1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chứng minh truyện thơ ra đời là sự kết hợp của truyện cổ tích và ca dao

32 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chứng minh truyện thơ ra đời là sự kết hợp của truyện cổ tích và ca dao
Tác giả Phạm Thị Minh Phương
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 305,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • KHOA NGỮ VĂN

  • MÔN HỌC: ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC DÂN GIAN

  • Phần mở đầu

  • Phần giải quyết vấn đề.

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

  • Chương 2: Truyện thơ đã kế thừa “tính truyện” từ truyện cổ tích.

  • Chương 3: Truyện thơ kế thừa thi pháp ca dao

  • Chương 4: Truyện thơ, truyện cổ tích, ca dao trong đời sống cộng đồng

  • Phần kết luận

  • Tài liệu tham khảo

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN MÔN HỌC ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC DÂN GIAN CHỨNG MINH TRUYỆN THƠ RA ĐỜI LÀ KẾ THỪA HAI THỂ LOẠI TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ CA DAO Sinh viên thực hiện Phạm Thị Minh Phương Hà.

Mục đích

Trong tác phẩm Việt Hán văn khảo, Phan Kế Bính định nghĩa văn chương là sự kết tinh của vẻ đẹp và vẻ sáng của ngôn từ, bởi vì ngôn từ diễn tả tính tình, tư tưởng của con người thành câu nói, thành đoạn văn; văn chương như một bức tranh vẽ cảnh tượng của thiên nhiên và tâm hồn loài người Nếu ví văn chương là một bức tranh, văn học dân gian hiện lên như một nét vẽ đặc biệt được chắt lọc từ những yếu tố nguyên sơ và tư tưởng giản dị mà phi thường của loài người từ thuở sơ khai; văn học dân gian do đó tồn tại và phát triển một cách tự nhiên, dung dị mà sâu sắc trong đời sống văn hóa của nhân loại Khi nhắc đến văn học dân gian, người ta nghĩ ngay đến các thể loại gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của dân chúng và là thành quả tập thể của cộng đồng, nổi bật ở truyện cổ tích – đại diện cho nghệ thuật kể chuyện dân gian – và ca dao mang âm hưởng trữ tình dân gian; sự kết hợp khéo léo giữa những yếu tố đặc trưng của truyện cổ tích và ca dao đã hình thành một thể loại mới đầy ấn tượng mang tên: truyện thơ.

Trong bài văn này, em sẽ trình bày một chuỗi luận điểm, luận cứ và quan điểm nhằm khẳng định rằng: “Truyện thơ ra đời là kế thừa hai thể loại truyện cổ tích và ca dao” Các luận điểm được sắp xếp logic để cho thấy sự tiếp biến giữa hình thức kể chuyện của cổ tích và nhịp điệu, giọng ca dao trong truyện thơ, từ đó hình thành một thể loại mới Bằng chứng văn bản và phân tích ngôn ngữ sẽ cho thấy những đặc điểm chung về cấu trúc, hình ảnh và ngôn ngữ gợi nhắc đến cả truyện cổ tích lẫn ca dao Như vậy, truyện thơ vừa kế thừa truyền thống vừa phát huy sự sáng tạo của dân gian, trở thành cầu nối giữa hai nguồn gốc văn học cổ điển.

Việt Hán văn khảo, còn được biết với tên tiếng Pháp Études Sur La Littérature Sino-Annamite, là công trình của nhà nghiên cứu Phan Kế Bính Tài liệu này lần đầu được in năm 1918 và sau đó được nhà xuất bản Nam Kỳ tái bản vào năm 1938, khẳng định vị trí và sức ảnh hưởng của nó trong nghiên cứu văn học Sino-Annamite.

2 Phan Kế Bính (1875-1921) là nho học, nhà báo, nhà văn của Việt Nam.

Ý nghĩa

Chủ đề đề cập đến sự ra đời của truyện thơ, nhấn mạnh tính kế thừa của truyện thơ mang những ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Đề tài trình bày cơ sở lý luận cho các thể loại trong văn học dân gian, cụ thể là truyện cổ tích, ca dao và truyện thơ, và xem truyện thơ là sự kế thừa, kết tinh của hai thể loại trước, đồng thời đưa ra cách giải thích khoa học về sự ra đời của truyện thơ trong kho tàng văn học; nó mở ra một quan điểm tiếp cận mới đối với truyện cổ tích, ca dao và truyện thơ nói riêng, và đối với văn học dân gian cũng như văn hóa dân gian nói chung, giúp người nghiên cứu và độc giả hiểu sâu hơn về các thể loại này và mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết; đề tài còn gắn với thực tế đời sống hàng ngày, nhấn mạnh rằng văn học dân gian được gìn giữ và thăng hoa không chỉ ở trang sách mà còn trong sinh hoạt dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc; do vậy, việc giải thích nguồn gốc ra đời và phát triển của truyện thơ thông qua truyện cổ tích và ca dao nhằm khẳng định sức sống của văn học dân gian và đưa nó gần hơn với đời sống hiện đại, tạo khoảng lặng để suy ngẫm giữa nhịp sống số và sự phát triển của máy móc và công nghệ.

Nhiệm vụ

Để đạt được các mục tiêu đã đề ra ở trên và đảm bảo cả ý nghĩa thực tiễn lẫn cơ sở lý luận của đề tài, bài luận sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau: xác định rõ mục tiêu nghiên cứu; hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan; thiết kế và áp dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp để thu thập và phân tích dữ liệu; trình bày và diễn giải kết quả một cách logic và có căn cứ; rút ra kết luận và đề xuất giải pháp hoặc hướng phát triển ứng dụng thực tế; đồng thời đánh giá các hạn chế và các yếu tố tác động để tăng tính tin cậy của bài viết.

Thứ nhất, trình bày cơ sở lý luận của đề tài bao gồm những lý luận chung về các thể loại cổ tích, ca dao và truyện thơ.

Truyện thơ ra đời là kế thừa hai thể loại cổ tích và ca dao, được làm sáng tỏ qua hai chương chính: Chương đầu chứng minh truyện thơ thừa hưởng tính truyện của cổ tích thông qua các yếu tố cốt truyện, nội dung, nhân vật, kết cấu và yếu tố thần kỳ; Chương tiếp theo chứng minh truyện thơ kế thừa thi pháp của ca dao thông qua ngôn ngữ, kết cấu, nghệ thuật, thể thơ và ý thơ; và cuối cùng, bài viết liên hệ sự tồn tại của các thể loại truyện thơ, cổ tích và ca dao trong đời sống sinh hoạt cộng đồng như bằng chứng cho sức sống của chúng.

Thứ ba, đưa ra được quan điểm, đánh giá chung về đề tài, tính vận dụng của đề tài.

Phần giải quyết vấn đề.

Cơ sở lý luận của đề tài

Lý luận chung về “Truyện cổ tích”

Thuở bé thơ, ta thường được nghe những câu chuyện cổ tích từ bà và từ mẹ Những câu chuyện ấy mở ra trước mắt ta một thế giới đầy màu nhiệm và diệu kỳ, vừa huyền ảo vừa gần gũi và ấm áp Ta lớn lên cùng những hình ảnh của bà tiên, ông bụt và những cuộc phiêu lưu kỳ thú, dạy ta những bài học đầu đời về lòng can đảm, tình người và niềm tin vào điều tốt đẹp.

Truyện cổ tích bắt nguồn từ kho tàng kể chuyện dân gian, nơi những nhân vật thần kỳ như công chúa, hoàng tử và các bài học về thiện ác được truyền miệng và ghi lại, đồng thời đáp ứng khát vọng khám phá thế giới và nuôi dưỡng tâm hồn bằng những kết thúc hạnh phúc, viên mãn như mơ Nguồn gốc và sự phát triển của chúng phản ánh nhu cầu giải thích nguồn gốc con người và các quy luật xã hội, đồng thời cho thấy mối tương tác giữa con người và thế giới quanh ta Khi thời kỳ công xã nguyên thủy chấm dứt, thế giới thần thoại khép lại và mở ra một thực tại xã hội với nhà nước, giai cấp và những mâu thuẫn mới; truyện cổ tích xuất hiện như một cánh cửa mới, phản ánh các vấn đề cá nhân và giải thích xung đột xã hội, đồng thời mang tới sự an ủi và niềm tin vào kết thúc tốt đẹp.

