1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

168 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Áp Dụng Báo Cáo Tích Hợp Tại Các Doanh Nghiệp Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Thuận
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 495,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng cách công bố các thông tin tài chính và phi tài chính trong cùng một báocáo, các DN có thể thay đổi cách tư duy về chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình, ra các quyết định tối ư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- -NGUYỄN THỊ THU HẰNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KẾ TOÁN

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi thực hiện và không vi phạm

về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tập thể các Thầy Cô, cán bộ Viện SauĐại học, Viện Kế toán Kiểm toán- Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện cho NCStrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tác giả xin gửi cảm ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn PGS.TS Trần VănThuận đã chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu, động viên, khích lệ, chia sẻnhững kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống hàng ngày

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm Khoa kế toán- Trường Đạihọc Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong công tác giảngdạy để tôi có thể tập trung trong suốt quá trình nghiên cứu

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ,chia sẻ kinh nghiệm trong nghiên cứu, cũng như hỗ trợ tác giả trong quá trình công tác

để tác giả hoàn thành được Luận án

Cuối cùng, tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bố mẹ đẻ, mẹ chồng, chồng, anhchị em và hai con đã luôn ở bên cạnh tôi, luôn sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ, động viên cả

về mặt vật chất lẫn tinh thần, luôn an ủi, khích lệ động viên và tạo động lực cho tôi hoànthành luận án

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 4

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC HÌNH VẼ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Câu hỏi nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận án 7

7 Kết cấu của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TRONG DOANH NGHIỆP 10

1.1 Tổng quan nghiên cứu về Báo cáo tích hợp 10

1.1.1 Trường phái ủng hộ việc áp dụng Báo cáo tích hợp 10

1.1.2 Trường phái không ủng hộ việc áp dụng Báo cáo tích hợp 14

1.2 Tổng quan nghiên cứu về lợi ích, thách thức của việc áp dụng Báo cáo tích hợp 16 1.2.1 Nghiên cứu về lợi ích của việc áp dụng Báo cáo tích hợp 16

1.2.2 Nghiên cứu về thách thức của việc áp dụng Báo cáo tích hợp 22

1.3 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo cáo tích hợp 25 1.4 Xác định khoảng trống nghiên cứu 32

1.4.1 Nhận xét về tình hình nghiên cứu trước đây 32

1.4.2 Khoảng trống nghiên cứu 33

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TRONG DOANH NGHIỆP 36

2.1 Khái quát về Báo cáo tích hợp 36

2.1.1 hìnhSự thành và phát triển của Báo cáo tích hợp 36

2.1.2 Khái niệm, bản chất của Báo cáo tích hợp 38

Trang 6

2.2 Nguyên tắc lập và nội dung cơ bản của Báo cáo tích hợp 41

2.2.1 nguyênCác tắc cơ bản lập Báo cáo tích hợp theo IIRF 42

2.2.2 dungNội cơ bản của Báo cáo tích hợp theo IIRF 43

2.2.3 loạiCác vốn và cách thức tạo ra giá trị của Báo cáo tích hợp theo IIRF 44

2.3 Các lý thuyết nền 47

2.3.1 thuyếtLý hợp pháp (legitimacy theory) 47

2.3.2 thuyếtLý các bên liên quan (stakeholder theory) 48

2.3.3 thuyếtLý tín hiệu (signalling theory) 50

2.3.4 thuyếtLý đại diện (Agency Theory) 51

2.3.5 thuyếtLý hành vi dự định (Theory of planned behavior) 53

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo cáo tích hợp trong doanh nghiệp 54

2.4.1 Nhân tố Sở hữu của các nhà quản lý 54

2.4.2 Nhân tố Quy mô doanh nghiệp 55

2.4.3 Nhân tố Khả năng sinh lời 56

2.4.4 Nhân tố Sở hữu của các tổ chức 56

2.4.5 Nhân tố Áp lực của các bên liên quan 57

2.4.6 Nhân tố Chất lượng kiểm toán 58

2.4.7 Nhân tố Đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài 58

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 61

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 62

3.1 Nghiên cứu định tính 62

3.1.1 Quy trình nghiên cứu định tính 62

3.1.2 hìnhMô nghiên cứu dự kiến 65

3.1.3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 67

3.2 Nghiên cứu định lượng 70

3.2.1 Quy trình nghiên cứu định lượng 70

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 72

3.2.3 Xác định thang đo các biến trong mô hình 73

3.2.4 Chọn mẫu khảo sát 79

3.2.5 Thu thập dữ liệu 80

3.2.6 Phân tích dữ liệu 81

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 85

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 86

Trang 7

4.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam và kết quả khảo sát về công bố các

báo cáo của các doanh nghiệp niêm yết 86

4.1.1 lượcSơ về thị trường chứng khoán Việt Nam 86

4.1.2 Kết quả khảo sát về công bố các báo cáo của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 87

4.2 Kết quả nghiên cứu định tính 88

4.2.1 quảKết phỏng vấn sâu chuyên gia về sự hiểu biết Báo cáo tích hợp 88

4.2.2 quảKết khảo sát các chuyên gia 90

4.3 Kết quả nghiên cứu định lượng 91

4.3.1 Thống kê mô tả và mối tương quan giữa các biến 91

4.3.2 quảKết hồi quy mô hình bình phương bé nhất OLS 95

4.3.3 quảKết hồi quy mô hình ảnh hưởng cố định FEM 98

4.3.4 quảKết hồi quy mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM 100

4.3.5 quảKết kiểm định Hausman và kiểm tra hiện tượng tự tương quan 102

4.3.6 quảKết hồi quy REM theo sai số chuẩn vững (robust SE) 102

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 104

CHƯƠNG 5 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 105

5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo

cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 105

5.1.1 sánhSo các mô hình hồi quy 105

5.1.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 108

5.2 Các khuyến nghị nhằm tăng cường áp dụng Báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 112

5.2.1 vớiĐối Bộ Tài chính 113

5.2.2 vớiĐối các doanh nghiệp niêm yết 115

5.2.3 vớiĐối các nhà đầu tư 118

5.2.4 vớiĐối các bên liên quan khác của doanh nghiệp 118

5.2.5 Khuyến nghị khác 119

5.3 Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo 120

5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 120

5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 121

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 122

KẾT LUẬN 123

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 125

Trang 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 126 PHỤ LỤC 139

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN TIẾNG ANH

1 AR Annual report- Báo cáo thường niên

Corporate Social Responsibility- Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Environmental, Social and Governance – Môi trường, Xã hội

và Quản trị công tyEuropean Union- Liên minh châu ÂuGenerally accepted accounting principles- Các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung

Global Reporting Initiative –GRI -Tổ chức Sáng kiến báo cáo toàn cầu

The International Federation of Accountants- Liên đoàn kế toán quốc tế

International Integrated Reporting Council- Ủy ban Báo cáo tíchhợp quốc tế

International Integrated Reporting Framework- Khuôn khổ Báo cáo tích hợp quốc tế

Integrated Reporting- Báo cáo tích hợpThe Integrated Reporting Committee of South Africa- Ủy ban Báo cáo tích hợp của Nam Phi

Sustainable Report- Báo cáo bền vững

Trang 10

PHẦN TIẾNG VIỆT

1 BCPTBV Báo cáo phát triển bền vững

2 BCTC Báo cáo tài chính

3 BCTH Báo cáo tích hợp

4 BCTN Báo cáo thường niên

5 CBTT Công bố thông tin

6 CTCP Công ty cổ phần

7 DN Doanh nghiệp

8 DNNY Doanh nghiệp niêm yết

9 HĐQT Hội đồng quản trị

10 HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

11 HOSE Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

12 PTBV Phát triển bền vững

13 TMCP Thương mại cổ phần

14 TSCĐ Tài sản cố định

15 TTCK Thị trường chứng khoán

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH trong các nghiên cứu

trước đây 31

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp những tổ chức sớm áp dụng BCTH 38

Bảng 2.2 Nguyên tắc hướng dẫn Báo cáo tích hợp theo IIRF 42

Bảng 2.3 Nội dung của Báo cáo tích hợp theo IIRF 43

Bảng 2.4 Các loại vốn của Báo cáo tích hợp theo IIRF 44

Bảng 2.5 Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH 60

Bảng 3.1 Kết quả nghiên cứu định tính về các nhân tố 66

Bảng 3.2 Bảng tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu và dự đoán ảnh hưởng đến áp dụng BCTH 70

Bảng 3.3 Bảng danh mục nội dụng kiểm tra đánh giá các Báo cáo của DN theo Herath & Gunarathne 74

Bảng 4.1 Kết quả phỏng vấn chuyên gia về sự hiểu biết BCTH 89

Bảng 4.2 Kết quả thống kê mô tả các biến độc lập 92

Bảng 4.3 Kết quả thống kê mô tả biến định danh 93

Bảng 4.4 Kết quả thống kê mô tả biến phụ thuộc 94

Bảng 4.5 Ma trận hệ số tương quan 94

Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến 95

Bảng 4.7 Kết quả hồi quy theo mô hình OLS 96

Bảng 4.8 Kết quả hồi quy mô hình FEM 98

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy mô hình REM 100

Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Lagrangian Multiplier 101

Bảng 4.11 Kết quả kiểm định Hausman 102

Bảng 4.12 Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan 102

Bảng 4.13 Kết quả hồi quy REM theo sai số chuẩn vững (Robust) 103

Bảng 5.1 So sánh mô hình OLS, FEM, REM, REM (robust SE) 105

Bảng 5.2 Tổng hợp so sánh các giả thuyết 107

Trang 12

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Mối quan hệ giữa hiệu suất bền vững với 6 loại vốn 45

Hình 2.2 Mô hình kinh doanh trong bối cảnh với môi trường bên ngoài 46

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu định tính 62

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH 66

Hình 3.3 Quy trình nghiên cứu định lượng 71

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hệ thống Báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp (DN) hiện nay đượcphát triển từ năm 1930 Sau này, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sựquan tâm ngày càng nhiều về các vấn đề xã hội, môi trường và các vấn đề liên quankhác mà BCTC chỉ báo cáo đơn thuần các thông tin tài chính Đây là những tài liệutĩnh thường là không khuyến khích người đọc phân tích được sâu hơn tình hình củacác DN Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu “không phải là một sự kiệnngẫu nhiên” mà nó là sự thất bại trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế (Eccles &Krzus, 2010) Hiện tượng bong bóng vỡ kéo theo một loạt các công ty bị phá sản, hậuquả là các bên liên quan thấy rằng các nhà quản trị DN đã cung cấp các BCTC khôngtrung thực, che dấu các chiến lược kinh doanh không bền vững Phần lớn các thông tintrên BCTC không cung cấp các thông tin về chiến lược phát triển, hiệu quả hoạt độngkinh doanh và các rủi ro của DN, cũng như thông tin hoạt động phi tài chính (Busco

và cộng sự, 2013a) Vì vậy, các nhà đầu tư đã mất niềm tin vào báo cáo truyền thống

và bắt đầu phân tích mối liên hệ giữa hiệu suất tài chính và PTBV Các nhà đầu tư chorằng họ muốn có thêm các thông tin chính xác hơn, tin cậy hơn, các thông tin có sựliên kết với mô hình kinh doanh, quy trình tạo ra giá trị của công ty và các rủi ro quảntrị Để đáp ứng được nhu cầu này thì các công ty đã công bố cả BCTC và Báo cáo pháttriển bền vững (BCPTBV) Tuy nhiên việc phát hành hai báo cáo này lại riêng biệt dẫnđến vấn đề là trong hầu hết các trường hợp nội dung là không có sự liên kết với nhau,

có nhiều thông tin chồng chéo nhau (Abeysekera, 2013) BCPTBV chỉ tập trung vàongắn hạn, hệ thống báo cáo được lập đều phù hợp với các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế

và được coi là minh bạch hơn, nhưng nội dung của BCPTBV là tự nguyện, các báocáo dài và phức tạp, một số báo cáo tập trung vào công bố các thông tin trong quá khứ(Berndt và cộng sự, 2014) Một chỉ trích nữa là thông tin trên báo cáo này là các tổchức thu thập và tự lập nên có những lo ngại về chất lượng BCPTBV còn tương đốithấp, độ tin cậy không cao (Gray, 2012) Bên cạnh đó, BCPTBV không có sự thốngnhất giữa các tổ chức nên khó có thể so sánh được Hơn nữa, BCTC và BCPTBV làbáo cáo các thông tin trong quá khứ, không nêu bật được các hoạt động trong tươnglai và những rủi ro cho các bên liên quan Để khắc phục những vấn đề này, một số DN

đã bắt đầu tích hợp các báo cáo của họ lại vào một báo cáo duy nhất và trình bày tổnghợp các thông tin gắn kết với nhau trên mọi khía cạnh của DN như hoạt động kinhdoanh, môi trường, xã hội và quản trị (Frıas-Aceituno, 2013a)

