1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP xác ĐỊNH GIÁ THÀNH và CHI PHÍ THEO mục TIÊU

31 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận phương pháp xác định giá thành và chi phí theo mục tiêu
Tác giả Nhóm 9
Người hướng dẫn Ths. Lê Thị Hiên
Trường học Học viện Ngoại Thương
Chuyên ngành Kế toán quản trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 323,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công thức này liên quan đến việc quyết định mức chi phí mục tiêu có thể chấpnhận được tại thời điểm phát triển sản phẩm để nhằm đạt được lợi nhuận một cách đầyđủ khi sản phẩm được tung r

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

-TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ THÀNH VÀ

CHI PHÍ THEO MỤC TIÊU

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 9

Ninh Thị Quỳnh Như – 2011210077

Nguyễn Thuỳ Dương – 2011210024

Hà Nội, tháng 11 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

Chương I Cơ sở lý luận của đề tài 4

1 Lịch sử hình thành của phương pháp chi phí mục tiêu 4

2 Khái niệm, đặc điểm và mục tiêu áp dụng phương pháp chi phí mục tiêu 4

2.1 Khái niệm phương pháp chi phí mục tiêu 4

2.2 Đặc điểm phương pháp chi phí mục tiêu 6

2.3 Mục tiêu áp dụng phương pháp chi phí mục tiêu 7

3 Cụ thể các giai đoạn của phương pháp 8

4 Các nghiên cứu liên quan đến chi phí mục tiêu 10

4.1 Chi phí mục tiêu với chu kỳ sống sản phẩm 10

4.2 Ưu điểm của phương pháp chi phí mục tiêu 12

4.3 Nhược điểm của phương pháp chi phí mục tiêu 12

4.4 Các nguyên tắc của chi phí mục tiêu 13

5 Mô hình phương pháp xác định chi phí theo mục tiêu 14

Chương II: Tính ứng dụng của phương pháp 16

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Kế toán quản trị là lĩnh vực giữ vai trò vô cùng quan trọng trong doanh nghiệp;giúp nhà quản lý nắm bắt thực trạng tài chính của doanh nghiệp, phục vụ công tácquản trị nội bộ và ra quyết định quản trị Do đó, việc nâng cao chất lượng thông tin kếtoán được coi là mục tiêu hàng đầu trong kế toán quản trị Để nâng cao chất lượngthông tin kế toán các doanh nghiệp cần lựa chọn sử dụng các phương pháp kế toánquản trị phù hợp với mình bởi đây là yếu tố có ý nghĩa chiến lược đối với việc pháttriển của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt mang tính toàn cầu, đặcbiệt trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0

Nhiều nghiên cứu cho rằng doanh nghiệp không thể đạt được lợi thế cạnh tranhkhi vẫn duy trì các công cụ truyền thống bởi các công cụ truyền thống dần bộc lộnhững thiếu sót, không phải hoàn toàn áp dụng cho hiện tại do tính phức tạp của chiphí và những thay đổi trong công nghệ; không thể kiểm soát được mức độ hoạt động;hơn nữa, không thể phân bổ chi phí sản xuất một cách chính xác bởi vì tập trung vàochi phí nhân công Những thay đổi này đòi hỏi thông tin có liên quan, hữu ích và kịpthời để hỗ trợ quản lý trong việc lập kế hoạch và mục đích kiểm soát, do đó làm nảysinh nhu cầu về sự phát triển của các công cụ hiện đại Phương pháp kế toán theo chiphí mục tiêu là một trong các phương pháp hiện đại trong kế toán quản trị Tính ưuviệt của Phương pháp đã được thừa nhận trên thế giới vì chi phí mục tiêu là một công

cụ khích lệ và tạo thuận lợi cho việc liên kết giữa các bộ phận của quy trình chế tạo(Kaplan và Atkinson, 1998)

Vì lí do đó, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu phương pháp xác định giá

thành và chi phí theo mục tiêu” cho tiểu luận này.

Bài viết này nghiên cứu mô hình tính giá thành theo chi phí mục tiêu, từ đó đưa

ra các ví dụ minh họa, ứng dụng tại Việt Nam và rút ra tầm quan trọng của việc vậndụng phương pháp kế toán chi phí mục tiêu đối với các doanh nghiệp trong việc thựchiện chiến lược kinh doanh của mình Qua đó, bài viết đồng thời cũng phân tích một

số vấn đề đặt ra khi áp dụng phương pháp kế toán mục tiêu tại Việt Nam

Trang 4

NỘI DUNG

Chương I Cơ sở lý luận của đề tài

1 Lịch sử hình thành của phương pháp chi phí mục tiêu

Phương pháp chi phí mục tiêu có nguồn gốc từ Nhật Bản Phương pháp nàyđược phát minh từ tập đoàn xe hơi Toyota và nó được phát triển tại Nhật Bản từ nhữngnăm 1960 như là một biện pháp thích nghi với điều kiện thị trường phức tạp vàphương pháp này cũng xuất hiện lần đầu tiên tại các bài giảng các nước Phương Tâynhững năm 1990 Phương pháp chi phí mục tiêu lần đầu tiên được xuất hiện tại Nhậtbản với tên gọi “Genka Kikaku”