Truyện cổ tích kết hợp hình thức sáng tạo và nhận thức độc đáo: người kể truyền đạt hư cấu thẩm mỹ, còn người nghe cảm nhận như một nghệ thuật tưởng tượng đầy hấp dẫn Dù phần nhiều có yếu tố hư ảo, truyện vẫn giữ được tính thực của đời sống và thở vào từng câu chuyện Đó là những câu chuyện mang hơi thở của người dân, gửi gắm vào nhân vật, tình huống và cốt truyện những hình ảnh gắn với cuộc sống hàng ngày, đồng thời phản chiếu ước mơ và khát vọng Nội dung của truyện cổ tích là nội dung thế sự, luôn hướng tới ba yếu tố cốt lõi: phản ánh mâu thuẫn xã hội; ngợi ca đạo đức và cách ứng xử của con người; gửi gắm ước mơ của nhân dân.

Trong kho tàng cổ tích phong phú, các tiểu loại được phân định dựa trên đặc điểm nhân vật và nội dung câu chuyện; cổ tích loài vật chịu ảnh hưởng mạnh của thần thoại và gắn với tín ngưỡng vật tổ, song theo thời gian yếu tố thần thoại giảm dần, câu chuyện đi dần vào thế giới đời thường và gần với truyện ngụ ngôn mang tính giáo dục Cổ tích sinh hoạt kể những câu chuyện đồng hành cùng cuộc sống hàng ngày, với nhân vật gần gũi và cốt truyện giản dị xoay quanh lao động và đời sống của nhân dân Đa dạng và phong phú nhất là cổ tích thần kỳ, nổi bật với thế giới kỳ ảo, đồ vật diệu kỳ, hành động phi thường và hệ thống nhân vật thiện-ác-phù trợ rõ ràng.

Muốn nói về truyện cổ tích hiện nay, ta thấy khi thần thoại chỉ hoàn tất trong thời đại của nó thì truyện cổ tích vẫn tiếp tục phát triển và được lưu truyền rộng rãi cho đến ngày nay Mỗi dân tộc đều có một gia sản khổng lồ truyện cổ tích, với những câu chuyện có motif chung và điểm giao thoa về nội dung và cốt truyện, nhưng mỗi dân tộc lại thổi vào câu chuyện bản sắc văn hóa riêng và lối suy nghĩ của tộc người, dẫn tới nhiều dị bản khác nhau Chính vì sự quen thuộc, phong phú và lâu đời của nó mà thật khó để có một định nghĩa hoàn hảo và chung cho truyện cổ tích Khi nghiên cứu truyện cổ tích, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan điểm khác nhau, và hầu như độc giả nhận diện truyện cổ tích dựa trên nội dung và đặc trưng thể loại.

Lý luận chung về “Ca dao”

Ca dao là yếu tố trữ tình đặc sắc của dân gian, là phần lời kết hợp với nhạc điệu mang âm hưởng thuần túy của đời sống người Việt Theo nghĩa Hán Việt, “ca” là bài ca có nhạc, còn “dao” là phần lời thơ không kèm nhạc, và sự ghép đôi này tạo nên một chỉnh thể mà chữ viết khó lột tả hết vẻ đẹp của ca dao; để ca dao tỏa sáng, các câu ca phải được thổi lên trong môi trường sinh hoạt và diễn xướng dân gian, nơi người dân kết hợp thơ và nhạc, bay bổng trong lời ca có âm điệu Do tính nhạc và gắn với đời sống dân gian, nhiều nhà nghiên cứu liên hệ ca dao với dân ca, hiểu theo nghĩa trữ tình là những câu hát dân gian được biểu diễn qua diễn xướng Có quan niệm cho rằng ca dao và dân ca là hai khái niệm riêng biệt, ca dao hẹp hơn dân ca và là phần lời giúp nhạc điệu của dân ca thăng hoa Tuy vậy, dù được hiểu theo cách nào, ca dao vẫn là trữ tình, là hình ảnh đại diện cho tình cảm và tâm hồn của nhân dân, có mối liên hệ chặt chẽ và không thể tách rời với đời sống cộng đồng.

Ca dao Việt Nam có thể được nói một cách thẳng thắn rằng nó không tách rời đời sống nhân dân và chính là đại diện cho tâm hồn tập thể của người Việt qua từng câu ca; từ đó ta nhận thấy hình bóng của cộng đồng ở mọi thời đại và mỗi khúc ca như một kho tàng trí tuệ, tình cảm Hàng nghìn câu ca dao được phân thành ba nhóm lớn: ca dao nghi lễ, ca dao lao động và ca dao sinh hoạt Ca dao nghi lễ đi liền với tục lệ và tín ngưỡng, hiện diện trong các buổi cầu nguyện, tế thần và cúng bái tổ tiên; ca dao lao động gồm hò lao động và bài ca nghề nghiệp, nơi hò cổ vũ sức lao động và các bài ca gắn với nghề truyền thống của người dân; ca dao sinh hoạt tập trung vào tiếng than thân và tiếng hát nghĩa tình của người phụ nữ, là lời ru cho trẻ, là những tình cảm gia đình và xã hội được thể hiện giản dị mà sâu sắc Bên cạnh đó, ca dao lưu giữ và truyền tải nhiều trạng thái tình cảm khác nhau như lời ca ngợi quê hương, tình yêu đôi lứa và những bài ca giao duyên sâu sắc với các cung bậc ngọt ngào, nhung nhớ, thề ước; đồng thời tránh khỏi lùi lại những nỗi niềm khổ cực, phản ánh xã hội phong kiến bất công, hoặc mang tính châm biếm đối với những hiện tượng xấu; ca dao còn thể hiện quan điểm về thiên nhiên, đất nước và dân tộc Tất cả cùng hòa quyện tạo nên một thế giới ca dao muôn vẻ, gắn bó mật thiết với nhân dân, làm cuộc sống thi vị hơn và trở thành nơi để trút bầu tâm sự, gửi gắm ước mơ của người Việt.

Lý luận chung về “Truyện thơ”

“Truyện thơ” là một thể loại đặc sắc và chứa đựng nhiều yếu tố ấn tượng, nhưng cũng khá khó khăn, phức tạp trong cách tiếp cận.

Truyện thơ các dân tộc thiểu số và truyện thơ Nôm là hai mảng của thể loại truyện thơ Truyện thơ các dân tộc thiểu số thuộc loại hình tự sự dân gian, được cấu thành bằng văn vần và lưu truyền dưới hình thức hát, ngâm, đọc Vào nửa cuối những năm 1950, truyện thơ dân gian của các dân tộc thiểu số bắt đầu được công bố, đưa thể loại này gần gũi hơn với cộng đồng người Việt nói chung Trong khi đó, truyện thơ Nôm có nhiều quan điểm khác nhau Định nghĩa đầu tiên về thể loại này được Dương Quang Hàm đề cập trong Việt Nam văn học sử yếu chương XV, khi ông cho rằng “truyện là tiểu thuyết viết bằng văn vần” Sự đa dạng quan điểm về truyện thơ Nôm phản ánh cách tiếp cận khác nhau đối với thể loại này.

Nôm, nguồn gốc và bản chất của nó được trình bày trong Thi pháp truyện Nôm (1992) của Kiều Thu Hoạch, ở đó tác giả xem truyện thơ Nôm vừa mang dáng dấp văn học dân gian vừa sáng tác trên khuôn khổ văn học dân gian Quan điểm này làm nổi bật tính dân gian đậm nét trong các tác phẩm truyện thơ Nôm, đặc biệt là truyện thơ Nôm bình dân Tuy vậy, tính dân gian của một bộ phận truyện Nôm chỉ là thành quả của sự giao thoa giữa văn học dân gian và văn học viết Truyện thơ Nôm ra đời và phát triển vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và được phân thành hai tiểu loại: truyện thơ Nôm bình dân (tác giả thường tập thể, ẩn danh hoặc khó xác định) và truyện thơ Nôm bác học (tác giả được xác định) Truyện thơ Nôm là thể loại thể hiện rõ nhất sự giao thoa, tác động qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.

Truyện thơ ra đời như thế nào? Đâu là căn nguyên hình thành thể loại đặc biệt này?

Truyện thơ ra đời được xem như sự kế thừa hai thể loại truyền thống là truyện cổ tích và ca dao, là một quan niệm và cách tiếp cận nhằm giải quyết các vấn đề về hình thức và ngôn ngữ trong sáng tác Việc kết hợp yếu tố cổ tích giàu hình tượng với ca dao ngắn gọn, mộc mạc giúp truyện thơ có nhịp điệu tự nhiên và gần gũi với đời sống người đọc, đồng thời mở rộng phạm vi tiếp cận và tăng sức hấp dẫn cho người thưởng thức.

Tiểu kết chương 1

Truyện thơ, truyện cổ tích và ca dao là những thể loại văn học đặc sắc, mở ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu để thấm nhuần một cách tường tận Những lý luận đã trình bày ở trên tổng hợp các nội dung khái quát về đặc điểm và nguồn gốc của từng thể loại, làm nền tảng để khẳng định sự ra đời của truyện thơ là kết quả kế thừa và giao thoa giữa truyện cổ tích và ca dao.

