Luận văn : Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Yên Bái tỉnh Lào Cai
Trang 1Lời mở đầu
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung,cơ cấu kinh tế nông nghiệp nóiriêng là vấn đề đang đợc quan tâm hiện nay của nhiều nứoc trên thếgiới,đặc biệt là đối với những nớc đang phát triển
ở nớc ta vốn là một nớc sản xuất nông nghiệp với gần 80% dân sốsống ở nông thôn và trên 70% dân số sống bằng nghề sản xuất nôngnghiệp.Trong những năm qua Đảng và nha nớc ta luôn coi trong việc pháttriển nông nghiệp va coi đó la một giải pháp cơ bản quan trọng để đẩymạnh kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hớng sản xuất hàng hoá
Trong phát triển nông nghiệp thì chuyển dịch cơ cấu là một nội dungquan trọng không thể thiếu
Cùng với xu hớng phát triển chung đó trong những năm qua huyện Bátxát cũng đã và đang từng bớc đổi mới, phát triển theo xu hớng chung của cảnớc
Xuất phát từ những thực tế đó em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Bát xát tỉnh Lào Cai”.
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài là hệ thống hoá một số vấn đề lý luận vàthực tiễn về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phân tích, đánh giá thực trạng cơcấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyệnBát xát, rút ra những mặt đã đạt đợc những hạn chế và những vấn đề đặt racần giải quyết trên cơ sở đó đa ra những quan điểm, phơng hớng, mục tiêu
và các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệphuyện Bát xát trong những năm tiếp theo
3/ Đối tợng nghiên cứu đề tài:
Trang 2Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung của cơ cấu kinh tế nôngnghiệp và sự biến đổi của các nội dung này trong quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp.
4/ Phơng pháp luận của chuyên đề:
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu đề tài, có một số phơng pháp đợc ápdụng nh: Tổng hợp, kế thừa,thống kê toán những kết quả đã nghiên cứu,những vấn đề có liên quan đến chuyên đề ở các cơ quan trung ơng và địaphơng
Trang 3Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt, gắn liền với sự hìnhthành và phát triển của nền kinh tế trong giới hạn một địa phơng, một quốcgia hay một khu vực Nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiềuthành phần, nhiều nhân tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qualại lẫn nhau Cơ cấu kinh tế thể hiện mối tơng quan giữa các thành phần cácnhân tố đó Trong bất kỳ một nền kinh tế quốc dân nào ngời ta cũng có thể
định tính hoặc định lợng mức độ phát triển của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế có ảnh hởng mạnh mẽ đến tăng trởng và phát triển kinh
tế Một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ cho phép tạo nên sự cân đối, hài hoà củanền kinh tế để sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên, củacải vật chất và lao động Xem xét cơ cấu kinh tế là xem xét cấu trúc bêntrong của quá trình tái sản xuất và mở rộng của nền kinh tế thông qua cácmối quan hệ kinh tế Đó là quan hệ tỷ lệ về lợng, chất cơ cấu kinh tế củamột xã hội luôn chịu ảnh hởng bởi quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực l-ợng sản xuất của nền kinh tế Mối quan hệ kinh tế đó không phải mối quan
hệ riêng lẻ, tách rời của các bộ phận kinh tế mà là những quan hệ tổng thểcủa các bộ phận cấu thành nền kinh tế nh: Quan hệ giữa các ngành kinh tế(nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…), giữa các vùng kinh tế, giữa các), giữa các vùng kinh tế, giữa cácthành phần kinh tế…), giữa các vùng kinh tế, giữa các những quan hệ này là những quan hệ cả về mặt lợnglẫn mặt chất Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng biểu hiện trong những điều kiện
về thời gian và không gian nhất định, trong những điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội nhất định, thích hợp với điều kiện của mỗi nớc, mỗi vùng, mỗi địaphơng hoặc doanh nghiệp Đồng thời, cơ cấu kinh tế không tồn tại một cách
cố định lâu dài mà luôn vận động và phải có những chuyển dịch cần thiết,thích hợp với sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế – xã hội đề gâynên những thiệt hại về kinh tế Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tếkhông phải là mục tiêu mà chỉ là phơng tiện của việc tăng trởng và pháttriển kinh tế Vì vậy, có nên biến đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế haykhông, chuyển dịch nhanh hay chậm không phải dựa vào mong muốn chủquan, mà phải dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế – xã hội nh thế nào
Điều này cần thiết cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nớc, cơ cấucủa mỗi ngành kinh tế, trong đó có cơ cấu kinh tế nông nghiệp
2 Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Trang 4Nông nghiệp là tổ hợp các ngành kinh tế sinh học cụ thể trong lĩnh vựcnông, lâm, ng nghiệp.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là bộ phận cấu thành rất quan trọng trongcơ cấu nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế xã hội
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể các quan hệ kinh tế đó làcác mối quan hệ tỷ lệ về số lợng, chất lợng và các quan hệ tơng tác lẫn nhaugiữa các bộ phận cấu thành nền nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuấtnông nghiệp, các vùng sản xuất nông nghiệp và các thành phần kinh tếnông nghiệp
3 Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Cũng nh cơ cấu kinh tế nói chung, nội dung của cơ cấu kinh tế nôngnghiệp bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phầnkinh tế, kỹ thuật
3.1 Cơ cấu ngành: Cơ cấu ngành diễn ra sớm nhất, nó gắn liền với sự
phát triển của phân công lao động, phân công lao động theo ngành là cơ sở
để hình thành cơ cấu ngành, sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao, càng tỉ mỉ thì sự phân chia ngành càng đa dạng càng sâu sắc
Cơ cấu ngành của nền kinh tế nông nghiệp bao gồm 4 nhóm:
- Trồng trọt
- Chăn nuôi
- Lâm nghiệp
- Nuôi trồng và khai thác thủy sản
Trong từng nhóm lại đợc phân chia nhỏ hơn, chẳng hạn trong nội bộngành trồng trọt đợc chia ra thành ngành trồng cây lơng thực, cây ăn quả vàhoa, cây công nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp biểu hiện sự thay đổi cácmối quan hệ tỷ lệ giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, giữa câylơng thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả…), giữa các vùng kinh tế, giữa các Trong trồng trọt,
Trang 5do vậy cần phân biệt sự khác nhau trong nội bộ ngành nông nghiệp và phảiphân biệt theo đặc trng kỹ thuật và kinh tế của chúng để tạo ra hệ thốngphân công lao động cho phù hợp giữa các tiểu thủ ngành trong cơ cấu kinh
tế nông nghiệp
3.2 Cơ cấu vùng lãnh thổ:
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao độngtheo lãnh thổ, đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau Sựphân công theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên vùng lãnh thổ nhất định,nghĩa là cơ cấu vùng lãnh thổ là nơi bố trí các ngành sản xuất và dịch vụtheo không gian cụ thể nhằm khai thác mọi u thế vốn có