Trang 14

Ngoài ra, nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ngày càng

bị chi phối bởi biến đổi khí hậu, khan hiếm tài nguyên, đói nghèo, bất bình đẳng, phátthải khí CO2 đáng báo động Những thay đổi quan trọng trong các chính sách và chiếnlược phát triển của chính phủ cũng như của các DN cần phải tách biệt giữa tăng trưởngphát triển kinh tế từ phát thải khí nhà kính Đây là những tiền đề phát triển một nền kinh

tế bền vững đáp ứng được nhu cầu cả hai thế hệ hiện tại và tương lai Điều này đòi hỏicác DN phải quan tâm đến các thông tin phi tài chính để giúp các bên liên quan và cócái nhìn toàn diện về các hoạt động của DN, để đánh giá khả năng tạo ra giá trị và duytrì giá trị trong tương lai của DN như thế nào? Mô hình “xanh” cần được xây dựng đểphát triển nền kinh tế bền vững, ít thải carbon (Zyl, 2013) Trong Báo cáo tóm tắt toàncầu (IIRC, 2013) cho thấy rằng các báo cáo của DN đã trải qua sự chuyển đổi mạnh mẽtheo thời gian với xu hướng ngày càng mở rộng trách nhiệm giải trình với các bên liênquan bao gồm cả môi trường và xã hội nói chung Chính vì vậy, các DN hiện nay phảibáo cáo về nhiều lĩnh vực khác nhau ngoài hiệu quả hoạt động kinh doanh của họ như:Quản trị, quản trị rủi ro, và tính bền vững (Owen, 2006; Gray, 2012; Eccles vàSaltzman, 2011) Kết quả là ra đời của Báo cáo tích hợp (BCTH) vào năm 2010 là tấtyếu khách quan để đáp ứng được nhu cầu hiện nay của các bên liên quan

BCTH là một công cụ mới để lập báo cáo của tổ chức nhằm giải thích cách màmột tổ chức tạo ra và duy trì giá trị Tổ chức không thể tạo ra giá trị nếu xem xét mộtcách độc lập mà giá trị được tạo ra trong mối quan hệ với môi trường kinh doanh xungquanh, với các bên liên quan Báo cáo này tích hợp công bố các thông tin tài chính vàphi tài chính một cách rõ ràng, súc tích, nhất quán và có thể so sánh được (IIRC, 2013).Ngược lại với cách tiếp cận truyền thống trước đây khi các tổ chức công khai các vấn

đề về môi trường, xã hội, thông tin phi tài chính không tích hợp với thông tin tài chính(Villiers và cộng sự, 2014) Hiện nay, ngày càng nhiều các công ty áp dụng BCTH vìnhiều lý do khác nhau, một số khác thì áp dụng BCTH do áp lực từ lập pháp (như ởNam Phi, nơi BCTH là bắt buộc), những người áp dụng BCTH đã hiểu được lợi ích

từ việc áp dụng nó như danh tiếng công ty, phân bổ các nguồn vốn, đưa ra được cácquyết định hiệu quả hơn tăng được lợi nhuận trong ngắn hạn và dài hạn, định hướng sựphát triển trong tương lai Dù được áp dụng trên cơ sở tự nguyện hay bắt buộc thì việc

áp dụng BCTH cũng mang lại nhiều lợi thế cho các tổ chức Tất cả các yếu tố củaBCTH được trình bày theo cách thức kết nối giữa thông tin tài chính và phi tài chínhchính với mục đích là PTBV

Việt Nam là một trong các quốc gia chưa yêu cầu bắt buộc các DN lập BCTCtheo yêu cầu của IIRC BCTC của Việt Nam hiện nay đang được áp dụng theo Chuẩn

Trang 15

mực kế toán Việt Nam, ban hành từ năm 2001 đến 2005 dựa trên IAS Với sự thay đổinhư vũ bão của nền kinh tế thị trường thì chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay đangbộc lộ rất nhiều hạn chế, chất lượng thông tin kế toán trên các BCTC còn bộc lộ nhiềuyếu kém, tính minh bạch trên BCTC còn thấp, làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà đầu

tư, gây khó khăn cho việc giám sát của các cơ quan nhà nước, làm giảm niềm tin đối vớicông chúng Bên cạnh đó, BCTC của các DN Việt Nam công bố các thông tin kế toánchưa có tính hệ thống, chưa đầy đủ, nội dung còn đơn giản, mang tính rời rạc và điềuđặc biệt là các báo cáo này mới chỉ công bố các thông tin tài chính Các thông tin phi tàichính được trình bày trên một báo cáo tách biệt gây khó khăn cho người đọc khó có thểkết nối các thông tin tài chính và phi tài chính vào với nhau được Vì vậy, để góp phầncải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển TTCK, thu hút được đầu tư nướcngoài, phù hợp với xu thế chung của thế giới Việt Nam đã đưa ra các quy định bắt buộcđối với các DN niêm yết (DNNY) khi công bố các BCTN theo đúng phụ lục 4 ban hànhtheo Thông tư 155/2015/TT-BTC Mặt khác tại thông tư 155 chỉ yêu cầu DN tích hợpBCPTBV trong BCTN tại các DNNY lớn, uy tín trên TTCK, nhưng đã có một sốDNNY lập BCTN riêng và BCPTBV theo chuẩn mực quốc tế Ngoài ra, tại Việt Namchỉ khuyến khích các DNNY công bố BCTN bằng tiếng Anh song song với bản tiếngViệt nhưng nhiều DN ngoài việc cung cấp bản cứng họ còn công bố cả các bản mềmgiúp các cổ đông và các nhà đầu tư thuận lợi cho việc tiếp cận các thông tin Trong bốicảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế đòi hỏi các DN Việt phải từngbước chuẩn hóa trong việc lập BCTN theo hướng công khai minh bạch, trình bày, thểhiện BCTN một cách khoa học, hướng tới nhu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, đa chiều

từ phía nhà đầu tư và các đối tác muốn tiếp cận DN Tuy nhiên, BCTN hiện nay thườngcung cấp cho các nhà đầu tư và các cổ đông, chưa thể hiện đủ để thấy một DN đã tạo ragiá trị của mình như thế nào theo thời gian một cách bền vững BCTH là phương thứctruyền thông rành mạch nhất về cách thức chiến lược, quản trị, hiệu quả hoạt động vàtiềm năng của một DN có thể tạo ra giá trị trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Xuhướng BCTH đang làm thay đổi cách thức xây dựng báo cáo của DN, đặc biệt cácDNNY Bằng cách công bố các thông tin tài chính và phi tài chính trong cùng một báocáo, các DN có thể thay đổi cách tư duy về chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình,

ra các quyết định tối ưu và quản lý các rủi ro chính để xây dựng niềm tin cho nhà đầu tư

và các bên liên quan, đồng thời cải thiện hiệu quả hoạt động của DN trong tương lai.Việc các DNNY áp dụng BCTH trong việc lập BCTC của DN là rất cần thiết Khi DNViệt Nam áp dụng BCTH theo IIRC thì DN đó sẽ được đảm bảo theo tiêu chuẩn quốc tế

và được các nhà đầu tư nước ngoài công nhận, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tạođiều kiện cho DN đó có vé thông hành để tiếp cận với các dòng vốn trên thị trườngquốc tế Nhưng quan trọng hơn là bản thân của báo cáo đó sẽ đem

Trang 16

lại nhiều lợi ích cơ bản như thông tin được minh bạch hơn, đảm bảo tính so sánh đượcvới các quốc gia khác, gia tăng trách nhiệm công bố thông tin của DN Trong quá trìnhhội nhập vào nền kinh tế thế giới thì hội nhập quốc tế về kế toán - kiểm toán của ViệtNam là một tất yếu khách quan Điều này không chỉ đáp ứng được các yêu cầu về minhbạch hóa nền kinh tế mà còn để xây dựng được một hệ thống quản lý tài chính tiên tiếnvới mục tiêu PTBV trong tương lai, dựa trên các chuẩn mực quốc tế đang thịnh hành.

Như vậy, với cách tiếp cận đi từ thông tin tổng quan đến các chỉ tiêu được lượnghóa cụ thể, BCTH hợp cung cấp một góc nhìn toàn diện về hiệu quả hoạt động và giá trịcủa DN trên nhiều khía cạnh khác nhau như tài chính, quản trị, trách nhiệm xã hội, môitrường, giúp người đọc tiếp cận, xử lý, phân tích thông tin chính xác và hiệu quả hơn

Do đó, những DN thực hiện tốt việc BCTH toàn diện sẽ giúp tăng cường tính minh bạch

và mức độ tin cậy của thông tin cung cấp cho nhà đầu tư, từ đó sẽ có cơ hội thu hút được

sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư quốc tế

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với sự tìm hiểu đó là các nhân tố ảnh hưởng đến việc thúc đẩy

các công ty niêm yết sớm tham gia áp dụng BCTH Do vậy, nghiên cứu xem xét yếu tốlàm thế nào để BCTH như là một công cụ quản lý nhằm khuếch tán sự đổi mới trongnền kinh tế Việt Nam và các yếu tố thể chế đóng vai trò định hướng cho việc việc thôngqua áp dụng BCTH Qua kết quả nghiên cứu, Luận án sẽ đưa ra những khuyến nghị, đềxuất với các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách, các DN, thựchiện các công việc theo lộ trình phù hợp để tăng cường thúc đẩy việc áp dụng BCTH tạicác DN Việt Nam, đặc biệt với các DNNY trên TTCK Việt Nam là yêu cầu mang tínhcấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hiện nay Việt Nam chưa công bố chính thức và lộ trình áp dụng khuôn khổBCTH quốc tế nhưng thực tế tại một số DN lớn, những DN có vốn đầu tư từ nước ngoài

đã tự nguyện áp dụng BCTH nhằm đáp ứng được yêu cầu về chất lượng thông tin củacác nhà đầu tư cũng như các bên liên quan khác Vì vậy cũng cần phải nghiên cứu mộtcách nghiêm túc về các nhân tố vi mô tác động đến việc các DN áp dụng BCTH thànhcông và hiệu quả Kinh nghiệm áp dụng BCTH tại các quốc gia thành công thường bắtđầu từ các DN có quy mô lớn, các DNNY, vì sự ảnh hưởng của các DN này đến cổ đônglớn nên chất lượng thông tin BCTC càng cao thì khả năng kêu gọi được vốn từ nhà đầu

tư ngoại càng lớn Để có cái nhìn tổng quát về góc độ DN, tác giả tập trung nghiên cứucác nhân tố tác động đến áp dụng BCTH của DN có quy mô lớn được niêm yết trên

Trang 17

TTCK Việt Nam Bởi vậy, mục tiêu tổng quát của luận án là thực hiện nghiên cứu thựcnghiệm nhằm làm rõ ảnh hưởng của các nhân tố đến áp dụng BCTH tại các DNNY trênTTCK Việt Nam- nghiên cứu ở phạm vi DN Từ mục tiêu tổng quát, tác giả xác địnhcác mục tiêu cụ thể như sau:

Thứ nhất, Thiết kế mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các

DNNY trên TTCK Việt Nam

Thứ hai, Thực hiện nghiên cứu thực chứng nhằm làm rõ ảnh hưởng của các nhân

tố đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam

Thứ ba, Đưa ra những kết luận và kiến nghị nhằm tăng cường áp dụng BCTH tại

các DNNY trên TTCK Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ những vấn đề được trình bày trên, để đạt được mục tiêu nghiên cứu luận án

đã đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu như sau:

Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trênTTCK Việt Nam?

Câu hỏi 2: Nếu DN áp dụng BCTH thì có cần lập các báo cáo khác không nhưBCTC, BCTN, BCPTBV? Các DN, các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức và Hiệphội cần làm gì để thúc đẩy việc áp dụng BCTH ở các DNNY tại Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính của Luận án là các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTHtại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2015-2017

Phạm vi nghiên cứu

Thứ nhất, về mặt nội dung: Luận án tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng

đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam bao gồm hai nhóm đó là: nhân

tố bên trong DN (sở hữu của các nhà quản lý, quy mô DN, khả năng sinh lời, sở hữu củacác tổ chức) và nhóm nhân tố bên ngoài DN ( áp lực các bên liên quan, chất lượng kiểmtoán và đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài) Bởi vì các nhân tố này có thể hỗ trợ cho việc

áp dụng BCTH tại các DNNY

Trang 18

Thứ hai về không gian: Luận án tiến hành khảo sát tại các DNNY niêm yết bao

gồm các DNNY tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), Sở Giao dịch Chứngkhoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

Thứ ba, về thời gian nghiên cứu: Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là các

BCTC, BCPTBV, BCTN của các DNNY trên TTCK Việt Nam được thu thập trong giaiđoạn từ năm 2015-2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu đã lựa chọn, trên cơ sở kế thừa các nghiêncứu trước đây và tổng quan các lý thuyết, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu

và sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp định tính và phươngpháp định lượng

Phương pháp định tính

Nghiên cứu định tính được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ápdụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam Qua tổng quan nghiên cứu và kế thừacác nghiên cứu trên thế giới kết hợp với lý thuyết nền tác giả nhận diện các nhân tố ảnhhưởng đến áp dụng BCTH Tiếp theo tác giả phỏng vấn chuyên gia sự hiểu biết vềBCTH, khảo sát chuyên gia về nhân tố và thang đo Đồng thời, tác giả có câu hỏi mở để

bổ sung thêm nhân tố Kết quả, chuyên gia bổ sung thêm một nhân tố và thang đo đó lànhân tố chất lượng kiểm toán Kết quả nghiên cứu định tính sẽ giúp tác giả nhân diệnđược các biến phụ thuộc và các biến độc lập Từ đó tác giả xây dựng các giả thuyếtnghiên cứu và mô hình nghiên cứu chính thức

