1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện định hóa, tỉnhthái nguyên

91 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Hoàng Minh Nhật
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Ngọc Lan
Trường học Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 762,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Họ và tên tác giả: Hoàng Minh Nhật Tên đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện

Trang 1

HOÀNG MINH NHẬT

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ LIÊN KẾT TIÊU THỤ TIÊU THỤ SẢN PHÂM CỦA CÁC TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢNTẠI HUYỆN ĐỊNH HOÁ- TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Lan

Thái Nguyên - 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022

Học viên

Hoàng Minh Nhật

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu

Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đối với PGS.TS Đinh Ngọc Lan người đã nhiệt tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới chi cục thống kê huyện Định Hóa, Lãnh đạo, cán

bộ Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa nơi tôi công tác đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và nghiên cứu hoàn thiện bài luận văn này

Tôi xin cảm ơn đến toàn thể người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, động viên cho tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022

Học viên

Hoàng Minh Nhật

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Phạm vi về không gian nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi về thời gian nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Khái niệm trang trại 4

1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại 5

1.1.3 Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi 6

1.2 Cơ sở khoa học về liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn 7

1.2.1 Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt 7

1.2.2 Các hình thức liên kết 8

1.2.3 Nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế 10

1.2.4 Đặc trưng cơ bản của liên kết 11

1.2.5 Vai trò của liên kết kinh tế 12

1.2.6 Ý nghĩa của liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt 14

1.3.Cơ sở thực tiễn của đề tài 15

1.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn và tiêu thụ trên thế giới 15

Trang 5

1.3.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn tại Việt Nam 16

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 18

1.3.1 Kinh nghiệm sản xuất theo liên kết ở các nước 18

1.3.2 Kinh nghiệm chăn nuôi theo liên kết ở Việt Nam 20

1.3.3 Một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài 21

1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu tại Định Hóa 24

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28

2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiêm, kinh tế, xã hội 35

2.2 Nội dung nghiên cứu 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 36

2.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 37

2.3.3 Phương pháp so sánh 37

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của trang trại 38

2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Thực trạng sản xuất, năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại trong việc sản xuất chăn nuôi lợn 41

3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn của huyện Định Hóa, giai đoạn 2019-2021 41

3.1.2 Nguồn nhân lực của trang trại chăn nuôi lợn 42

3.1.3.Phương tiện sản xuất của trang trại chăn nuôi 43

3.1.4.Nguồn đất đai của trang trại chăn nuôi 44

3.1.5 Hiệu quả kinh tế 45

3.1.5.2 Chi phí chăn nuôi của trang trại chăn nuôi 46

3.1.5.3 Hiệu quả kinh tế của trang trại chăn nuôi lợn 47

Trang 6

3.2 Thực trạng về sự liên kết của trang trạichăn nuôi lợn với thương lái, doanh

nghiệp 52

3.2.1 Các liên kết ngang trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở trang trại 54

3.2.2 Các liên kết dọc trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở trang trại 55

3.3.Phân tích khó khăn trở ngại cơ hội và thách thức trong quá trình nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa, năng lực liên kết của trang trại 64

3.3.1 Từ phía trang trại 64

3.3.2 Từ phía doanh nghiệp và người thu gom 66

3.3.3 Yếu tố môi trường hoạt động 66

3.3.4 Các yếu tố khác 68

3.4 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy trang trại nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi tại các trang trại 68

3.4.1 Từ phía trang trại 68

3.4.2 Từ phía doanh nghiệp, người thu gom 68

3.4.3 Từ phía môi trường hoạt động 69

3.4.4 Đối với các yếu tố khác 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

HĐND : Hội đồng nhân dân

KTTT : Kinh tế trang trại KTTTCN : Kinh tế trang trại chăn nuôi TTCN ; Trang trại chăn nuôi

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích huyện Định Hóa phân theo đơn vị hành chính và loại đất 25

Bảng 2.2 Dân số huyện Định Hóa phân theo giới tính,thành thị, nông thôn giai đoạn 2019-2021 29