Truyện thơ đã kế thừa “tính truyện” từ truyện cổ tích

Truyện thơ kế thừa cốt truyện từ truyện cổ tích

Vào thế kỷ XVII, các nhà văn cổ điển P Corneille và N Boileau, theo Aristoteles, đã lần đầu sử dụng thuật ngữ “cốt truyện” để chỉ những sự cố bất thường trong đời sống các nhân vật truyền thuyết xa xưa; về sau, khái niệm này được mở rộng và khái quát hơn để phản ánh bản chất của một câu chuyện Người Việt dựa theo cách ghép từ để giải thích khái niệm “cốt truyện”, coi “cốt” là lõi của câu chuyện.

Khung xương của một câu chuyện là nền tảng để hình thành cốt truyện, nhưng chưa phải là truyện đầy đủ Quan điểm này chỉ chạm tới một số phương diện và chưa mang lại cái nhìn toàn diện về cốt truyện Theo 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, cốt truyện là một phương diện của lĩnh vực hình thức nghệ thuật, trỏ tới lớp biến cố của hình thức tác phẩm, và hệ thống biến cố ấy chính là động lực để nội dung cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm Trong văn học, các cốt truyện được hình thành theo nhiều cách khác nhau.

Có những cốt truyện hoàn toàn hư cấu, có cốt truyện dựa trên nhân vật và sự kiện có thật ngoài đời, và cũng có cốt truyện được vay mượn, tổng hợp từ nhiều câu chuyện khác nhau Cốt truyện của truyện cổ tích thường là do sự tưởng tượng và hư cấu của tác giả dân gian, mang đậm tính thần thoại và thể hiện giá trị văn hóa truyền thống Khi viết về các dạng cốt truyện, người đọc có thể nhận diện được đâu là hư cấu thuần túy, đâu là dựa trên thực tế hoặc sự vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó tối ưu hóa nội dung cho người đọc và cho các công cụ tìm kiếm với các từ khóa liên quan như cốt truyện, hư cấu, truyện cổ tích, tác giả dân gian.

Trong truyện thơ, tác giả đã dùng cốt truyện dân gian như một phương tiện quan trọng để hình thành nhịp điệu và ý nghĩa câu chuyện, biến cốt truyện cổ tích thành nền tảng biểu đạt nghệ thuật và cảm xúc của người đọc Các tác phẩm truyện thơ tiêu biểu dựa trên cốt truyện cổ tích có thể kể đến như Truyện thơ Thạch Sanh dựa trên cốt truyện cổ tích Thạch Sanh và Truyện thơ Tấm Cám dựa trên cốt truyện Tấm Cám, cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố thần kỳ, bài học đạo đức và sự trưởng thành của nhân vật được thể hiện sinh động qua lời thơ.

Truyện thơ Quan Âm Thị Kính dựa trên cốt truyện Sự tích Quan Âm Thị Kính.

Nguồn gốc của truyện Tống Trân-Cúc Hoa là truyện cổ tích Dã sử quan Trạng Gầu (theo Nguyễn Thúc Khiêm); các tác phẩm truyện thơ trên giữ nguyên hệ thống nhân vật, diễn biến, chuỗi biến cố và kết thúc đã xảy ra trong truyện cổ tích Trong truyện thơ Nôm Thạch Sanh, trình tự câu chuyện diễn ra giống hệt truyện cổ tích Thạch Sanh, từ việc Thạch Sanh vốn là con trời đầu thai, đến hàng loạt biến cố xoay quanh cuộc đời chàng, giết Chằng Tinh, bắn Đại Bằng cứu công chúa, bị Lý Thông hãm hại, cứu con vua Thủy Tề cho tới kết thúc viên mãn.

Rõ ràng, cốt truyện là hoàn toàn tiếp nối từ truyện cổ tích.

Truyện thơ vận dụng cốt truyện chứ không sao chép y nguyên một cách áp đặt; nó diễn ca truyện cổ tích nhưng không đồng khớp hoàn toàn với truyện cổ tích gốc Nếu truyện cổ tích kể lại câu chuyện bằng văn xuôi, thì truyện thơ kể một câu chuyện có cốt truyện tương ứng nhưng bằng thơ, bằng văn vần Truyện cổ tích vốn chỉ kể sự việc mà không có thêm yếu tố miêu tả hay biểu cảm, hoặc có thì cũng chỉ thoáng qua và mờ nhạt; truyện thơ từ sự kể mở rộng sang tả cảnh, tả tâm và tả tình Do đó số lượng câu trong truyện thơ thường lớn hơn số câu trong truyện cổ tích Minh chứng rõ ràng là truyện thơ Thạch Sanh có 1812 câu lục bát, lớn hơn nhiều lần so với truyện cổ tích Thạch Sanh 120 câu văn xuôi (theo Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện Cổ tích Việt Nam).

Những sáng tạo của truyện thơ chủ yếu là sự cải biên và chỉnh lí về cách thể hiện trình bày hình thức, nhưng xét cho cùng vẫn nằm trong biên giới và khuôn khổ của các tích cổ được truyện cổ tích nhắc tới từ trước Khi sáng tác truyền thơ Nôm, tác giả của truyện luôn khẳng định nguồn gốc câu chuyện xuất phát từ truyện cổ, cho thấy sự kế thừa và chuyển hóa giữa kho tàng cổ tích và ngôn ngữ kể chuyện hiện đại.

“Nhân khi thong thả thư trai,

Giở xem truyện cũ đặt bài quốc âm” (Trích: Tống Trân-Cúc Hoa)

“Truyện này tích cũ hiểm nghèo, Có điều đã bớt có điều lại thêm” (Trích: Chàng Chuối)

Truyện thơ kế thừa nội dung từ truyện cổ tích

Như đã trình bày ở phần cơ sở lý luận, nội dung truyện cổ tích là sự pha trộn giữa thế sự và đời tư: phản ánh mâu thuẫn xã hội, ngợi ca vẻ đẹp con người và gửi gắm ước mơ của nhân dân Truyện thơ kế thừa các yếu tố này và mở rộng thêm, làm cho nội dung trở nên phong phú và sâu sắc hơn.

2.2.1 Truyện thơ kế thừa nội dung phản ánh mâu thuẫn của truyện cổ tích

Mâu thuẫn căn bản nhất được đề cập là mâu thuẫn giữa thiện và ác Trong các truyện thơ Nôm, cốt truyện cổ tích được giữ nguyên và tái hiện những mâu thuẫn gay gắt giữa hai tuyến nhân vật: người tốt với hành động thiện đối lập với kẻ xấu có hành động ti tiện, xấu xa và hung ác Mâu thuẫn này được thể hiện qua cách xây dựng nhân vật và hành động, nhằm làm nổi bật giá trị đạo đức và sự chiến thắng của thiện lương Ví dụ tiêu biểu cho mô hình này là mâu thuẫn giữa thiện và ác được đề cập trong truyện thơ Thạch Sanh và nhiều truyện thơ khác, nơi người tốt vượt qua thử thách, đối đầu với ác quỷ và bảo vệ người yếu thế.

Trong khuôn khổ Tấm Cám, vẫn có một nhánh truyện thơ song hành không đi theo cốt truyện cổ tích quen thuộc, nhưng tập trung phản ánh nội dung tương tự và liên tục tái hiện các mâu thuẫn ấy; đó là cuộc đối đầu gay gắt giữa người dân lao động nghèo với tầng lớp vua chúa, quan lại và địa chủ xấu xa Nổi bật với các tác phẩm như Phạm Tải-Ngọc Hoa, Tống Trân-Cúc Hoa, truyện thơ Nôm được chú ý ở việc khắc họa mâu thuẫn giữa hoàn cảnh nghèo khó của Phạm Tải và quyền lực cường quyền của Trang Vương, đồng thời phản ánh xung đột giữa một phía là vợ chồng Tải-Hoa có tình yêu thương sâu sắc và một phía là Trang Vương hung ác, háo sắc, tìm mọi thủ đoạn trái với luân thường đạo lý để ép buộc, chia rẽ lứa đôi; ở mảng thơ Nôm này, mâu thuẫn được đẩy lên cao trào và thể hiện rõ thái độ lên án xã hội thối nát, bất công.

2.2.2 Truyện thơ kế thừa nội dung ca ngợi vẻ đẹp con người của truyện cổ tích

Trong các tác phẩm truyện cổ tích dân gian, vẻ đẹp của con người được ngợi ca thông qua những nhân vật mang tính thiện như chăm chỉ, hiền lành như Cô Tấm và dũng mãnh thật thà như Thạch Sanh, đồng thời tôn vinh các phẩm chất đạo đức cao quý như trọng tình nghĩa, hiếu thảo, lối ứng xử thông minh và khoan dung vị tha Đến với truyện thơ, tất cả những vẻ đẹp ấy được ghi dấu và ca ngợi sâu sắc hơn, đặc biệt ở lòng thương người hết sức chân thành và mộc hiện; bền vững dù xã hội có những bất công.