Xu thế chuyển dịch của cơ cấu vùng lãnh thổ theo hớng đi vào chuyênmôn hóa sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn
và hiệu suất cao
Để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngànhtrên vùng lãnh thổ hợp lý, để khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng
Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hóa dựa trên những lợi thế sosánh của vùng, đó là những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, đờng giaothông lớn và các công nghiệp đô thị
So với cơ cấu ngành thì cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trí tuệ hơn, có sự
ỳ hơn, chậm chuyển dịch hơn vì thế khi bố trí các ngành chuyên môn hóacần đợc xem xét cụ thể, thận trọng nếu phạm sai lầm khó khắc phục, tổnthất nặng nề
3.3 Cơ cấu thành phần kinh tế:
Trong suốt một thời gian dài của thời kỳ bao cấp ở nớc ta cơ cấu thànhphần kinh tế chậm chuyển biến với sự tồn tại thuần nhất của hai loại hìnhkinh tế: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Sau khi chuyển sang nềnkinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc và theo định hớng xã hội chủnghĩa thì các thành phần kinh tế phát triển đa dạng nhiều thành phần
Trong khu vực kinh tế nông nghiệp điều đáng chú ý trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế nói lên các xu hớng sau:
Trang 6Sự phát triển đa dạng của nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế hộnổi lên trở thành kinh tế hộ độc lập, tự chủ, đây là thành phần kinh tế năng
động nhất, tạo ra sản phẩm hàng hóa phong phú, đa dạng cho xã hội Trongquá trình phát triển, kinh tế hộ chuyển từ quá trình tự cung tự cấp sang sảnxuất hàng hóa nhỏ tiến tới hình thành các trang trại, nông trại (tức sản xuấthàng hoá lớn)
Thành phần kinh tế quốc doanh có xu hớng giảm mạnh, Nhà nớc đang
có biện pháp sắp xếp, rà soát lại, hoặc chuyển dịch sang các chức năng kháccho phù hợp với điều kiện hiện nay
Thành phần kinh tế tập thể (hay kinh tế hợp tác) cùng chuyển đổi cácchức năng của mình sang các hợp tác xã kiểu mới làm chức năng hớng dấnsản xuất và công tác dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của các hộ nông dân màtrớc đây chức năng chủ yếu của hợp tác xã là trực tiếp điều hành sản xuất
4 Những đặc trng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
4.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan và đợc hình
thành do sự phát triển của sản xuất, phân công lao động xã hội chi phối, ởmột trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất sẽ có một cơ cấukinh tế tơng ứng Điều đó khẳng định rằng: việc xác lập cơ cấu kinh tế nôngnghiệp cần tôn trọng tính khách quan của nó và càng không thể áp đặt chủquan duy ý chí Trong quá trình phát triển của lực lợng sản xuất và phâncông lao động xã hội tự các mối quan hệ kinh tế đã có thể xác lập những tỷ
lệ nhất định mà ta gọi là cơ cấu
4.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính lịch sử nhất định.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nh đã phân tích ở trên là tổng thể các mốiquan hệ kinh tế, đợc xác lập theo những tỷ lệ nhất định về mặt lợng trongthời gian cụ thể Tại thời điểm đó những điều kiện về kinh tế xã hội và tựnhiên, các tỷ lệ đó đợc xác lập và hình thành tạo thành một cơ cấu kinh tếnhất định Song một khi có những biến đổi của một điều kiện nói trên thìlập tức các mối quan hệ này cũng thay đổi và hình thành một cơ cấu mớithích hợp hơn với điều kiện mới
4.3 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn luôn vận động.
Trang 7Trong triết học Mác nói rằng: “Sự vật hiện tợng luôn luôn vận động vàbiến đổi không ngừng” Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng vậy chúng luônluôn vận động không ngừng và phát triển theo hớng ngày càng hợp lý, hiệuquả hơn Lực lợng sản xuất ngày càng phát triển, con ngời ngày càng vănminh, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, phân công lao động càng tỉ
mỉ phức tạp tất yếu sẽ dẫn đến cơ cấu kinh tế ngày càng hoàn thiện Sự vận
động và biến đổi không ngừng của các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh
tế quốc dân nói chung và trong khu vực kinh tế nông nghiệp nói riêng Cơcấu kinh tế nông nghiệp cũng sẽ vận động biến đổi và phát triển khôngngừng thông qua sự chuyển dịch của ngay bản thân nó Cơ cấu cũ sẽ mất đi
và cơ cấu mới sẽ hình thành phát triển đó là quá trình vận động khôngngừng của sự vật và khi cơ cấu mới trở thành lỗi thời lạc hậu nó lại đợc thaythế bởi một cơ cấu mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn Sự vận động và biến
đổi là tất yếu, phản ánh sự phát triển không ngừng của văn minh nhân loại
4.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình làm thay đổicấu trúc và mối liên hệ của một nền kinh tế theo một mục đích và phơng h-ớng nhất định
Quá trình này tất yếu phải xảy ra bởi sự phát triển và vận động khôngngừng của sự vật do đó, không có một cơ cấu kinh tế cụ thể nào là hoànthiện và bất biến Cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung và cơ cấu kinh tếnông nghiệp nói riêng sẽ vận động và chuyển hóa từ cơ cấu kinh tế cũ sangcơ cấu kinh tế mới nhng việc này đòi hỏi phải có thời gian và qua các bậcthang nhất định của sự phát triển Đầu tiên là sự chuyển đổi về số lợng, khilợng đợc tích lũy đến độ nhất định sẽ dẫn đến sự chuyển đổi về chất Đó làquá trình chuyển hóa dần cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phùhợp và có hiệu quả hơn Tất nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnhanh hay chậm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự tác động củacon ngời có ý nghĩa quan trọng Đặc biệt cần phải có những giải pháp chínhsách và cơ chế quản lý thích hợp để định hớng cho quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệpnói riêng Tất cả mọi sự nóng vội hoặc bảo thủ sẽ dẫn đến sự trì trệ trongquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và gây phơng hại đến sựphát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung Sự chuyển dịch nền kinh tếnông nghiệp phải là một quá trình không thể khác đợc nhng không phải là
Trang 8một quá trình tự phát do con ngời Trên cơ sở nhận thức, nắm bắt đợc cácquy luật khách quan của cơ cấu kinh tế nông nghiệp con ngời sẽ tác độngtheo những mục tiêu đã định nhằm chuyển dịch một cách có hiệu quả và
đúng hớng phục vụ cho con ngời Nhng vấn đề quan trọng là phải bắt nguồn
từ đâu và với những biện pháp nào mà khi tác động vào nó sẽ gây phản ứngdây chuyền tạo ra bớc phát triển nói lên tổng thể kinh tế nông nghiệp nóiriêng và nền kinh tế quốc dân nói chung
5 Vai trò vị trí của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
5.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trờng, đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm của xã hội nhu cầu tiêu dùng của dân c.
Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế đất nớc ta sang nền kinh tế thị ờng, sự phát triển của nền kinh tế nông thôn nói chung và của nông nghiệpnói riêng đã và đang phải đối mặt với sự phát triển mạnh mẽ và khôngngừng của thị trờng
tr-Trong nền kinh tế thị trờng thì thị trờng luôn là yếu tố quyết định cho
sự phát triển kinh tế và đặc biệt là nó ảnh hởng quyết định đến việc hìnhthành và biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệpnói riêng Trong khi xã hội không ngừng phát triển, nhu cầu của con ngời
về nông sản cũng theo đó mà không ngừng tăng lên cả về số lợng và chất ợng,chủng loại điều đó cũng chính là đòi hỏi của thị trờng mà sản xuất
Trang 9Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại lợi íchkinh tế ngày càng cao cho nhân dân thì đó là nguyện vọng thiết thực Mặtkhác, với nhu cầu ngày càng cao của nhân dân hiện nay về nông sản thìchuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp phải nhằm cải thiện đời sốngnhân dân và ổn định chính trị xã hội.
5.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị trờng:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trờng nhằm cung cấpmột khối lợng nông sản hàng hóa cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp,cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu để mở rộng thị trờng quốc tế Mặt khác
nó còn là nơi cung cấp một phần lực lợng lao động cho các ngành kinh tếquốc dân và là thị trờng tiêu thụ lớn nhất các sản phẩm của ngành côngnghiệp
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ giải phóng đợcsức lao động sản xuất ở nông thôn từ đó cung cấp lao động cho công nghiệp
và dịch vụ
5.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tạo cơ sở cho việc thay
đổi bộ mặt nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng.
Để giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thu đợckết quả Trong thời gian qua Đảng và Nhà nớc đã ban hành rất nhiều nhữngchính sách nhằm đầu t cho nông nghiệp để tạo điều kiện cho nhu cầu pháttriển sản xuất kinh doanh của các ngành trong nông nghiệp
Nh vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp khôngchỉ sản xuất trồng trọt chăn nuôi phát triển theo hớng sản xuất hàng hóatrên cơ sở khai thác lợi thế của địa phơng mà cơ sở hạ tầng của nông thôncũng đợc tăng cờng, đầu t xây dựng Vấn đề y tế giáo dục ở nông thôn cũng
đợc cải thiện, trình độ dân trí đợc nâng cao một bớc do đó việc chuyển dịchcơ cấu kinh tế nông nghiệp đã và đang từng bớc góp phần tích cực tới quátrình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nông nghiệp nông thôn và quá trình xâydựng nông thôn mới
Trang 105.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các ngành liên kết chặt chẽ với nhau hơn
Bởi trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp các địaphơng đã chú ý khai thác các lợi thế so sánh của địa phơng mình để pháttriển sản xuất hàng hóa, cho nên ở mỗi vùng, mỗi địa phơng đã tạo ra cácvùng sản xuất cây trồng, vật nuôi đặc thù phù hợp với điều kiện đất đai khíhậu và điều kiện sản xuất ở những nơi đó theo hớng tập trung, chuyên mônhóa và sản xuất hàng hóa làm cho sản phẩm nông nghiệp đa dạng và phongphú
Kết quả của việc sản xuất tập trung, chuyên môn hóa trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã dẫn đến sự liên kết ngày càngchặt chẽ hơn nữa giữa các ngành, các nghề sản xuất ở nông thôn do đó đãtạo ra một dây chuyền sản xuất chặt chẽ không thể tách rời nhau Ngànhnghề này hỗ trợ tác động cho ngành nghề kia cùng nhau phát triển
6 Những chỉ tiêu phản ánh kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn:
6.1 Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Có nhiều chỉ tiêu để phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong đó chỉtiêu quan trọng nhất là cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành, theo lãnh thổ vàtheo thành phần kinh tế
Ngoài ra, để phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngời ta còn sử dụngcác chỉ tiêu sau:
- Cơ cấu diện tích theo ngành, theo vùng kinh tế
- Cơ cấu vốn đầu t theo ngành, theo vùng và theo thành phần kinh tế
- Cơ cấu lao động theo ngành, theo vùng kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là thay đổi các tỷ lệ trên đây
để tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn đem lại hiệu quả kinh tế cao Một cơ cấu
Trang 11kinh tế hợp lý sẽ tạo đà cho nông nghiệp phát triển với nhịp độ cao và antoàn, tạo ra một nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
6.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đợc thể hiện qua một
số chỉ tiêu nh:
- Thu nhập quốc dân trên một đơn vị diện tích
- Nhịp độ tăng trởng kinh tế, phúc lợi xã hội (y tế, giáo dục…), giữa các vùng kinh tế, giữa các)
Bên cạnh đó một số mặt khác phản ánh kết quả của việc chuyển dịchcơ cấu kinh tế nông nghiệp nh: giá thành sản phẩm, năng suất cây trồng vậtnuôi…), giữa các vùng kinh tế, giữa các
II Những nhân tố ảnh hởng đến sự chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố khácnhau, mỗi nhân tố đều có vai trò vị trí và tác động nhất định tới cơ cấu kinh
tế nông nghiệp Có những nhân tố tác động tích cực cũng có những nhân tốtác động tiêu cực Có những nhân tố vào thời điểm này vùng này đợc coi lànăng động nhng vào thời điểm khác vùng khác lại bị coi là sự trì trệ cho sựchuyển dịch Tổng hợp các nhân tố tác động đến cơ cấu kinh tế nôngnghiệp cho phép chúng ta tìm ra lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa ph-
ơng Từ đó, có thể lựa chọn một cách sơ bộ một cơ cấu kinh tế hợp lý, hàihòa thích hợp với từng địa phơng, từng vùng khác nhau
Các nhân tố ảnh hởng đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể đợc chialàm ba nhóm:
1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên:
Nhóm này bao gồm các yếu tố về vị trí địa lý, của các vùng lãnh thổ,
điều kiện đất đai, điều kiện khí hậu và thời tiết của các vùng đó Các nguồntài nguyên khác của vùng (nguồn nớc, rừng, khoáng sản…), giữa các vùng kinh tế, giữa các)
Các nhân tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp tới sự hìnhthành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sự tác động và
Trang 12ảnh hởng của các điều kiện trên tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng khônggiống nhau trong các nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp thì cơ cấungành và cơ cấu lãnh thổ chịu sự ảnh hởng lớn nhất bởi các điều kiện tựnhiên Còn các cơ cấu khác thì ảnh hởng ít hơn
Các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý có ảnh hởngtrực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp và qua nông nghiệp ảnh hởnggián tiếp tới sự phát triển của các ngành khác
Các nguồn tài nguyên khác cũng ảnh hởng tới nông nghiệp Giữa cácvùng khác nhau với vị trí địa lý khác nhau có điều kiện khí hậu và điều kiện
đất đai, các nguồn tài nguyên khác và hệ sinh thái khác nhau dẫn đến sựkhác nhau về số lợng và quy mô các ngành kinh tế nông nghiệp nh: trồngtrọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ng nghiệp là những ngành chịu ảnh hởng trựctiếp hơn cả Chính từ sự khác nhau đó làm cho số lợng và quy mô của cácphân ngành và chuyên ngành sâu của nông – lâm – ng nghiệp giữa cácvùng có sự khác nhau dẫn tới sự khác nhau về cơ cấu ngành Điều này đợcthể hiện rõ nét trong sự phân biệt về cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp giữacác vùng trong cả nớc đặc biệt giữa đồng bằng và miền núi Hay ngay bảnthân trong cùng một lãnh thổ thì cơ cấu ngành cũng khác nhau do tính đadạng và phong phú của điều kiện tự nhiên và sự phát triển không đồng đềucủa các nguồn lực Đây chính là cơ sở tự nhiên để hình thành các vùng kinh
tế nói chung và các vùng kinh tế nông nghiệp nói riêng Trên cơ sở phânvùng kinh tế, thì phân công lao động cũng diễn ra thông qua việc bố trí cácngành sản xuất trên các vùng một cách thích hợp để khai thác hiệu quả cáctiềm năng và lợi thế của từng vùng, xây dựng lên một cơ cấu vùng kinh tếphù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đó
2 Nhóm nhân tố thuộc điều kiện kinh tế xã hội:
Nhóm này bao gồm các yếu tố: thị trờng, hệ thống các chính sách vĩmô của Nhà nớc, vốn, cơ sở hạ tầng, kinh nghiệm tập quán và truyền thốngsản xuất của dân c, dân số và lao động…), giữa các vùng kinh tế, giữa các
Nhóm nhân tố này luôn có sự tác động mạnh mẽ tới sự hình thành vàbiến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trong các nhóm nhân tố trên thì nhân tố thị trờng có ảnh hởng quyết
định tới sự phát triển kinh tế nói chung và sự hình thành, biến đổi cơ cấu
Trang 13kinh tế nông nghiệp nói riêng, bởi vì nó chỉ tồn tại và vận động thông quahoạt động của con ngời Những ngời sản xuất hàng hóa chỉ sản xuất và đembán ra thị trờng những sản phẩm mà họ cảm thấy chúng đem lại lợi nhuậnthỏa đáng cho mình Nh vậy, thị trờng thông qua quan hệ cung cầu mà tínhiệu là giá cả hàng hóa, chúng thúc đẩy hay ngăn cản ngời sản xuất thamgia hay không tham gia vào thị trờng, do đó, chính từ thị trờng mà ngời sảnxuất tự xác định khả năng tham gia cụ thể của mình vào thị trờng với nhữngloại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ gì với quy mô nh thế nào?, thông qua đóphản ánh cơ cấu kinh tế từng vùng, từng địa phơng Tuy nhiên do mức độtiếp nhận thông tin khác nhau, điều kiện sản xuất khác nhau lại chi phối sốlợng ngời tham gia vào việc tạo ra và tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng cũngkhông giống nhau.
Bên cạnh đó, hệ thống chính sách kinh tế cũng tác động mạnh mẽ vớicác văn bản, quy định, nghị định…), giữa các vùng kinh tế, giữa các cùng tác động vào nền kinh tế nhằmthực hiện các mục tiêu đã định Với các công cụ quản lý vĩ mô khác nhau,thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh
tế hợp lý, trình độ công nghệ ngày càng đợc nâng cao nhằm khai thác và sửdụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các lợi thế của đất nớc và khu vựckinh tế nông nghiệp Để làm đợc điều đó thì đòi hỏi phải có những điềukiện vật chất nhất định, tơng ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi cơcấu kinh tế Để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất trên thì nhất thiếtphải đầu t và phải có vốn đầu t bởi vì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đòi hỏi phải có những nguồn vốn đầu t lớn Chính vì điều này mà vốn đầu t
có ảnh hởng trực tiếp rất lớn tới sự hình thành và phát triển của các ngànhkinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế
Xây dựng và tăng cờng cơ sở hạ tầng là điều kiện cần thiết để pháttriển kinh tế nông nghiệp, đảm bảo cho nền kinh tế hàng hóa phát triểnnâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Những vùng mà cơ sởhạ tầng phát triển, đặc biệt là các công trình hạ tầng về kỹ thuật thì ở đó có
điều kiện để phát triển các ngành sản xuất chuyên môn hóa phù hợp với nhucầu thị trờng và nguồn lực của vùng Cơ sở hạ tầng cũng là điều kiện để ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và ngợclại cơ sở hạ tầng yếu kém thì sự hình thành và phát triển của các ngành sảnxuất và các vùng kinh tế trên cơ sở chuyên môn hóa cũng nh quá trình đatiến bộ kỹ thuật công nghệ vào sản xuất bị kìm hãm
Trang 14Ngoài ra, các kinh nghiệm, tập quán, phong tục, dân số…), giữa các vùng kinh tế, giữa các khác nhaugiữa các vùng cũng ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển của các ngànhtrong nông nghiệp và ảnh hởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp
3 Nhóm nhân tố về tổ chức - ký thuật.
Nhóm này gồm: các hình thức và tổ chức trong nông nghiệp, sự pháttriển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là phạm trù khách quan nhng lại là sảnphẩm hoạt động của con ngời Sự tồn tại vận động và biến đổi của cơ cấukinh tế nông nghiệp đợc giải quyết bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủthể kinh tế trong nông nghiệp Bởi vì vậy, đến cùng hoạt động của các chủthể kinh tế trong nông nghiệp là cơ sở của sự hình thành và phát triển cácngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế Các chủ thể kinh tếtồn tại và hoạt động thông qua các hình thức tổ chức sản xuất với quy mô t -
ơng ứng Do đó các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp với môhình tơng ứng là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hởng tới sự hìnhthành và biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất góp phần quyết
định việc hoàn thiện các phơng thức sản xuất nhằm khai thác sử dụng hợp
lý hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội thông qua đó thúc đẩy sự phát triểncủa các ngành sản xuất trong đó có nông nghiệp và các vùng kinh tế, đặcbiệt là những vùng có lợi thế
Nh vậy, ta thất rằng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chịu
ảnh hởng của nhiều yếu tố hơn nữa các nhân tố đó lại tác động một cáchhữu ứng và thay đổi thờng xuyên Nếu không nhận thức đúng đắn các nhân
tố trên thì chúng ta có thể dễ sa vào chủ quan duy ý chí nh đã gặp phải trớc
Trang 15ở các nớc đang phát triển, do lịch sử để lại cơ cấu nông nghiệp cònmang nặng tính thuần nông, độc canh là chủ yếu nhng xu hớng chung củathế giới sẽ chuyển dịch từ thuần nông, độc canh sang phát triển toàn diện
đa dạng
Trên cơ sở nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp củamột số vùng trung du, miền núi Bắc Bộ nớc ta ta có thể rút ra một số xu h-ớng chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp nh sau:Hầu hết các vùng không chỉ gói gọn trong sản xuất nông nghiệp mà
mở ra những ngành có giá trị kinh tế cao Nhng việc sản xuất khó khăn hơn
và đòi hỏi cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định và vốn đầu t cao hơn các tiểungành khác
Trong quá trình phát triển tỷ trọng của ngành lâm nghiệp, ng nghiệptăng lên trong khi đó tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm đi mặc dùngành này vẫn tăng trởng về giá trị và sản lợng
Tất cả các vùng trung du, miền núi Bắc Bộ trên cơ sở phát triển lơngthực thì đều chuyển từ nền sản xuất lúa gạo, từ sản xuất truyền thống sangsản xuất hàng hóa cùng với việc phát triển các loại rau đậu, cây ăn quả câycông nghiệp giá trị kinh tế cao Do xu thế của ngành trồng trọt là tỷ trọngcây lợng thực giảm, tỷ trọng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây
ăn quả tăng dần
Trong cơ cấu sản xuất của mỗi ngành xu hớng chung là tăng dần tỷtrọng các loại cây trồng, vật nuôi có chất lợng sản phẩm cao, những sảnphẩm đặc sản…), giữa các vùng kinh tế, giữa các Để tăng giá trị sản lợng, tăng thu nhập cho các hộ nôngdân và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trờng
Trang 16Chơng II
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Bát xát tỉnh Lào Cai
I Điều kiện tự nhiên - kinh tế - x hội của huyện có ảnhã hội của huyện có ảnh
hởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Bát xát là một trong 11 huyện, thị xã của tỉnh Lào Cai với tổng diệntích tự nhiên là 1.050; 21 km2 là địa bàn c trú của nhiều đồng bào dân tộc.Với tổng dân số năm 2000 là 57.949 ngời, mật độ dân số trung bình là55,18 ngời/km2 Có 23 đơn vị hành chính, trong đó có một thị trấn và 22 xã
Có đờng biên giới giáp với Trung Quốc nên có vị trí chính trị an ninhquốc phòng quan trọng
-Phía nam giáp thị xã Lào Cai
-Phía Bắc và phía Tây giáp Trung Quốc
-Phía đông giáp huyện Sa Pa
1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên:
Những yếu tố chính về điều kiện tự nhiên có ảnh hởng nhiều đến sảnxuất nông nghiệp của huyện bao gồm: đất đai, khí hậu, nguồn nớc
1.1 Về đất đai:
Theo số liệu thống kê của huyện năm 2000 thì tổng diện tích đất tựnhiên của huyện là: 1050,21 km2 Trong đó đất nông nghiệp là 7446,7 ha;
đất lâm nghiệp có rừng là 25142 ha; đất dùng vào chăn nuôi : 110 ha Đất
có mặt nớc đang sử dụng : 87 ha; đất chuyên dùng : 1854,16 ha; đất khudân c : 238,6 ha; đất cha sử dụng : 70496,7 ha Nhìn chung, các loại đất củahuyện đều có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Một sốloại có tỷ lệ dinh dỡng khá cao thuật lợi cho phát triển một số loại cây trồng
có giá trị kinh tế cao
Trong tổng diện tích đất tự nhiên diện tích đất đợc sử dụng là 34524 ,3
ha chiếm 32,87% Diện tích đất cha sử dụng : 70496,7 ha chiếm 67,13%
Trang 17trong đó diện tích cha đợc sử dụng lớn nhất là diện tích núi đá và đồi núicao chiếm 67637,19 ha
Trong đất nông nghiệp diện tích đất canh tác hàng năm là 6596,04 hatrong đó lúa là 2979 ha; cây màu và cây công nghiệp hàng năm là 3315,04ha; rau đậu là 306,6 ha
Diện tích cây công nghiệp lâu năm là 68,9 ha; cây ăn quả là 610,4 ha
ơng muối nên có ảnh hởng đến trồng trọt đặc biệt là chăn nuôi
- Số giờ nắng trung bình trong năm là 126,33 giờ, tháng có số giờ nắngnhiều nhất: 184 giờ và tháng có số giờ nắng ít nhất: 49 giờ
- Lợng ma trung bình cả năm là 159,36 mm; tháng có lợng ma ít nhất:1,5 mm; tháng có lợng ma nhiều nhất : 417,7 mm
- Độ ẩm không khí từ 85,42 85,83% Độ ẩm không khí cao nhất làvào tháng 7 từ 86 90% với độ ẩm nh vậy có thể cho thấy rằng chúng ít
ảnh hởng đối với cây trồng trong thời kỳ thụ phấn
Tóm lại với tính chất nhiệt độ nh trên khí hậu Bát xát thích hợp vớinhiều loại cây trồng và có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm Bên cạnhnhững thuận lợi đó khí hậu còn có những bất lợi đó là do rét đậm kéo dàivào những tháng đầu năm và sơng muối nên ảnh hởng lớn đến chăn nuôi vàmột số loại cây trồng
2 Đặc điểm về kinh tế xã hội:
2.1 Dân số và nguồn lao động:
-Theo số liệu thống kê huyện Bát xát thì dân số của huyện năm 2000
là 57949 ngời mật độ trung bình là 55,18 ngời/km2 Nhìn chung dân số của
Trang 18huyện là phân bố không đều có xã có diện tích lớn nhng dân số lại ít nh xãTrung Lèng Hồ với diện tích là 142,19 km2 nhng dân số chỉ là 1497 ngời.Xã Trịnh Tờng với diện tích là 71,63 km2 nhng dân số là 4117 ngời, xãQuang Kim với diện tích là 30,65 km2 dân số là 4380 ngời thị trấn huyệndiện tích 2,68 km2, dân số là 3223 ngời.