Sự mở rộng của phương pháp này có thể được đánh dấu sau thế chiến thứ 2.Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhiều hãng sản xuất Nhật bản phải gồng mình lên đấutranh với việc phải cung cấp các sản phẩm tại mức giá bằng hoặc thấp hơn với giá thịtrường Sản xuất theo số lớn của các công ty Nhật từ những năm 1960 đã nảy sinh nhucầu phải cung cấp sản phẩm với những kỳ vọng của khách hàng Khách hàng trở nên

có quyền lực hơn trong việc lựa chọn loại hàng hóa mà họ tiêu dùng Môi trường cạnhtranh gay gắt hơn là nhân tố chủ yếu khiến cho các công ty Nhật bản hướng tới việcphát triển phương pháp Phương pháp chi phí mục tiêu Sakurai (1989) chỉ ra rằng yêucầu của khách hàng ngày gia tăng và chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn lại chính

là những lý do để của việc ứng dụng phương pháp Phương pháp chi phí mục tiêu tạinước Nhật Hầu hết các công ty lắp máy và sản xuất xe hơi của Nhật đều áp dụngphương pháp này Một số các doanh nghiệp Mỹ như Ford và Chrysler và một số cáccông ty trên các nước khác cũng ứng dụng phương pháp này nhằm mục đích có thểcạnh tranh trên thị trường Pierre năm 2002 đã nhấn mạnh từ một bản điều tra vềPhương pháp chi phí mục tiêu là một kỹ thuật được vận dụng rộng rãi Có hai lý dochính cho việc phát triển phương pháp này là: công ty ngày càng mất kiểm soát về giá

cả bởi vì giá cả được quyết định theo nhu cầu thị trường và lý do thứ hai là hầu hết cácchi phí sản phẩm đều được quyết định từ giai đoạn thiết kế sản phẩm

Năm 1988, Hiromoto trong nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng phương pháp chiphí theo mục tiêu là một công cụ giúp định vị vững chắc vị thế cạnh tranh của cácdoanh nghiệp Nhật bản trong thị trường cạnh tranh toàn cầu những năm 1980

2 Khái niệm, đặc điểm và mục tiêu áp dụng phương pháp chi phí mục tiêu

2 1 Khái niệm phương pháp chi phí mục tiêu

Phương pháp chi phí theo mục tiêu được vận dụng đầu tiên tại các hãng xe hơiNhật bản để sản xuất ra các sản phẩm tương lai với sự cân bằng giữa mục tiêu chi phíthấp nhất và những đặc tính cốt yếu nhất Hãng sản xuất ô tô Nhật bản Toyota đã thừanhận rằng mức giá bán của sản phẩm được quyết định bởi thị trường, sau đó chi phímục tiêu được tính theo công thức:

Trang 5

Công thức này liên quan đến việc quyết định mức chi phí mục tiêu có thể chấpnhận được tại thời điểm phát triển sản phẩm để nhằm đạt được lợi nhuận một cách đầy

đủ khi sản phẩm được tung ra ngoài thị trường Phương pháp chi phí mục tiêu thiết lậpmức chi phí mục tiêu bằng việc trừ khoản lợi nhuận mục tiêu cần đạt được từ mức giábán mục tiêu Mức giá bán mục tiêu này được xác định dựa trên cơ sở thị trường Hệthống chi phí mục tiêu được thực thi kể từ giai đoạn phát triển sản phẩm mới thôngqua việc lập kế hoạch, kiểm soát và cắt giảm chi phí từ sự phối hợp của nhiều bộ phậntrong toàn bộ doanh nghiệp Phương pháp này được xác định như là công cụ để kiểmsoát chi phí và sản xuất ra những sản phẩm đáng giá nhất đến tay khách hàng đồngthời cũng mang lại mức lời hấp dẫn cho cả doanh nghiệp Đây là phương pháp quantâm nhiều hơn tới việc kiểm soát chi phí trong dài hạn, phối hợp từ những hoạt độngcủa người thiết kế sản phẩm và có thể được xem xét như là hệ thống kế toán quản trịchiến lược của công ty