2.2.3 Truyện thơ kế thừa nội dung bày tỏ niềm mong ước của nhân dân của truyện cổ tích.

Trong truyện thơ, con người gửi gắm ước mơ về một thế giới công bằng và hạnh phúc, nơi cái ác bị trừng trị và người thiện được hưởng cuộc sống viên mãn Những khát vọng đời thường ấy được gửi gắm vào từng câu chữ, thể hiện qua nhịp điệu và hình ảnh thơ ca Đặc biệt, ước mơ ấy thể hiện rõ qua kết thúc có hậu, viên mãn của truyện thơ Về phần kết thúc có hậu, chúng ta sẽ làm rõ thêm ở phần sau.

Truyện thơ nói chung kế thừa nội dung từ truyện cổ tích và chuyển sang khai thác thế sự đời thường, tập trung vào con người, cuộc sống, số phận, mối quan hệ và hạnh phúc của con người, chứ không xuất phát từ bất kỳ nội dung nào khác.

Truyện thơ kế thừa cách xây dựng hệ thống nhân vật của truyện cổ tích

Trong truyện cổ tích, cách xây dựng nhân vật, đặc biệt ở tiểu loại cổ tích thần kỳ, đã tạo nên một motif quen thuộc với hai tuyến thiện và ác song hành nhưng luôn đối đầu và nảy sinh mâu thuẫn gay gắt Truyện thơ tiếp tục kế thừa phương thức kể này, thể hiện rõ trong các tác phẩm Nôm bình dân Các nhân vật trong truyện cổ tích thường mang tính chức năng và thuộc loại hình, ít có những đặc điểm tâm lý hay ngoại hình nổi bật để phân biệt sâu sắc; truyện thơ Nôm cũng giữ gìn và phát huy cách xây dựng nhân vật ấy.

2.3.1 Truyện thơ xây dựng nhân vật tuyến ác có nhiều điểm tương đồng với truyện cổ tích.

Trong truyện thơ Nôm bình dân, tuyến nhân vật ác là những cá nhân có quyền lực cao nhưng lạm dụng quyền lực để đè đầu cưỡi cổ, áp bức bóc lột tầng lớp nhân dân lao động Những hình tượng này thường gắn với vua chúa, quan lại, địa chủ và các nhóm quyền quý khác, thể hiện sự độc đoán và tham vọng chiếm đoạt quyền lợi của nhân dân Các tác phẩm mô tả vua ép buộc một cách vô lý, trái với luân thường đạo lý, như ví dụ vua Trang Vương trong Phạm.

Truyện Tải-Ngọc Hoa kể về sự ép buộc của một người đàn ông đối với các cô gái đẹp, buộc họ bỏ chồng để lấy mình, và sự cưỡng ép ấy thậm chí dẫn đến cái chết của Ngọc Hoa trẻ tuổi Nhân vật ác trong các truyện thơ Nôm của các dân tộc thiểu số được khắc họa rõ nét, thể hiện quyền lực và sự tàn độc Ví dụ điển hình trong truyện Xống chụ xon xao là hình ảnh người chồng ép cưới, đánh đập và hành hạ vợ không thương tiếc Những nhân vật ác trong truyện thơ về cơ bản kế thừa các đặc điểm từ truyện cổ tích: luôn có hành động gây hại cho nhân vật chính và những người xung quanh, hãm hại và dồn ép người thiện.

2.3.2 Truyện thơ xây dựng nhân vật tuyến thiện tiếp nối truyện cổ tích Đối lập với nhân vật ác, nhân vật thiện là những nhân vật có hành động hướng thiện, hiền lành có đạo đức nhưng lại có số phận nhiều bất hạnh Nhân vật Phạm Công, Cúc Hoa, Ngọc Hoa, Phạm Tải, đều là những nhân vật đại diện cho tính thiện, họ lương thiện, chung thủy, son sắt; tình cảm, sự chân thành của họ vượt lên trên cường quyền, bạo lực Hay như nhân vật cô gái trong Xống chụ xon xao tình cảm chân thành, lại hiếu thảo, cam chịu nhưng lại bị ép cưới, bị gả qua bán lại rẻ mạt như một món hàng Hay như nhân vật dũng sĩ tài năng vẹn toàn Thạch Sanh. Nhìn chung, tuyến nhân vật thiện của truyện thơ về căn bản là giống truyện cổ tích, đều là những người có tài có đức, có phẩm chất tốt đẹp nhưng lại chịu nhiều bất công.

2.3.3 Truyện thơ xây dựng nhân vật phù trợ theo đặc điểm nhân vật của truyện cổ tích.

Bên cạnh đó là nhân vật phù trợ, những lực lượng siêu nhiên xuất hiện để gíup nhân vật chính vượt qua những khó khăn thử thách Cũng giống như trong truyện cổ tích, đó có thể là những bà tiên, ông bụt, Cũng có thể là một thánh thần quyền năng trên trời Ví như, trong truyện thơ nôm Phạm Công- Cúc Hoa , Phạm Công được Tề Thiên Đại Thánh và Diêm Vương giúp đỡ, xuống âm ti và tìm được vợ là Cúc Hoa Hay như trong truyện thơ Tống Trân- Cúc Hoa, Thần Sơn Tinh hóa phép thành mãnh hổ sang nước Tần để đưa thư của Cúc Hoa cho chồng Các nhân vật thần kì xuất hiện, với phép thần thông và hành động phi thường rõ ràng mang màu sắc cổ tích sâu sắc.

Thế nhưng, một lần nữa phải khẳng định, truyện thơ kế thừa truyện cổ tích nhưng không sao chép, lấy nguyên mà có sự sáng tạo độc đáo, là sự “kế thừa” mang tính chất phát triển Nếu trong truyện cổ tích, các nhân vật chỉ được nhắc đến thông qua hành động, lời nói hoàn toàn không đi kèm miêu tả cụ thể đặc điểm ngoại hình hay thế giới nội tâm, thì nhân vật trong truyện thơ lại hội tụ đầy đủ những yếu tố ấy tuy rằng vẫn còn tương đối mờ nhạt Ví như trong Truyện thơ Thạch sanh khi Thạch ông khuất núi, tâm trạng Thạch bà được diễn tả:

“Cha con bóng hạc, xe mây

Một mình hẩm hút mẹ nay buồn rầu

Thương con đương độ ấu thơ

Con côi, mẹ góa bây giờ cậy ai!”

Trong khi chi tiết này và nhân vật Thạch bà trong truyện cổ tích Thạch Sanh chỉ xuất hiện thoáng qua, sự xuất hiện ngắn ngủi ấy khiến câu chuyện trở nên cô đọng và tập trung vào các mốc sự kiện chính Đây là nguyên nhân tại sao cùng một cốt truyện, dù nội dung vẫn được truyền tải, lại được kể bằng truyện thơ với dung lượng lớn hơn nhiều so với truyện cổ tích — nhờ vào việc thêm các lớp mô tả, hình ảnh và cảm xúc, mở rộng không gian kể chuyện mà ở mẫu truyện cổ tích không có.

2.3.4 Truyện thơ kế thừa cách thức xây dựng nhân vật của truyện cổ tích

Cần nhấn mạnh rằng dù đã đề cập sâu hơn một chút về đặc điểm tâm lý nhân vật, trong truyện thơ Nơm các nhân vật vẫn mang nét cổ tích đậm đặc Các nhân vật không có đặc điểm riêng tiêu biểu mà như được đúc từ một khuôn mẫu cổ tích chung, tạo nên sự đồng nhất và mang tính biểu tượng cao Sự kết hợp giữa phân tích tâm lý và hình ảnh cổ tích giúp truyện thơ Nơm duy trì hơi thở huyền ảo đồng thời dễ đồng cảm với người đọc Khi viết về truyện thơ Nơm, cần làm rõ sự hòa quyện giữa đặc điểm tâm lý và sắc cổ tích để làm nổi bật ý nghĩa nhân vật và giá trị tác phẩm.