Phương pháp định lượng

Sau khi thu thập dữ liệu thứ cấp là dữ liệu bảng, Tác giả tiến hành phân tích địnhlượng với sự hỗ trợ của chương trình phần mềm stata 12 Trước hết tác giả tiến hànhphân tích thống kê mô tả, sau đó phân tích mối quan hệ tương quan Vì dữ liệu thu thập

là dữ liệu bảng nên tác giả tiến hành phân tích hồi quy theo 3 phương pháp đó là phươngpháp hồi quy OLS, FEM, REM Sau đó tác giả tiến hành so sánh 3 mô hình này và lựachọn mô hình nào là tối ưu nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mô hình REM đượclựa chọn Nhưng sau đó tác giả kiểm tra khuyết tật của mô hình REM Thấy rằng môhình REM chưa phải là mô hình tối ưu vì vẫn xảy hiện tượng tự tương quan trong môhình này Cuối cùng, tác giả tiến hành hiệu chỉnh lại mô hình REM (Robust RE) là môhình tối ưu được lựa chọn

Trang 19

6 Đóng góp của luận án

Thông qua nghiên cứu của mình tác giả đã có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn Cụ thể

Về mặt lý luận:

Thứ nhất, Luận án đã bổ sung thêm cơ sở lý luận trong lĩnh vực kế toán, đặc biệt

là về việc áp dụng BCTH theo khuôn khổ BCTH quốc tế Bên cạnh đó, Luận án đã tổnghợp đánh giá những thách thức, lợi ích khi áp dụng BCTH của các DN Việt Nam

Thứ hai, Luận án tập trung vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng

BCTH thông qua sử dụng phương pháp hồi quy OLS, phương pháp hồi quy FEM,phương pháp hồi quy REM, phương pháp robust RE trong mô hình để hiệu chỉnh lạihiện tượng tự tương quan để có mô hình phù hợp với dữ liệu bảng, nhằm cung cấp cácbằng chứng tin vậy về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trênTTCK Việt Nam

Thứ ba, Năm nhân tố được xác định thông qua kiểm định, tác giả đã xây dựng

được mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK ViệtNam; Đóng góp này làm cơ sở cho những nghiên cứu trong tương lai về mô hình cácnhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH

Cuối cùng, kết quả của nghiên cứu đã rút ra những hàm ý liên quan đến cácDNNY, Bộ Tài chính; các Hiệp hội DN, v.v Cũng như nhận diện được các nhân tố ảnhhưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam

Về mặt thực tiễn

Luận án dựa trên khung lý thuyết về BCTH và các nhân tố ảnh hưởng đến ápdụng BCTH, kết quả nghiên cứu của tác giả còn có những đóng góp về mặt thực tiễntrong việc thúc đẩy các DN chấp nhận và ứng dụng nó một cách hiệu quả

Thứ nhất, Kết quả luận án cho thấy rằng vai trò của nhà quản trị cấp cao trong

các DN rất quan trọng Đây là nhân tố thúc đẩy quá trình đổi mới nói chung và áp dụngBCTH nói riêng Vai trò của các nhà quản trị cấp cao đối với việc xây dựng và triển khaicác chiến lược trong các DN quyết định sự thành công hay thất bại của một công cụ báocáo mới mà cụ thể là áp dụng BCTH

Thứ hai, Luận án cũng chỉ ra rằng các nhân tố quy mô DN, sở hữu của các nhà

quản lý, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và chất lượng kiểm toán có tác động thuậnchiều đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam Bên cạnh đó nhân tố áplực của các bên liên quan có ảnh hưởng ngược chiều với áp dụng BCTH

Trang 20

Thứ ba, Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án cho thấy rằng việc ứng

dụng BCTH như là công cụ báo cáo mới đã được kiểm chứng thông qua bước nghiêncứu định lượng Với các thang đo mới này thì mô hình nghiên cứu có mức độ giải thích

có ý nghĩa là 58.83% (R2 = 0.5883) Mức độ này phù hợp với các nghiên cứu trên thếgiới Đây là một điểm mới quan trọng trong nghiên cứu của tác giả để bổ sung và hoànthiện về mặt lý luận của việc áp dụng BCTH Phát hiện này tạo tiền đề cho các nghiêncứu tiếp theo về BCTH tại các DN Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Nghiên cứu này được thiết kế theo cấu trúc gồm 5 chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về BCTH và các nhân tố ảnh hưởng đến ápdụng BCTH tại các DN

Nội dung của chương này trình bày tổng quan về BCTH, tổng quan về lợi ích,thách thức của việc áp dụng BCTH Tiếp theo Luận án trình bày tổng quan về các nhân

tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH Trên cơ sở đó tác giả tiến hành nhận xét các nghiêncứu trước dây và xác khe hổng nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lí luận về Báo cáo tích hợp và các nhân tố ảnh hưởng đến ápdụng BCTH trong các DN

Trong chương này, Luận án trình bày cơ sở lý luận về BCTH, các nguyên tắc vànội dung cơ bản của BCTH theo khuôn khổ BCTH quốc tế Lý thuyết nền về các nhân

tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH Tổng quan các nghiên cứu theo từng nhân tố ảnhhưởng đến áp dụng BCTH

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nội dung của chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu định tính, mô hình nghiêncứu và các giả thuyết nghiên cứu Bên cạnh đó, Luận án cũng trình bày quy trình nghiêncứu định lượng, mô hình nghiên cứu, xác định các thang đo cho các biến trong mô hình,cách chọn mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tạicác DNNY trên TTCK Việt Nam

Trong chương này tác giả trình bày kết quả khảo sát về việc công bố các báo cáocủa DNNY trên TTCK Việt Nam Ngoài ra tác giả cũng trình bày kết quả nghiên cứuđịnh tính và kết quả nghiên cứu định lượng

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, khuyến nghị và kết luận

Trang 21

Mở đầu chương 5 tác giả tiến hành so sánh các mô hình hồi quy và thảo luận kếtquả nghiên cứu Từ đó tác giả đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường áp dụng BCTHtại các DNNY trên TTCK Việt Nam Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra hạn chế của luận

án và hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP VÀ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP

TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu về Báo cáo tích hợp

BCTH đã nổi lên như là một lĩnh vực chính sách mới của công ty phản ánh "tưduy tích hợp" trong một tổ chức Đồng thời, nó cũng thể hiện được cách thức các tổchức tạo ra và duy trì giá trị như thế nào? Do đó, BCTH có thể được xem như là mộtcông nghệ quản lý hiện đại thúc đẩy sự thay đổi về tổ chức theo hướng phát triển bềnvững hơn (Eccles và Krzus, 2010) Hiện nay các nhà đầu tư, chủ nợ, và các bên liênquan khác quan tâm đến việc các tổ chức công khai đầy đủ các thông tin tài chính và phitài chính như chiến lược, quản trị công ty, môi trường, xã hội một cách rõ ràng, ngắngọn, súc tích để người sử dụng có thể dễ dàng hiểu hơn về công ty như một đoàn thể vàtăng trách nhiệm giải trình, giúp cải thiện quá trình ra quyết định phân bổ nguồn lực(Arvidsson, 2011; Cheng và cộng sự, 2014) Tuy nhiên chưa có một báo cáo bắt buộcnào tích hợp các thông tin trên (Arvidsson, 2011; Cheng và cộng sự, 2014) mà nó đượccông bố trên các báo cáo rời rạc nhau Do đó, tổng quan chung về BCTH tập trung vàohai trường phái chính:

+ Trường phái ủng hộ việc áp dụng BCTH

+ Trường phái không ủng hộ việc áp dụng BCTH

1.1.1 Trường phái ủng hộ việc áp dụng Báo cáo tích hợp

BCTH ngày càng trở nên phổ biến trên toàn cầu Chỉ trong vòng 6 năm kể từ khiIIRC ban hành khuôn khổ BCTH quốc tế năm 2013 Số lượng các tổ chức trên thế giới

áp dụng ngày càng tăng lên nhanh chóng IIRC và những người ủng hộ dự đoán rằngBCTH trong tương lai sẽ đại diện cho các báo cáo của DN và sẽ trở thành chuẩn mựcbáo cáo của các công ty (IIRC, 2013)

Nghiên cứu đầu tiên về BCTH được gọi là One Report (Eccles & Krzus, 2010)

là người Mỹ thực hiện Nhóm nghiên cứu cho rằng quá trình hình thành BCTH của một

số tập đoàn Mỹ đã được diễn ra từ những đầu những năm 2000 và họ đã từng bước thựchiện chiến lược phát triển bền vững trong các tập đoàn của mình One Report được coi

là một xu hướng báo cáo mới nổi trong việc lập báo cáo diễn ra trên toàn thế giới, nơicác tổ chức đang lập các báo cáo riêng biệt về tài chính và phi tài chính (BCTC,BCPTBV, Báo các trách nhiệm xã hội) và kết hợp các loại báo cáo này vào một báo cáo

Trang 23

gọi là BCTH Đồng thời các tổ chức cũng tận dụng Internet để công bố các thông tin chitiết hơn cho các bên liên quan One Report cho thấy rằng BCTH mang lại lợi ích cho cảcác tổ chức và các bên liên quan, đồng thời góp phần vào việc phát triển một nền kinh

tế bền vững Đây là nghiên cứu điển hình nhất về BCTH, là một cuốn sách đầu tiên vềBCTH có giá trị trên thế giới Việc ủng hộ xuất bản một báo cáo duy nhất kết hợp giữaBCTC, Báo cáo xã hội, quản trị và các yếu tố khác để cung cấp một bức tranh toàn diệnhơn về DN đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu đồng thuận như (Eccles & Krzus,2010; Mammatt, 2009; Elkington & Renaut, 2010; King, 2010), các tổ chức (Sở giaodịch chứng khoán Johannesburg, JSE, 2010; GRI, 2010; IIRC, 2011); công ty kiểm toán(Engelbrecht, 2010; KPMG, 2010; PWC South Africa, 2010; Hespenheide, 2010) Năm

2010, một số công ty của Mỹ cũng đã tham gia vào quá trình thí điểm lập BCTH củaIIRC như American Electric Power (Năng lượng), PepsiCo (đồ uống), Edelman (truyềnthông), Tập đoàn Microsoft (dịch vụ phần mềm và máy tính), Cliffs Natural Resources(khai thác và kim loại công nghiệp) Prudential Financial (dịch vụ tài chính) Ngoài ra,gần đây một số tổ chức như Jones Lang LaSalle, Southwest Airlines và Clorox đã công

bố các BCTH Đây cũng được coi như một phần chiến lược phát triển bền vững (PTBV)nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các bên liên quan và đảm bảo phân bổ nguồn lựckhan hiếm một cách có hiệu quả (Eccles & Krzus, 2010; Schaltegger & Wagner, 2011;Frıas-Aceituno và cộng sự, 2012)

Năm 2010, Nam Phi là nước đầu tiên trên thế giới yêu cầu các công ty trên thịtrường chứng khoán Johannesburg lập BCTH (Makiwane, 2013) BCTH sẽ cung cấpthông tin hữu ích cho các nhà quản lý của công ty để giúp họ lập kế hoạch, lập ngânsách và thực hiện các chiến lược dẫn đến việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả, điều này

sẽ giúp kiểm soát hoặc giảm chi phí cho các tổ chức (James, 2013) BCTH, tức là đạidiện cho các thông tin tài chính và phi tài chính của các tổ chức trong một báo cáo Nókhông chỉ là việc kết hợp BCTC và BCPTBV vào một báo cáo mà còn có ý nghĩa thực

sự đó là sự liên giữa kết chiến lược kinh doanh với chiến lược phát triển bền vững Nógiúp các tổ chức và các bên liên quan xác định được các khu vực tài chính không ưutiên Mặc dù, BCTH là hiện tượng khá mới nhưng mức độ quan tâm đến báo cáo này đãtăng lên trên toàn cầu trọng tâm cuối cùng là các công ty thông qua và triển khai BCTHnhư một công nghệ quản lý mới Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về BCTH như mộthiện tượng đang nổi lên (Villiers và cộng sự 2014) thậm chí các nghiên cứu còn tậptrung vào kết quả và lợi ích của BCTH ( Stubbs & Higgins, 2014; Adams, 2015; Jensen

& Berg, 2012) Nhưng cũng có các nghiên cứu tập trung vào lý do tại sao và cách thức

mà các tổ chức tiếp cận áp dụng sớm BCTH (Stubbs & Higgins, 2014) Những nghiên

Trang 24

cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tư duy, chính sách và thực tiễn của BCTH Tuynhiên, vẫn còn một khoảng trống trong nghiên cứu là việc làm thế nào để BCTH đượckhuếch tán sử dụng rộng rãi trên toàn cầu Về mặt này, Robertson & Samy (2015) đã sửdụng lý thuyết khuếch tán sự đổi mới (DOI) để kiểm tra sự nhận thức của các nhà quảntrị với BCTH; cung cấp một lợi thế tương đối so với các thực tiễn hiện tại; tính tươngthích với các quy trình và hệ thống quản lý hiện tại; những kinh nghiệm và nhu cầutrong quá khứ và sự phức tạp nhận thức của nó ảnh hưởng đến việc áp dụng và phổ biếnBCTH Nghiên cứu của Robertson & Samy (2015) còn kiểm tra các yếu tố có khả năngảnh hưởng đến sự khuếch tán của BCTH trước khi đưa ra khuôn khổ BCTH của IIRC(2013) Nghiên cứu này được coi là một bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đangphát triển tập trung vào BCTH như là một công nghệ quản lý và các giai đoạn khác nhaucủa quá trình khuếch tán.

