Sơ đồ 1.2: Sơ đồ chuỗi giá trị ValueLinks-GTZ, 2007 Như vậy, ngành hàng là một chuỗi các tác nhân được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đế
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ LỢN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã ngành: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ QUANG TRUNG
THÁI NGUYÊN - 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Văn Tuấn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến TS Hà Quang Trung - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các Thầy Cô phòng Đào tạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2022
Tác giả luận văn
Trần Văn Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm về chuỗi giá trị 4
1.1.2 Khái niệm giá trị, chi phí và lợi nhuận 4
1.1.3 Một số khái niệm khác được sử dụng để phân tích chuỗi giá trị 8
1.1.4 Các bước tiến hành phân tích chuỗi giá trị 12
1.1.5 Lý luận về chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn 15
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi lợn 17 1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.2.1 Một số bài học phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi lợn ở một số địa phương 32
1.3 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu 34
1.4 Bài học kinh nghiệm cho phát triển chuỗi giá trị lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 35
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 36
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 38
Trang 52.2 Nội dung nghiên cứu 43
2.3 Phương pháp nghiên cứu 43
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu 43
2.3.2 Phương pháp phân tích thông tin số liệu 46
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài 47
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về sản xuất lợn 47
2.4.2 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh nội hàm chuỗi giá trị lợn 47
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Hiện trạng ngành chăn nuôi lợn của thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 48 3.1.1 Hiện trạng chăn nuôi lợn của thị xã Phổ Yên 48
3.1.2 Giết mổ, chế biến và tiêu thụ 49
3.2 Thực trạng chuỗi giá trị thịt lợn thị xã Phổ Yên 50
3.2.1 Sơ đồ chuỗi thịt lợn 50
3.2.2 Hoạt động của các tác nhân tham gia trong chuỗi thịt lợn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 54
3.2.3 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị lợn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 65 3.2.4 Đánh giá của các tác nhân khi tham gia chuỗi giá trị chăn nuôi lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên 67
3.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thánh thức của chuỗi giá trị chăn nuôi lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên 73
3.4 Một số giải pháp hoàn thiện chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lơn tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 74
3.4.1 Nhóm giải pháp về chính sách 74
3.4.2 Nhóm giải pháp nâng cao giá trị chuỗi giá trị thịt lợn 74
3.4.3 Nhóm giải pháp về Phát triển mô hình liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị 75
3.4.4 Nhóm giải pháp về xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
Kết luận 76
Kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 62
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
PTNT : Phát triển nông thôn
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TSCĐ : Tài sản cố định
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô mẫu nghiên cứu 44
Bảng 2.2 Khoảng của giá trị trung bình và ý nghĩa của thang đo likert 45
Bảng 3.1 Các chức năng của chuỗi giá trị thịt lợn thị xã Phổ Yên 50
Bảng 3.2 Thông tin hộ chăn nuôi lợn 54
Bảng 3.3 Chi phí của hộ chăn nuôi lợn 58
Bảng 3.4 Thông tin chung của thương lái 59
Bảng 3.5 Giá mua, giá bán thương lái từ năm 2019 - 2021 61
Bảng 3.6 Chi phí kinh doanh của thương lái từ năm 2021 62
Bảng 3.7 Quy mô của lò mổ (bình quân/lò mổ) 62
Bảng 3.8 Chi phí hoạt động của lò mổ 63
Bảng 3.9 Thông tin chung về người bán lẻ 64
Bảng 3.10 Chi phí hoạt động bán lẻ 64
Bảng 3.11 Phân tích các tác nhân thuộc thị trường tiêu thụ trong thị xã 66
Bảng 3.12 Phân tích các tác nhân thuộc thị trường tiêu thụ ngoài thị xã 66
Bảng 3.13 Đánh giá lợi ích của các tác nhân khi tham gia chuỗi giá trị chăn nuôi lợn thị xã Phổ Yên 68
Bảng 3.14 Đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia chuỗi giá trị của 70
Bảng 3.15 Đánh giá những thuân lợi trong phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi lợn thị xã Phổ Yên 71
Bảng 3.16 Đánh giá những khó khăn trong phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi lợn thị xã Phổ Yên 72
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Kênh tiêu thụ thịt lợn tại thị xã Phổ Yên 49
Hình 3.2 Sơ đồ chuỗi giá thịt lợn tại thị xã Phổ Yên 51
Hình 3.3 Giống lợn nuôi tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 55
Hình 3.4 Nguồn cung cấp giống lợn 56
Hình 3.5 Hình thức nuôi và thức ăn sử dụng 56
Hình 3.6 Kênh tiếp cận thông tin chăn nuôi của hộ 57
Hình 3.7 Đánh giá của Hộ về kênh tiếp cận thông tin 57
Hình 3.8 Tỷ lệ cung cấp sản phẩm đầu ra của thương lái 60
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Trần Văn Tuấn
2 Tên luận văn: Nghiên cứu chuỗi giá trị lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3 Ngành: Kinh tế nông nghiệp, Mã số: 8.62.01.15
4 Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Quang Trung
5 Cơ sở đào tạo: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Lý do chọn đề tài
Nhằm mục tiêu đánh giá sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị chăn nuôi, sự liên kết của các tác nhân và lợi ích đạt được khi các tác nhân tham
gia trong chuỗi giá trị Đây là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá
trị lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” Để
nghiên cứu những lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra giải pháp phù hợp pháp phát
triển mô hình liên kết chuỗi và tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành hàng Góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị chăn nuôi lợn
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại thị
xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Phương pháp nghiên cứu
Số liệu nghiên cứu của luận văn được thu thập bằng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp và số liệu điều tra từ 57 trang trại và hộ chăn nuôi Phân tổ các hộ chăn nuôi lợn (tác nhân sản xuất) theo Điều 21 Nghị định
Trang 1013/2020/NĐ-CP Sau khi thu thập và tổng hợp số liệu được xử lý và phân tích dựa trên phương pháp thống kê mô tả, so sánh và phân tích SWOT…
Tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngành hàng thịt lợn đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và góp phần ổn định nguồn thực phẩm và tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho các nông hộ Trong 57 nông hộ được lựa chọn nghiên cứu thì số lượng các tác nhân tham gia trong từng khâu trong chuỗi khác nhau tuỳ theo đặc điểm và chức năng của các tác nhận Phần lớn sản phẩm thị lợn được tiêu thị ở thì trường ngoài thị xã là 67,8% còn lại là được tiêu thụ thị trường trong thị xã Kênh phân phối và tiêu thị sản phẩm thịt lợn thông qua
4 kênh nhưng trong đó kênh tiêu thụ số 3 có sự tham gia của các thương lái đã tạo ra giá trị thặng dư cao nhất là 56.835 đ/kg
Để phát triển chuỗi giá trị thịt lợn của thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên các nhóm giải pháp được đưa ra: Chính sách; Nâng cao giá trị chuỗi; Phát triển các mô hình liên kết chuỗi; Xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn là một nghề có từ lâu đời qua quá trình thuần hoá, chọn lọc và lại tạo để tạo ra các giống lợn có màu sắc, kích thước và hình dáng khác nhau Trong hệ thống sản xuất nông nghiệp thì chăn nuôi lợn có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của người dân vì chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và tạo ra giá trị kinh tế trong chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên là nơi có ngành chăn nuôi phát triển rất sớm của tỉnh Thái Nguyên Các mô hình chăn nuôi trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đang chuyển từ hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ sang hình thức chăn nuôi theo hướng chuyên môn hoá, mở rộng quy mô chăn nuôi, ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến trong chăn nuôi Theo định hướng phát triển của huyện và tỉnh thì chăn nuôi là một trong ngành mũi nhọn của địa phương trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Theo báo cáo của Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp & PTNT trong năm 2019 và 2020 ảnh hưởng của dịch tả Châu Phi tổng số đàn lợn bị sụt giảm nghiêm trọng ảnh hưởng đến sản lượng thịt bị thiếu hụt trên thị trường gây ra mức giá thịt lợn cao trong một thời gian dài và phải nhập khẩu số lượng lớn thịt lợn từ nước ngoài để đảm bảo nguồn cung thịt cho thị trường
