Tiến cungcấp câc tăi liệu chứng cứ, chứng minh có liín quan đến việc giải quyết vụ ân theo Điều

9 Luật tố tụng hănh chính, Ông Tiến cũng thực hiện đầy đủ quyền vă nghĩa vụ củangười bị kiện theo đúng quy định tại Điều 55, Điều 57 Luật tố tụng hănh chính, giaonộp tăi liệu chứng cứ theo Điều 83 Luật tố tụng hănh chính; tham gia đối thoại, thamgia phiín họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; có mặt theo giấytriệu tập của vă chấp nhận tốt nội quy tại phiín tòa theo Điều 153, Điều 157 Luật tốtụng hănh chính

Đối chiếu với câc quy định tại Điều 55; Điều 58; Điều 128; Điều 153; Điều 157Luật tố tụng hănh chính

Trang 14

Qua công tác kiểm sát từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử khôngphát hiện vi phạm.

II Về việc giải quyết vụ án

1 Về thẩm quyền thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2014 khiếu kiệnyêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là khiếu kiện thuộc thẩm quyềngiải quyết của Tòa án Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết về việc thi

hành Luật TTHC 2015 quy định “Đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết” Trong vụ án này, ông

Trần Trung Cử khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo hủy Giấychứng nhận đã cấp cho ông Trang và Bà Thúy vào ngày 23/02/2016, ngày25/02/2016, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo ra thông báo thụ lý vụ án số01/2016/TB-TLVA Do đó, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo thụ lý giải quyết làđúng thẩm quyền

2 Về thời hiệu khởi kiện:

Theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015 thìthời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hànhchính đó hoặc biết được hành chính đó

Ngoài ra, Chánh án TANDTC có Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày19/9/2016 giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự; trong đó,

có giải thích: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính Như vậy, khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một chủ thể nào đó, mà đương sự trong vụ án dân sự cho rằng việc cấp giấy đó là không đúng quy định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó trong cùng một vụ án dân

sự theo Điều 34 BLTTDS năm 2015”.

Ngày 18/11/2015, UBND huyện Vĩnh Bảo đã ban hành Quyết định số 2895/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận yêu cầu của ông Cử, ngày 23/02/2016,Ông Trần Trung cử có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo hủyGiấy chứng nhận đã cấp cho ông Trang và Bà Thúy Tòa án thụ lý giải quyết làtrong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật

Trang 15

3 Về yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung Cử

a) Về nguồn gốc đất

Ông Trần Văn Đoài và bà Nguyễn Thị Hin có thửa đất thổ cư diện tích851m2, thửa số 11, tờ bản đồ số 41 tọa lạc tại Kênh Trang, xã Tân Hưng, huyệnVĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng

Ông Trần Văn Đoài mất năm 1974

Theo Sổ mục kê, tờ bản đồ giải thửa xã Tân Hưng đo vẽ năm 1995, diện tíchđất thể hiện tại tờ bản đồ số 41, thửa 11, diện tích 851m2, mang tên chủ sử dụng là

bà Nguyễn Thị Hin

Ngày 19/01/1997, bà Nguyễn Thị Hin được UBND huyện Vĩnh Bảo cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất số 07/QSDĐ với diện tích 851 m2 tại thửa 11, tờ bản

đồ số 41 thuộc thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Theo quy định Luật đất đai 1993, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất là người sử dụng hợp pháp theo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất củanhà nước

Từ đó có cơ sở khẳng định nguồn gốc đất là của bà Nguyễn Thị Hin

Bà Nguyễn Thị Hin mất năm 1997 Sau khi bà Hin chết, bà Minh là ngườitrực tiếp trông coi mảnh đất của bà Hin

b) Về quá trình chuyển nhượng thửa đất số 11, tờ bản đồ 41 thuộc thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Các đương sự có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòangày hôm nay, bà Nguyễn Thị Hin mất năm 1997, nhận thấy có cơ sở chấp nhận để

giải quyết vụ án Theo quy định tại Điều 637 Bộ luật dân sự 1995 "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác; Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này" Như vậy, kể từ khi bà Hin mất thì

thửa đất 851 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 07/QSDĐ tại thửa 11,

tờ bản đồ số 41 thuộc thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng trở thành

di sản thửa kế của bà Hin

Bà Hin mất không để lại di chúc nên áp dụng quy định tại Điều 678 Bộ luậtdân sự 1995, di sản thừa kế được xác định phân chia theo pháp luật

Trang 16

Căn cứ khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự 1995 "Hàng thừa kế thứ nhất gồm:

vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết" xác

định hàng thừa kế thứ nhất của bà Hin gồm: ông Trần Trung Cử, bà Nguyễn ThịVân, bà Trần Thị Tú và bà Trần Thị Minh Như vậy, kể từ thời điểm mở thừa kếnăm 1997 thì quyền đối với di sản của bà Hin thuộc về bốn người đồng thừa kế nóitrên

Trên Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 9/7/2002 và Hợp đồng chuyển nhượngquyền sử dụng đất số 456 ngày 26/01/2005 chỉ có một mình bà Trần Thị Minh kývới ông Trần Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy là không đúng quy định về thừa kếtheo Bộ luật dân sự 1995, việc này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợiích hợp pháp của các đồng thừa kế còn lại là ông Cử, bà Vân và bà Tú

c) Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất cho ông Trần Trọng Trang và

bà Lê Thị Thúy

Thời điểm ông Trang và bà Thúy thực hiện việc nhận chuyển nhượng và xincấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ngày 07/3/2005, thời điểm này Luật đấtđai 2003 đang phát sinh hiệu lực nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtphải tuân theo trình tự thủ tục được quy định trong Luật đất đai 2003 và các vănbản hướng dẫn thi hành