Nguyên tắc cốt lõi của phương pháp này theo Cooper & Slagmulder, 1999 là

“Mức chi phí theo mục tiêu không bao giờ bị vượt quá” Phương pháp này đòi hỏi tínhsáng tạo, sự cam kết, và sự cộng tác làm việc cởi mở của nhiều bộ phận trong doanhnghiệp đồng thời với sự hỗ trợ của nhà cung cấp

Hầu hết các định nghĩa từ các nhà nghiên cứu đều đặt trọng tâm của phươngpháp này vào việc cắt giảm chi phí nhưng với các phạm vi khác nhau Một số tác giảcho rằng Phương pháp chi phí mục tiêu là một phương pháp quản trị chi phí hiệu quảhơn là một kỹ thuật xác định chi phí đơn thuần (Tani, 1995) Một số tác giả xem xétphương pháp này chỉ ở giai đoạn thiết kế và phát triển sản phẩm trong khi các tác giảkhác lại xem xét phương pháp này trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm Có thể xemxét một số cách nhìn nhận về Phương pháp chi phí mục tiêu khác nhau dưới đây:

Theo Takao Tanaka (1993), “phương pháp chi phí mục tiêu là các nỗ lực được

thực hiện trong các giai đoạn kế hoạch hóa và sản xuất sản phẩm nhằm đạt được mụctiêu chi phí đã được xác lập mục tiêu là cho phép sản xuất ra các sản phẩm với mụctiêu lợi nhuận trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm”

Tani và cộng sự (1994) định nghĩa Phương pháp chi phí mục tiêu là một thành

phần của hệ thống quản lý chi phí sản phẩm/dịch vụ toàn bộ liên quan đến việc đạtđược đồng thời mục tiêu về chi phí với việc lập kế hoạch và phát triển sản phẩm mới

Langfield và cộng sự (2006) giải thích rằng Phương pháp chi phí mục tiêu là

một hệ thống quản lý chi phí và lập kế hoạch lợi nhuận trong toàn bộ vòng đời của sảnphẩm nhằm tạo ra mức lợi nhuận như mong muốn của doanh nghiệp với mức giá bánsản phẩm chấp nhận được

Trang 6

Williamson (1997) cho rằng Phương pháp chi phí mục tiêu là một quá trình đảm

bảo sản phẩm được thiết kế theo phương thức mà doanh nghiệp có thể bán được sảnphẩm với mức giá cạnh tranh mà vẫn tạo ra mức lợi nhuận mong muốn

Monden & Hamada (1994) đưa ra định nghĩa về Phương pháp chi phí mục tiêu

như sau: “Hệ thống để hỗ trợ quá trình cắt giảm chi phí trong suốt giai đoạn phát triển

và thiết kế sản phẩm mới một cách toàn diện, một sự thay đổi mẫu sản phẩm mới hoàntoàn, hoặc một sự thay đổi mẫu sản phẩm thứ cấp”

Hilton (2008) cho rằng Phương pháp chi phí mục tiêu như chiến lược quản lý

chi phí dài hạn cho phép doanh nghiệp tham gia và duy trì vị thế cạnh tranh trên thịtrường cho một loại sản phẩm và cạnh tranh thành công với các đối thủ

Một tổ chức quốc tế được thành lập do một số các tập đoàn công nghiệp lớn, gọi là Consortium for Advanced Management-International (gọi tắt là CAM-I), để phát

triển các phương pháp kế toán quản trị hiện đại đã định nghĩa về chi phí mục tiêu nhưsau: “Phương pháp chi phí mục tiêu là tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị chophép đạt được mục tiêu chi phí và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạchhóa sản phẩm mới Phương pháp cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm soát ở giaiđoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận đã được xácđịnh phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm”

Từ những khái niệm trên, phương pháp chi phí mục tiêu có thể được khái quát

lại như sau: Phương pháp chi phí mục tiêu là một quá trình xác định chi phí mục tiêu cho sản phẩm ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển sản phẩm và hỗ trợ quá trình đạt được chi phí mục tiêu thông qua việc cung cấp các thông tin chi phí cần thiết

để nhóm phát triển sản phẩm có thể thiết kế sản phẩm phù hợp với yêu cầu thị trường, giá cả cạnh tranh, đồng thời đảm bảo đạt được lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp khi sản phẩm được tung ra thị trường.