Nắm bắt được nhu cầu của thị trường và định hướng phát triển chăn nuôi của tỉnh và huyện Thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã mạnh dạn triển khai
và mở rộng sản xuất trên địa bàn với chăn nuôi tập trung theo vùng quy hoạch, địa điểm chăn nuôi cách xa khu dân cư tập trung, phát triển chăn nuôi theo các quy trình tiên tiến và kiểm soát chặt chẽ các nguồn đầu vào và hạn chế, kiểm soát dịch bệnh Trong điều kiện ảnh hưởng của dịch bệnh và yêu cầu về thực
an toàn ngày càng cao của thị trường đòi hỏi người chăn nuôi phải có những
Trang 12phương thức tổ chức liên kết theo chuỗi gíá trị từ sản xuất đến tiêu thụ để nâng cao giá trị sản phẩm
Thị xã Phổ Yên hiện có hơn 100 trang trại chăn nuôi với quy mô lớn, nhỏ khác nhau Trong những năm qua, cùng với việc khuyến khích, hỗ trợ các
hộ dân phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại, Thị xã đã chỉ đạo các địa phương kết nối với đơn vị, doanh nghiệp liên kết với các hộ chăn nuôi, nhằm ổn định đầu ra và nâng cao chất lượng sản phẩm Thị xã đã có gần 20 mô hình chăn nuôi theo chuỗi liên kết, mỗi năm cung ứng ra thị trường một lượng lớn con gà, lợn, thỏ…trong đó mô hình chăn nuôi lợn chiếm ưu thế, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng (UBND thị xã Phổ Yên, 2022) Tuy nhiên do điều kiện thiên nhiên ngày càng trở nên khắc nghiệt, nhiều dịch bệnh xảy ra làm tổn hại đến vật nuôi dẫn đến sự sụt giảm đàn, sự chèn ép của các thương lái dẫn đến thu nhập của người chăn nuôi bấp bênh Phát triển chăn nuôi theo chuỗi giá trị đang là bước đi được nhiều địa phương lựa chọn vì họ có sự ràng buộc lẫn nhau Người dân chăn nuôi tự phát và không theo quy trình kỹ thuật nên không kiểm soát được vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, một số hộ chăn nuôi còn sử dụng một số chất kích thích, và bán lợn ốm, lợn bệnh ra ngoài thị trường Do chăn nuôi tự phát nên thường bị thương lái ép giá, nguồn cung cầu trên thị trường thường bất ổn và khó kiểm soát Công tác quản lý kiểm tra của các cơ quan chưa hiệu quả, đôi khi người tiêu dùng không được hưởng những dịch vụ tốt nhất, sản phẩm được bán ra trên thị trường không tương xứng với chi phí sản xuất phải bỏ
ra Những điều này tạo nên hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả và các tác nhân tham gia trong chuỗi đều không có lợi Vậy để đảm bảo chăn nuôi phát triển bền vững khi các tác nhân tham gia phải đảm bảo cùng có lợi thì lúc
đó chuỗi giá trị mới phát triển tốt và mang lại hiệu quả Để giải quyết được vấn
đề trên tôi lựa chọn tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị lợn
trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Trang 13- Đánh giá sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị chăn nuôi lợn
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại thị
xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác nhân và nội dung liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị lợn trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào phân tích thực trạng chuỗi giá trị chăn nuôi lợn thịt của thị xã Phổ Yên
Phạm vi thời gian: Từ tháng 7/2021 đến tháng 12/2021
Phạm vi không gian: Thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
4.1 Ý nghĩa về lý luận
Đề tài góp phần vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi giá trị và tổng kết thực tiễn về chuỗi giá trị trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị chăn nuôi và chuỗi giá trị chăn nuôi lợn
4.2 Ý nghĩa về thực tiễn
Thông qua nghiên cứu chuỗi giá trị chăn nuôi lợn và các tác nhân tham gia trong chuỗi để làm sáng tỏ vai trò và lợi ích của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị và đề xuất mô hình liên kết thành công
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về chuỗi giá trị và các cơ quan xây dựng, thực thi chính sách liên quan đến chuỗi giá trị chăn nuôi nói chung và chuỗi giá trị chăn nuôi lợn nói riêng
Trang 14Khái niệm chuỗi
Khái niệm “Chuỗi” trong lý thuyết được sử dụng để mô tả hoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng (có thể là sản phẩm hoặc là dịch vụ)
Khái niệm chuỗi giá trị
Theo Micheal Porter “ Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động của một công
ty hoạt động trong một ngành cụ thể Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của một công ty hoạt động một ngành nghề cụ thể
Theo Kaplinsky và Morris (2001) cho rằng “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng”
Chuỗi giá trị theo nghĩa “hẹp” là một chuỗi gồm một loạt những hoạt động trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.v Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thành phẩm cuối cùng
Chuỗi giá trị theo nghĩa “rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v.) để biến một nguyên liệu thô thành một sản phẩm bán
lẻ
Trang 15Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối, các chiến
lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi Khi
tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp tiếp cận thấu đáo về
những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì giá trị họ
với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa họ hình thành và phát
triển như thế nào
1.1.1.2 Các khái niệm liên quan đến chuỗi giá trị
a Chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường Cơ sở hoạt động của chuỗi cung ứng thể hiện như sau: Tiếp nhận đầu vào từ
các nhà cung cấp tạo lập ra giá trị phân phối sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng
Chuỗi cung ứng điển hình bao gồm các nhà cung cấp, nhà sản xuất trung gian, nhà kho, trung tâm phân phối sản phẩm được hoàn thành (Sơ đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1 Chuỗi cung ứng điển hình
Nguồn: Vũ Việt Hằng (2006) Như vậy, có thể thấy chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các đơn vị kinh doanh
tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc phục vụ nhu cầu khách hàng
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp mà còn liên quan
đến vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng Hoạt động của chuỗi tuy phức
tạp nhưng các thành viên trong chuỗi luôn thống nhất về mục đích đó là phục vụ vì
nhu cầu của khách hàng, khách hàng là trung tâm của các hoạt động
Trang 16Theo Lambert và Cooper (2000), một chuỗi cung ứng có 4 đặc trưng cơ bản như sau:
+ Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc
+ Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức
+ Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý
+ Thứ tư: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình
Theo GTZ Eschborn (2007) chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động kinh doanh
(hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng Với cách tiếp cận này cho phép xác định các tác nhân chính tham gia trong chuỗi, từ đó xác định sơ đồ chuỗi giá trị, cũng như chức năng
và mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
Trang 17Sơ đồ 1.2: Sơ đồ chuỗi giá trị (ValueLinks-GTZ, 2007)
Như vậy, ngành hàng là một chuỗi các tác nhân được gắn kết chặt chẽ với
nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
1.1.2 Các công cụ phân tích chuỗi giá trị
Trong quá trình phân tích chuỗi giá trị, tuỳ yêu cầu của ngành hàng, có thể
sử dụng các công cụ sau đây để phân tích (Võ Thị Thanh Lộc, 2013)
Trang 18a) Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích
- Mục tiêu của công cụ này là: Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị phải quyết định xem ưu tiên chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hoá nào để phân tích Vì các nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạn chế nên phải lập ra phương pháp để lựa chọn một số nhất định các chuỗi giá trị để phân tích trong
số nhiều lựa chọn có thể được
- Các câu hỏi chính có thể sử dụng khi lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên là: + Việc chọn những chuỗi giá trị để phân tích dựa trên những tiêu chí chính nào? + Có những chuỗi giá trị tiềm năng nào có thể phân tích?
+ Sau khi áp dụng những tiêu chí lựa chọn, những chuỗi giá trị nào là thích hợp nhất để phân tích?