Trong thiết kế nhân vật, khuôn mẫu theo từng đặc điểm loại hình được sử dụng để phát triển cốt truyện và nội dung của câu chuyện Các nhân vật được xây dựng theo khuôn mẫu giúp câu chuyện có sự tiến triển rõ ràng, tạo nên xung đột và nấc thang cảm xúc cho người đọc Ví dụ tiêu biểu gồm chàng trai nghèo nhưng hiếu học sau này thành tài (Phạm Tải, Tống Trân) và các cô gái nhà giàu xinh đẹp, nết na và chung tình (Cúc Hoa, Ngọc Hoa), đại diện cho các mảng hình ảnh đối lập trong câu chuyện Những khuôn mẫu này không cố định mà là công cụ để mở rộng cốt truyện và tăng chiều sâu cho nhân vật, đồng thời giúp độc giả nhận diện nhanh các archetype và theo dõi hành trình phát triển của họ.

Ngoại hình các nhân vật được bổ sung thêm nhiều câu thơ để khắc họa sâu sắc, nhưng vẫn theo lối ước lệ điển hình quen thuộc Các mô-típ miêu tả người con gái đẹp như mái tóc dài, đôi mắt long lanh, làn da mịn và nụ cười e lệ được lặp lại nhiều lần, tạo nên hình ảnh nhận diện dễ nhớ cho người đọc Dù ngôn ngữ thơ ca được mở rộng, cách hình dung vẫn giữ vững các khuôn mẫu cổ điển, giúp độc giả dễ liên tưởng đến cảm xúc và chủ đề tác phẩm Nhờ sự cân bằng giữa thơ và các ước lệ, văn bản có nhịp điệu tương đồng và tăng cường sự nhận diện của nhân vật, đồng thời tối ưu hóa khả năng tiếp cận người đọc trên các nền tảng tìm kiếm.

Trong các tác phẩm cổ tích và truyện dân gian, những hình ảnh như “má đào” và “mặt hoa” được dùng để mô tả ngoại hình và tâm lý nhân vật nhằm làm rõ diễn biến và thể hiện chủ đề của truyện, chứ không nhằm tạo nét nhận diện riêng cho từng nhân vật Vì vậy, đặc điểm nhân vật ở các tác phẩm cổ tích tập trung vào nội dung và mạch truyện hơn là xây dựng chân dung độc lập Đến truyện thơ Nôm bác học, các nhân vật được khắc họa với nét đặc trưng rõ ràng hơn, và sự biểu đạt nội tâm thường thông qua các thủ pháp như tả cảnh ngụ tình Những biện pháp này giúp người đọc cảm nhận sâu sắc diễn biến, tâm trạng và thông điệp của tác phẩm.

Truyện thơ kế thừa kết cấu của truyện cổ tích

Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể, trong đó các yếu tố nghệ thuật như hình ảnh, chi tiết và phương thức biểu đạt được sắp xếp theo trình tự nhất định để hình thành kết cấu của tác phẩm Sự bố trí có chủ đích này liên kết các yếu tố với nhịp điệu ngôn ngữ, hình tượng và bố cục, giúp tác phẩm có sự thống nhất và ý nghĩa xuyên suốt.

Nguyên Ân giải thích kết cấu là sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật và là cách cấu tạo tác phẩm dựa trên nội dung và đề tài; kết cấu gắn kết các yếu tố hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng của tác phẩm Trong khi bố cục chỉ là hình thức sắp xếp bên ngoài các phần, các đoạn của một tác phẩm văn học, kết cấu còn bao hàm sự liên kết nội tại giữa các yếu tố và cách chúng cùng nhau tạo nên ý nghĩa và nhịp điệu tổng thể của tác phẩm.

2.4.1 Truyện thơ kế thừa kết cấu thời gian tuyến tính của truyện cổ tích.

Trong các tác phẩm văn học, hình thức kết cấu vô cùng phong phú và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như thể loại và bối cảnh lịch sử Kết cấu của truyện cổ tích có tính tuyến tính và tuân theo quy luật nhân quả: sự việc xảy ra trước được kể trước, sự kiện xảy ra sau được kể sau, và tất cả diễn biến theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại Truyện thơ vay mượn cốt truyện từ truyện cổ tích nên cũng thừa hưởng đặc điểm về không gian, thời gian và hình thái cấu trúc, mang lại sự liền mạch và dễ theo dõi Đặc biệt đối với truyện thơ các dân tộc thiểu số và truyện thơ Nôm bình dân, kết cấu tuyến tính được bảo tồn và thể hiện qua sự diễn tiến sự việc theo thời gian một cách mạch lạc, dễ hiểu Ví dụ, các truyện thơ kể về cuộc đời của một nhân vật từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, trải qua biến cố và cao trào rồi giải quyết nút thắt, điển hình cho kiểu kết cấu này là truyện thơ Thạch Sanh.

2.4.2 Truyện thơ kế thừa kết cấu “gặp gỡ-tai biến- đoàn tụ”

Kết cấu gặp gỡ-tai biến-đoàn tụ là một kiểu cấu trúc truyện thơ kế thừa từ truyện cổ tích, dễ nhận thấy ở các tác phẩm như Sọ Dừa, Lấy chồng Dê và được vận dụng thành công trong Phạm Tải-Ngọc Hoa Trong truyện Phạm Tải-Ngọc Hoa, Phạm Tải là chàng học giả nghèo, Ngọc Hoa là khuê nữ của gia đình giàu có, hai người yêu nhau và được cha mẹ chấp thuận cho duyên vợ chồng; biến cố nảy sinh khi Trang Vương tham lam dâng tượng Ngọc Hoa lên, cho quân bắt Ngọc Hoa và đầu độc Phạm Tải Ngọc Hoa không khuất phục, dứt tình, giả trang và chịu tang, rồi sau nhiều năm chịu tang hai người được đoàn tụ; Trang Vương bị trừng trị và hai vợ chồng Phạm Tải-Ngọc Hoa được trở về cõi trần Toàn bộ truyện thơ nôm Phạm Tải-Ngọc Hoa có 928 câu lục bát, đọc dễ tiếp nhận và dễ đồng cảm nhờ kết cấu này Trong khuôn khổ của kết cấu này, phần biến cố chiếm dung lượng lớn với hàng loạt tai ương và nguy hiểm; hai nhân vật liên tục bị ngăn cản, ly tán hoặc cách trở, nhưng nhờ kiên cường và sự trợ giúp của các lực lượng siêu nhiên mà họ vượt qua, và kết thúc bằng sự đoàn tụ sau chuỗi thử thách.

2.4.3 Truyện thơ kế thừa kết cấu kết thúc có hậu của truyện cổ tích.

Kết cấu kể chuyện có hậu, thừa kế từ truyện cổ tích và được áp dụng đầy ấn tượng trong truyện thơ, mang đến một cái kết viên mãn cho cả hai thể loại Từ xưa đến nay, người ta luôn mơ về một kết thúc đẹp như cổ tích, nơi mọi thử thách khắc nghiệt đều được vượt qua và nhân vật thiện – ác được định đoạt theo quy luật công bằng Trong truyện thơ, dù trải qua vô vàn bi kịch và trở ngại, điểm dừng cuối cùng vẫn là khoảnh khắc đẹp nhất: ác giả ác báo, thiện giả thiện lai; những câu chuyện về đôi lứa ly biệt nay được đoàn tụ, người chịu nhiều chua chát cũng hồi sinh nhờ tình yêu và sự quay trở lại của người mình thương Những ví dụ như Phạm Tải – Ngọc Hoa cho thấy dù âm dương cách biệt, tình yêu vẫn chiến thắng, còn vua Trang Vương bị trừng phạt, khẳng định giá trị công lý và hạnh phúc cho người tốt Những kết thúc tròn đầy ấy phản ánh nguyện ước của dân gian về thế giới công bằng và hạnh phúc, được truyền thống cổ tích gieo mầm và tiếp tục tỏa sáng qua truyện thơ, làm giàu ý nghĩa và nâng cao giá trị giáo dục cho độc giả.

Truyện thơ kế thừa yếu tố thần kỳ của truyện cổ tích

Yếu tố thần kỳ là những yếu tố thể hiện sự phi thường, màu nhiệm và không thể tồn tại trong thế giới thực, chỉ có thể tồn tại trong trí tưởng tượng của con người Xưa nay, yếu tố thần kỳ luôn là đặc điểm nhận dạng quan trọng của truyện cổ tích, giúp khơi gợi niềm tin về một thế giới tuyệt diệu và đầy phép màu Thế giới thần kỳ của truyện cổ tích đã được kể lại và tiếp nối qua các tác phẩm thơ kể chuyện, làm phong phú thêm kho tàng văn học và nuôi dưỡng trí tưởng tượng của người đọc.

Yếu tố thần kỳ được thể hiện qua không gian thần kỳ do dược liệu và phép thuật làm nền, tạo thành bối cảnh cho câu chuyện Âm ti và địa phủ xuất hiện như hai thế giới huyền ảo, làm phong phú mạch truyện và mở ra những chiều ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm Những hình ảnh này xuất hiện trong truyện thơ Phạm Tải – Ngọc Hoa và Tống Trân, cho thấy cách các nhà thơ khai thác yếu tố siêu nhiên để khắc họa bản ngã con người và mối liên hệ với vũ trụ.