2.2 Đặc điểm phương pháp chi phí mục tiêu

Nhiều nhà khoa học đã định nghĩa Phương pháp chi phí mục tiêu theo các cáchkhác nhau, nhưng về cơ bản đều nêu ra những đặc điểm của Phương pháp chi phí mụctiêu như sau:

Phương pháp Phương pháp chi phí mục tiêu là phương pháp thích hợp vớimôi trường cạnh tranh ngày càng cao, ngược lại phương pháp này không thích hợp vớinhững loại sản phẩm độc quyền, mang tính độc nhất

Phương pháp chi phí mục tiêu tuân thủ theo nguyên tắc “chi phí mục tiêukhông thể bị vượt quá”, theo nguyên tắc này sản phẩm nếu trong khâu thiết kế có mứcchi phí cao hơn mức chi phí mục tiêu đã xác định trước thì sẽ không được sản xuấthoặc sẽ được thiết kế lại

Trang 7

Phương pháp chi phí mục tiêu là một phương pháp khác biệt với các hệthống chi phí truyền thống; phương pháp này không đơn thuần chỉ là một phươngpháp kiểm soát chi phí mà định hướng đến cắt giảm chi phí để đạt mục tiêu chi phí.

Giá bán mục tiêu và lợi nhuận mục tiêu được thiết lập trong suốt giai đoạn lập kế hoạch về sản phẩm

Thực hiện cắt giảm chi phí với sự hợp tác toàn bộ với chuỗi cung ứng từ nhàcung cấp, sản xuất, phân phối, đại lý và khách hàng

Yêu cầu một hệ thống thông tin hiệu quả và thông suốt để cung cấp những thông tin khác nhau

Phương pháp chi phí mục tiêu chủ yếu xem xét việc cắt giảm chi phí trựctiếp/chi phí biến đổi và ứng dụng trong suốt giai đoạn phát triển và thiết kế trong vòngđời của sản phẩm

Mức chi phí mục tiêu được thiết lập trước khi quá trình sản xuất được đưavào thực tế và nó được phân chia đến từng các bộ phận cấu thành khác nhau, chứcnăng và các khoản mục chi phí

2.3 Mục tiêu áp dụng phương pháp chi phí mục tiêu

Theo Monden (1995) có hai điểm trọng tâm của chi phí mục tiêu là: (1) chi phícủa sản phẩm mới nên thấp hơn để đảm bảo lợi nhuận biên mục tiêu với chất lượngcao, thời gian giao hàng đúng hạn và giá cả cạnh tranh theo thị trường và (2) để đạtđược mục tiêu lợi nhuận trong việc phát triển sản phẩm mới thì người lao động trongtoàn công ty phải được khích lệ Mục tiêu cơ bản của Phương pháp chi phí mục tiêu lànhằm tăng lợi nhuận, tăng trưởng và gia tăng giá trị Mục tiêu trọng tâm và tổng quátcủa Phương pháp chi phí mục tiêu là để đảm bảo rằng không có một sản phẩm nàokhông có lợi nhuận được đưa vào sản xuất và nó xác định sự đánh đổi tốt nhất giữa 3yếu tố: chất lượng, chi phí và tính năng sản phẩm (Cooper, 1995) Theo các nghiêncứu trước đây, mục tiêu của Phương pháp chi phí mục tiêu có thể được tóm lược nhưsau:

Nâng cao mức sinh lời

Hiện thực hóa và xác định mục tiêu chi phí thấp để tạo ra sự cắt giảm chi phícủa sản phẩm mới

Bảo đảm được chất lượng của sản phẩm

Cải thiện quá trình phát triển sản phẩm

Giá cả được xác định đáng tin cậy

Vươn tới kỹ năng sản xuất và tiếp thị tốt hơn

Tập trung tốt hơn vào sức mạnh tập thể thông qua phương thức làm việc theo các nhóm liên chức năng

Tập trung tốt hơn vào độ thỏa dụng khách hàng

Trang 8

Sản xuất sản phẩm đáp ứng tốt với thị hiếu khách hàng với mức giá cạnh tranh chi phí

Tiên phong thực hiện kế hoạch chi phí và thực hiện các biện pháp cắt giảm

3 Cụ thể các giai đoạn của phương pháp.

Các giai đoạn của phương pháp: gồm 7 bước thực hiện:

Bước 1: Mô tả những đặc tính của sản phẩm, dịch vụ rồi đưa ra khối lượng bán hàng

- Đưa ra khái niệm về sản phẩm mới, xác định lợi thế cạnh tranh của sản phẩm mới Từ đó, tổ chức nhận thấy được những cơ hội và thách thức

- Dựa vào dữ liệu nghiên cứu thị trường & các đối thủ cạnh tranh, nguồn dữ liệu nội bộ để hoàn thiện sản phẩm

VD: tại Mỹ, khi nghiên cứu thị trường về các sản phẩm mới, dữ liệu marketing

đã có sự trao đổi với các nhà cung cấp, người thiết kế, R & D

Bước 2: Thiết lập giá bán mục tiêu

Trong bước này, giá bán ước tính dựa vào công dụng và thuộc tính của sản phẩm,các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Tại một số tổ chức, đối với một số khách hàng công nghiệp lớn giá bán có thểđược thoả thuận bởi bộ phận tiếp thị hay bán hàng cùng lúc với việc quyết định đặctrưng của sản phẩm