- Các bước tiến hành thực hiện công cụ này như sau:
Quá trình lập thứ tự ưu tiên tuân theo 4 bước như trong quy trình tiến hành lựa chọn trong một tình huống có nguồn lực khan hiếm Bốn bước này bao gồm việc xác định một hệ thống các tiêu chí sẽ được áp dụng để lập thứ tự ưu tiên các chuỗi giá trị, đánh giá tương đối mức độ quan trọng của các tiêu chí đó, xác định các tiểu hành, sản phẩm, hàng hoá tiềm năng có thể xem xét và sau đó lập một ma trận để xếp thứ tự các sản phẩm theo các tiêu chí trên Lựa chọn ưu tiên cuối cùng
có thể xác định dựa vào kết quả xếp loại được
b) Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể dùng các mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm được và hình dung được bản chất Lập sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để làm cho những gì chúng
ta nhìn thấy dễ hiểu hơn
- Mục tiêu của việc thực hiện công cụ lập sơ đồ chuỗi bao gồm 3 mục tiêu sau: + Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các
Trang 19tác nhân và các qui trình trong một chuỗi giá trị
+ Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị
+ Cung cấp cho các bên có liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng họ trong chuỗi giá trị
- Các câu hỏi chính: Không có sơ đồ chuỗi giá trị nào hoàn toàn toàn diện và bao gồm tất cả một yếu tố Việc quyết định lập sơ đồ những gì phụ thuộc vào các nguồn lực ta có, phạm vi mà mục tiêu của nghiên cứu và nhiệm vụ của tổ chức của chúng ta Một chuỗi giá trị, cũng như thực tiễn, có rất nhiều khía cạnh: dòng sản phẩm thực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích luỹ được, v.v Vì vậy, việc chọn xem sẽ đưa vào những khía cạnh nào mà ta muốn lập sơ đồ là rất quan trọng
Những câu hỏi sau có thể hướng dẫn chọn những vấn đề nào để đưa vào sơ đồ: + Có những quy trình khác nhau (căn bản) nào trong chuỗi giá trị)?
+ Ai tham gia vào những quy trình này và họ thực tế làm những gì?
+ Có những dòng sản phẩm, thông tin, tri thức nào trong chuỗi giá trị? + Khối lượng của sản phẩm, số lượng những người tham gia, số công việc tạo ra như thế nào?
+ Sản phẩm (hoặc dịch vụ) có xuất xứ từ đâu và được chuyển đi đâu?
+ Giá trị thay đổi như thế nào trong toàn chuỗi giá trị?
+ Có những hình thức quan hệ và liên kết nào tồn tại?
+ Những loại dịch vụ (kinh doanh) nào cung cấp cho chuỗi giá trị?
- Lập sơ đồ chuỗi giá trị bao gồm các bước sau:
+ Bước 1: Lập sơ đồ các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị
+ Bước 2: Xác định và lập sơ đồ những người tham gia chính vào các
Trang 20quy trình này
+ Bước 3: Lập sơ đồ dòng sản phẩm, thông tin kiến thức
+ Bước 4: Lập sơ đồ khối lượng sản phẩm, số người tham gia và số công việc
+ Bước 5: Lập sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ về mặt địa lý + Bước 6: Xác định trên sơ đồ giá trị ở các cấp độ khác nhau của chuỗi giá trị
+ Bước 7: Lập sơ đồ các mối quan hệ và liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị
+ Bước 8: Lập sơ đồ các dịch vụ kinh doanh cung cấp cho chuỗi giá trị
c) Phân tích chi phí và lợi nhuận
Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp Một trong những số đó là chi phí và lợi nhuận, hay nói một cách đơn giản hơn,
là số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra là số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được
- Để xác định được chi phí và lợi nhuận chúng ta cần dựa vào một số câu hỏi chính sau:
+ Chi phí, gồm cả chi phí cố định và thay đổi, của mỗi người tham gia là gì
và cần đầu tư bao nhiêu để tham gia một chuỗi giá trị?
+ Thu thập của mỗi người tham gia trong chuỗi giá trị là bao nhiêu? Nói cách khác, khối lượng bán và giá bán của mỗi người tham gia là bao nhiêu?
+ Lợi nhuận thuần, lợi nhuận biên và mức hoà vốn của mỗi người tham gia
là bao nhiêu?
+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên thay đổi theo
Trang 21thời gian như thế nào?
+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên được phân chia giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị như thế nào?
+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn so với các chuỗi giá trị sản phẩm khác? Nói cách khác, chi phí cơ hội của việc thuê mua các nguồn lực sản xuất cho chuỗi giá trị cụ thể này là thế nào?
+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn các chuỗi giá trị tương tự ở những nơi khác?
+ Nguyên nhân của việc phân chia chi phí và lợi nhuận trong một chuỗi giá trị là gì?
d) Phân tích công nghệ và kiến thức của các tác nhân tham gia trong chuỗi
Công cụ này giúp xem xét xem những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị đang sử dụng những công nghệ như thế nào? công nghệ này có phù hợp với họ hay
không và liệu có thể thay đổi để cải thiện giá trị của sản phẩm được không?
- Mục tiêu của công cụ này:
+ Để phân tích tính hiệu quả và hiệu lực của công nghệ trong việc sử dụng trong chuỗi giá trị
+ Để đảm bảo một loại hình của công nghệ hiện tại và đòi hỏi trong chuỗi giá trị
+ Để phân tích tính hợp lý của công nghệ (có đủ điều kiện, có thể tiếp cận,
có thể tái tạo và thay thế) phù hợp với những kỹ năng của công nghệ ở các mức khác nhau của chuỗi giá trị
+ Để phân tích các lựa chọn nâng cao trong chuỗi giá trị cung cấp những chất lượng đòi hỏi của sản phẩm đầu ra
+ Phân tích tác động của đầu tư bên ngoài trong kiến thức và công nghệ
e) Phân tích các thu nhập trong chuỗi giá trị
Trang 22Phân tích tác động của việc tham gia vào các chuỗi giá trị tới việc phân bổ thu nhập trong và giữa các mức khác nhau của chuỗi giá trị ở cấp bậc của người tham gia đơn lẻ; Phân tích tác động của các hệ thống quản trị chuỗi giá trị khác nhau tới sự phân bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng; Mục tiêu sự tác động của
sự phân bổ thu nhập tới người nghèo và những nhóm người yếu thế và tiềm năng đối với sự giảm nghèo từ các chuỗi giá trị khác nhau
g) Phân tích việc làm trong chuỗi giá trị
Mục đích của việc phân tích này là: Để phân tích tác động của chuỗi giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa và trong các cấp khác nhau của chuỗi giá trị ở cấp người tham gia cá nhân; Miêu tả sự phân bổ việc làm theo chuỗi giá trị và trong số những tầng lớp giàu khác nhau và làm thế nào để người nghèo và nhóm yếu thế có thể tham gia vào chuỗi; Miêu tả sự năng động của việc làm trong và dọc theo chuỗi giá trị
và sự bao gồm, tách rời người nghèo và các nhóm yếu thế; Phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của chuỗi giá trị đến sự phân bổ việc làm; Phân tích sự tác động của các chiến lược nâng cao khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm
h) Quản trị và các dịch vụ
Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm điều tra các quy tắc hoạt động trong chuỗi giá trị và đánh giá sự phân phối quyền lực giữa những người tham gia khác nhau Quản trị và một khái niệm rộng bao gồm hệ thống điều phối, tổ chức và kiểm soát mà bảo vệ và nâng cao việc tạo ra giá trị dọc theo chuỗi Quản trị bao hàm sự tác động qua lại giữa những người tham gia trong chuỗi là không ngẫu nhiên, nhưng được tổ chức trong một hệ thống cho phép đáp ứng những đòi hỏi cụ thể về sản phẩm, phương pháp và hậu cần Ví dụ, việc tham gia thị trường quốc tế thường phụ thuộc vào sự tuân thủ những quy định và chuẩn mực quốc tế; một hệ thống quản trị hiệu quả đảm bảo rằng những chuẩn mực yêu cầu có thể được đáp ứng bởi tất cả các khâu trong chuỗi Phân tích quản trị và các dịch vụ có thể giúp xác định đòn bẩy can thiệp nhằm tăng tính hiệu quả chung của chuỗi giá trị
1.1.3 Mối quan hệ giữa ngành hàng, chuỗi cung ứng với chuỗi giá trị
Trang 23Nói đến ngành hàng ta hình dung đó là một chuỗi giá trị, tồn tại một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc Ngành hàng cho phép mô tả từ nguồn tới ngọn một chuỗi liên tiếp các hoạt động sản xuất, chế biến, tiêu thụ và sự phối hợp hoạt động của từng tác nhân trong quá trình vận hành của một chuỗi đã tạo ra
sự chuyển dịch các luồng vật chất trong chuỗi ngành hàng đó Như vậy trong ngành hàng và chuỗi giá trị đều tồn tại luồng hàng (luồng vật chất hay tài chính), các tác nhân và mạch hàng, mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng và mạch hàng chứa đựng quan
hệ của hai tác nhân, mà các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức điều tiết trong luồng hàng
Mối quan hệ ngành hàng, chuỗi cung ứng với chuỗi giá trị được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ ngành hàng, chuỗi cung ứng với chuỗi giá trị
Trong thời gian qua thuật ngữ “chuỗi cung ứng” và “chuỗi giá trị” đã được nhắc tới rất nhiều Người ta sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và tổ chức Khi con người nhấn mạnh đến hoạt động sản xuất, họ xem chúng như là các quy trình sản xuất; còn khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing họ gọi
Trang 24chúng là kênh phân phối; khi họ nhìn ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng là chuỗi giá trị; khi họ nhìn nhận về cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, họ gọi là chuỗi nhu cầu nhưng khi tập trung vào sự dịch chuyển nguyên vật liệu thì ta gọi là chuỗi cung cấp hay chuỗi cung ứng
Để xem xét sự khác biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng người ta đã khái niệm hóa chuỗi cung ứng như là tập hợp con của chuỗi giá trị Ở cấp độ tổ chức, chuỗi giá trị rộng hơn chuỗi cung ứng vì nó bao gồm tất cả các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ Về khái niệm thì chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị cơ bản rất gần nhau Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ chuỗi cung ứng nói đến một loạt các chức năng sản xuất (đầu chuỗi) và marketing (cuối chuỗi) của các tác nhân hay nó là cung đẩy tạo mối liên kết các dòng chảy sản phẩm, dịch vụ, thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên tới khách hàng cuối cùng, là công tác hậu cần (logistic) hơn là phát triển thị trường Chuỗi giá trị quan tâm nhiều đến phân tích kinh tế và phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân, nó đề cập đến mức cầu kéo sản phẩm đến tác nhân cuối cùng của chuỗi và so sánh khả năng cạnh tranh và mức độ quan hệ giữa các bên tham gia thị trường
Hơn nữa, khái niệm chuỗi giá trị ban đầu tập trung chủ yếu vào các hoạt động nội bộ, trong khi chuỗi cung ứng, theo định nghĩa, tập trung vào cả nội bộ và bên ngoài Chúng ta có thể thấy rằng một chuỗi cung ứng được tổ chức tốt sẽ giúp chuỗi giá trị tạo ra được nhiều giá trị hơn cho doanh nghiệp Và ngược lại, chuỗi giá trị hoạt động có hiệu quả thì chuỗi cung ứng cũng xuyên suốt, giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng hóa lưu thông), thông tin liên quan và cả về mặt tài chính
1.1.4 Ý nghĩa, vai trò của phân tích chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trong chuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, doanh nghiệp
Trang 25hay cơ quan nhà nước Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:
Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích chuỗi giá trị lập sơ đồ một cách
hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểm của những người tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi, đặc điểm việc làm và khối lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trong nước và nước ngoài (Kaplinsky và Morris 2001) Những chi tiết này có thể thu thập được nhờ kết hợp điều tra thực địa, thảo luận nhóm tập trung, PRA, phỏng vấn thông tin và số liệu thứ cấp
Thứ hai là phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Có nghĩa là, phân tích lợi nhuận và lợi nhuận bên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định ai được hưởng lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể được hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh của các nước đang phát triển (nhất là nông nghiệp), với những lo ngại rằng người nghèo nói riêng dễ bị tổn thương trước quá trình toàn cầu hóa (Kaplinsky và Morris 2001)
Có thể bổ sung phân tích này bằng cách xác định bản chất việc tham gia trong chuỗi
để hiểu được các đặc điểm của những người tham gia
Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòng sản phẩm Phân tích quá trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời của các bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại Các vấn đề quản trị có vai trò then chốt trong việc xác định những hoạt động nâng cấp đó diễn ra như thế nào Ngoài ra, cơ cấu của các quy định, rào cản gia nhập, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnh hưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng cấp diễn ra
Thứ tư, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi giá trị Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối quan hệ và cơ chế
Trang 26điều phối tồn tại giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị Quản trị quan trọng từ góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về thể chế có thể cần nhắm tới để nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điều chỉnh các sai lệch về phân phối và tăng giá trị gia tăng trong ngành
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các chương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại và gia trại sẽ cho phép chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quá trình hoạt động của chuỗi, hạn chế trong quá trình giao dịch, phân phối lợi nhuận, mối giá trị và thông tin giữa các tác nhân để đưa ra giải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị làm cho chuỗi hoạt động hiệu quả hơn
1.1.5 Nghiên cứu chuỗi giá trị lợn
1.1.5.1 Lý luận về chuỗi giá trị lợn
Chuỗi giá trị lợn bao gồm các hoạt động từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, là tập hợp của các tác nhân: người sản xuất (hộ gia đình, trang trại), thương lái, người giết mổ, người bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng Hoạt động của chuỗi ngoài các tác nhân nêu trên còn có các nhà hỗ trợ chuỗi như ngân hàng Như vậy, chuỗi giá trị lợn là một hệ thống kinh tế được tổ chức xoay quanh một hàng hóa thương mại cụ thể Sự phối hợp các hoạt động kinh doanh trong chuỗi giá trị lợn là rất cần thiết để cung cấp đúng chất lượng và số lượng sản phẩm cuối cùng (thịt lợn) cho các khách hàng cuối cùng Các tác nhân phải phối hợp với nhau để đi đến thành công Do đó chuỗi gia trị lợn (thịt lợn) chính là:
- Kết nối các hoạt động kinh doanh (sản xuất, chế biến, tiêu thụ ) cần thiết để phục vụ người tiêu dùng
- Liên kết, điều phối các tác nhân (nhà sản xuất-chế biến-người tiêu dùng ) để thực hiện các hoạt động kinh doanh này
Trang 27Theo Chowdhury (2005) chuỗi giá trị thịt lợn điển hình bao gồm sản xuất
(thông qua hộ gia đình, trang trại, HTX, hoặc kết hợp), thu gom, chế biến, phân
phối và tiêu dùng cuối cùng
Sơ đồ 1.4 Chuỗi giá trị thịt lợn giản đơn
Nguồn: Chowdhury (2005) Người sản xuất là tác nhân đầu tiên trong chuỗi, người sản xuất trong chuỗi có thể là các hộ nông dân, trang trại, gia trại, công ty trực tiếp nuôi lợn Người chăn nuôi phải sử dụng các sản phẩm đầu vào để nuôi lợn với một chu kỳ nào đó Sản
phẩm của tác nhân này là lợn thịt hơi đủ trọng lượng có thể đưa vào giết mổ
Người thu gom (thương lái): đây là một tác nhân trung gian của chuỗi Họ gom lợn thịt hơi để bán lại cho các lò mổ trong tỉnh hoặc ngoài tỉnh
Người chế biến (giết mổ): Đây là một tác nhân đặc thù của chuỗi, lợn thịt hơi
được tác nhân này giết mổ để tạo ra sản phẩm đầu ra là lợn móc hàm để tiếp tục bán buôn, bán lẻ hoặc đưa vào chế biến Đối với các nước phát triển, không tồn tại
người giết mổ nhỏ lẻ mà chỉ tồn tại các khu giết mổ tập trung nên dễ dàng quản lý
trong khâu bảo đảm VSATTP
Người bán buôn thịt lợn: tác nhân này làm nhiệm vụ bán buôn lợn đã được giết
mổ (ở Việt Nam thường được gọi là lợn móc hàm), có thể là các hộ gia đình, có thể là các công ty, doanh nghiệp , có thể tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu Ở Việt Nam tác
nhân này có thể chính là hộ giết mổ hoặc những hộ chuyên mua lợn móc hàm để bán
lại cho các điểm bán lẻ thịt lợn Sản phẩm đầu ra của tác nhân này là lợn móc hàm
Nhà cung
ứng đầu
vào
Sản xuất
Thu gom
Chế biến (giết, mổ)
Bán buôn
Bán
lẻ
Người tiêu dùng
Trang 28Người bán lẻ là tác nhân mua hàng lại từ người bán buôn để bán trực tiếp cho người tiêu dùng Các sản phẩm từ người bán lẻ thường là sản phẩm hoàn thiện cuối cùng trong chuỗi
Người tiêu dùng là tác nhân tiêu dùng các sản phẩm cuối cùng, ranh giới giữa các tác nhân là không rạch ròi, có thể đan xen với nhau Chẳng hạn, một người bán buôn,
họ có thể kết hợp với bán lẻ hàng hoá đó và thậm chí tiêu dùng chính sản phẩm đó
Chuỗi giá trị thịt lợn mở rộng: Chuỗi giá trị thịt lợn mở rộng bao gồm nhiều
kênh tiêu thụ khác nhau qua nhiều cấp hay nhiều khâu khác nhau Mỗi một khâu của sản phẩm thịt lợn thực hiện các chức năng khác nhau nhờ sơ đồ 1.5 Giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị được tạo ra bởi các liên kết giữa các tác nhân và trong các tác nhân với nhau Mỗi một hoạt động là một chức năng đảm bảo sự sống còn đối với toàn bộ chuỗi giá trị, làm tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng Người tiêu dùng cuối cùng của chuỗi phải hoàn trả toàn bộ chi phí sản xuất và dịch vụ sản phẩm từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của chuỗi
Do nội dung của chuỗi giá trị thịt lợn là một chuỗi các tác nhân từ sản xuất đến tiêu dùng và được tập trung vào các vấn đề:
* Xác định yếu tố đầu vào của chuỗi;
* Sơ đồ và quan hệ của hệ thống các tác nhân trong chuỗi;
* Sự phân phối giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân;
* Các cơ hội nâng cao giá trị ở từng khâu và toàn chuỗi;
* Nhấn mạnh vai trò của thể chế trong nâng cấp chuỗi
1.1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn
Trong những năm qua, những đóng góp của ngành nông nghiệp, và nhất là ngành chăn nuôi lợn trong nền kinh tế, thể hiện vai trò quan trọng của ngành hàng này ở mỗi vùng, địa phương, để góp phần nâng cao tiềm lực và vị trí của ngành
Trang 29chăn nuôi lợn hơn nữa, rất cần thiết phải phát triển chuỗi giá trị thịt lợn không những ở trong nước mà vươn xa tầm quốc tế
Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho các hoạt động sản xuất thịt lợn được chuyên môn hóa ngày hơn Lợi thế chính đối với người tham gia chuỗi giá trị thịt lợn đạt hiệu quả thể hiện ở chỗ có thể giảm được chi phí trong kinh doanh, tăng doanh thu, cải thiện
sự tiếp cận công nghệ, thông tin, vốn, và qua đó đổi mới quá trình sản xuất và tiêu thụ để đạt được giá trị cao hơn, cung cấp giá trị cao hơn cho tiêu dùng Để tiêu thụ được sản phẩm với giá cả có lợi thì phải tiếp cận được người tiêu dùng cuối cùng,
và để tham gia tốt nhất vào quá trình phân phối lợi ích thì cách duy nhất là tham gia vào chuỗi giá trị
Nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn nhằm xác định mối liên kết giữa các tác nhân Mỗi tác nhân của chuỗi giá trị thịt lợn là người mua hàng của thành viên trước và là nhà cung cấp cho thành viên sau Các thành viên có thể hoạt động độc lập với nhau, cũng có thể họ phụ thuộc lẫn nhau bởi vì họ có những mục tiêu chung là tìm kiếm lợi ích cho họ Sự liên kết tạo ra giá trị gia tăng đồng thời giảm chi phí, tạo ra tổng giá trị gia tăng của toàn chuỗi, đây cũng chính là sự đóng góp của họ tạo nên sự thỏa mãn của tác nhân cuối cùng trong chuỗi
Nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn cho thấy một cách nhìn tổng thể về quá trình sản xuất kinh doanh của toàn chuỗi Sản phẩm thịt lợn được đánh giá từ nhiều cấp
độ, nhiều khía cạnh, trên cơ sở đó đưa ra được bức tranh rõ ràng về dòng chảy sản phẩm, dòng thông tin, dòng tiền, và các tác nhân liên quan tới sản phẩm, quan hệ của các tác nhân với nhau và giá trị tăng thêm tại mỗi mắt xích Từ đó xác định một cách đầy đủ những hạn chế và khó khăn cản trở đến sản xuất, giết mổ và tiêu thụ sản phẩm….Kết quả của nghiên cứu này được sử dụng để ra các quyết định về mục tiêu và chiến lược phát triển chuỗi Các cơ quan chính phủ sử dụng nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn để lập kế hoạch phát triển ngành, công tác quy hoạch kinh tế điạ phương đề ra các chính sách và các hoạt động hỗ trợ cũng như để giám sát các hoạt động có thể xảy ra
Trang 30Như vậy: Chuỗi giá trị thịt lợn có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác
nhân nào trong chuỗi Bốn khía cạnh trong nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn mang nhiều ý nghĩa đó là:
- Thứ nhất: Phân tích chuỗi giá trị thịt lợn giúp lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối và bán sản phẩm cụ thể
- Thứ hai: phân tích chuỗi giá trị thịt lợn có vai trò trung tâm trong viêc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia chuỗi
- Thứ ba: phân tích chuỗi giá trị thịt lợn có thể nhấn mạnh vai trò liên kết của các tác nhân tham gia chuỗi
- Thứ tư: phân tích chuỗi giá trị thịt lợn giúp nhà quản lý có thể nhận dạng và phòng ngừa được rủi ro hiệu quả
- Thứ năm: Phân tích chuỗi giá trị thịt lợn có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi giá trị thịt lợn có thể làm cơ sở cho việc hình thành các chương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị nhằm đạt được kết quả mong muốn hay nó