Một số nghiên cứu điển hình khác trên thế giới lại tập trung vào lợi ích cơ chếnội bộ của BCTH mang lại cho các tổ chức áp dụng Các tác giả đã cho rằng trongnhững ưu điểm của BCTH thì các yếu tố phi tài chính phải được tích hợp không chỉ thểhiện trên báo cáo mà còn trong mọi quá trình ra quyết định của một tổ chức (Jensen &Berg, 2012) Adams (2015) cho rằng việc áp dụng BCTH cải thiện được việc ra quyếtđịnh của các tổ chức và quy trình quản lý rủi ro Việc ra các quyết định tốt nhất từcác kết quả của BCTH sẽ khuyến khích các nhà quản lý nhận biết và đánh giá caocác yếu tố phi tài chính trong quyết định của mình (Hampton, 2012) BCTH cũng hỗ trợcác tổ chức trong việc thay đổi kỳ vọng kinh doanh, đáp ứng được nhu cầu thông tin chocác bên có liên quan ngày càng tăng (Eccles và Krzus, 2010) Lodhia (2015) cho rằngBCTH gắn kết giữa các phòng ban ngày càng tốt hơn, nó phá vỡ việc các tổ chức làmviệc đơn lẻ BCTH đòi hỏi sự hợp tác giữa các bộ phận khác nhau trong tổ chức Stubbs

và Higgins (2014) cho rằng quá trình lập BCTH cho phép tích hợp các thông tin tàichính và các chiến lược của tổ chức được cung cấp bởi các BCTC và BCPTBV truyềnthống Eccles và Armbrester (2011) cho rằng việc chấp nhận BCTH để xây dựng chiếnlược bền vững lâu dài vừa giúp cho tổ chức tạo ra giá trị trong thời gian dài, vừacung cấp các thông tin cho các bên liên quan, giúp việc thúc đẩy giá cổ phiếu của các tổchức cao hơn Trong một nghiên cứu của Nam phi, Steyn (2014) phát hiện ra rằngnhững người được phỏng vấn hoàn toàn ủng hộ BCTH của Nam Phi khi thu hút được

sự quan tâm của các bên liên quan Hoạt động tài chính đã được chấp nhận là một phầnquan trọng trong BCTH, nhưng số liệu phi tài chính cần phải đưa vào bên cạnh các vấn

đề tài chính BCTH giúp cho các nhà đầu tư hiểu được những vấn đề phát triển bền vữngcủa công ty bên cạnh các thông tin về tài chính để ra các quyết định đầu tư đúng đắn

Trang 25

Nhóm nghiên cứu Eccles & Saltzman (2011) và Burritt (2012) lại tập trungnghiên cứu vào sự lan tỏa của BCTH trong tương lai Nghiên cứu của Eccles vàSaltzman (2011) cho rằng để phổ biến và áp dụng BCTH phụ thuộc vào hai yếu tố làthị trường và các quy định Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất trước hết bắt buộc các tậpđoàn trong ngành công nghiệp đó bắt trước theo những công ty đã áp dụng lập BCTH-đây là “thực tiễn tốt nhất” cho các công ty này Họ cũng cho rằng áp lực từ các cổ đônglớn cũng thúc đẩy việc áp dụng BCTH Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho rằng việc tựnguyện áp dụng và áp lực từ các bên liên quan sẽ dẫn đến việc chậm thông qua áp dụngBCTH Do đó, phải kết hợp cả hai yếu tố là thị trường và quy định Nghiên cứu cũng đềxuất ba quy định để nhanh chóng áp dụng BCTH, cụ thể là: pháp luật (như EU đã đềxuất báo cáo ESG bắt buộc); hành động pháp lý (từ các nhà quản lý chứng khoán quốcgia như SEC) và yêu cầu niêm yết (như thị trường chứng khoán Nam Phi (JSE) yêu cầuBCTH bắt buộc) Eccles và Saltzman (2011) đã đưa ra giả thuyết rằng các hoạt độngđiều chỉnh là đặc biệt quan trọng để giúp các công ty lập được báo cáo (đặc biệt là trongmỗi ngành), có thể dễ dàng so sánh được kết quả tài chính và phi tài chính của công ty.

Nghiên cứu của Nick & Eric (2012) BCTH phản ánh cả một quá trình hoạt độngcủa DN, chứ không đơn thuần là một sản phẩm báo cáo được lập theo định kỳ cho cácbên liên quan BCTH phán ảnh tình hình hiện tại và triển vọng trong tương lai của một

tổ chức nên đòi hỏi người lập báo cáo phải có sự hiểu biết toàn diện về các chiến lượccủa tổ chức đang được áp dụng, rủi ro mà tổ chức phải đối mặt, cơ hội mà tổ chức đangtheo đuổi, và ảnh hưởng của các hoạt động kinh doanh của tổ chức đối với môi trường

và xã hội Việc lập BCTH mang lại lợi ích cho cả tổ chức và các bên liên quan Đối với

tổ chức, giá trị quan trọng đầu tiên là việc chuẩn bị- lựa chọn các số liệu, kiểm tra vàphân tích các tác động và rủi ro kinh doanh thông qua đó đưa ra những chiến lược hoạtđộng kinh doanh tiếp theo Đối với các bên liên quan BCTH giúp tăng cường sự hiểubiết hơn về tổ chức, quản lý, chiến lược và hoạt động kinh doanh cùng với những rủi ro

và triển vọng của tổ chức Nhóm nghiên cứu cũng cho rằng BCTH sẽ trở thành một báocáo chính của các tổ chức trên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy rằng,hàng trăm tổ chức cả tự nguyện lẫn bị bắt buộc đã và đang tham gia lập BCTH hàngnăm Đặc biệt những năm gần đây, 2016-2017, các quốc gia đang phát triển cũng bắtđầu chú ý và tham gia như Trung Quốc, Ấn Độ

Nghiên cứu Joshi và cộng sự (2018) xem xét nhận thức Giám đốc điều hành(CEO), giám đốc tài chính (CFO), kiểm soát tài chính, bộ phận kế toán, bộ phận kiểmtoán những người phụ trách lập BCTC về lợi ích, chi phí đào tạo nhân viên Nhómnghiên cứu đã tiến hành khảo sát 150 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Trang 26

Bursa Malaysia Kết quả nhóm tác giả nhận được sự phản hồi của 50 công ty Nhóm tácgiả sử dụng phương pháp hồi quy hồi quy binary logistic để phân tích mô hình nghiêncứu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng 56% đang xem xét việc áp dụng BCTH do cáclợi ích của nó mang lại Ở Malaysia, mức độ hiểu biết về BCTH còn ở mức thấp bởi vìrất nhiều người chưa quen với mô hình BCTH Do đó, nhóm tác giả nhận định để nângcao nhận thức của nhà quản trị cấp cao và nâng cao kiến thức của họ về BCTH thì Viện

kế toán Malaysia (MIA) nên mở các khóa đào tạo để phổ cập kiến thức Nghiên cứucũng cho rằng trong tương lai yếu tố quyết định việc triển khai áp dụng BCTH chính lànhận thức của các nhà quản trị cấp cao

Tóm lại, việc áp dụng BCTH là tự nguyện hay bắt buộc rất quan trọng đối vớihoạt động của thị trường vốn Các nghiên cứu ủng hộ trên thế giới cho rằng việc tíchhợp các thông tin trên cùng một báo cáo cho phép các nhà đầu tư có thể đánh giá đượcthông tin môt cách toàn diện hơn Nói cách khác, việc công bố này ngày càng tăng cóthể giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin giữa những người tham gia thị trường vốn.BCTH cung cấp hiệu suất hoạt động của DN rộng hơn so với các báo cáo truyền thống(Frias-Aceituno và cộng sự ,2013a; Garcia và cộng sự, 2013) Thông tin trên BCTH rấtcần thiết cho việc đánh giá về mô hình và chiến lược kinh doanh dài hạn của DN, để đápứng nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư và các bên liên quan khác Chính vì vậy, DN

sẽ tạo ra một báo cáo minh bạch hơn, quản lý rủi ro tốt hơn trong các chiến lược PTBVcủa mình Dựa trên những lập luận lý thuyết này, việc các DN áp dụng BCTH là một tấtyếu khách quan phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới

1.1.2 Trường phái không ủng hộ việc áp dụng Báo cáo tích hợp

BCTH là một sự phát triển mới nhất trong việc cải cách các báo cáo của DN Córất nhiều các nghiên cứu đã xác định một số lợi ích của BCTH mang lại như cải tiến quytrình nội bộ của công ty (Phillips và cộng sự, 2011; Adams & Simnett, 2011; Hampton,2012); phá vỡ hoạt động tư duy đơn lẻ thay vào đó là hoạt động tư duy tích hợp dẫn đến

hệ thống quy trình báo cáo được cải thiện (Roberts L , 2011); cải thiện việc ra các quyếtđịnh phân bổ các nguồn lực (Frıas-Aceituno và cộng sự, 2013a); và làm giảm rủi rodanh tiếng và cho phép các DN ra các quyết định tài chính và phi tài chính tốt hơn(Hampton, 2012) Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có các nghiên cứu tranh luận, chỉ tríchBCTH như BCTH tập trung vào các nhà cung cấp vốn tài chính gây bất lợi cho các biênliên quan khác (Rowbottom & Locke, 2015; Cheng và cộng sự, 2014; Flower, 2015);Trong các công ty độc quyền lớn thiếu tính minh bạch toàn diện, thiếu thông tin(Frias-Aceituno và cộng sự, 2014); Khái niệm chủ quan các loại vốn có thể dẫn đến một

số thông tin thiếu căn cứ (Cheng và cộng sự, 2014) và mức độ đảm bảo các thông tincủa BCTH thấp

Trang 27

vì có sự hiện diện của thông tin phi tài chính và điều này làm ảnh hưởng độ tin cậy củabáo cáo (Miller, 2010; Burritt, 2012; Cheng và cộng sự, 2014).

Cheng và cộng sự (2014) đã đưa ra các quan điểm phê phán BCTH vì tập trungquá nhiều vào các nhà cung cấp vốn tài chính trong khi đó thì nhu cầu thông tin của cácbên liên quan khác cũng khá quan trọng Mặc dù tuyên bố của của IIRC cho rằng BCTHmang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan bao gồm nhân viên, khách hàng, nhà cungcấp, đối tác kinh doanh, nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, nhómnghiên cứu Vesty và cộng sự (2018) cho rằng thách thức của BCTH là việc công bố cácthông tin tác động đến môi trường, xã hội vượt xa hơn việc công bố quy trình tạo ra giátrị của tổ chức Hơn nữa, BCTH dựa trên chiến lược phát triển của DN chứ không phải

là áp lực của các bên liên quan Nhiều nhà quản lý cho rằng việc tích hợp các thông tintài chính và phi tài chính là rất khó khăn và mất nhiều thời gian, mặc dù họ cũng nhậnthức được lợi ích mang lại từ truyền thông đối với các nhà đầu tư, tài chính và các bênliên quan Thách thức nữa là việc công bố chi tiết nhiều thông tin của DN có thể gây bấtlợi cho các DN vì lý do cạnh tranh Bởi vậy, các DN cần phải xem xét cẩn thận mức độcông bố thông tin (CBTT) có thể chia sẻ công khai (ACCA, 2011)

Nghiên cứu của Eccles & Serafeim (2014) cho rằng việc thiếu các quy định chitiết trong việc lập BCTH dẫn đến khả năng việc so sánh thông tin được công bố trên cácbáo cáo giữa các tổ chức là thấp Theo Rensburg & Botha (2014) cho rằng các bên liênquan rất ít sử dụng các thông tin trên BCTH để đầu tư tài chính của họ BCTH chỉ đượcxem là thông tin bổ sung còn BCTC hàng năm của các DN vẫn là nền tảng chính đểcung cấp thông tin tài chính DN Một vấn đề khác là sợ trách nhiệm, tăng trách nhiệm

và các cam kết khi tổ chức công bố BCTH Áp lực về thời gian thu thập dữ liệu cũngkhiến cho việc lập BCTH gặp nhiều thách thức (Azam và cộng sự, 2011) Các quy trìnhbáo cáo và hệ thống thu thập dữ liệu hiện có phải được mở rộng để cho phép các công

ty có thể liên kết giữa hiệu suất tài chính và phi tài chính một cách hiệu quả và cách họđóng góp vào quá trình tạo giá trị (ACCA, 2011) Các bên liên quan kỳ vọng rằng tất cảcác thông tin quan trọng sẽ được báo cáo để đưa ra quyết định sáng suốt Nghiên cứucủa McNally & Maroun (2018) cho rằng một số tổ chức kháng cự áp dụng BCTH, hạnchế tiềm năng của báo cáo Họ quá phụ thuộc vào các quy tắc, cách tiếp cận hoặc cáchướng dẫn của báo cáo tuân thủ Đây là những ví dụ điển hình của việc phản đối chốnglại việc phổ biến BCTH và tư duy tích hợp

Flower (2015) chỉ trích khuôn khổ BCTH quốc tế của IIRC quá nhấn mạnh vào

“giá trị cho nhà đầu tư” chứ không phải “giá trị cho xã hội” và các công ty không cónghĩa vụ phải báo cáo các tác động bên ngoài công ty (như vấn đề môi trường) Tác giả

Trang 28

kết luận rằng khuôn khổ BCTH quốc tế ít tác động đến các hoạt động báo cáo của cáccông ty vì các quy định do Hội đồng BCTH của IIRC ban hành bị chi phối bởi các hiệphội nghề nghiệp kế toán và các công ty đa quốc gia Ví dụ, trang web IIRC, liệt kê bađối tác đột phá của mình là Hiệp hội Kế toán viên được chứng nhận (ACCA), Viện Kếtoán quản lý (CIMA) và Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), củng cố vững chắc cho lậpluận của Flower Lập luận của Flower (2015) đồng thuận với quan điểm của Reuter &Messner (2015), đã tổng kết các ý kiến phản hồi về khung hướng dẫn BCTH quốc tếthấy rằng ý kiến của người chuẩn bị báo cáo chỉ chiếm 21.1%; các chuyên gia về kếtoán bền vững 32.9% (IIRC, 2017) Chính vì vậy, không nghi ngờ các hiệp hội hànhnghề kế toán tiếp tục có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của BCTH.