Trang 9

Bước 3: Xác định chi phí mục tiêu tổng thể của sản phẩm

Tại bước này, trước khi xác định chi phí mục tiêu tổng thể nên xác định chi phítheo từng bộ phận cấu thành sản phẩm Phải xác định tầm quan trọng của từng bộ phậntạo nên sản phẩm, từ đó xác định tỷ lệ thuận tương ứng của chi phí từng bộ phận sovới chi phí mục tiêu tổng thể sản phẩm Việc phân tích, xác định chi phí mục tiêu củatừng bộ phận được tiến hành theo phương pháp làm việc nhóm

Thực hiện việc chi tiết hoá chi phí mục tiêu tổng thể theo dạng hình cây, chiatheo các nhóm chi phí: nghiên cứu thị trường, sản xuất, chế tạo, phân phối, bán hàng

Dựa vào mức độ quan trọng khác nhau của từng đặc điểm, từng bộ phận cấuthành sản phẩm đã được xây dựng trong bước 1, phân bổ chi phí tỷ lệ thuận với mức

độ quan trọng của mỗi bộ phận

Sau đó, bộ phận quản trị nguồn cung ứng sẽ tiếp tục làm việc với nhà cung cấpđồng thời xem xét máy móc thiết bị, chi phí và giá bán đưa ra

Cách tính chi phí mục tiêu trên thực tế:

Chi phí mục tiêu = Giá bán ước tính - Lợi nhuận mong muốn.

Lợi nhuận mong muốn = tỷ lệ lợi nhuận bắt buộc cam kết của các doanh nghiệp,

là một phần quy trình hoạch định chiến lược

Bước 4: So sánh chi phí dựa trên thiết kế ban đầu với chi phí mục tiêu đã đưa

ra (HĐ quản lý chi phí)

Quá trình thực hiện quản lý chi phí cần phát hiện những bộ phận của sản phẩm cóchi phí quá cao hay quá thấp so với tầm quan trọng của tổng thể sản phẩm Từ đó, cónhững biện pháp cắt giảm hay điều chỉnh chi phí tương ứng

Cần áp dụng các nguyên tắc và phương pháp quản lý nghiêm ngặt để giảm chiphí sản xuất Bên cạnh đó nên có sự phối hợp giữa các bộ phận: quản trị nguồn cungứng, bộ phận R&D & thiết kế, bộ phận sản xuất Nếu cần phải ứng dụng linh hoạt cáccách sau: thay đổi thiết kế hoặc vật liệu, mở rộng nhà cung cấp, cân nhắc các chi phí

cơ hội

Sau đó tính khoảng cách cụ thể giữa chi phí thực tế & chi phí mục

tiêu Bước 5: Tiếp tục cải tiến

Khi doanh nghiệp tối thiểu hóa được khoảng cách chi phí đã tính ở b4, tiếp theocần theo dõi hoạt động đưa sản phẩm mới ra thị trường

Có cách thức kiểm soát, thay đổi chi phí mục tiêu khi có sự thay đổi

Nhà quản trị cung ứng phải tiếp tục vai trò lãnh đạo, quản lý chi phí cung ứng cóthể phát sinh và giữ mối quan hệ với các bên không đạt yêu cầu, không tham gia vàoquá trình cắt giảm chi phí

Cách xác định chi phí mục tiêu

Trang 10

Trong phương pháp chi phí truyền thống, giá thành sẽ được xác định trước, sau

đó xác định lợi nhuận và từ đó hình thành nên giá bán sản phẩm Tuy nhiên, trong mộtthị trường cạnh tranh, chúng ta không thể xác định giá bán dựa trên giá thành sản xuấtcủa mình được Chúng ta phải đưa ra mức giá bán hợp lý dựa theo giá cả thị trườngchung trước, trừ đi lợi nhuận mong muốn và từ đó xác định được giá thành sản phẩmmục tiêu

Trong phương pháp chi phí mục tiêu, giá bán tương lai được dự đoán bằng cách

sử dụng các khái niệm dựa trên nhu cầu hoặc dựa trên cạnh tranh Chi phí mục tiêu sau

đó được xác định bằng cách trừ đi lợi nhuận mong muốn từ giá bán dự kiến như sau:

Chi phí mục tiêu = Giá bán mục tiêu - Lợi nhuận mục tiêu

Giá mục tiêu là mức giá ước tính mà khách hàng sẵn sàng trả cho sản phẩm hoặc dịch vụ