là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững
1.1.2.3 Nội dung nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn
Nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn giúp xác định những khó khăn của từng khâu trong chuỗi, từ đó có các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phát triển bền vững Một chuỗi giá trị có bốn đặc trưng cơ bản: + Chuỗi giá trị bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc
+ Một chuỗi bao gồm nhiều tác nhân độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức
Trang 31+ Một chuỗi giá trị bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý
+ Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình (Lambert and Cooper, 2000) Chính vì vậy, nghiên cứu chuỗi giá trị thịt lợn bao gồm những nội dung cụ thể sau (Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son 2012)
Thứ nhất, lập sơ đồ chuỗi giá trị thịt lợn
Sơ đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ 1.12) về chuỗi giá trị Theo định nghĩa, sơ đồ chuỗi giá trị bao gồm một sơ đồ chức năng kèm với một sơ đồ về các chủ thể của chuỗi Lập sơ đồ chuỗi giá trị thịt lợn có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát trực tiếp về hệ thống kênh phân phối sản phẩm thịt lợn Sơ đồ này có nhiệm vụ xác định chức năng các hoạt động kinh doanh của mỗi tác nhân, các nhà vận hành chuỗi, dòng chảy và những mối liên kết của họ với các nhà hỗ trợ chuỗi
Thứ hai: Mô tả chuỗi bao gồm các hoạt động được thực hiện trong chuỗi, tác
nhân tham gia chuỗi, xác định dòng chảy và các mối liên kết trong chuỗi
(1) Các hoạt động được thực hiện trong chuỗi giá trị thịt lợn
Mô tả các hoạt động của các tác nhân trong chuỗi, hoạt động nào được thực hiện trước ví dụ như hoạt động sản xuất bao gồm chuẩn bị chuồng trại, mua đầu vào, chăm sóc, xuất chuồng Mỗi hoạt động sẽ tạo ra chi phí, và xác định tỷ trọng
% trong tổng chi phí từ đó tìm ra hiệu quả của mỗi hoạt động Để thực hiện được công đoạn này đòi hỏi phải có những hiểu biết chi tiết về quá trình thực các hoạt động trong chuỗi
(2) Xác định các bên tham gia chuỗi giá trị thịt lợn hay các nhà vận hành chuỗi
giá trị thịt lợn
Xác định ai là người tham gia vào chuỗi, mô tả ai thực hiện các hoạt động này;
ví dụ ai tham gia thực hiện hoạt động chăn nuôi: chuẩn bị chuồng nuôi, mua đầu vào: công cụ, giống, chăm sóc; thu gom; bán buôn; bán lẻ; Tuy nhiên, một hoạt
Trang 32động có thể được thực hiện bởi nhiều thành viên tham gia chuỗi và một thành viên của chuỗi có thể thực hiện nhiều hoạt động
(3) Xác định những dòng chảy trong chuỗi giá trị thịt lợn
Một chuỗi giá trị thịt lợn có rất nhiều dòng chảy: dòng sản phẩm, hàng hóa, dòng tiền, thông tin, dịch vụ,… Mục tiêu phân tích chuỗi giá trị thịt lợn là phân tích các dòng chảy đó Do vậy để hiểu và phân tích được các dòng chảy này cần phải có được những thông tin tốt về thị trường và nhu cầu sản phẩm để có những phản ứng
và giải pháp kịp thời
(4) Xác định mối liên kết trong chuỗi giá trị thịt lợn
Các mối liên kết được kết nối chặt chẽ trong một chuỗi giá trị, phân tích mối liên kết bao gồm không chỉ việc xác định tổ chức và người tham gia nào liên kết với nhau mà còn xác định nguyên nhân của những liên kết này và những liên kết này có mang lại lợi ích hay không Việc củng cố các mối liên kết giữa những tác nhân tham gia sẽ tạo nên nền móng cho việc cải thiện nâng cấp chuỗi
Thứ ba, phân tích kết quả các hoạt động trong chuỗi giá trị thịt lợn
Kết quả thực hiện các hoạt động của chuỗi giá trị thịt lợn là mức độ mà một chuỗi giá trị thịt lợn đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng cuối cùng bằng các chỉ tiêu về thời gian, sản phẩm và chi phí Kết quả hoạt động của chuỗi giá trị được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận của từng tác nhân và của toàn chuỗi
Như vậy, muốn cải thiện chuỗi giá trị thì đồng thời bằng cách cải thiện từng mắt
xích hoặc là cải thiện sự liên kết giữa các mắt xích
Thứ nhất, phân tích phải đánh giá được giá trị của toàn bộ chuỗi giá trị thịt lợn
hay chính là toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởi chuỗi và tỷ trọng của nó ở các giai đoạn khác nhau Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm là hiệu số giữa giá mà người vận hành chuỗi bán được trừ đi giá mà người vận hành chuỗi đó đã bỏ
ra để mua những nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi ở công đoạn trước cung cấp Phân tích cũng xem giá trị được phân phối như thế nào giữa các giai đoạn trong chuỗi và giữa các tác nhân trong chuỗi
Trang 33Hai là , đánh giá được chi phí sản xuất tại mỗi giai đoạn trong chuỗi, xác định
cấu trúc của chi phí trong các giai đoạn của chuỗi giá trị thịt lợn và xác định tiềm năng giảm chi phí của các tác nhân tham gia
Ba là , xác định việc phân phối lợi ích của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá
trị thịt lợn Mục đích là phân tích lợi nhuận và lợi ích trong chuỗi; xác định ai có lợi ích từ sự tham gia trong chuỗi; Tác nhân nào có thể có lợi từ các hỗ trợ của các tổ chức, Đối với từng tác nhân cũng cần phân tích các chỉ tiêu chi phí, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập và cả việc làm của họ để làm rõ thêm lợi ích thực nhận của các tác nhân này
Thứ tư, nâng cấp trong chuỗi giá trị thịt lợn: Nâng cấp chuỗi giá trị là thực
hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị trường và phát triển chuỗi một cách bền vững (GTZ, 2007) Để nâng cấp chuỗi thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò chủ đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò hỗ trợ các tác nhân trong quá trình nâng cấp Mục tiêu của nâng cấp chuỗi là tăng lợi nhuận cho mỗi tác nhân hay tăng tỷ lệ doanh thu từ khu vực sản xuất mới, bao gồm bốn chiến lược chung:
(1) Chiến lược đổi mới chất lượng (nâng cấp sản phẩm)
Chiến lược nhằm phát triển ổn định ngành chăn nuôi lợn, đầu tư cải tiến, quản
lý chất lượng từ khâu cung cấp đầu vào >> sản xuất >> chế biến >> thương mại tạo
ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao góp phần tăng năng suất và chất lượng của mỗi tác nhân tham gia chuỗi (sơ đồ 1.13)
Chiến lược đầu tư kỹ thuật, công nghệ
Thay đổi tập quán sản xuất truyền thống, áp dụng kỹ thuật chăm sóc tiên tiến đưa máy móc, thiết bị công nghệ vào chăn nuôi, nâng cấp công nghệ chế biến (giết mổ), đầu tư cơ sở hạ tầng chăn nuôi, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm Mở các lớp tập huấn chuyên sâu cho các tác nhân về nhận biết tín hiệu thị trường, tập huấn hạch toán trong kinh doanh…
Trang 34(3) Chiến lược giảm chi phí
Chiến lược nhằm xây dựng chuỗi giá trị theo hướng thúc đẩy liên kết ngang, liên kết dọc giữa các tác nhân trong chuỗi nhằm giảm các nhân trung gian và chi phí trung gian, tăng cường hợp tác giữa các nhà sản xuất quy mô nhỏ, sản xuất tập trung
ở quy mô lớn, giảm chi phí đầu vào, chi phí lưu thông, chi phí giao dịch, tăng giá bán (sơ đồ 1.14)