-Sở dĩ dân số phân bố không đồng đều là do nhiều nguyên nhân khácnhau nhng nguyên nhân chủ yếu do điều kiện tự nhiên, địa hình và cơ sở hạtầng quyết định Những nơi có dân số đông chủ yếu là nơi có đờng giaothông khá thuận lợi trong huyện, địa hình bằng phẳng hơn Những nơi cònlại chủ yếu là nơi sinh sống của các cộng đồng dân tộc ít ngời
-Tỷ lệ tăng dân số bình quân trung của huyện là từ 2,3 2,5% năm.Dân số nam của huyện là 28 923 ngời, số nữ là 29340 ngời Dân số trongnông nghiệp là 50346 ngời chiếm 86,87% dân số của huyện
-Trình độ dân trí chung còn thấp số ngời mù chữ trong độ tuổi lao
động là 19,47%, số lao động có kỹ thuật còn rất ít, chất lợng thấp chủ yếu
là lao động giản đơn, sự phân công lao động cha rõ nét
Trong những năm tới đây, ngoài giải quyết vấn đề tăng dân số cần tậptrung đào tạo nguồn nhân lực và bố trí sản xuất sao cho phù hợp với tậpquán của các cộng đồng dân tộc
Biểu 1: Dân số và lao động của huyện Bát xát theo tiểu vùng
Trục giao thông chính chạy từ thị xã Lào Cai tới Bản Xèo với độ dài
53 km, trong đó có 32 km đờng đạt tiêu chuẩn cấp 4 hiện nay Đờng trongthị trấn có 5,8 km trong đó có 2,1 km là đờng trục giao thông chính
Trang 19Ngoài ra, còn có 15 km đờng đạt tiêu chuẩn cấp 4 từ thị xã Lào Cai
đến huyện Sa Pa qua xã Cốc San của huyện
Trong những năm qua huyện đã liên tục mở thêm các tuyến đờng giaothông đến các xã và các đờng liên thôn
Nếu nh năm 1991 số xã có đờng ô tô đến xã là 11 thì đến năm 2000 đã
là 21 xã có đờng ô tô đến xã Cũng trong năm 2000 huyện đã làm mới đợc44,9 km và những km đờng này đợc xếp vào đờng cấp A giao thông miềnnúi Tổng diện tích đất của huyện cho giao thông là 987,33 ha
Tuy nhiên đờng đến các xã và liên xã hiện nay nhìn chung rất xấu chủyếu là đờng đất, mùa ma thì lụt, mùa khô thì bụi hơn nữa các đờng đó chủyếu là sự đi lại của súc vật nên rất chóng hỏng và lầy lội Khả năng duy tunâng cấp còn hạn chế về kinh tế và kỹ thuật
Nh vậy, giao thông vận tải vẫn đang là trở ngại lớn ảnh hởng đến giao
lu và trao đổi hàng hóa
* Thủy lợi:
Do địa hình của huyện nên lợng nớc phân bố tơng đối đều Dân c chủyếu tập trung ở những nơi có điều kiện thuận lợi và tự tạo hệ thống thủy lợinhỏ để dẫn nớc và hút nớc
Trong những năm qua, hệ thống thủy lợi của huyện nhìn chung là pháttriển không mạnh Năm 1996, diện tích đất cho thủy lợi là 226,85 ha thì
đến năm 2000 chỉ là 273,65 ha Một số công trình thủy lợi chủ yếu là:
- Đập bản Xèo vừa phục vụ cho trạm thủy điện nhỏ vừa cung cấp nớccho việc sản xuất của nông dân
- Một số công trình khác nh đập tràn Cốc San, đập Trịnh Tờng cũngcung cấp một lợng nớc đáng kể cho sản xuất
Trong những năm tới cùng với sự phát triển chung của huyện thì thủylợi cần phải đợc chú trọng hơn nữa ở những nơi có điều kiện sản xuất nôngnghiệp và duy tu một số hệ thống thủy lợi nh đập bản Xèo
* Điện:
Trang 20Nguồn điện đợc dùng chủ yếu của huyện là điện lới quốc gia ngoài racòn có các thủy điện nhỏ và máy nổ.
Nguồn điện quốc gia có tuyến đờng dây 35 kw từ Lào Cai đi Bát xát vàphục vụ cho toàn bộ tiểu vùng 1 và một số xã tiểu vùng 2
Nguồn thủy điện nhỏ hiện còn đợc sử dụng đó là trạm thủy điện bảnXèo, trạm thủy điện Trịnh Tờng, tuy vậy cũng không có hiệu quả cao dothiết bị cũng đã cũ kỹ không đợc sửa chữa và nâng cấp Ngoài ra các hộ dân
c và đồng bào còn dùng những máy thủy điện la đình với công suất nhỏ vàmáy nổ nguồn điện này khá phổ biến do nó tiện lợi cho các hộ gia đình và
do có điều kiện nguồn nớc thuận lợi
Với những thực trạng trên có thể đa ra nhận xét rằng mạng lới điện củahuyện còn cha tơng xứng với phát triển mạng lới điện nông thôn của Đảng
và Nhà nớc
* Trờng học
Trong những năm qua cùng với các chính sách phát triển giáo dục đàotạo của Đảng và Nhà nớc Lào Cai nói chung và Bát xát nói riêng cũng pháttriển giáo dục khá mạnh đặc biệt là bậc tiểu học số lợng học sinh, giáo viên
và trờng lớp tăng nhanh Năm 2000 số trờng học của huyện là 34 trong đótiểu học là 19, trung học cơ sở là 14 và 1 trờng phổ thông trung học Sốphòng học cũng tăng nhanh đáng kể năm 2000, số phòng học của huyện là
429 trong đó 232 phòng học cho tiểu học, 190 phòng cho THCS và 7 phònghọc cho phổ thông trung học Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực củagiáo dục cũng còn có những mặt hạn chế nh trờng học còn tạm bợ sơ sài,học sinh đi học không đầy đủ, dụng cụ giảng dạy và chất lợng chuyên môncủa giáo viên còn nhiều hạn chế những mặt hạn chế trên vừa bức xúc vừa cótính lâu dài Trong những năm tới huyện cần quan tâm hơn nữa về các mặttrên
Trang 21xuống cấp trầm trọng nhiều xã trạm y tế chỉ tồn tại ở hình thức nh xã Y Tý,Dền Thàng.
3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội ảnh hởng
đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện:
3.1 Những thuận lợi và nguồn lực phát triển:
Huyện Bát xát có lợi thế là gần thị xã trung tâm của tỉnh địa hình ởnhững vùng giáp thị xã khá bằng phẳng do nằm trong thung lũng của dãynúi Hoàng Liên cho nên phát triển kinh tế cũng nh đi lại khá thuận lợi,ngoài ra còn có một khoảng diện tích khá lớn khoảng 1000 ha ở xã Bản Vợc
do sông Hồng bồi đắp
Trong những năm qua huyện phát triển tơng đối mạnh với nhịp độ tăngtrởng 7 - 8% năm Cơ sở hạ tầng giao thông ngày càng đợc mở rộng vànâng cấp Đặc biệt vài năm gần đây do phát triển mạnh cây thảo quả, xuyênkhung nên một số xã và một số hộ dân c có thu nhập khá cao
Tài nguyên đất đai, khí hậu cho phép phát triển một nền nông nghiệp
đa dạng và thâm canh
ở xã Bản Vợc còn có mở đồng hiện nay đang dựa vào khai thác nhờ
đó giao thông cũng nh lao động đợc mở rộng và tăng lên gián tiếp thúc đẩynông nghiệp của xã cũng nh của huyện phát triển
3.2 Những hạn chế:
GDP bình quân dầu ngời thấp, cơ cấu kinh tế nặng về sản xuất nôngnghiệp, còn lạc hậu và cha thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp Quá trìnhchuyển dịch chậm, trình độ dân trí và trình độ lao động thấp Cộng nghiệp
và dịch vụ còn rất mang tính sơ khai và chậm phát triển Các lợi thế tiềmnăng về nông nghiệp vẫn cha khai thác đợc một cách hiệu quả
Quỹ đất nhiều, nhng sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp ít tốc độtăng dân số còn khá cao, địa hình chia cắt việc đi lại của nhân dân và luchuyển hàng hóa gặp nhiều khó khăn, trở ngại
Tóm lại: điều kiện tự nhiên, nguồn lực của huyện vừa tạo nên nhữnglợi thế riêng có của huyện vừa tạo ra những thách thức không nhỏ cho việc
Trang 22phát triển kinh tế của huyện nói chung và nông nghiệp của huyện nói riêng.Trong những năm tới huyện cần có những giải pháp cụ thể vừa mang tính
đồng bộ vừa mang tính riêng lẻ nhằm phát huy một cách đầy đủ và hợp lýxứng với tiềm năng của huyện
II Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệpcủa huyện
1 Thực trạng chuyển dịch trong cơ cấu ngành và nội bộ ngành nông nghiệp:
1.1 Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện Bát xát:
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Bát Xát đợc phân chia thành 4ngành chính sau:
Ngành 1: Trồng trọt
Trong ngành trồng trọt bao gồm có các tiểu ngành nh trồng cây lơngthực (lúa, ngô, sắn ); cây công nghiệp hàng năm, cây cộng nghiệp lâunăm
Trong những năm qua nông nghiệp của huyện phát triển khá mạnh mẽkéo theo sự biến đổi về cơ cấu các ngành trong nông nghiệp theo hớng tíchcực
Biểu 2: Giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp huyện Bát xát.