Lợi nhuận mục tiêu là mức lợi nhuận mà doanh nghiệp mong muốn đạt được

Công thức này liên quan đến việc quyết định mức chi phí mục tiêu có thể chấpnhận được tại thời điểm phát triển sản phẩm để nhằm đạt được lợi nhuận một cách đầy

đủ khi sản phẩm được tung ra ngoài thị trường Phương pháp chi phí mục tiêu thiết lậpmức chi phí mục tiêu bằng việc trừ khoản lợi nhuận mục tiêu cần đạt được từ mức giábán mục tiêu Mức giá bán mục tiêu này được xác định dựa trên cơ sở thị trường TheoGarrison (2006), phương pháp chi phí mục tiêu quyết định giới hạn tối thiểu của mứcchi phí cho phép (Allowable Cost) của một sản phẩm và sau đó phát triển sản phẩmmới có khả năng sinh lời Giá cả thị trường là yếu tố được quyết định trước, sau đó trừ

đi mức lợi nhuận yêu cầu từ mức giá thị trường đã quyết định, cuối cùng là sản phẩmđược thiết kế và sản xuất trong giới hạn cao nhất là mức chi phí cho phép (Allowablecost)

Ví dụ: A đang thực hiện mô hình Target Costing A là một công ty sản xuất game

cho máy tính A đang nghiên cứu để tung ra thị trường một mẫu game mới A đã thực hiện nghiên cứu thị trường, lấy ý kiến khách hàng về giá trị của game cũng như tiến hành so sánh với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh A xác định giá bán mục tiêu (Target selling price) là $60 Đây là mức giá mà A cho rằng sẽ bán được sản phẩm để đạt được mục tiêu số lượng đặt ra.

Công ty ước tính tỷ suất lợi nhuận yêu cầu (profit margin) là 30%, do đó A sẽtính được lợi nhuận mong muốn là 30% x $60 = $18

Chi phí ước tính (Target cost) = $60 - $18 = $42

Trang 11

4 Các nghiên cứu liên quan đến chi phí mục tiêu

4 1 Chi phí mục tiêu với chu kỳ sống sản phẩm

Phương pháp chi phí mục tiêu nhấn mạnh mục tiêu cần phải đạt được và thờigian phân tích là chu kỳ sống của sản phẩm Trong đó, chu kỳ sống của sản phẩm đượcthể hiện qua các hoạt động nghiên cứu, triển khai sản phẩm mới; hoạt động sản xuấtsản phẩm đại trà; hoạt động hậu cần phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Chu kỳsống thường được chia thành 3 giai đoạn Cụ thể:

Trong sơ đồ mô tả chi phí chu kỳ sống của sản phẩm được chia thành ba giaiđoạn: giai đoạn hoạch định, giai đoạn sản xuất, và giai đoạn loại bỏ Giai đoạn hoạchđịnh là giai đoạn quan trọng nhất trong chi phí chu kỳ sống sản phẩm, vì đây là giaiđoạn ước lượng các chi phí cho cả vòng đời sản phẩm Chi phí mục tiêu thì được dùngtrong suốt giai đoạn hoạch định, hướng quá trình lựa chọn sản phẩm và quá trình thiết

kế sản phẩm mà một sản phẩm được sản xuất với chi phí thấp, mức lợi nhuận có thểchấp nhận, và đưa ra giá bán sản phẩm cạnh tranh, và đảm bảo chức năng sản phẩm.Chi phí kaizen (cải tiến liên tục) thì tập trung vào nhận biết cơ hội để cải tiến chi phítrong suốt giai đoạn sản xuất Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung

Trang 12

vào nghiên cứu giai đoạn hoạch định cũng chính là nghiên cứu xác định chi phí mục tiêu.

- Giai đoạn hoạch định: Trong giai đoạn này, chi phí phát sinh nhiều nhất là

chi phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, tiếp đó đến chiphí sản xuất thử nghiệm và chi phí marketing Đội ngũ thiết kế phải xác định một hệthống các tính năng của sản phẩm mà khách hàng sẵn sàng mua và số tiền họ sẽ trảcho những tính năng này, sau đó nhà quản trị xác định giá bán dự kiến của sản phẩm,chuẩn bị các điều kiện sản xuất Tiếp theo, nhà quản trị xác định được lợi nhuận mụctiêu trên cơ sở giá bán dự kiến Dựa vào giá bán dự kiến và lợi nhuận mục tiêu, nhàquản trị xác định chi phí trần có thể chấp nhận Các yếu tố này được coi là cố địnhtrong phương pháp chi phí mục tiêu