Tóm lại, Sự phức tạp của thế giới kinh doanh đã dẫn đến nhu cầu ngày càng tăngcủa các bên liên quan đến các thông tin tài chính và phi tài chính của DN Không cónghi ngờ rằng BCTH là một công cụ nổi bật cho các tổ chức kinh doanh Công cụ nàycho phép tích hợp tất cả thông tin trên một báo cáo Lợi ích của việc áp dụng đã đượcrất nhiều các nhà nghiên cứu đánh giá Tuy nhiên, trong quá trình triển khai áp dụngkhông tránh được những chỉ trích, tranh luận của các nhà nghiên cứu về những hạn chếcủa BCTH Nhưng rõ ràng BCTH là bức tranh tổng thể của một công ty về hiệu quảhoạt động kinh doanh với trách nhiệm xã hội- môi trường của công ty và chiến lược pháttriển trong tương lại Báo cáo cũng là kênh hiệu quả nhất để tương tác với các bên liênquan, hỗ trợ các nhà quản lý ra các quyết định, cải thiện mô hình kinh doanh, chiến lượckinh doanh với quá trình tư duy tích hợp

1.2 Tổng quan nghiên cứu về lợi ích, thách thức của việc áp dụng Báo cáo tích hợp

1.2.1 Nghiên cứu về lợi ích của việc áp dụng Báo cáo tích hợp

Khi BCTH ở trong giai đoạn thử nghiệm thì lợi ích của nó chưa thực sự đượcđánh giá cao cả trong học thuật và trong thực tiễn Nhưng sau khi kết thúc giai đoạn thửnghiệm vào năm 2014, đến nay lợi ích của các tổ chức sớm áp dụng BCTH đã có kếtquả rõ ràng hơn Theo Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh (ACCA) năm 2017 đã công

bố những phản hồi ban đầu về lợi ích của BCTH Trong đó đã có nhiều bằng chứng chothấy rằng BCTH giúp các nhà quản trị có được sự hiểu biết tốt hơn về các mối quan hệ,các yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo ra giá trị của các tổ chức trong ngắn hạn, trung hạn

và dài hạn (IIRC, 2014) Tư duy tích hợp được áp dụng trong quá trình lập báo cáo cóthể khuyến khích các phòng ban cải thiện các quan hệ giao tiếp và có khả năng cải thiện

hệ thống kế toán quản trị nội bộ để cung cấp các thông tin có liên quan chính xác hơn,

Trang 29

thực hiện các quyết định có hiệu quả hơn Trong quá trình thu thập và phân tích thôngtin thì tư duy tích hợp có thể giúp các nhà quản trị phân bổ các nguồn lực hiệu quả hơn.

Để tạo ra được một BCTH, tổ chức nên áp dụng tư duy tích hợp ở các giai đoạn khácnhau của quy trình lập báo cáo Điều quan trọng của việc áp dụng tư duy tích hợp trongBCTH là tránh lãnh phí thời gian do sự trùng lắp thông tin hiện có trong việc thu thâp,đánh giá các loại vốn Nội dung của BCTH cho phép các tổ chức công bố quy trình tạo

ra giá trị của họ qua việc xem xét các chiến lược, quản trị công ty và hiệu suất hoạt động

rõ ràng hơn Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng các nhà quản trị có thể nhận diện các yếu tốảnh hưởng đến hoạt động trong tương lai và mức độ bền vững của chuỗi giá trị Hệthống BCTH đem lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan, họ tin vào khả năng của công

ty có thể tạo ra giá trị theo thời gian Những gì mà tất cả các bên liên quan mong muốnđược biết là những vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động của DN trong hiện tại và tương lai.Nhóm nghiên cứu của Eccles và Saltzman (2011) đã phân tích lợi ích của BCTH dướigóc độ của tổ chức bao gồm: i) lợi ích nội bộ- liên quan đến các quyết định phân bổnguồn lực nội bộ tốt hơn, sự tham gia nhiều hơn với các cổ đông và các bên liênquan, ii) lợi ích từ bên ngoài- khả năng đáp ứng được nhu cầu thông tin của các nhà đầu

tư về môi trường, xã hội và quản trị; giảm thiểu các rủi ro Luận án tập trung vào tổngquan các tài liệu liên quan đến lợi ích mang lại cho DN khi áp dụng BCTH từ hai khíacạnh chính là nội bộ và bên ngoài của DN

Thứ nhất, Lợi ích nội bộ cho các tổ chức khi áp dụng BCTH.

Lợi ích nội bộ là liên quan trực tiếp đến các tổ chức Khi tổ chức áp dụng BCTH

sẽ làm sáng tỏ được cách thức một tổ chức tạo ra giá trị và duy trì giá trị thông qua việccông bố các tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh đến môi trường và xã hội Việc

áp dụng BCTH giúp các bộ phận, các công ty nhỏ trong toàn tổ chức có thể hiểu đượcchiến lược mà mục tiêu chung của tổ chức như thế nào? Qua đó mọi người có thể hiểu

rõ hơn và đưa ra thước đo đúng đắn hơn để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức.Thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa các chỉ tiêu phi tài chính và tài chính, từ đó chủđộng hơn trong việc ra các quyết định tài chính Đồng thời, nhân viên cũng có thể nhìnthấy các nhà quản trị đưa ra các cam kết cải thiện hiện tại và trong tương lai đối vớinhân viên cũng như các đối tác bên ngoài như thế nào? Thông qua đó nhân viên có thểđánh giá được xem tổ chức có thực hiện được cam kết đó hay không? Đây cũng là nềntảng giao tiếp hiệu quả dẫn đến sự gắn bó và là động lực lớn hơn, hiệu quả hơn giữa tổchức với nhân viên BCTH tạo ra sự hiểu biết về việc tạo ra giá trị của tổ chức, nâng caonhận thức của HĐQT về mô hình, chiến lược hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện kếtnối giữa các phòng ban, tăng cường hợp tác nội bộ Điều này cho phép các tổ chức ápdụng được

Trang 30

tư duy tích hợp, giúp tăng cường quá trình ra các quyết định có liên quan đến phân bổcác nguồn lực (Frıas-Aceituno và cộng sự, 2013a) Quan điểm về tư duy tích hợp cònthể hiện trong việc giải quyết các lợi ích của tất cả các bên liên quan Ngoài ra, các nhàquản trị thông qua BCTH có thể cải thiện được hệ thống đánh giá và kiểm soát nội bộ,quản trị rủi ro tốt hơn Đồng thời, có thể cải thiện quy trình sản xuất hiệu quả hơn nhờphân bổ các nguồn lực hợp lý hơn.

Nghiên cứu của Lodhia (2015) đã nêu bật tính phức tạp của BCTH, nghiên cứu

đã xem xét dưới góc độ nội bộ tổ chức ảnh hưởng đến việc chuyển đổi sang BCTH củacác ngân hàng tư nhân tại Úc Tác giả cho rằng BCTH không đơn thuần chỉ là một báocáo mà đây là một cơ chế phức tạp liên quan đến một loạt các hoạt động nội bộ của tổchức Tác giả đã thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu và sử dụng phương pháp định tính

để phân tích các dữ liệu thu được, kết quả nghiên cứu cho rằng để quả trình chuyểnđổi áp dụng BCTH được dễ dàng thì vấn đề quan trọng đầu tiên là các DN phải xâydựng mô hình kinh doanh trong ngữ cảnh ESG (Environmental, Social andGovernance: Môi trường, Xã hội và Quản trị công ty) một cách rõ ràng Cụ thể báocáo của các tổ chức phải đảm bảo được mức độ tích hợp nội bộ cao hơn trong quá trìnhchuẩn bị lập BCTH Nói cách khác, các cấu trúc trong ngân hàng phải được cải thiệntheo hướng tư duy tích hợp trong các hoạt động nội bộ Tác giả nhấn mạnh BCTHkhông phải là giải pháp nhanh nhất cho tất cả các vấn đề ESG hiện có mà để BCTHcủa tổ chức được áp dụng thành công thì tổ chức cần phải hiểu biết được các vấn đề

cơ chế nội bộ của mình hiện nay như thế nào để cải thiện và củng cố theo các hướngdẫn của khuôn khổ BCTH quốc tế

Nghiên cứu Vitolla & Raimo (2018) cho rằng BCTH là một công cụ báo cáo mớicủa các DN Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu mô tả lợi ích tiềm năng của BCTH nhưngthực tế thì chưa nghiên cứu thực nghiệm Bởi vậy nhóm tác giả đã tiến hành phân tíchquá trình áp dụng BCTH và lợi ích của việc áp dụng thông qua nghiên cứu điển hình làtập đoàn Generali Group- đây là tập đoàn tham gia vào chương trình thí điểm áp dụngBCTH của IIRC Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc triển khai áp dụng BCTH đã

có những tác động tích cực cả bên trong lẫn bên ngoài nội bộ của tổ chức Nhân tố quantrọng để áp dụng BCTH thành công là cơ chế truyền thông nội bộ của tổ chức Để chuẩn

bị cho việc triển khai áp dụng BCTH thì sự hợp tác của các bộ phận, phòng ban, truyềnthông nhóm và quan hệ công chúng phải có sự tương tác, trao đổi các thông tin Trongtrường hợp này, tư duy tích hợp phải được áp dụng trong nội bộ từ khi triển khai ápdụng BCTH đến khi áp dụng chính thức phải thống nhất từ cấp cao nhất đến tất cả cácnhân viên nội bộ trong tập đoàn Năm 2013, Báo cáo hàng quý của Generali Groupgồm 110

Trang 31

trang, trong khi năm 2014 chỉ còn 15 trang, các thông tin cần thiết khác đã được đưavào các phương tiện truyền thông khác nhưng vẫn đảm bảo khả năng công bố thông tinmột cách toàn diện cho các bên liên quan Các nhà phân tích đặc biệt đánh giá cao sựngắn gọn và trọng yếu của cơ chế truyền thông nội bộ trong DN, thậm chí các báo cáocủa tập đoàn Generali còn được trích dẫn trong nhiều nghiên cứu về BCTH, về hiệu quảkinh tế tài chính khi áp dụng công cụ báo cáo mới này Tóm lại, rõ ràng là giá trị nội tạiBCTH của Generali là rất cao Mặc dù để đạt được sự thành công trong giai đoạn đầunày là một sự nỗ lực nhất quán, liên tục của cả một tập thể nhưng lợi ích ban đầu manglại cho thấy rằng lớn hơn rất nhiều những nỗ lực cần thiết để thực hiện nó BCTH có thểđược coi là một công cụ để truyền đạt được các mục tiêu, chiến lược và hiệu suất hoạtđộng của công ty.

Đánh giá các nghiên cứu thấy rằng một BCTH là kết nối sứ mệnh của công ty,quản trị doanh nghiệp, tài chính, xã hội và môi trường để giúp người dùng nội bộ và bênngoài thực hiện quyết định tốt hơn và cung cấp các thông tin minh bạch cao hơn chongười dùng để họ có thể đánh giá được các hoạt động của tổ chức trong ngắn, trung vàdài hạn (Schooley & English, 2015) là một xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhậptoàn cầu

Thứ hai, Lợi ích bên ngoài cho các công ty khi công bố BCTH

Bên cạnh lợi ích nội bộ của tổ chức, các đặc điểm bên ngoài cũng có tác độnglớn đến hành vi chấp nhận sự đổi mới của tổ chức Một môi trường sáng tạo và cạnhtranh có thể thúc đẩy việc ứng dụng các sáng kiến Hay là những áp lực từ kháchhàng từ thị trường, cổ đông sẽ mở ra nhiều cơ hội cho sự đổi mới mạnh mẽ về sảnphẩm cũng như công tác quản trị của tổ chức, công ty Đã có một số các cuộc khảosát về lợi ích của BCTH như (Ernst & Young, 2014) tổng kết rằng một trong nhữnglợi ich của việc áp dụng BCTH là giúp các bên liên quan đưa ra được các quyết địnhphân bổ nguồn vốn của họ Bên cạnh đó, nó cũng giúp các tổ chức chia sẻ các thôngtin trong phạm vi rộng hơn góp phần vào việc duy trì việc tạo ra giá trị trong tươnglại Ngoài ra, BCTH cũng giúp mô tả được chiến lược hoạt động và cách thức tạo ragiá trị của tổ chức Vì vậy, nó có thể cung cấp các thông tin minh bạch hơn cho cácđối tượng trong và ngoài DN Cuộc khảo sát của Black Sun's & IIRC (2014) đã chothấy 87% người được hỏi tin ưởng rằng họ hiểu rõ rằng hơn về chiến lược kinh doanhcủa tổ chức, 87% chất lượng dữ liệu công bố trên báo cáo được cải thiện, 79% ngườiđược hỏi tin rằng mô hình kinh doanh của các tổ chức áp dụng BCTH được duy trìlâu dài hơn Lợi ích của việc áp dụng BCTH tại các DN có thể tổng hợp trên một sốkhía cạnh lợi ích sau đây:

Trang 32

- BCTH sẽ minh bạch hơn

Theo Krzus (2011) có 4 lợi ích quan trọng trong việc áp dụng BCTH nhằm cảithiện các vấn đề hạn chế của báo cáo hiện nay bao gồm: minh bạch hơn, với sự tham gia

của các nhà quản trị ngày càng nhiều hơn Các tổ chức thông qua việc áp dụng BCTH

mong muốn tạo ra một báo cáo minh bạch hơn, thể hiện được quá trình tổ chức đó tạo

ra giá trị và duy trì giá trị trong tương lai Trong cuộc khảo sát gần đây của Viện Kế toánMalaysia (2016) cho thấy rằng 5.4% người được hỏi cho rằng việc áp dụng BCTH sẽlàm tăng mức độ minh bạch cũng như cải thiện được báo cáo của DN (trích từ nghiêncứu Joshi và cộng sự (2018)) Đồng quan điểm trên là các nghiên cứu (Steyn, 2014;PwC, 2014; KPMG, 2016; Nguyễn Thanh Hiếu, 2017; Vitolla & Raimo , 2018; Joshi

và cộng sự, 2018) BCTH nhằm mục đích cung cấp thông tin toàn diện diện về tài chính,quản trị, chiến lược và triển vọng của DN trong bối cảnh kinh doanh, môi trường, xã hộinơi DN hoạt động

- BCTH sẽ tin cậy và dễ hiểu hơn với nhà đầu tư

Việc các DN áp dụng BCTH sẽ giúp cho các nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện vềcác hoạt động của DN trên nhiều khía cạnh khác nhau như tài chính, quản trị, tráchnhiệm xã hội, môi trường Qua đó, nhà đầu tư có thể tiếp cận, xử lý, phân tích thông tinchính xác và hiệu quả hơn Những DN thực hiện tốt công bố BCTH toàn diện sẽ giúptăng cường tính minh bạch và mức độ tin cậy của thông tin cung cấp cho nhà đầu tư, từ

đó sẽ có cơ hội thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư trong nước cũng như quốc

tế (Steyn, 2014; Eccles và Saltzman, 2011; Joshi và cộng sự, 2018) BCTH cho phép các

DN tích hợp thông tin được lượng hóa đến các chỉ tiêu cụ thể một cách đầy đủ thay vìcác DN báo cáo theo các cách thức truyền thống thì BCTH giúp cho người đọc có cáinhìn trực quan và rõ ràng nhất bằng cách trình bày dưới các dạng đồ thị, so sánh tìnhhình tài chính qua các năm nhằm thấy rõ sự thay đổi qua các thời kỳ Hơn nữa, việc sosánh khiến cho người đọc dù không có kiến thức cơ bản về kế toán hay tài chính đều cóthể hiểu được (Haji & Hossain , 2016; Vitolla & Raimo , 2018; Joshi và cộng sự, 2018)

- BCTH dễ so sánh được với các DN toàn cầu trong cùng lĩnh vực kinh doanh

Jensen và Berg (2012) đã nghiên cứu sự tác động sự khác biệt ở cấp quốc gia đếnviệc áp dụng BCTH Nhóm tác giả đã sử dụng một mẫu gồm 309 công ty (trong đó 204BCTH và 105 BCPTBV) từ 43 quốc gia và nhóm các công ty này theo một số tiêu chí

ở cấp quốc gia Về hệ thống chính trị được đo bằng hệ thống luật pháp thì họ thấy rằngcác cổ đông/ các bên liên quan không ảnh hưởng đến quyết định áp dụng BCTH Sau

đó nhóm tác giả tập trung vào lợi ích về tính so sánh của các thông tin kế toán, bao gồm

Trang 33

cả việc so sánh ở mỗi quốc gia và cả giữa các quốc gia khác với nhau Kết quả chỉ rarằng các DN áp dụng BCTH sẽ đem lại việc so sánh giữa các BCTH khác nhau trongcùng ngành được dễ dàng hơn.

- Tiếp cận thị trường vốn quốc tế dễ dàng hơn: Kết quả khảo sát của Black Sun's

& IIRC (2014) thấy rằng 68% số người được hỏi tin rằng việc áp dụng BCTH sẽ giúp

DN dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn quốc tế hơn bởi vì khi họ hiểu rõ hơn về rủi

ro, cơ hội, mô hình kinh doanh cũng chiến lược kinh doanh của tổ chức trong ngắn,trung và dài hạn Việc lập BCTH thể hiện rằng các tổ chức này đã tuân thủ theo các quyđịnh, chuẩn mực về công bố thông tin theo các tiêu chí nhất định của quốc tế Do đó,tạo được sự tin cậy cho các nhà đầu tư quốc tế (Dumitru và cộng sự, 2015), giúp cho

DN có nhiều cơ hội để tiếp cận được các nguồn vốn khác nhau

- Tăng cường cơ hội cho DN tiếp cận quan hệ với bên cho vay

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, đánh dấu mốc quan trọng khi mộtloạt các DN bị phá sản khi công bố các BCTC không chính xác Việc các DN thúc đẩycác hoạt động áp dụng BCTH theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững là nhu cầu của cácbên liên quan đặt biệt là các nhà cung cấp vốn Các bên liên quan ngày càng yêu cầu caohơn đối với mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình của DN Bên cạnh đó người tacũng nhận ra rằng sự bền vững của môi trường và bình đẳng xã hội và việc công bốBCTH có thể giúp giải quyết những vấn đề này (Amran và Haniffa, 2011; Eccles vàSaltzman, 2011; Stent và Dowler, 2015)

-Thúc đẩy tư duy tích hợp, phá vỡ tư duy đơn lẻ trong DN

Theo Dumay và cộng sự (2018) để áp dụng BCTH thành công thì các nhà quảntrị cấp cao thay đổi tư duy thể hiện sự cam kết cao trong việc triển khai áp dụng tư duytích hợp, ra quyết định tích hợp và thu thập thông tin, dữ liệu phục vụ thực hiện BCTHtrong toàn bộ doanh nghiệp Việc áp dụng tư duy tích hợp trong quá trình lập báo cáo sẽlàm giảm sự trùng lắp của công việc, kết nối giữa các phòng ban, bộ phận, thúc đẩy việctạo ra giá trị trong ngắn, trung và dài hạn Do đó, theo IIRC tư duy tích hợp là nền tảng,cốt lõi của việc áp dụng BCTH

- Góp phần thúc đẩy quá trình hội tụ quốc tế

Eccles và Saltzman (2011) cho rằng việc áp dụng BCTH của các DN ngoài việcđáp ứng chính nhu cầu của các nhà đầu tư chính thống, những người mong muốn cácthông tin, các chỉ sổ bền vững và các dữ liệu về báo cáo thông tin phi tài chính đượcchính xác thì đây cũng là làn sóng để thúc đẩy quá trình hội tụ quốc tế đáp ứng đượcnhu cầu của thị trường chứng khoán Đồng quan điểm là nghiên cứu của Vitolla &

Trang 34

Raimo (2018) cho rằng quyết định áp dụng BCTH là một bước tiến đột phá hướng tới

sự phát triển bền vững và minh bạch thông tin BCTH không chỉ đơn giản là sự pháttriển của một loại hình báo cáo mới mà là kết quả của một hành trình dài để hướng tớiviệc hội nhập kinh doanh trên toàn cầu (Vitolla và cộng sự, 2017)

- Góp phần nâng cao uy tín quốc gia trong việc tuân thủ chuẩn mực quốc tế

Trong quá trình hội nhập và nền kinh tế toàn cầu Việc các DN lập BCTH thểhiện hình ảnh của một tổ chức ra quốc tế vì nó đã tuân thủ theo các quy định, tiêu chuẩncủa chuẩn mực BCTH quốc tế Do đó, việc các DN áp dụng BCTH góp phần nâng caohình ảnh uy tín quốc gia nói chung và hình ảnh của DN nói riêng trong việc tuân thủ cácchuẩn mực quốc tế

Qua các nghiên cứu trên thế giới về lợi ích của việc áp dụng BCTH thấy rằngviệc áp dụng đã mang lại rất nhiều lợi ích khác nhau cho DN như: Lợi ích của các tổchức áp dụng BCTH đã được ghi nhận chính là giúp DN cải thiện được chất lượngthông tin công bố trên các báo cáo của DN mình như tính minh bạch, tin cậy, tính kịpthời, dễ hiểu, dễ so sánh được Đồng thời, BCTH sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho cácnhà quản lý của công ty để giúp họ lập kế hoạch, lập ngân sách và thực hiện các chiếnlược dẫn đến việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả, điều này sẽ giúp kiểm soát hoặc giảmchi phí cho các tổ chức (James, 2013; Vitolla & Raimo , 2018) BCTH, tức là đại diệncho các thông tin tài chính và phi tài chính của các tổ chức trong một báo cáo Nó khôngchỉ là việc kết hợp BCTC, BCTN và BCPTBV vào một báo cáo mà còn có ý nghĩa thực

sự đó là sự liên giữa kết chiến lược kinh doanh với chiến lược phát triển bền vững Nógiúp các tổ chức và các bên liên quan xác định được các khu vực tài chính không ưutiên, duy trì hiệu quả kinh tế, chiến lược của công ty trong việc cải thiện nguồn nhân lực

và vai trò của công ty trong việc hỗ trợ môi trường Một trong những mục tiêu củaBCTH là cải thiện chất lượng thông tin cho các bên liên quan Trong bối cảnh này, chấtlượng của thông tin sẽ có chất lượng hơn và điều này rất quan trọng trong quá trình raquyết định của các bên liên quan (đặc biệt là trong thị trường vốn) để đạt được hiệu quả

và xây dựng các quyết định phù hợp trong phân bổ vốn Tất cả những lợi ích này manglại khi DN công bố BCTH rộng rãi ra cộng đồng

1.2.2 Nghiên cứu về thách thức của việc áp dụng Báo cáo tích hợp

BCTH là một công cụ báo cáo mới hiện nay nhưng thực tế vẫn có nhiều quanđiểm tranh luận, hoài nghi liệu rằng BCTH có thể đạt được mục tiêu của IIRC đưa ra là

“phân bổ nguồn vốn hiệu quả, ổn định tài chính và phát triển bền vững” (IIRC, 2013,trang 2) Trong vài thập kỷ qua thì các báo cáo về xã hội và môi trường vẫn không phải

Trang 35

là báo cáo chủ đạo trong giới kinh doanh Do đó, BCTH là một báo cáo phát triển hơnđòi hỏi các tổ chức phải có chiến lược và kỹ năng tiên tiến, nên báo cáo này sẽ đối mặtvới nhiều rào cản từ các tổ chức khi áp dụng nó Một trong những thách thức thực tếchính mà các tổ chức phải đối mặt là việc chuyển đổi các báo cáo truyền thống sang mộthình thức báo cáo mới với số lượng thông tin rộng hơn, chi tiết hơn cho câu chuyệnxuyên suốt trong quá trình tạo ra giá trị của tổ chức một cách rõ ràng và dễ hiểu NhữngBCTH đầu tiên vào năm 2010 được lập có hơn 300 trang liên quan đến việc quản lý rủi

ro và BCTC theo IFRS Nhưng hiện nay báo cáo này đã được rút ngắn, xúc tích hơn vàtập trung vào các vấn đề trọng yếu hơn Thách thức của việc áp dụng BCTH tại các DN

có thể tổng hợp trên một số khía cạnh sau đây:

- Áp dụng BCTH lần đầu sẽ tốn kém chi phí (đào tạo nhân viên, thuê chuyên gia

tư vấn) Trong nghiên cứu của Joshi và cộng sự (2018) cho rằng đối với các DN lần đầu

áp dụng BCTH, vai trò của kế toán trong quá trình lập báo cáo đã thay đổi, báo cáo theo

mô hình BCTH đòi hỏi phải có sự kết hợp của các bộ phận, các phòng ban và cácchuyên gia tư vấn, ngoài ra còn yêu cầu các thành viên trong mỗi nhóm phải có sự hiểubiết về BCTH Tất cả các yếu đó sẽ khiến DN phát sinh thêm chi phí đáng kể Tuy vậy,khi DN áp dụng BCTH sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho DN, cải thiện được mô hìnhkinh doanh, để tăng cường quản trị chiến lược của DN mới là điều quan trọng

- BCTH phức tạp, các quy định chặt chẽ về công bố thông tin

BCTH không có khuôn mẫu chung và không dựa trên nguyên tắc tuân thủ Do

đó, mỗi một báo cáo được xây dựng dựa trên mô hình hoạt động kinh doanh của chínhcác tổ chức Vì vậy đã khiến cho nhiều tổ chức không chắc chắn về cấu trúc của BCTH.Bên cạnh đó trong khuôn khổ BCTH quốc tế chưa đưa ra những hướng dẫn chi tiết và

cụ thể về các khái niệm và nguyên tắc bởi vì các nhân lực kế toán trong các tổ chức đãquen với việc tuân thủ với các tiêu chuẩn của BCTC nên họ phải đối mặt với rất nhiềuthách thức khi áp dụng BCTH như: các loại vốn trong BCTH khó xác định; Các tổ chứccũng gặp khó khăn để truyền đạt cách thức tạo ra giá trị của tổ chức trong quá trình hoạtđộng kinh doanh; Họ cũng khó chỉ ra được cách thức phân bổ nguồn lực như thế nàotrong quá trình xây dựng các chiến lược trong tương lai của tổ chức Các BCTC hiệnnay thiếu sự kết nối với các nhà đầu tư và thường tách biệt nhau nên rất khó có được sựthông tin phản hồi vì hệ thống quản lý và quy trình lập báo cáo hiện tại không hỗ cácliên kết này Vitolla & Raimo (2018) cho rằng BCTH là một công cụ báo cáo mới của

DN công bố cả thông tin tài chính và phi tài chính Mặc dung mô hình báo cáo nàymang lại nhiều lợi ích tiềm năng cho các DN áp dụng nhưng thực tế thì nó chưa được ápdụng phổ biến Một trong những lý do thách thức của sự khuếch tán có liên quanđến việc

Trang 36

chưa có bằng chứng thực nghiệm về những lợi ích này đối với các DN áp dụng, trongkhi đó các quy định về việc công bố thông tin của BCTH rất chặt chẽ và phức tạp Đòihỏi DN áp dụng phải tuân thủ theo đúng khuôn khổ BCTH quốc tế.