Trang 23-Thể hiện rõ nhất là trong ngành trồng trọt, nếu nh năm 1999 tỷ trọngcủa ngành này là 77,88% theo hớng tích cực so với những năm trớc thì năm
2000 lại có xu hớng tăng lên 79,59%
-Ngành chăn nuôi cũng có sự chuyển dịch không đáng kể về tỷ trọngthậm chí còn có xu hớng giảm sút vào năm 2000 17,79% so với các năm tr-ớc
-Ngành thủy sản cũng có xu hớng tơng tự tuy vậy vẫn còn chiếm tỷtrọng ít
Trang 24-Riêng ngành dịch vụ trong những năm qua hầu nh không đóng gópcho giá trị sản xuất nông nghiệp đây là mặt hạn chế lớn thể hiện sự lạc hậutrong sản xuất nông nghiệp của huyện
-Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến sự chuyển dịch của tỷ trọngngành nông nghiệp mà chủ yếu những nguyên nhân đó đều làm giảm tốc độchuyển dịch
-Trớc hết đó là do nền nông nghiệp của tỉnh nói chung và của huyệncòn tơng đối lạc hậu, sản xuất chủ yếu mang tính truyền thống, công cụ sảnxuất lạc hậu, thô sơ, địa hình manh mún và không bằng phẳng (chủ yếu là
đồi núi), trình độ chuyên môn của ngời sản xuất thấp chủ yếu là đồng bàodân tộc thiểu sổ vẫn còn mang nặng t tởng du canh du c
-Cơ sở hạ tầng và đặc biệt là giao thông rất kém chủ yếu là đờng đất(mùa ma thì lầy, mùa khô lại rất bụi)Đây cũng là nguyên nhân chung củatất cả các tỉnh miền núi
-Trình độ của ngời quản lý còn yếu kém về nhiều mặt dẫn đến trì trệtrong quá trình thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nớc
1.2 Sự chuyển dịch trong nội bộ ngành:
* Trong nội bộ ngành trồng trọt:
Bình quân giá trị sản xuất của ngành trồng trọt trong 5 năm gần đây(1996 - 2000) là 26937,6 triệu đồng 1 năm Trồng trọt là một ngành chủ lựccủa nông nghiệp huyện tỷ trọng chiếm khá cao 79,59% (năm 2000) Sảnphẩm chủ yếu của ngành trồng trọt huyện bao gồm:
+ Tổng sản lợng lơng thực (quy thóc): 22448 tấn (trung bình trong 5năm gần đây)
+ Sản lợng thóc: 14.523 tấn
+ Sản lợng ngô: 4.391 tấn
+ Sản lợng sắn: 5970 tấn
+ Sản lợng rau: 4930
Trang 25+ Sản lợng nhóm cây cộng nghiệp hàng năm: 3211,3 tấn trong đó sảnlợng mía là 2802 tấn.
Tất cả sản lợng của các cây trồng chủ yếu đều tăng theo từng năm(năm sau cao hơn năm trớc) Điều này thể hiện rằng ngành trồng trọt của
huyện có hớng chuyển biến tích cực (đang phát triển)
Cụ thể là trong những năm gần đây diện tích đất dùng trong nôngnghiệp và cho nội bộ ngành trồng trọt tăng Năng suất các loại cây trồng
cũng tăng đáng kể
+ Diệntích cây lơng thực tăng từ 6035,7 ha (năm 1995) lên 7221,7 ha(năm 1999) và năm 2000 là 6643
+ Diện tích cây cộng nghiệp hàng năm tăng từ 629,9 ha (năm 1995)lên 823,9 ha (năm 2000)
+ Diện tích các loại rau đậu tăng từ 434,6 ha lên 1642 (năm 2000)
+ Diện tích cây cộng nghiệp lâu năm từ 38,9 ha (năm 1995) lên 68,9
ha (năm 2000)
+ Cây ăn quả lâu năm từ 525 ha (năm 1995) lên 658,5 ha (năm 2000)
Cùng với sự tăng lên về diện tích và việc áp dụng kỹ thuật tiên tiếntrong sản xuất nên năng suất các loại cây trồng cũng đợc tăng lên
Năng suất lúa năm 2000 đạt 31,1 tạ/ha so với năm 1995 là 28,4 tạ/ha
Náng
suất ngô cũng gia tăng từ 14 tạ/ha năm 1995 lên 18,28 tạ/ha năm 2000
Biểu 4: Diện tích gieo trồng và cơ cấu diện tích gieo trồng một số loại cây
chủ yếu của huyện Bát xát thời kỳ 1996 - 2000
Chỉ tiêu
Diện tích ha
Tỷ trọng
%
Diện tích ha
Tỷ trọng
%
Diện tích ha
Tỷ trọng
%
Diện tích ha
Tỷ trọng
%
Diện tích Ha
Tỷ trọng
% Tổng diện
Trang 26Nguồn: Tính toán số liệu niên giám thống kê huyện Bát xát
Về cơ cấu diện tích một số loại cây trồng chủ yếu qua biểu cho thấychủ yếu vẫn là sản xuất lơng thực tỷ trọng diện tích năm 2000 tuy có giảm
tơng đối so với các năm trớc nhng vẫn còn ở mức cao 67,9% Các loại cây
l-ơng thực chủ yếu ở huyện đó là lúa, ngô, khoai lang và sắn trong đó lúa vẫn
chiếm chủ đạo nếu nh ở năm 2000 tổng diện tích cây lơng thực là 6643 ha
thì lúa chiếm 4210 ha Tuy vậy, ngô và sắn cũng có diện tích khá
Một sự chuyển dịch khá quan trọng về diện tích đó là sự tăng lên vềdiện tích của cây thực phẩm (các loại rau đậu) nếu năm 1995 diện tích cây
thực phẩm là 447,2 ha chiếm 5,78% tỷ trọng thì năm 2000 là 1642 ha
chiếm 16,8% tỷ trọng Đây là một xu hớng chuyển dịch đúng hớng nó phù
hợp với xu thế phát triển chung của huyện và đáp ứng đúng nhu cầu thị
tr-ờng Bởi lẽ huyện vốn gần trung tâm của tỉnh là thị xã Lào Cai, Địa hình
các vùng gần thị xã này tơng đối bằng phẳng giao thông thuận lợi Thích
hợp cho việc phát triển và tiêu thụ các loại rau đậu, hoa đáp ứng cho thị
trờng Mặt khác điều này cũng thể hiện sự “nhạy bén” của ngời sản xuất
Các loại cây còn lại thì có sự chuyển dịch là không đáng kể nhìnchung thì tất cả các loại cây trồng đều tăng lên về diện tích tuy vậy sự phát