Theo Điều 127 Luật đất đai 2003 và hướng dẫn bởi các điều 117 và Điều 148Nghị định 181/2004/NĐ-CP quy định hồ sơ chuyển nhượng gồm có: Hợp đồngchuyển nhượng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất thể hiện tên bà Hin, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng thểhiện bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất là bà Hin (chết năm 1997) và thể hiện

tên bà Minh (thừa kế), theo Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP "Hợp đồng chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của nhóm người sử dụng đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm thống nhất và ký tên hoặc có văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật về dân sự” Tuy nhiên khi UBND xã Tân Hưng tiếp nhận hồ sơ

đã không làm rõ và hướng dẫn bà Minh thực hiện thủ tục kê khai di sản thừa kếtheo quy định của Bộ Luật dân sự 1995 và Luật đất đai 2003 mà UBND xã Tân lậptiến hành cập nhật thừa kế vào sổ địa chính cho bà Minh là không có cơ sở và tráiquy định của pháp luật

Điều 129 Luật đất đai 2003 về quy trình kê khai thừa kế đối đất đai như sau:

"Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất được quy định như sau: "a) Hồ

Trang 17

sơ thừa kế quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; b) Hồ

sơ thừa kế quyền sử dụng đất gồm di chúc hoặc biên bản phân chia thừa kế hoặc bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp người được nhận thừa kế là người duy nhất thì hồ sơ thừa kế gồm đơn đề nghị

và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất gồm văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền

sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước" và theo quy

định chi tiết tại Điều 151 Nghị định 181/2004/NĐ-CP Như vậy, việc không kêkhai thừa kế mà bà Minh 1 mình chuyển nhượng cho ông Trang, bà Thúy là tráiquy định của pháp luật

Theo Luật đất đai 2003 và hướng dẫn bởi Nghị định 181/2004/NĐ-CP quyđịnh khi tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải tiến hành thẩmđịnh hiện trạng và ký giáp ranh với các hộ dân tư cận Tuy nhiên, trong Biên bảnxác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng thửa đất ngày 20/01/2005 chỉ có 03 hộdân liền kề ký giáp ranh còn hộ bà Biểu liền kề không ký là thiếu sót và trái với quyđịnh về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

4 Yêu cầu của người bị kiện và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên Tòa yêucầu giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đã cấp theo đúng quy địnhcủa pháp luật là không có cơ sở chấp nhận

Từ những phân tích trên, Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụnghành chính 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố chấp nhận yêu cầu khởi kiệncủa ông Trần Trung Cử, tuyên:

Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ do UBND huyệnVĩnh Bảo cấp cho hộ ông Trần Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy ngày 07/3/2005

III Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không

Viện kiểm sát đề nghị Tòa án có phương hướng khắc phục để giải quyết các

vụ án sắp tới đúng theo quy định của pháp luật

Trang 18

Trên đây là ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng củaThẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng và quanđiểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

V KỊCH BẢN ĐIỀU HÀNH PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM

Vào hồi giờ 00 phút ngày tháng năm 2022

Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành huyện Vĩnh Bảo

Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số /20 /TLST- DSngày 11/x/20 ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số xx/20 /QĐ – XX ngày

…./…./2020 về việc: “khiếu kiện về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Vụ án được xét xử công khai

* Những người tham gia tố tụng:

- Người khởi kiện: Ông Trần Trung Cử, sinh năm: 1948.

Địa chỉ: 76/4c Bùi Đình Túy, Phường 24, Quận Bình Thạnh, Tp HCM

Người đại diện theo ủy quyền: ông Vũ Văn Vinh

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư

……… của Công ty Luật ……… , thuộc Đoàn luật sư Thành phố

Hồ Chí Minh

- Người bị kiện: Ủy ban Nhân dân Huyện Vĩnh Bảo.

Địa chỉ: Đường 20/8 Thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Trang 19

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Trịnh Khắc Tiến – Phó Chủ tịch UBND Huyện Vĩnh Bảo

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Luật sư

………của Công ty Luật……… thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị Minh, sinh năm 1957

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa:

Các hội thẩm nhân dân:

1/ ……… - Hưu trí

2/ ………- Hưu trí

Thư kí phiên tòa: ……… – cán bộ tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo.

Đại diện viện kiểm sát huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên tòa:

……… – Kiểm sát viên

A Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa.

- Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa và đọc Quyết định đưa vụ án

ra xét xử

- Thư ký Tòa án báo cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt củanhững người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do

Trang 20

vắng mặt

- Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của đương sự theo giấy triệu tập,giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của các đương sự; giải thích quyền, nghĩa

vụ của đương sự tại phiên tòa

- Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng

- Chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm,Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án hay không

Đương sự không yêu cầu thay đổi ai trong Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên;Thư ký phiên tòa

- Chủ tọa hỏi đương sự có cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa haykhông

Chủ tọa hỏi nguyên đơn:

Hỏi: Tại phiên tòa hôm nay ông có bổ sung, thay đổi, rút một phần, hoặc rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện không?

Chủ tọa hỏi các đương sự:

Hỏi: Tại Tòa hôm nay các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giảiquyết vụ án hay không?

Chủ tọa tuyên bố kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, phiên toà chuyển sang phần tranh tụng tại phiên tòa

B Phần xét hỏi tại phiên tòa

1 Trình bày của đương sự, Người đại diện theo ủy quyền của đương sự, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự:

2 Phần hỏi và trả lời tại phiên tòa.

- Đương sự hỏi lẫn nhau theo thứ tự: người khởi kiện; đại diện người khởikiện; người bị kiện; đại diện người bị kiện;

- Chủ toạ hỏi:

+ Người khởi kiện

+ Người bị kiện

+ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Hội thẩm nhân dân hỏi:

Ngày đăng: 22/12/2022, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w