- Khuôn khổ BCTH quốc tế chưa hướng dẫn chi tiết lập BCTH

Nghiên cứu của Cheng và cộng sự (2014) cho rằng việc khuôn khổ BCTH quốc

tế đưa ra 6 loại vốn và sự vận động của các loại vốn trong quá trình tạo ra giá trị của tổchức mà không đưa ra hướng dẫn chi tiết cách thức để đo lường 6 loại vốn này như thếnào? Đây cũng là một trong những thách thức mà các DN áp dụng BCTH đang phải đốimặt Ngoài ra, nhóm tác giả còn phê phán BCTH tập trung nhiều vào việc thu hút vốnđầu tư do vậy làm tổn hại đến việc cung cấp thông tin cho các đối tượng liên quan khác.Đồng quan điểm trên là nghiên cứu của Dumay và cộng sự (2017) đã tổng hợp nhữngthách thức được phản hồi từ tất cả các bên liên quan về khuôn khổ BCTH quốc tế về cácrào cản đối với việc triển khai áp dụng, yêu cầu hỗ trợ, khuyến khích để việc lập BCTHđược thành công hơn nữa Trong đó, có nhiều ý kiến phản hồi về IIRC cần phải đưa racác hướng dẫn chi tiết hơn về việc áp dụng BCTH

- Lo sợ tiết lộ nhiều thông tin chi tiết về giá cả, thị trường, chiến lược kinh doanh.

Nghiên cứu của Burritt (2012) cũng đưa ra nghi vấn liệu rằng các khuôn khổBCTH quốc tế cung cấp đã đảm bảo được các bên có lợi ích liên quan của các doanhnghiệp hay chưa? Việc BCTH của các tổ chức tiết lộ nhiều thông tin chi tiết về giá cả,thị trường, chiến lược kinh doanh có ảnh hưởng đến hoạt động cạnh tranh của DN haykhông? Bên cạnh đó, Frıas-Aceituno và cộng sự (2012) đã phát hiện ra các công ty độcquyền ít có khả năng lập các BCTH, họ muốn bảo vệ lợi ích của họ và chống lại côngkhai sử dụng các thông tin Trên thực tế, Khung hướng dẫn của IIRC (2013) cho phépcác tổ chức chỉ cần công bố vắn tắt, không qua chi tiết đối với các thông tin nhạy cảmảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của DN Một thách thức nữa của các tổ chức khi công

bố các thông tin phi tài chính là rất khó đo lường các giá trị phi tài chính và khó để đánhgiá tác động của hoạt động kinh doanh lên môi trường và điều này các tổ chức thường

là không công bố Độ tin cậy của các thông tin phi tài chính là không cao vì chưa đượccác tổ chức đảm bảo

Tóm lại, qua các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng việc áp dụng BCTH sẽtác động ở những mức độ khác nhau với mỗi nền kinh tế Những lợi ích và thách thứccủa việc áp dụng BCTH cũng được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau Với xu thế hộinhập kế toán, thì DN cần phải cân nhắc, đánh giá các lợi ích của việc áp dụng BCTH so

Trang 37

với các thách thức mà họ phải đối mặt Việc so sánh này giúp quá trình áp dụng BCTHđược nhanh hơn chóng thành công hơn.

1.3 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo cáo tích hợp

Bên cạnh các nghiên cứu về lợi ích và thách thức khi áp dụng BCTH như trên thìcũng có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH Những nghiêncứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH có thể chia ra thành hai hướng nghiên

cứu chính Thứ nhất, các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng BCTH nghiên cứu trên phạm vi quốc gia Thứ hai, các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng BCTH nghiên cứu

trong phạm vi DN Trong nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến các nhân tố ảnh hưởngtrong phạm vi DN như quy mô DN, khả năng sinh lời, sở hữu của HĐQT, đầu tư củanhà đầu tư nước ngoài, áp lực của các bên liên quan, đã được rất nhiều các nghiên cứutrên thế giới chứng minh là có ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DN

Nhóm nghiên cứu Galani và cộng sự (2011) đã nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng tự nguyện công bố thông tin phi tài chính trên các BCTN, BCPTBV của 100công ty có lợi nhuận cao tại Hy Lạp Nhóm nghiên cứu đã đưa ra ba nhân tố ảnh hưởng

là quy mô DN, Khả năng sinh lời, hoạt động niêm yết Nhóm tác giả sử dụng mô hìnhhồi quy tuyến tính đa biến để kiểm tra mối quan hệ này và mức độ công bố thông tintrong các báo cáo hàng năm của các DN Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các DN

có quy mô lớn thì sẵn sàng công bố nhiều thông tin về môi trường vì họ chịu nhiều áplực từ các bên liên quan

Nghiên cứu Durak (2013) xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụngBCTH thông qua tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới Các yếu tố này được phân loạithành hai nhóm chính là trên phạm vi quốc gia và phạm vi DN Kết quả từ nghiên cứucho thấy rằng các nhân tố ảnh hưởng ở phạm vi quốc gia là hệ thống chính trị, tài chính,văn hóa, giáo dục và hệ thống kinh tế là các yếu tố chính Trong khi đó, ở phạm vi DNthì các nhân tố ảnh hưởng là cơ cấu sở hữu, đặc điểm HĐQT, quy mô DN, khả năngsinh lời, tăng trưởng kinh tế, ngành nghề kinh doanh Tác giả cho rằng các DN có quy

mô lớn, khả năng sinh lời cao cùng với cơ cấu quản trị DN tốt thì dễ dàng tiếp cận ápdụng BCTH

Frıas-Aceituno và cộng sự (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc ápdụng BCTH Nhóm tác giả sử dụng một mẫu 1.590 công ty (3.042 quan sát) từ 20 quốcgia trong giai đoạn 2008-2010 lấy mẫu từ Forbes Global 2000 (2000 công ty niêm yếtlớn nhất trên thế giới) BCTH được chọn từ khuyến nghị IIRC (2011) và Hiệp hội Kế

Trang 38

toán và Quản trị kinh doanh Tây Ban Nha (AECA) năm 2011 Nhóm nghiên cứu đã đưa

ra năm nhân tố ảnh hưởng đến BCTH: Quy mô DN; khả năng sinh lời; ngành nghề kinhdoanh; sự tập trung của ngành; tăng trưởng kinh doanh Với biến phụ thuộc với điểm số0= BCTC; 1= BCPTBV; 2= BCTH Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quylogistic được áp dụng cho dữ liệu bảng Kết quả nghiên cứu cho rằng các công ty độcquyền ít có khả năng áp dụng BCTH, Hơn nữa, nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữaquy mô DN và khả năng sinh lời có tác động tích cực đến việc áp dụng BCTH Nhân tốtăng trưởng kinh doanh và ngành nghề kinh doanh không có ý nghĩa thống kê Nhómtác giả cũng đề xuất sớm ban hành các tiêu chuẩn BCTH quốc tế dựa vào các khuyếnnghị của GRI Việc sớm xây dựng các tiêu chuẩn này sẽ thúc đẩy môi trường kinh doanhbền vững nhằm nâng cao được tính minh bạch thông tin của các tổ chức

Frıas-Aceituno và cộng sự (2013a) sử dụng một mẫu lấy từ Forbes 2000, nghiêncứu ảnh hưởng của hệ thống luật pháp thông qua việc áp dụng BCTH Nghiên cứu đưa

ra hai giả thuyết: (1) các công ty ở các nước có hệ thống pháp luật dân sự thì có nhiềukhả năng áp dụng BCTH và (2) các công ty đặt tại các quốc gia có các quy định thực thichặt chẽ có nhiều khả năng áp dụng BCTH Mẫu cuối cùng là 2.129 quan sát của 750công ty từ 20 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 2008-2010 Nhóm tác giả sử dụng

mô hình kinh tế lượng phân tích nhân tố như các BCTH là biến phụ thuộc và một sốbiến độc lập/ biến giả bao gồm bản chất của hệ thống pháp luật và thực thi các quy định.Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty tại các quốc gia có luật dân sự thực thi cơ chếpháp luật mạnh thì quan tâm nhiều đến việc công bố BCTH Hơn nữa, quy mô, khả năngsinh lời và thực thi pháp luật của các công ty là nhân tố tích cực liên quan đến áp dụngBCTH Những phát hiện của nhóm nghiên cứu góp phần bổ sung vào lý thuyết thể chế,

nó cho thấy rằng áp lực từ bên ngoài ảnh hưởng đến các quyết định bên trong của các tổchức để họ tiết lộ các thông tin của tổ chức Bên cạnh đó nghiên cứu thấy rằng mức độgắn kết của một công ty trong một quốc gia có hệ thống pháp luật mạnh có ảnh hưởngđến mức độ công bố thông tin Những áp lực về thể chế đặc biệt ảnh hưởng đến cáccông ty có lợi nhuận cao hơn nhờ công bố thông tin minh bạch hơn Hạn chế của nghiêncứu này chỉ đề cập đến khoảng thời gian 3 năm và một mẫu không cân bằng giữa cácquốc gia cụ thể như Nhật Bản (25%) nhưng đây lại là nước có thực thi pháp luật mạnh,hơn nữa chỉ có 3% các công ty được chọn mẫu là công bố BCTH, tỷ lệ rất thấp này cóthể làm giảm đáng kể kết quả thu được Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn bỏ qua áp lựccủa các bên liên quan trong việc công bố, soạn thảo BCTH, rủi ro kinh doanh tiềm ẩn,các yếu tố quan trọng khác

Trang 39

Frias-Aceituno và cộng sự (2013b) nghiên cứu vai trò của HĐQT trong việc ápdụng BCTH Nhóm nghiên cứu đã lấy mẫu là 1.575 quan sát từ 568 công ty đa quốc giaphi tài chính hàng đầu của 15 quốc gia trong giai đoạn 2008-2010 Phần lớn các công tynày là đến từ Hoa kỳ (52,7%), Anh (10,1%) Nghiên cứu tập trung vào sự ảnh hưởngcủa HĐQT của các công ty này đến việc áp dụng BCTH Nhóm tác giả đã đưa ra cácnhân tố ảnh hưởng bao gồm: Quy mô của HĐQT; sự độc lập của HĐQT; hoạt động củaHĐQT; sự đa dạng của HĐQT Với biến phụ thuộc với điểm số 0= BCTC; 1= BCPTBV;2= BCTH Đồng thời, nhóm tác giả sử dụng một số biến kiểm soát như Quy mô DN;khả năng sinh lời; tăng trưởng kinh tế và ngành nghề kinh doanh Nghiên cứu đã sửdụng hồi quy tobit áp dụng cho dữ liệu bảng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nhân tốQuy mô và sự đa dạng của HĐQT có tác động tích cực đến việc áp dụng BCTH; Sự độclập của HĐQT càng lớn thì càng không ủng hộ đến áp dụng BCTH Các biến số Quy

mô DN; tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến áp dụng BCTH; Khả năng sinh lời

và ngành nghề kinh doanh không tác động

Nhóm nghiên cứu Setia và cộng sự (2015) đã sử dụng lý thuyết hợp pháp để phântích nội dung BCTN, BCTH của 25 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoánJohannesburg (JSE) trong các năm 2009/2010 và 2011/2012 Nhóm nghiên cứu cho rằngBCTH là chìa khóa tốt để thu hút hiệu quả trên thị trường vốn và Báo cáo cũng là sự kếtnối giữa DN và sự kỳ vọng của các bên liên quan Các bên liên quan có thể đánh giáhoặc kiểm tra hiệu suất hoạt động của DN thông qua các cam kết của các nhà quản trị

đã công bố trên các BCTH của họ

Nhóm nghiên cứu Stent & Dowler (2015) đã đưa ra một danh sách kiểm tra đánhgiá các báo cáo dựa trên yêu cầu của BCTH và sử dụng nó để đánh giá khoảng cáchgiữa quy trình báo cáo hiện tại với việc thực hành áp dụng BCTH tại New Zealand đượccông bố công khai trên Web vào năm 2011 Mặc dù tại thời điểm đó chưa có tổ chức nàotại New Zealand áp dụng BCTH đầy đủ nhưng các báo cáo được kiểm tra đều đã đápứng được 70% đến 87% yêu cầu của BCTH Kết quả của nghiên cứu thấy rằng các quytrình báo cáo hiện tại thiếu sự tích hợp, thiếu sự giám sát, quan tâm đến sự phát triểntrong tương lai theo yêu cầu BCTH Sự thiếu hụt này có thể là yếu tố quan trọng đối với

sự phát triển bền vững và ổn định về tài chính của các tổ chức Nghiên cứu này cóthể là cơ sở lý thuyết để đánh giá khuôn khổ BCTH và có thể được sử dụng giúp cácnhà hoạch định chính sách, người xây dựng chuẩn mực, các tổ chức muốn đánh giá tiềmnăng, yêu cầu của BCTH và để áp dụng BCTH cho các tổ chức

Nhóm nghiên cứu Robertson & Samy (2015) đã sử dụng các đặc tính của lýthuyết khuếch tán sự đổi mới (Difusion of Innovations- DOI) của Roger để tìm hiểu các