triển cha mạnh Đặc biệt là cây mía cây chính của các loại cây cộng nghiệp
ngắn ngày có sản lợng cao và một số cây khác nh lạc, đậu tơng và
lanh.Trong những năm tới cần quan tâm,phát triển mạnh hơn nữa đến các
loại cây trên vì:Ngoài điều kiện tự nhiên của huyện thuận lợi cho việc phát
triển các loại cây trên thì giá trị kinh tế cao và phù hợp với thị truờng là
những yếu tố tơng đối cần thiết và thuận lợi cho việc mở rộng phát triến sản
xuất tạo nhanh sự thúc đẩy chuyển dịch
Trang 27Cùng với sự tăng lên về diện tích các loại cây kéo theo sự tăng lên vềgiá trị sản xuất của ngành Giá trị sản xuất ngành trồng trọt của huyện năm
2000 là 45472,96 triệu đồng so với năm 1999 thì có sự tăng lên là 7353,46triệu Một điểm đáng lu ý là năm 2000 diện tích lúa giảm đáng kể 578,7 ha
so với năm 1999 nhng giá trị sản xuất vẫn cao hơn so với năm trớc là2361,6 triệu đồng điều này cho thấy trong sản xuất lúa ngời sản xuất đã biết
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm cho năng suất, chất ợng tăng
l-Sự chuyển dịch đáng chú ý hơn cả là sự tăng lên mạnh cả về diện tíchlẫn giá trị của nhóm cây thực phẩm Nếu diện tích nhóm cây này năm 1999
là 628,2 ha thì năm 2000 là 1642 ha và cơ cấu giá trị chiếm 13,69% năm
2000 (đứng thứ 3 sau lúa và cây lơng thực khác),giá trị sản phẩm năm1999:4179,88 năm 2000 là 6225,6 chiếm 13,9% tỷ trọng trong ngành trồngtrọt
-Các loại cây khác s chuyển dịch cũng đều có xu hớng tăng lên nhngkhông đáng kể và không mạnh trong nhng năm tới cần chú trọng đầu tnhiều đối với các loại cây này
Xem xét về mặt giá trị và diện tích ta thấy ngành trồng trọt của huyện
đã có những sự chuyển dịch đáng kể và nhất định Sự chuyển dịch đó đã và
đang tạo đà cho nông nghiệp huyện phát triển mạnh mẽ và đúng hớng hơnnữa trong thời gian tới
Tuy nhiên cũng cần lu ý rằng sự chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọtcủa huyện trong thời gian qua là cha đồng đều Cây lúa vẫn chiếm tỷ trọng
và diện tích rất lớn trong khí đó các tiềm năng, điều kiện để phát triển cácloại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao nh mía, đậu tơng, lạc và các dợcliệu nh thảo quả, xuyên khung
Hiện nay theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện thì trong thời giantới sẽ đầu t cho các loại cây cộng nghiệp (ngắn và dài ngày), các loại cây d-
ợc liệu để phát triển ngành trồng trọt cũng nh nông nghiệp của huyện mạnhhơn nữa
Trang 28Biểu 5: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê huyện Bát xát.
* Trong nội bộ ngành chăn nuôi:
Ngành chăn nuôi của huyện trong hai năm gần đây phát triển khámạnh mẽ Theo giá so sánh năm 1994 thì năm 1996 là 9261,64 thì năm
2000 là 10.298,54 triệu đồng Theo giá hiện hành thì năm 1996 là 11059,5triệu đồng và năm 2000 là 14057,3 triệu đồng
Trong chăn nuôi phát triển mạnh nhất phải kể đến lợn và gia cầm.Năm 1996 giá trị sản phẩm gia cầm là 11059,5 triệu đồng chiếm tỷ trọng là16,05% thì đến năm 2000 giá trị sản phẩm gia cầm là 2374,4 triệu đồngchiếm 16,9% tỷ trọng Tiếp đến là lợn tuy sản lợng tăng lên không ngừngnhng tỷ trọng thì hầu nh không tăng Điều này cho thấy hớng chuyển dịch
Trang 29của ngành chăn nuôi là phát triển các loại con nuôi mà huyện có lợi thế,phùhợp với nhu cầu của thị trờng,nh sự tăng lên khá nhanh của Bò,Dê,Gia cầm.
Sở dĩ có sự thay đổi cơ cấu nh vậy là do trong những năm gần đây kinh
tế hộ và kinh tế trang trại của huyện phát triển khá mạnh mẽ Do yêu cầucủa thị trờng mà đặc biệt là thị trờng trung tâm tỉnh (thị xã Lào Cai và Cam
đờng) nên hớng sản xuất vật nuôi của huyện dần chuyển sang nuôi các loạivật nuôi có khả năng tiêu thụ lớn đó là bò, lợn, gia cầm và dê Hiện nay cáctrang trại trong huyện tập trung chủ yếu vào nuôi bò, dê và gia cầm còn lợnthì do đa số các hộ kinh tế nuôi Điều này cho thấy kinh tế hộ của huyệnphát triển khá mạnh và ngành chăn nuôi của huyện đã và đang hớng sangsản xuất hàng hóa một cách tích cực.tuy vậy ta vẫn phải nói rằng chăn nuôicủa huyện trong những năm qua là cha thật sự tơng ứng với tiềm năng và lợithế của huyện các trang trại tơng đối nhiều nhng sản xuất vẫn cha thật sựhiệu quả do trình độ sản xuất, do thiếu vốn Các hộ nông dân chăn nuôi chủyếu dựa trên sự tận dụng những sản phẩm d thừa của ngành trồng trọt và gia
đình chứ cha thật sự phát triển mạnh theo hớng sản xuất hàng hoá.Nên sảnlợng và chất lợng cha cao cha đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng và nhu cầuphát triển của huyện
Trang 30BiÓu 6: Sè lîng vµ s¶n lîng thÞt gia sóc, gia cÇm cña huyÖn B¸t x¸t qua