Cúc Hoa, Là không gian trên trời, dưới biển,

Yếu tố thần kì trong truyện thơ được thể hiện qua những nhân vật có hành động phi thường mang phép màu: Tề Thiên Đại Thánh, Diêm Vương và Sơn Tinh, người có thể biến hóa thành mãnh hổ; cùng với các hình tượng kỳ ảo như Giao Long, sóng thần và Phật bà, tạo nên một thế giới huyền diệu nơi phép thuật và thần thoại giao hòa.

Lục Vân Tiên là nhân vật trong truyện thơ nôm Thạch Sanh, gắn với thần Lý Tĩnh, vua Thủy Tề và Chằn Tinh Trong kho tàng truyện thơ Việt Nam, còn rất nhiều nhân vật kì ảo khác, chứa đựng những sức mạnh phi thường, góp phần làm nên những câu chuyện dân gian đầy huyền thoại và thu hút người đọc.

Trong truyện thơ, yếu tố kì ảo hiện lên rõ qua các chi tiết hoang đường như sự gặp gỡ ở âm tào, địa phủ; sự tái sinh sau khi rời dương thế vẫn có thể sống lại; hay các phương thuốc thần kỳ chữa khỏi bệnh hoàn toàn và làm mắt mù sáng trở lại Điển hình cho điều này là truyện Phạm Công-Cúc Hoa: Phạm Công chịu hành hạ khủng khiếp, bị chặt tay, khoét mắt, nhưng Ngọc Hoàng xuống phù phép giúp chàng lành lặn trở lại Tương tự Phạm Tải và Ngọc Hoa dù đã chết vẫn có thể hồi sinh và đoàn tụ ở chốn nhân gian.

Trong truyện thơ, các yếu tố thần kỳ xuất hiện và ăn khớp với nhau, không chỉ tạo nên màu sắc cổ tích mà còn làm tăng sức hấp dẫn và sự lôi cuốn cho người đọc; nhờ các chi tiết này, nhân vật chính được hỗ trợ và cái thiện được thể hiện, đồng thời giúp giải thích cho cái kết trọn đầy hạnh phúc Yếu tố thần kỳ trong truyện thơ được hiểu một cách khái quát là những hư cấu nghệ thuật có chủ đích mà tác giả kế thừa từ tín ngưỡng dân gian, và cụ thể nhất là từ truyện dân gian cổ tích Đây chính là quan niệm đã ăn sâu vào tâm tưởng người dân từ thời sơ khai.

Tiểu kết chương 2

Mặc dù chưa thể khẳng định tuyệt đối rằng mọi truyện thơ đều xuất phát từ truyện cổ tích, có đủ bằng chứng cho thấy truyện cổ tích ảnh hưởng rất lớn đến truyện thơ Việt Nam Trong một số trường hợp, truyện thơ Nôm bác học dựa trên cốt truyện tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc với kết cấu đa tuyến, đồng thời có những phần lồng ghép đời thực và giảm bớt yếu tố thần kỳ Tuy vậy, về bản chất, truyện thơ vẫn kế thừa nhiều đặc điểm nổi bật của truyện cổ tích và mang màu sắc cổ tích, nhưng không sao chép một cách máy móc, mà lấy làm điểm tựa để sáng tạo nên những nét riêng ấn tượng và sắc thái thể loại phong phú.

Truyện thơ kế thừa thi pháp ca dao

Truyện thơ kế thừa ngôn ngữ ca dao

Ca dao vận dụng ngôn ngữ dân tộc một cách điệu nghệ và tinh tế, vừa trong sáng, bình dị gắn với đời sống hàng ngày vừa được kết hợp hài hòa với ngôn ngữ nghệ thuật được chau chuốt Các tác giả của truyện thơ đã tìm thấy suối nguồn ngôn ngữ ca dao như một nền tảng dồi dào để tạo nên những tác phẩm có giá trị Khi ngôn ngữ ca dao đến với truyện thơ, nó trở thành những viên ngọc sáng lấp lánh, tỏa ra không phải từ vẻ ngoài mỹ lệ mà từ bản chất thân thuộc và tinh tế; chân thực và đậm chất thơ, chứa đựng chất trữ tình.

3.1.1 Truyện thơ kế thừa cách sử dụng ngôn ngữ bình dân từ ca dao.

Ngôn ngữ gần gũi với khẩu ngữ hàng ngày cũng được sử dụng tự nhiên, dung dị.

Trong truyện thơ Nôm Thạch Sanh, ngôn ngữ được chọn lọc từ đời sống dân gian với những từ ngữ gắn bó chặt chẽ với lao động và sinh hoạt hàng ngày như khơi cống, khơi mương và luôn tay cuốc thuổng Khi các nhân vật lên tiếng, khẩu ngữ và cách nói địa phương được khai thác triệt để, ngay lập tức phát huy tác dụng giúp cảnh và nhân vật sinh động, dễ hình dung Việc dùng ngôn ngữ dân gian không chỉ tăng tính chân thực cho bối cảnh mà còn làm nổi bật tính cách, nhịp điệu kể chuyện và sự gần gũi với độc giả Đồng thời, các câu nói quen thuộc mang hơi thở của lao động và sự giản dị mà mạnh mẽ của dân gian góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa và cảm xúc của tác phẩm.

Trong văn học Việt Nam, ngôn ngữ bình dân được thể hiện sinh động qua các đoạn đối thoại của nhân vật trong Quan Âm Thị Kính với những câu như 'Than rằng', 'Cớ sao', 'Rầu thay' Những lời thoại gần gũi với ngôn ngữ hàng ngày như 'Miễn con giữ đạo làm dâu cho toàn', 'lỡ lời', 'xem sao' cho thấy người dân dùng ngôn ngữ thường nhật để giao tiếp và trao đổi Hiện nay, những ngôn ngữ đời thường này được đưa vào văn chương một cách tự nhiên, tạo nên một nét độc đáo của người Việt.

3.1.2 Truyện thơ kế thừa cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật từ ca dao

Ngôn ngữ nghệ thuật là những từ ngữ đã được gọt giũa, chọn lọc, dùng với mục đích nghệ thuật để làm cho lời thơ mềm mại và sâu sắc hơn Trong truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính, hệ thống ngôn ngữ được sử dụng một cách xác đáng và đậm chất nghệ thuật, thể hiện qua các hình tượng như vai trò của người con trai với “đấng nam nhi” và những cụm từ ám chỉ sự tu hành như “bụi trần dũ sạch”, “thói tà rửa không” Khi viết về người phụ nữ đẹp, ngôn ngữ nghệ thuật thường dùng hình ảnh tinh tế, ẩn dụ dịu dàng và ngôn từ nhã nhặn để tôn vinh vẻ đẹp vừa ngoại hình vừa nội tâm, đồng thời gìn giữ nhịp điệu và tính trữ tình của tác phẩm.

Trong văn học mỹ miều, cách diễn đạt tình yêu chốn hồng trần được thể hiện bằng những hình ảnh tinh tế như “điều nguyệt hoa”; khi viết về mộng thai, người ta lại dùng “báo thai mộng nguyệt” để gợi lên sự huyền ảo Đến khi miêu tả vẻ đẹp của nàng Thị Kính, ngòi bút càng phong phú với chất thơ và chất họa, tạo nên một hình tượng thanh thoát, sâu sắc và đầy cảm xúc.

“Đượm nhuần sắc nước, dịu dàng nét hoa Não nùng chim cũng phải sa

Người tiên cung ở đâu ta trên đời Gồm trong tư đức vẹn mười”

Ngôn ngữ trong truyện thơ là sự pha trộn tinh tế giữa ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ địa phương, vừa mang tính phổ quát chung vừa thể hiện đặc điểm riêng biệt của từng vùng miền Sự kết hợp này không chỉ phản ánh quá trình giao thoa văn hóa mà còn tạo nên sắc thái biểu đạt độc đáo cho mỗi tác phẩm, nhúng nháp nhịp điệu, hình ảnh và nhạc điệu của thơ ca vùng miền Ví dụ nổi bật là câu “Chàng Ngưu, ả Chức giã nhau từ rày” trong Truyện thơ Quan Âm Thị kính, minh chứng cho cách ngôn ngữ địa phương được lồng vào ngữ điệu và cấu trúc kể chuyện, làm phong phú ngôn ngữ truyện thơ và tăng sức hấp dẫn cho người đọc.