Chiến lược nâng cấp hoạt động quản lý nhà nước (thể chế)
Chiến lược nhằm đề cao vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động kiểm soát quy trình sản xuất, chế biến và thương mại Xác định cơ cấu của các mối quan hệ và
cơ chế điều phối tồn tại giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị Dựa trên những quy định của nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát quy trình hoạt động của chuỗi, đảm bảo lợi ích cho các tác nhân tham gia chuỗi và tăng giá trị gia tăng toàn chuỗi
1.1.2.4 Đặc điểm chuỗi giá trị thịt lợn
Đặc điểm về chăn nuôi
Đinh Xuân Tùng (2009) đã chỉ ra đặc điểm của ngành chăn nuôi lợn bao gồm những yếu tố sau:
Là một ngành hàng quan trọng trong hệ thống các ngành hàng nông sản;
Hầu hết các nước có nền nông nghiệp phát triển thì các sản phẩm nông nghiệp khá đa dạng và phong phú trong đó sản phẩm thịt lợn chiếm vị trí khá quan trọng trong cơ cấu các sản phẩm chăn nuôi, điều đó xuất phát từ nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Sự phát triển của chăn nuôi lợn thịt nói riêng góp phần vào
sự phát triển chung của ngành chăn nuôi và đang phù hợp với xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế Một số quốc gia tiên tiến, vai trò của ngành chăn nuôi lợn thịt cũng thể hiện sự nổi bật thông qua con số xuất khẩu hàng năm
Phân bố không đồng đều giữa các vùng miền trong nước Đối với những nước
có nền chăn nuôi tiên tiến, đàn lợn chủ yếu tập trung ở vùng ngoại ô nông thôn và
Trang 35phát triển bởi các trang trại lớn, có khi lên đến hàng vạn đầu lợn thịt/lứa Nhìn chung phân bố đàn lợn cũng không đều giữa các địa phương
Chăn nuôi lợn đòi hỏi những điều kiện nhất định về đất đai, nhiệt độ, lao động, vốn , bên cạnh đó yếu tố kinh nghiệm truyền thống, phong tục tập quán cũng có ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn dẫn đến các vùng có lợi thế trong phát triển chăn nuôi lợn không giống nhau Chăn nuôi quy mô nhỏ chiếm đa số khoảng 80% quy mô chăn nuôi của các nông hộ còn rất nhỏ, manh mún, chủ yếu là chăn nuôi tận
dụng (Kinh et al., 2010)
Các giống lợn thường được phân ra theo giống địa phương, giống lai (lai giữa lợn địa phương và giống ngoại) và giống ngoại Năm 2000, có khoảng 75% hộ chăn nuôi lợn có nuôi lợn lai hoặc lợn ngoại Tỷ lệ này dao động từ 69% ở các hộ sản xuất quy mô nhỏ 90% ở các hộ quy mô lớn Trong khi lợn lai đã được đa số hộ chăn nuôi chấp nhận, mức độ phổ biến nuôi các giống lợn ngoại còn ở mức độ rất thấp Chỉ khoảng 20% số hộ có nuôi lợn ngoại, trong đó có 18% số hộ nuôi hoàn toàn lợn ngoại (Bộ NN&PTNT, 2012)
Phương thức chăn nuôi: Chăn nuôi lợn ở Việt Nam thường được phân theo 2 hệ
thống như sau (Drucker et al., 2006)
Chăn nuôi thâm canh theo hướng thương mại, chủ yếu là sử dụng thức ăn hỗn hợp, đậm đặc thương phẩm có năng lượng và prôtêin cao
Chăn nuôi quảng canh: Chăn nuôi nông hộ theo kiểu tận dụng, khi mà chăn nuôi đa dạng các loài vật nuôi như là chiến lược cốt yếu để duy trì sinh kế cho gia đình Tuy nhiên, số lượng vật nuôi thì hạn chế Các nông hộ chăn nuôi lợn thường chỉ nuôi 1 đến 2 con lợn nái, khoảng 10 con lợn thịt, chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn sẵn có của địa phương
Chu kỳ chăn nuôi lợn thịt ngắn, thường 3 - 4 tháng, quay vòng vốn nhanh Đặc điểm này rất có ý nghĩa trong kinh doanh Khi người nông dân hạch toán sơ bộ có thể chăn nuôi lợn thịt có lãi, có thể quyết định vấn đề này Thậm chí khi khó khăn
về vốn có thể vay vốn từ ngân hàng với thời gian vay từ 6 tháng - 1 năm là có thể
đáp ứng được (Loc et al., 2003)
Trang 36Có thể nuôi được số lượng lớn, không tốn nhiều công lao động trong điều kiện
sử dụng thức ăn công nghiệp (Lan et al., 2000)
Nuôi lợn có thể gây ô nhiễm môi trường, gây ồn ào trong khu dân cư
Đến thời điểm xuất bán, nếu giá cả giảm gây khó khăn rất nhiều, thậm chí lỗ lớn cho người chăn nuôi
Lợn có thể mắc một số bệnh truyền nhiễm có thể gặp rủi ro lớn Một số bệnh có
thể gây nguy hiểm cho người (Lemke et al., 2000)
Đặc điểm về chế biến và tiêu thụ sản phẩm
* Tỷ lệ tiêu thụ nội địa là khá lớn nhiều quốc gia, thịt lợn vẫn là thực phẩm - thức ăn quen thuộc trong khẩu phần ăn của người dân, không những phù hợp với khẩu vị mà còn phù hợp với điều kiện kinh tế của các hộ gia đình, đặc biệt là những nước nghèo Với những nước có dân số đông và không kiêng tiêu dùng thịt lợn, đây
là những thị trường tiêu thụ khá lớn Kể cả nước những nước có sản lượng thịt lợn lớn như Mỹ, Trung Quốc, Canada tỷ lệ tiêu thụ thịt lợn trong nội địa vẫn lớn hơn nhiều so với xuất khẩu Ở Việt Nam, tiêu dùng nội địa cũng là chủ yếu, khối lượng xuất khẩu mới chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với tổng khối lượng thịt lợn được sản
xuất ra hàng năm (Hai et al., 2007)
* Sản phẩm tiêu thụ đa dạng, phong phú
Ngoài sản phẩm chính là thịt xẻ, thịt mảnh phục vụ cho cả tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu, ở thị trường nội địa nhiều nước, các sản phẩm như đầu, lòng, chân giò cũng rất dễ tiêu thụ với giá không rẻ, điều này ngược lại với các nước tiên tiến, đặc biệt là châu Âu Ngoài các sản phẩm tươi sống, thịt lợn còn có thể chế biến
để tạo ra nhiều sản phẩm khác như giò chả, ruốc, các sản phẩm thịt hun khói, thịt hộp , các sản phẩm này ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng
Công nghệ chế biến chủ yếu vẫn là thủ công, số nhà máy chế biến thịt lợn không nhiều Những sản phẩm chế biến từ thịt lợn mà phần lớn người tiêu dùng Việt Nam sử dụng như giò, chả, nem đều chế biến thủ công, không qua dây
Trang 37chuyền công nghiệp Do vậy, khâu tiệt trùng nói riêng, vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung không được kiểm duyệt (Ly, 2006)
Từ lợn hơi, qua khâu giết mổ, không tốn nhiều thời gian đã cho ra sản phẩm thịt lợn, tiêu thụ trên thị trường nội địa chủ yếu là loại này Sản phẩm thịt lợn thông thường được chia làm nhiều loại như thịt thăn, thịt mông, sườn với giá cả khác nhau, mức tiêu thụ bình quân cũng khác nhau
Thịt lợn là sản phẩm tươi sống, có thể bảo quản để kéo dài thời gian sử dụng nhưng không thể quá lâu
Sản phẩm thịt lợn muốn xuất khẩu được, phải qua khâu chế biến với quy trình nghiêm ngặt, đảm bảo tiêu chuẩn do đối tác quy định Với những quy định như hiện nay, sản phẩm thịt lợn ở nước ta rất khó thâm nhập các thị trường khó tính như châu
Âu, Nhật Bản
Có nguy cơ giảm chất lượng, hao hụt trong quá trình tiêu thụ Chính vì vậy, cùng một sản phẩm thịt lợn có thể có giá khác nhau ở các thời điểm
* Giá cả đa dạng, phong phú, biến động
Giá mua và giá bán các sản phẩm của từng tác nhân cũng hoàn toàn khác nhau, nhất là các sản phẩm có đặc trưng riêng Chẳng hạn, người chế biến ruốc thịt có thể bán sản phẩm chất lượng cao nhất với giá gấp 3 - 4 lần giá của một kg lợn thịt nạc
Đặc điểm về phân phối giá trị và luồng thông tin giữa các tác nhân