Trang 40

nhân tố ảnh hưởng đến việc khuếch tán áp dụng BCTH tại Anh Nhóm tác giả lấy mẫu

là 22 BCTC và BCPTBV của FTSE 100 (100 công ty có giá trị vốn hóa lớn nhất đượcniêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn) xây dựng một tam giác hiện tượng

để tiếp cận nghiên cứu, tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu với 10 nhà quản lý cấp cao đểxác định nhận thức của họ về BCPTBV và BCTH Nhóm tác giả đã phân tích nội dungcủa các BCTC hoặc BCPTBV năm 2012 của FTSE 100 để so sánh đánh giá với các tiêuchí của IIRC nhằm đánh giá sự tương thích của các báo cáo này so với các tiêu chí củaIIRC Cách tiếp cận này sẽ đưa ra được cái nhìn khái quát về sự liên kết, tuân thủ đốivới các yêu cầu của khung quốc tế chứ không phân tích chi tiết do thực tế thời điểm nàykhung hướng dẫn của IIRC chưa chính thức được công bố Kết quả nghiên cứu đã xácđịnh được nhân tố các nhà quản trị cấp cao, nhân tố truyền thông nội bộ ảnh hưởng đếnviệc áp dụng BCTH Hạn chế của nghiên cứu dựa trên một mẫu nhỏ báo cáo của các tổchức trong các ngành để cung cấp một cái nhìn về việc áp dụng các báo cáo hiện nay,

nó không đại diện được cho toàn bộ các tổ chức

Nghiên cứu của Gunarathne & Senaratne (2017) nghiên cứu BCTH như là mộtcông cụ quản lý mới nhằm tại SriLanka, một nước đang phát triển tại Nam Á Nghiêncứu trải qua 2 bước cơ bản Thứ nhất, là đánh giá sự tương thích của các Báo cáo hiệntại trên thị trường chứng khoán tại SriLanka với các tiêu chuẩn của BCTH quốc tế, Thứhai, nhóm tác giả tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia để đánh giá các nhân tố ảnhhưởng đến việc khuếch tán áp dụng BCTH dựa trên lý thuyết khuếch tán sự đổi mới củaRogers (2003) để phân tích nội dung các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc Kết quả nghiêncứu cho thấy rằng trong giai đoạn đầu tiên của quá trình áp dụng thì nhân tố nhận thứccủa các nhà quản trị cấp cao là yếu tố quan trọng, các DN áp dụng sớm BCTH đượcđịnh hướng bởi quan điểm lựa chọn việc phát triển bền vững và hiệu quả Bên cạnh đótrong quá trình chuyển đổi từ các báo cáo truyền thống sang BCTH thì nhân tố truyềnthông nội bộ đóng một vai trọng khá quan trọng trong việc lan truyền, triển khai những

ý tưởng, kế hoạch mới tới toàn thể các bộ phận, phòng ban để thực hiện được thànhcông Đồng quan điểm với nhóm tác giả là nghiên cứu (Robertson & Samy, 2015)

Nghiên cứu của Kurniawan (2018) đã sử dụng lý thuyết các bên liên quan và lýthuyết hợp pháp để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng BCTH củacác công ty niêm yết trên thị trường Indonesia Tác giả đã lấy mẫu là BCTN, BCPTBVcủa 40 công ty niêm yết, thời gian quan sát trong ba năm tài chính từ 2014-2016 vớitổng quan sát là 120 quan sát Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu thứ cấp là các BCTN,BCPTBV của các DN để tiến hành phân tích các nhân tố Quy mô DN, khả năng sinhlời, mức độ sở hữu của nhà quản lý, mức độ sở hữu của các tổ chức, áp lực của các bên

Ngày đăng: 22/12/2022, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abeysekera, I. (2013), “A template for integrated reporting”, Journal of Intellectual Capital, 14 (2), 227-245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A template for integrated reporting”, "Journal of Intellectual Capital
Tác giả: Abeysekera, I
Năm: 2013
2. ACCA. (2011), Adoption of integrated reporting by the ASX 50. Accessed August 18, 2018 from:http://www.accaglobal.com/content/dam/acca/global/PDFtechnical/sustainability-reporting/tech-tp-air2.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adoption of integrated reporting by the ASX 50
Tác giả: ACCA
Năm: 2011
3. Adams, C. A., Hill, W. Y., & Roberts, C. B. (1998), “Corporate social reporting practices in Western Europe: Legitimating corporate behaviour?”, British Accounting Review, 30 (1), 1–21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate social reportingpractices in Western Europe: Legitimating corporate behaviour?”, "BritishAccounting Review
Tác giả: Adams, C. A., Hill, W. Y., & Roberts, C. B
Năm: 1998
4. Adams, S., & Simnett, S. (2011), “Integrated reporting: an opportunity for Australia’s not-for-profit sector”, Australian Accounting Review, 21 (3), 292-301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Integrated reporting: an opportunity forAustralia’s not-for-profit sector”, "Australian Accounting Review
Tác giả: Adams, S., & Simnett, S
Năm: 2011
5. Ali, W., & Rizwan, M. (2013), “Factors Influencing Corporate Social and Environmental Disclosure (CSED) Practices in the Developing Countries: An Institutional Theoretical Perspective”, International Journal of Asian Social Science, 3(3), 590-609 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors Influencing Corporate Social andEnvironmental Disclosure (CSED) Practices in the Developing Countries: AnInstitutional Theoretical Perspective”, "International Journal of Asian SocialScience, 3(3)
Tác giả: Ali, W., & Rizwan, M
Năm: 2013
6. Al-Razeen, A., & Karbhari, Y. (2004), “Ineaction between compulsory and voluntary disclosure in Saudi Arabian corporate annual reports”, Managerial Auditing Journal, 19(3):351-360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ineaction between compulsory andvoluntary disclosure in Saudi Arabian corporate annual reports”, "ManagerialAuditing Journal
Tác giả: Al-Razeen, A., & Karbhari, Y
Năm: 2004
7. Amran, A., & Haniffa, R. (2011), “Evidence in development of sustainability reporting: a case of a developing country”, Business Strategy and the Environment, 20 (3), 141-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evidence in development of sustainabilityreporting: a case of a developing country”, "Business Strategy and theEnvironment, 20
Tác giả: Amran, A., & Haniffa, R
Năm: 2011
8. Arrow, K. J. (1971), Some Models of Racial Discrimination in the Labor Market.The Rand Corporation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arrow, K. J. (1971), "Some Models of Racial Discrimination in the Labor Market
Tác giả: Arrow, K. J
Năm: 1971
9. Arvidsson, S. (2011), “Disclosure of non‐financial information in the annual report: A management‐team perspective”, Journal of Intellectual Capital, 12(2), 277-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disclosure of non‐financial information in the annualreport: A management‐team perspective”, "Journal of Intellectual Capital, 12(2)
Tác giả: Arvidsson, S
Năm: 2011
10. Azam, S. M., Warraich, K. M., & Awan, S. H. (2011), “One report: Bringing change in corporate reporting through integration of financial and nonfinancial performance disclosure”, International Journal of Accounting & Financial Reporting, 1(1), 50-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: One report: Bringingchange in corporate reporting through integration of financial and nonfinancialperformance disclosure”, "International Journal of Accounting & FinancialReporting, 1
Tác giả: Azam, S. M., Warraich, K. M., & Awan, S. H
Năm: 2011
11. Baiman , S., & Verrecchia , R. E. (1996), “The Relation Among Capital Markets, Financial Disclosure, Production Efficiency, and Insider Trading”, Journal of Accounting Research, 34 (1), 1-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Relation Among Capital Markets,Financial Disclosure, Production Efficiency, and Insider Trading”, "Journal ofAccounting Research, 34
Tác giả: Baiman , S., & Verrecchia , R. E
Năm: 1996
12. Barnett, M. (2007), “Stakeholder influence capacity and the variability of financial returns to corporate social responsibility”, Academy of Management Review, 32 (3), 794–816 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stakeholder influence capacity and the variability of financialreturns to corporate social responsibility”, "Academy of Management Review
Tác giả: Barnett, M
Năm: 2007
13. Berndt, T., Bilolo, C., & Muller, L. (2014), “The Future of Integrated Reporting Analysis and Recommendations”, 4th Annual International Conference on Accounting and Finance (AF 2014) (pp. 195-206), Phuket, Thailand: Global Science and Technology Forum (GSTF) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Future of Integrated ReportingAnalysis and Recommendations”, "4th Annual International Conference onAccounting and Finance (AF 2014)
Tác giả: Berndt, T., Bilolo, C., & Muller, L
Năm: 2014
14. Beurden, V., & Gossling, T. (2008), “The Worth of Values – A Literature Review on the Relation Between Corporate Social and Financial Performance”, Journal of Business Ethics, 82(2), 407-424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Worth of Values – A Literature Reviewon the Relation Between Corporate Social and Financial Performance”, "Journal ofBusiness Ethics, 82(2)
Tác giả: Beurden, V., & Gossling, T
Năm: 2008
15. Bhasin, M., Makarov, R., & Orazalin, N. (2012), “The determinants of voluntary disclosure in the banking sector of Kazakhstan”, International Journal of Contemporary Business Studies, 3 (3), 60-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The determinants of voluntarydisclosure in the banking sector of Kazakhstan”, "International Journal ofContemporary Business Studies, 3
Tác giả: Bhasin, M., Makarov, R., & Orazalin, N
Năm: 2012
16. Bidaki, S., & Hejazi, R. (2014), “Effects of profitability on the Intellectual Capital Disclosure in listed Companies in Tehran Stock Exchange”, Journal of Education and Applied Sciences, 1 (5), 248-255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of profitability on the Intellectual CapitalDisclosure in listed Companies in Tehran Stock Exchange”, "Journal of Educationand Applied Sciences
Tác giả: Bidaki, S., & Hejazi, R
Năm: 2014
17. Black Sun's, & IIRC. (2014), Realizing the benefits: The impact of Integrated Reporting. Accessed may 22, 2018 from:https://www.blacksunplc.com/content/dam/black-sun/corporate- comms/Documents/Research/black-sun-realizing-the-benefits.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Realizing the benefits: The impact of IntegratedReporting
Tác giả: Black Sun's, & IIRC
Năm: 2014
18. Burlea, A. S., & Popa, I. (2013), Legitimacy Theory. In E. o. Responsibility, S. O.Idowu, C. Nicholas, L. Zu, & A. d. Gupta (Eds.), Springer- Verlag Berlin Heidelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Legitimacy Theory. In E. o. Responsibility, S. O."Idowu
Tác giả: Burlea, A. S., & Popa, I
Năm: 2013
19. Burritt, R. (2012), “Environmental performance accountability: planet, people, profits”, Accounting, Auditing & Accountability Journal, 25(2), 370-405 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental performance accountability: planet, people,profits”, "Accounting, Auditing & Accountability Journal, 25
Tác giả: Burritt, R
Năm: 2012
71. HNX. (2018), Báo cáo phát triển bền vững cho doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Accessed December 12, 2018 from: https://hnx.vn/vi-vn/m-tin-tuc- hnx/Bao%20cao%20Phat%20trien%20ben%20vung%20cho%20doanh%20nghie p%20niem%20yet%20tai%20Viet%20Nam-6000262 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 1.1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH (Trang 43)
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp những tổ chức sớm áp dụng BCTH - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp những tổ chức sớm áp dụng BCTH (Trang 50)
Bảng 2.2. Nguyên tắc hướng dẫn Báo cáo tích hợp theo IIRF - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.2. Nguyên tắc hướng dẫn Báo cáo tích hợp theo IIRF (Trang 54)
Bảng 2.3. Nội dung của Báo cáo tích hợp theo IIRF - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.3. Nội dung của Báo cáo tích hợp theo IIRF (Trang 55)
Bảng 2.4. Các loại vốn của Báo cáo tích hợp theo IIRF - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.4. Các loại vốn của Báo cáo tích hợp theo IIRF (Trang 56)
Hình 2.1. Mối quan hệ giữa hiệu suất bền vững với 6 loại vốn - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.1. Mối quan hệ giữa hiệu suất bền vững với 6 loại vốn (Trang 57)
Hình 2.2. Mô hình kinh doanh trong bối cảnh với môi trường bên ngoài - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.2. Mô hình kinh doanh trong bối cảnh với môi trường bên ngoài (Trang 58)
Bảng 2.5. Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.5. Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH (Trang 72)
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu định tính - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu định tính (Trang 74)
Hình 3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH (Trang 78)
Bảng 3.1. Kết quả nghiên cứu định tính về các nhân tố STT Các nhân tố ảnh hưởng Kết quả định tính - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.1. Kết quả nghiên cứu định tính về các nhân tố STT Các nhân tố ảnh hưởng Kết quả định tính (Trang 78)
Bảng 3.2. Bảng tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu và dự đoán ảnh hưởng đến áp - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.2. Bảng tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu và dự đoán ảnh hưởng đến áp (Trang 82)
Hình 3.3. Quy trình nghiên cứu định lượng - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.3. Quy trình nghiên cứu định lượng (Trang 83)
Bảng 3.3. Bảng danh mục nội dụng kiểm tra đánh giá các Báo cáo - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.3. Bảng danh mục nội dụng kiểm tra đánh giá các Báo cáo (Trang 86)
Bảng 4.1. Kết quả phỏng vấn chuyên gia về sự hiểu biết BCTH Đặc điểm Câu hỏi Tác động đến áp dụng BCTH - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.1. Kết quả phỏng vấn chuyên gia về sự hiểu biết BCTH Đặc điểm Câu hỏi Tác động đến áp dụng BCTH (Trang 101)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w