- Giai đoạn sản xuất: Giai đoạn này chủ yếu là chi phí sản xuất sản phẩm, do

giai đoạn này sản phẩm cơ khí đã được ổn định Và một số chi phí liên quan đến tiêuthụ, tiếp thị sản phẩm cơ khí

- Giai đoạn loại bỏ: Giai đoạn này nhà quản trị có phương án cắt giảm chi phí

hợp lý, bởi đây là giai đoạn chuẩn bị đóng lại chu kỳ sống của một sản phẩm

4.2 Ưu điểm của phương pháp chi phí mục tiêu

Cải tiến quy trình: Phương pháp này cho thấy cam kết của công ty đối với việc

cải tiến quy trình để cạnh tranh trong cùng ngành Ban quản lý cần cải tiến quy trìnhcủa mình với ít tài nguyên hơn mà không làm giảm chất lượng sản phẩm

Khuyến khích đổi mới: Chi phí mục tiêu thúc đẩy công ty khởi xướng những ý

tưởng mới hiệu quả và hiệu quả hơn Một số công ty có thể đưa robot vào sản xuất đểtiết kiệm chi phí đáng kể Ví dụ, Tesla đã đưa robot vào quy trình sản xuất xe hơi củamình Do đó, dây chuyền thân Model 3 hiện được tự động hóa 95%, bao gồm cả việcchuyển, tải và hàn

Khuyến khích cạnh tranh: Bằng cách sử dụng giá thị trường, chúng tôi đã

cạnh tranh với các đối thủ khác Chúng tôi không có ý định đặt giá cao hơn các đối thủcạnh tranh của mình Đồng thời, chúng tôi vẫn duy trì lợi nhuận mục tiêu cho cổ đông

Để đạt được giá mục tiêu và tỷ suất lợi nhuận mục tiêu, chúng tôi chỉ có một sự lựachọn là khấu trừ chi phí Khi công ty hoạt động phù hợp với sự thay đổi của thị trường(thay đổi giá cả), nó phù hợp hơn với thị trường cạnh tranh

Sản phẩm giá trị tốt nhất cho khách hàng: Với chi phí mục tiêu, công ty sẽ cố

gắng giảm bớt các tính năng không có giá trị của sản phẩm vì chúng sẽ không làmgiảm chất lượng của sản phẩm Những tính năng đó chỉ phát sinh chi phí cho công ty

mà không mang lại giá trị cho khách hàng Làm như vậy, khách hàng sẽ nhận được sảnphẩm đúng với giá trị đồng tiền bỏ ra

Trang 13

4.3 Nhược điểm của phương pháp chi phí mục tiêu

Ngay cả khi có nhiều lợi ích, chi phí mục tiêu vẫn có những nhược điểm và hạnchế riêng, bao gồm:

Thiết kế ngân sách thấp: Do yêu cầu về giá thành của sản phẩm, đội ngũ

thiết kế sẽ khó thực hiện công việc của mình Họ phải làm việc chặt chẽ với các bộphận khác để đảm bảo rằng sản phẩm nằm trong phạm vi chi phí Họ phải hạn chế khảnăng sáng tạo nếu điều đó dẫn đến tăng chi phí

Phụ thuộc vào giá thị trường: Khi chúng tôi nhận được chi phí mục tiêu từ

việc sử dụng biên độ giá thị trường ít hơn, nếu có sai sót với giá thị trường, toàn bộ hệthống sẽ thất bại Chúng tôi thường phải dựa trên giá thị trường mà chúng tôi nhậnđược từ nghiên cứu thị trường, vì vậy bất kỳ vấn đề nào trong nghiên cứu sẽ ảnhhưởng đến chi phí của chúng tôi Một số sản phẩm tương tự nhưng có các tính năngkhác nhau, do đó, chúng tôi sẽ không phù hợp để sử dụng giá bán của chúng

Vật liệu hoặc công nghệ rẻ hơn: Một số công ty có thể coi vật liệu chất

lượng thấp dẫn đến sản phẩm chất lượng thấp cho khách hàng Công ty mua thiết bịlạc hậu để tiết kiệm chi phí, nhưng nó ảnh hưởng về lâu dài khi chúng tôi gắn bó vớichúng trong một vài năm (thời gian hữu dụng của tài sản cố định)

Chi phí sản xuất không thực tế, chi phí ước tính quá thấp: Để đạt được chi

phí mục tiêu, nhóm thiết kế có thể đi kèm với ngân sách sản xuất rất eo hẹp Kết quả

là, nó là rất tích cực cho đội sản xuất Chi phí mục tiêu sẽ không đáp ứng nếu có mộtphương sai bất lợi nhỏ Nhóm sẽ cần phải loại bỏ bất kỳ sai sót hoặc sai sót nào đểhoàn thành công việc một cách hoàn hảo vốn chỉ xảy ra trên giấy