Theo Đinh Xuân Tùng (2008), hoạt động của kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn khá phức tạp, qua nhiều khâu và liên quan đến nhiều thành phần khác nhau Khi thị trường tiêu thụ đi qua nhiều khâu trung gian, lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, không chỉ người chăn nuôi thu được lợi nhuận ít, mà còn làm cho giá đến tay người tiêu dùng cao, làm giảm khả năng tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường Tuy nhiên, hầu hết người thu gom và lái buôn đến tận hộ chăn nuôi để thu mua sản phẩm Bởi vì thiếu chợ bán buôn ở các địa phương nên đã hạn chế cơ hội trao đổi trực tiếp giữa hộ chăn nuôi và khách hàng Bên cạnh đó, các hộ chăn nuôi còn bị hạn chế nguồn
Trang 38thông tin về giá, về giống, kỹ thuật chăn nuôi, thức ăn, chính sách, v.v Do đó, sự bóp méo thông tin trong thị trường chăn nuôi càng lớn, gây bất lợi đối với người sản xuất
1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị thịt lợn
Cũng như nhiều ngành hàng khác, chuỗi giá trị thịt lợn chịu ảnh hưởng của khác nhiều nhân tố bên ngoài Nghiên cứu được ảnh hưởng của từng nhân tố có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển của chuỗi giá trị lợn thịt Sơ đồ mối liên hệ các yếu tố bên ngoài được thể hiện qua sơ đồ 1.15
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài đối với từng tác nhân cũng khác nhau nhưng thông thường tác nhân người sản xuất (ở đây gọi chung là hộ chăn nuôi) là chịu ảnh hưởng nhiều nhất, bởi vì đối tượng mà họ tác động vào là sinh vật sống trong một khoảng thời gian không ngắn, rất nhiều phức tạp, rủi ro có thể xảy
ra Có những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến một số tác nhân hoặc toàn bộ chuỗi
(1) Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
Chăn nuôi lợn chịu ảnh hưởng lớn bởi thời tiết khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm) tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới vật nuôi Trong đó nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới chăn nuôi lợn vì nó làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi Độ ẩm cao cũng tác động không nhỏ đến sức khỏe của lợn, ngăn cản sự thoát nhiệt Như vậy muốn chăn nuôi lợn thịt đạt hiệu quả cao hộ chăn nuôi nhất thiết phải có nguồn lực về cơ sở vật chất như đất đai, chuồng trại …
Dịch bệnh: Những năm gần đây dịch bệnh liên tiếp xảy ra đối với ngành chăn
nuôi lợn (dịch tai xanh, lở mồm long móng) luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trên diện rộng, gây tâm lý lo ngại với người chăn nuôi và người tiêu dùng thực phẩm tạo
sự ảnh hưởng lớn đến nguồn cung, cầu thịt lợn
(2) Nhóm các yếu tố đầu vào: Trong chăn nuôi lợn thịt, hầu hết các tác nhân
đều có đầu vào chính là đầu ra của tác nhân đứng liền trước Tuy nhiên, đối với tác nhân là hộ chăn nuôi, đầu vào sẽ là lợn giống, TACN …, đây là những chi phí
Trang 39chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm nên khi giá cả đầu vào tăng nhanh, giá thành lợn thịt hơi và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn cũng tăng theo
Khoa học công nghệ và chuyển giao: Ngày nay yếu tố này đóng vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của chuỗi giá trị thịt lợn Kết quả và hiệu quả của toàn chuỗi thịt lợn có sự đóng góp rất lớn của KHCN, từ giống, TACN, thuốc thú ý, quy trình kỹ thuật , chỉ có chăn nuôi theo quy trình công nghiệp thay thế chăn nuôi truyền thống mới có thể tạo ra cuộc cách mạng về năng suất - chất lượng - hiệu quả trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ thịt lợn trên toàn thế giới
Hạ tầng cơ sở: ở đây đề cập chủ yếu đến hệ thống giao thông, điện và thông tin
liên lạc Yếu tố này đóng vai trò rất lớn trong lưu thông phân phối Với những vùng điều kiện còn gặp nhiều khó khăn như vùng sâu, vùng xa chắc chắn chuỗi giá trị thịt lợn rất khó phát triển mà rào cản lớn nhất là chi phí lưu thông tăng lên dẫn đến tăng giá thành sản phẩm (Lê Ngọc Hướng, 2011)
(3) Nhóm yếu tố về kinh tế xã hội
Trình độ năng lực của các chủ thể trong sản xuất, tiêu thụ, có tác dụng quyết
định trực tiếp tới tổ chức và hiệu quả trong chuỗi giá trị thịt lợn Năng lực của các chủ thể được thể hiện qua: trình độ tổ chức quản lý, khả năng áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất; khả năng ứng xử trước biến động của thị trường, môi trường sản xuất kinh doanh
Thu nhập người tiêu dùng: thu nhập sẽ quyết định đến khả năng chi trả, cơ cấu
tiêu dùng của người dân Thông thường người có thu nhập cao tiêu dùng nhiều hơn người có thu nhập thấp và trung bình
Thị hiếu của người tiêu dùng: Thị hiếu của người tiêu dùng là một nhân tố ảnh
hưởng đến cầu của hàng hóa Thị hiếu của người tiêu dùng được tạo ra bởi phong tục tập quán, văn hóa, truyền thống, tôn giáo, quảng cáo Khi các yếu tố tạo nên thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi thì thị hiếu của họ cũng thay đổi, và do đó, lượng cầu về một loại hàng hóa nào đó cũng thay đổi theo
Trang 40(4) Nhóm yếu tố về thị trường
Quan hệ cung cầu ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngành hàng lợn thịt Tuy nhiên không chỉ có đơn thuần quan hệ cung - cầu - giá cả, vấn đề lưu thông phân phối, chất lượng VSATTP là rất quan trọng do chủ yếu sản phẩm thịt lợn người tiêu dùng ưa chuộng là sản phẩm tươi sống chưa qua chế biến
Cầu thịt lợn: Cầu lợn thịt là cầu dẫn xuất của cầu các sản phẩm thịt lợn, cầu thịt
lợn càng cao thì cầu lợn thịt càng lớn và ngược lại Với xu thế tiêu dùng các sản phẩm chế biến từ thịt ngày càng cao trong bữa ăn hàng ngày, làm cho cầu về lợn thịt ngày càng tăng Tuy nhiên, cầu về sản phẩm lợn thịt cũng phụ thuộc rất lớn vào chất lượng sản phẩm
Cung thịt lợn: Người sản xuất là nhân tố quyết định trong việc tạo ra sản phẩm,
hàng hóa cung cấp cho thị trường Quá trình tiêu thụ diễn ra thuận lợi hay không là
do số lượng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó có phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, có thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng hay không Nói cách khác, tác động qua lại giữa người sản xuất – người tiêu dùng, giữa cầu – cung là mối quan hệ biện chứng, mối quan hệ này gắn bó mật thiết với nhau cùng tồn tại, cùng phát triển Người chăn nuôi có vai trò tạo ra sản phẩm của mình qua cách chăn nuôi, chọn giống đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Tổ chức tiêu thụ: Bao gồm tổ chức không gian của hình thức tiêu thụ như chợ,
cửa hàng, siêu thị và công tác tổ chức điều hành hoạt động của các hình thức này Nếu tổ chức quản lý sử dụng tốt sẽ sử dụng hết công năng của cơ sở hạ tầng, hoạt động kinh doanh cho hiệu quả cao
Tổ chức kênh tiêu thụ, bao gồm: các hệ thống thu gom, bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng và mối quan hệ giữa chúng Tổ chức các kênh tiêu thụ hợp lý sẽ làm giảm chi phí giao dịch, tăng hiệu quả kinh doanh Cơ sở hạ tầng cho công tác tiêu thụ, bao gồm: kết cấu kiến trúc xây dựng các khu bán hàng, hệ thống đường đi, cửa hàng, siêu thị, kho bãi, phương tiện vận chuyển, hệ thống xử lý rác thải, hệ thống chiếu sáng và các dịch vụ khác Cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện thuận lợi cho quản