“Cớ sao mắc phải tội trời thế ni?”(Thạch Sanh)

3.1.3 Truyện thơ kế thừa hệ thống từ loại từ ca dao.

Trong ca dao, tính từ và tính ngữ xuất hiện với tần suất cao và đóng vai trò quan trọng trong việc khắc họa hình ảnh; Truyện thơ tiếp thu và tái sáng tạo cách dùng tính ngữ ẩn dụ từ ca dao; Ví dụ Việt Nam dùng "má đỏ hồng hồng" trong ca dao để miêu tả nét đẹp người con gái, còn truyện thơ lại dùng "má đào, mặt hoa" để khắc họa sắc diện; Hình ảnh phượng loan để nói về đôi lứa trong ca dao được truyện thơ chuyển thành câu "Ai làm cho phượng lìa loan"; Nếu ca dao có những tính ngữ trùng lặp như "yếm thắm lòa lòa" hay "răng đen nhưng nhức", truyện thơ cũng có các mô tả mang tính hình tượng như "xanh xanh khóm liễu"; tính ngữ luôn đi song hành với danh từ, làm nổi bật đặc điểm của danh từ và đồng thời làm lời thơ mềm mại, uyển chuyển và giàu tính tạo hình.

Truyện thơ kế thừa một đặc điểm ngôn ngữ nổi bật từ ca dao: dùng đại từ một cách linh hoạt và tinh tế Trong ca dao, đại từ được sử dụng rất nhuần nhuyễn; các tác giả dân gian đạt tới trình độ “bậc thầy” về việc dùng đại từ phiếm chỉ như Ai, đây, đó Truyện thơ đã tiếp nhận một phần cách sử dụng đại từ phiếm chỉ ấy, giúp tăng nhịp điệu, gợi mở ngữ cảnh và làm nổi bật mối quan hệ giữa nhân vật với sự kiện Chẳng hạn, nếu ca dao có câu Ai làm cho bướm lìa hoa thì truyện thơ cũng tiếp nhận và triển khai các cấu trúc tương tự để nhắc nhở người đọc về động cơ và ý nghĩa của hành động.

“Người tuổi tác, khách cô đơn Để ai tan nghé, rẽ đàn vì ai?”

(Trích truyện thơ Tống Trân-Cúc Hoa)

Truyện thơ kế thừa kết cấu đối đáp trong ca dao

Truyện thơ kế thừa kết cấu của ca dao nhưng chỉ tiếp nhận một số kiểu nhất định phù hợp với mục đích biểu đạt của thể loại Nó kế thừa tính “truyện” của truyện cổ tích, chứa cốt truyện và nội dung cổ tích, đồng thời bổ sung đặc điểm của bối cảnh và nhân vật để tăng tính kể chuyện Mỗi câu trong truyện thơ ngắn gọn, hàm xúc, nhưng toàn bài có thể lên tới trăm nghìn câu và mang tính trần thuật đậm nét hơn ca dao Vì vậy, truyện thơ không hoàn toàn kế thừa tính chất ngắn gọn — một đặc trưng nổi bật của kết cấu ca dao.

Truyện thơ không chỉ là một hình thức kể chuyện mà còn kế thừa mạnh mẽ tính chất lối đối đáp của ca dao trong kết cấu; nó có tính truyện, có lời thoại của nhân vật và có phân đoạn các nhân vật đối thoại với nhau, nên dễ bắt lối đối đáp và hiểu ngay nhịp thở của cuộc đối thoại Vì được viết bằng văn vần, đối thoại trong truyện thơ được thể hiện mềm mại, uyển chuyển và mang dáng dấp trữ tình; nhờ đó, sự trao đổi giữa các nhân vật vừa chân thực vừa giàu cảm xúc Khi kết hợp lời thoại với nhịp thơ, truyện thơ tạo ra nhịp điệu tự nhiên và cuốn hút người đọc, đồng thời giữ gìn bản sắc dân gian và sự sinh động của ngôn ngữ Ví dụ minh họa cho thấy các cuộc đối đáp được sắp xếp hợp lý theo nhịp thơ, giúp người đọc dễ nhận biết nhân vật, mạch truyện và thông điệp ẩn chứa.

“Hỏi rằng: Ông đến làm chi chốn này? Tiên ông nghe nói tỏ bày:

Ta đây Lý Tĩnh, chức rày Thiên Vương

Tới đây vâng lệnh Ngọc Hoàng

Dạy con phép tắc sửa sang việc đời”

(Trích truyện thơ Thạch Sanh)

Lối đối đáp đậm nét trong ca dao khắc họa toàn diện vẻ đẹp của văn hóa dân gian và diễn xướng dân gian, qua lối hát đối đáp và hát chào mời trầu để thử tài người tham gia Việc đối đáp tạo nhịp điệu sinh động, tăng sức hấp dẫn của ca dao trong môi trường sinh hoạt dân gian và được thể hiện rõ trên sân khấu diễn xướng dân gian Tương tự, lối đối đáp trong truyện thơ cũng nổi bật khi được diễn ca trên các sân khấu dân gian, vừa chuyển tải nội dung vừa khơi gợi cảm xúc của khán giả và thể hiện sức mạnh nghệ thuật truyền thống Việc khai thác lối đối đáp trên sân khấu dân gian của truyện thơ không chỉ bảo tồn mà còn phát huy giá trị của nghệ thuật dân gian, khẳng định vai trò của lối đối đáp như một yếu tố cốt lõi của văn hóa dân gian.

Truyện thơ kế thừa thể thơ trong ca dao

Trong ca dao, các thể thơ được xem là bản sắc dân tộc với bốn loại chính là thể vãn, thể lục bát, thể song thất và thể song thất lục bát Những thể thơ này vừa kế thừa vừa được truyện thơ áp dụng một cách linh hoạt để phù hợp với nội dung kể chuyện, giúp ca dao duy trì nhịp điệu và sự truyền cảm của mỗi câu chuyện.

Truyện thơ kế thừa cách sử dụng thể thơ lục bát của ca dao, thể thơ có vần điệu êm dịu, viết xuống nhìn thuận mắt, xướng lên nghe thuận tai; lại dễ dàng, tự nhiên trong việc bày tỏ tình cảm chân thành, cho nên thật dễ hiểu khi thể lục bát được sử dụng phổ biến rộng rãi Nếu 90% ca dao người Việt sử dụng thể lục bát, thì cũng có khối lượng lớn tác phẩm truyện thơ dùng thể này Ví như, truyện thơ Quan Âm Thị Kính được tạo nên bởi 786 câu lục bát (Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội năm 1961, bản do giáo sĩ Dương Quang Hàm dịch); ba dị bản của truyện thơ Thạch Sanh đều bằng thể lục bát; bản được lưu hành rộng rãi nhất gồm 1812 câu lục bát; truyện thơ Tống Trân Cúc Hoa cấu thành bởi 1685 câu lục bát (theo Nguyễn Phương Chi- Từ điển văn học) [tr.1760]; truyện thơ Phạm Công.

-Cúc Hoa gồm 4610 câu thơ lục bát.

Trong thể lục bát, cách hiệp vần được thể hiện qua sự liên kết giữa chữ cuối các câu Chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ sáu câu tám, rồi chữ cuối câu tám lại vần với chữ cuối câu sáu tiếp, tạo nên sự hô ứng và gắn kết chặt chẽ giữa các câu thơ Cách hiệp vần này giúp nhịp điệu lục bát trở nên mạch lạc, đồng thời làm cho từng câu thơ hòa quyện với câu kế tiếp Nhờ quy tắc này, bài thơ có âm hưởng mềm mại, gợi cảm giác trôi chảy và sự liên kết âm vận xuyên suốt toàn bài.

“Thư trung dành có ngọc nhan,

Sách đèn còn bận, buông màn Quảng Xuyên

Vẳng nghe họ Mãng gần miền

Lam kiều là chốn thần tiên có người” (Trích truyện thơ Quan Âm

Rõ ràng trong trích đoạn trên, tác giả truyện thơ đã vận dụng chính xác cách hiệp vần trong thể lục bát Chữ cuối “nhan” ở câu sáu vần với chữ ở câu kế tiếp cho thấy sự cân đối âm vận và nhịp điệu đặc trưng của lục bát, đồng thời làm nổi bật sự tinh tế trong bố cục chữ và nhịp thơ Qua cách hiệp vần này, tác phẩm thể hiện phong cách mượt mà, gợi hình và dễ đọc, tạo nên nhịp đọc hài hòa, tăng giá trị cảm xúc và sức truyền tải của ngôn ngữ thơ.

“màn” của câu sáu; rồi chữ cuối “Xuyên” trong câu câu tám lại vần với chữ cuối

“miền” trong câu sáu tiếp; chữ “miền” của câu sáu lại hiệp vần với “tiên” chữ thứ sáu của câu tám.