Không ước tính đúng số lượng: Mặc dù chúng tôi có thể đạt được chi phí

mục tiêu, chúng tôi có thể không có lãi nếu số lượng bán không đáp ứng ngân sách Tỷsuất lợi nhuận không thể bao gồm tổng chi phí cố định

4.4 Các nguyên tắc của chi phí mục tiêu

Để ứng dụng thành công công cụ chi phí mục tiêu trong quản lý chi phí thì phảituân thủ sáu nguyên tắc cơ bản sau của Ansari et al., (1997)

- Nguyên tắc thứ nhất, xác định chi phí phải hướng đến giá cả

Giá cả được hiểu là giá thị trường, giá thị trường được áp dụng để quyết định sựphù hợp và cũng là giá bán mục tiêu Chi phí mục tiêu được tính bằng cách sử dụngmột công thức tương tự như sau: Giá thị trường – (trừ) biên lợi nhuận = chi phí mụctiêu Điều này cho thấy chúng ngược lại với quy trình xác định chi phí theo phươngpháp truyền thống mà ở đó các chi phí lập nên giá cả - chi phí tăng thì giá cả tăng

- Nguyên tắc thứ hai, đặt trọng tâm vào khách hàng

Trang 14

Các yêu cầu của khách hàng về chất lượng, giá thành, thời gian được kết hợp mộtcách đồng thời trong sản phẩm và quyết định quy trình, hướng để phân tích giảm chiphí Đối với khách hàng, giá trị của bất kỳ đặc điểm hoặc chức năng gì của sản phẩmphải lớn hơn chi phí cần thiết để khách hàng có được đặc điểm hoặc chức năng đó.

- Nguyên tắc thứ ba, đặc trọng tâm vào giai đoạn thiết kế

Kiểm soát chi phí được chú trọng tại giai đoạn thiết kế sản phẩm Vì vậy, cácthay đổi về kỹ thuật phải được thực hiện trước quá trình sản xuất sẽ đem lại kết quảlàm giảm chi phí và giảm thời gian gia nhập thị trường (đưa vào sử dụng) đối vớinhững sản phẩm mới

- Nguyên tắc thứ tư, nguồn nhân lực đa năng

Đội ngũ chuyên gia xử lý sản phẩm và quy trình đa năng có trách nhiệm xemxét toàn bộ sản phẩm từ những công đoạn ban đầu đến công đoạn sản xuất cuối cùng

Nó có thể bao gồm các phạm vi khác nhau được cần đến như kỹ thuật, sản xuất, kinhdoanh, tiếp thị, nguyên vật liệu, chi phí, dịch vụ và các hoạt động hỗ trợ khác Ngoài

ra, còn các thành phần tham gia bên ngoài như các nhà cung cấp, khách hàng, đại lýbán, các nhà phân phối, những người cung cấp, và các nhà tái chế cũng phải được baogồm trong quá trình thiết kế ở các giai đoạn đầu của chu kỳ phát triển của sản phẩm

- Nguyên tắc thứ năm, kết hợp chuỗi giá trị

Mọi phần tử của chuỗi giá trị như nhà cung cấp, nhà phân phối, nhà cung cấpdịch vụ, khách hàng đều được xem xét đến trong quá trình xác định chi phí mục tiêu

- Nguyên tắc thứ sáu, định hướng chu kỳ sống sản phẩm

Chi phí trong toàn bộ vòng đời sản phẩm phải được hạn chế tối đa cho cả nhàsản xuất và khách hàng Chi phí này bao gồm giá mua, chi phí bảo hành và chi phíphân phối

5 Mô hình phương pháp xác định chi phí theo mục tiêu

Các nguyên tắc của phương pháp chi phí mục tiêu được trình bày theo lý thuyếttương đối giống nhau, tuy nhiên, các mô hình phương pháp được đưa ra cũng có mộtvài điểm khác biệt Dưới đây là các sơ đồ minh họa một mô hình của Sakurai (1990)

Trang 15

Hình 1 Sơ đồ quản trị chi phí sản xuất theo Sakurai

Theo Marqués (1998), khái niệm kaizen có thể được hiểu như là sự xem xét cảitiến không ngừng chi phí nhằm duy trì liên tục tỷ lệ chi phí/lợi nhuận ở mức tốt nhất.Kaizen costing hay phương pháp chi phí mục tiêu quan tâm đến nhận diện những cơhội để cải tiến chi phí trong giai đoạn chế tạo

Hình 2 Sơ đồ chi phí mục tiêu và các giai đoạn sản xuất sản phẩm

Ngày đăng: 22/12/2022, 04:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w