Truyện thơ cũng vận dụng cách ngắt nhịp khá đa dạng của thể lục bát, có thể là nhịp đôi câu sáu 2/2/2; câu tám 2/2/2/2 ví như lời thơ

“Trứng rồng/ lại nở /ra rồng”

(Trích truyện thơ Hoàng Trừu)

Hay: “Thẹn thùng/ lững thững/chân dời” (Trích truyện thơ Nhị Độ mai).

Ngoài ra, còn có các câu theo lối ngắt nhịp câu lục 3/3 và câu bát 4/4, thể hiện đặc trưng nhịp điệu của thơ Việt Nam Lối ngắt nhịp này giúp nhịp thơ mềm mại, có tiết tấu rõ ràng và tăng nhạc tính cho từng câu chữ Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, lối ngắt nhịp 3/3 và 4/4 được xem là ví dụ tiêu biểu cho cách tác giả kết hợp nhịp điệu với ý tứ, làm nổi bật sự công phu của từng câu và sự vận động nhịp nhàng của toàn tác phẩm.

“Làn thu thủy/ nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm/ liễu hờn kém xanh”

Nhờ ưu thế nổi bật của thể thơ lục bát, lối thơ này vừa thể hiện được nhịp điệu và âm hưởng đặc trưng, vừa trở thành tiếng nói của dân tộc Nguyễn Đình Thi, trong bài “Sức sống của con người Việt Nam qua ca dao và cổ tích”, nhận định rằng lục bát và các biến thể của nó là giọng nói của người Việt, hòa hợp với ngôn ngữ và tâm hồn nước ta Vì thế, thể thơ ca kể chuyện của dân chúng có thể lan tỏa cảm xúc rộng rãi và khai thác sâu nguồn cảm hứng từ ca dao và cổ tích, phản ánh đời sống và tinh thần của cộng đồng.

Bên cạnh thể thơ lục bát quen thuộc và phổ biến, truyện thơ còn kế thừa thể song thất lục bát của ca dao dân tộc, tạo nên sự đa dạng về hình thức và nhịp điệu Điển hình là truyện thơ Phạm Tải-Ngọc Hoa với tổng cộng 928 câu thơ, phần lớn viết theo thể lục bát, nhưng cũng có những đoạn theo thể song thất lục bát, cho thấy sự giao thoa giữa các yếu tố ngôn ngữ dân gian và sáng tạo trong thơ ca Việt Nam.

Truyện thơ kế thừa các thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ trong xây dựng hình tượng nghệ thuật của ca dao

Ẩn dụ vốn là lối so sánh ngầm ẩn đi một vế Truyện thơ đã kế thừa ý nghĩa thẩm mĩ và ý nghĩa biểu cảm trong biện pháp ẩn dụ nghệ thuật của ca dao Biện pháp ẩn dụ giúp tác giả diễn tả được những điều thầm kín, sâu sắc nhất tự sâu thẳm tâm hồn.

Ví như khi viết về đôi lứa muôn ngả chia xa, tình cảm chia lìa, tác giả viết:

“Ai làm cho phượng lìa loan Đang tay ai nỡ bẻ phím đàn làm đôi”

Trong Quan Âm Thị Kính, đôi câu lục bát nằm trong phân đoạn vợ chồng từ giã nhau khi Thị Kính bị nhà chồng nghi oan và phải bỏ về nhà mẹ đẻ Cảnh chia ly gợi lên nỗi oan khuất của người phụ nữ, sự kiên cường để bảo vệ danh dự và hành trình tìm sự thật trước lời đàm tiếu của xã hội Hình ảnh ấy phản chiếu bi kịch gia đình phong kiến, đồng thời gợi mở những giá trị về lòng dũng cảm và niềm tin vào công lý của Thị Kính.

Trong ca dao, các ẩn dụ như 'phượng' và 'loan' được dùng để ám chỉ đôi vợ chồng sắp lìa xa; 'bẻ phím đàn làm đôi' ngụ ý sự đứt gẫy tình duyên và sự chia ly của hai người Lời thơ thông qua hình ảnh ẩn dụ thay vì diễn đạt trực tiếp, từ đó tăng cao không khí bi thương của buổi chia ly, đặc biệt khi người vợ mang nỗi oan và ra đi Những hình ảnh quen thuộc như 'Quả đào tiên, ruột mất vỏ còn' và 'Buông lời hỏi bạn, lối mòn ai đi' được vận dụng một cách thành công trong truyện thơ thực thành Bên cạnh ca dao, tục ngữ và câu đố cũng dùng ẩn dụ, nhưng mỗi thể loại mang đặc điểm riêng: ẩn dụ trong tục ngữ nhấn mạnh tính chất răn dạy; ẩn dụ trong câu đố nhằm kiểm tra nhận thức; còn ẩn dụ trong ca dao có đặc trưng của nghệ thuật trữ tình, nhằm gợi hình và biểu cảm Nhờ vậy, truyện thơ đã kế thừa đặc tính ẩn dụ của ca dao.

Truyện thơ kế thừa ý thơ trong ca dao

Truyện thơ kế thừa ý thơ trong ca dao, nghĩa là lời thơ của truyện thơ tiếp nối và vận dụng ý nghĩa của một câu ca dao để mở rộng nhịp điệu và sâu sắc ý nghĩa tác phẩm Lời thơ Truyện Kiều của Nguyễn Du là minh chứng sống động cho hiện tượng này, khi Nguyễn Du tận dụng hình ảnh, nhịp điệu và ý nghĩa ca dao để khắc họa tâm tư nhân vật và mạch chuyện một cách sâu sắc hơn, đồng thời gợi lại cảm giác dân gian quen thuộc và sự liên kết với kho tàng ca dao Việt Nam.

“Hạt mưa sá nghĩ thân hèn

Liều đem tấc cỏ quyết đền ba sinh” Ở câu lục, qua hình ảnh hạt mưa tác giả đã mượn ý thơ của câu ca dao quen thuộc:

“Thân em như hạt mưa sa” và “Thân em như hạt mưa rào” diễn đạt thân phận nhỏ bé, bấp bênh và gần như vô nghĩa trong xã hội phong kiến Tác giả đã vận dụng tinh tế những câu ca dao này vào tác phẩm, vừa làm tăng ý nghĩa của thơ, vừa tô đậm màu sắc dân tộc cho toàn bộ tác phẩm Đây chính là ý nghĩa chung của việc đưa ca dao vào sáng tác truyện thơ, bất kể đó là truyện thơ dựa trên cổ tích dân gian hay tiểu thuyết Trung Quốc, hay là truyện thơ phản ánh cuộc đời tác giả.

Tiểu kết chương 3

Truyện thơ kế thừa thi pháp từ ca dao, tạo nên một tác phẩm đậm đà màu sắc trữ tình Việc tiếp nối và vận dụng các yếu tố của ca dao vào thể loại này là những nét điểm tô độc đáo, mềm mại cho cốt truyện và tính truyện Nhờ sự hòa quyện giữa ca dao và thi pháp riêng, truyện thơ không bao giờ khô cứng hay trùng lặp với thể loại khác, mà luôn thể hiện sự tinh tế, uyển chuyển theo một phong cách riêng biệt.

Ngày đăng: 22/12/2022, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thức Phước (2015), Truyện Nôm khuyết danh, Truyện Tống Trân- Cúc Hoa, Phạm Tải- Ngọc Hoa, Thoại Khanh- Châu Tuấn, Nxb Hội Nhà Văn, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nôm khuyết danh
Tác giả: Bùi Thức Phước
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 2015
2. Dương Quang Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Bộ Giáo Dục, Hà Nội, tr150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quang Hàm
Nhà XB: Nxb Bộ Giáo Dục
Năm: 1968
3. Kiều Thu Hoạch (1993), Truyện Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
4. Lại Nguyên Ân (2016), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, tr140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2016
5. Nguyễn Đổng Chi (1957), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1957
6. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
7. Nguyễn Xuân Kính (2009), “Quá trình sưu tầm, công bố truyện thơ các dân tộc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quá trình sưu tầm, công bố truyện thơ các dân tộc
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Năm: 2009
8. Phan Kế Bính (1938), Việt Hán văn khảo, Nxb Nam Kỳ, Nam Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Nam Kỳ
Năm: 1938
9. Trần Đình Sử (2021), Truyện thơ Nôm với Truyện Kiều, phần 1, trên trang https://trandinhsu.wordpress.com/2021/04/04/truyen-tho-nom-voi-truyen-kieu-phan-1/(truy cập vào ngày 18/08/2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện thơ Nôm với Truyện Kiều, phần 1
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2021
10. Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương (2016), Giáo trình Văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học dân gian
Tác giả: Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w