Bảng 2.3 Số hộ nghèo trên địa bàn huyện Định Hóa 30

giai đoạn năm 2019-2021 30

Bảng 2.4 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Định Hóa 31

giai đoạn năm 2019-2021 (theo giá cố định) 31

Bảng 3.1 Quy mô, sản lượng lợn thịt tại huyện Định Hóa giai đoạn 2019-2021 41

Bảng 3.2 Tình hình nhân lực của trang trại chăn nuôi lợn huyện Định Hóa 42

Bảng 3.3 Phương tiện của trang trại chăn nuôi lợn 43

Bảng 3.4 Tình hình sử dụng đất của các trang trại chăn nuôilợn 44

Bảng 3.5 Tình hình chăn nuôi của trang trại chăn nuôi và hộ chăn nuôi 45

Bảng 3.6 Chi phí bình quân chăn nuôi của chăn nuôi trang trại lợn thịt và chăn nuôi hộ gia đình trong huyện Định Hóa 46

Bảng 3.7 Hiệu quả kinh tế của trang trại chăn nuôi lợn huyện Định Hóa (tính bình quân cho 100kg thịt hơi) 48

Bảng 3.8 Hiệu quả sử dụng vốn của các trang trại chăn nuôi lợn 49

Bảng 3.9 Hiệu quả sử dụng lao động của các trang trại chăn nuôi lợn trong huyện 50

Bảng 3.10 So sánh hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn trang trại với lợn với chăn nuôi gia cầm (tính bình quân cho 100kg thịt hơi) 50

Bảng 3.12: Tình hình liên kết giữa trang trại và trang trại 55

3.2.2 Các liên kết dọc trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở trang trại 55

Bảng 3.13 Tình hình liên kết trong cung ứng giống 56

Bảng 1.14.Tình hình liên kết trong cung ứng thức ăn chăn nuôi 57

Bảng 3.15 Tình hình liên kết trong cung ứng vốn 59

Bảng 3.17 Lí do trang trại không ký hợp đồng liên kết 64

Bảng 3.18 Hiểu biết về liên kết của trang trại 65

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Họ và tên tác giả: Hoàng Minh Nhật

Tên đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8.62.01.15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Lan

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ lâu và thực sự phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là từ năm

2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại Sự phát triển của kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung

du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy, phát triển kinh tế trang trại

là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.389 trang trại trong đó, có 9.178 trang trại trồng trọt (chiếm 31,23%), 15.068 trang trại chăn nuôi (chiếm 51.27%), 4.175 trang trại thủy sản (chiếm 14,21%) và 968 trang trại tổng hợp (chiếm 3.29%) (Tạp chí chăn nuôi Việt Nam, 2020)

Huyện Định Hóa là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên có vị trí, địa lý, kinh tế thuận lợi, được tỉnh và Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho sự phát triển chung của huyện Kinh tế trang trại từ lâu đã được huyện Định Hóa xác định là hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra các vùng tập trung sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho nông dân Cũng như nhiều địa phương khác, hơn 1 năm qua, các trang trại trên địa bàn huyện gặp không ít khó khăn do diễn biến thời tiết phức tạp, giá cả các sản phẩm trên thị trường chưa ổn định Quan trọng hơn cả là vấn đề tiêu thụ sản phẩm

Trang 10

chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn, người dân chưa biết cách tìm kiếm và liên kết với các thương lái, với đầu ra cho các sản phẩm của trang trại mình, nếu có cũng chỉ là tạm thời Ngoài ra, sự gắn kết giữa người chăn nuôi lợn với các doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là thị trường nội tiêu, chưa tận dụng được lợi thế để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định vì vậy người chưa thực sự yêu tâm khi đầu tư lớn Việc nghiên cứu một cách cụ thể chính sách, giải pháp thúc đẩy trang trại chăn nuôi lợn nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm, chăn nuôi lợn trong cả nước nói chung và tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nói riêng để từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu, mô hình mới nhằm tiến tới những chính sách mới hơn cơ chế phù hợp hơn sao cho thúc đẩy được năng lực của trang trại chăn nuôi lợn để phát triển sản xuất một cách hiệu quả

và bền vững là rất cần thiết và cấp bách Chính vì vậy đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Thực trạng sản xuất, năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại chăn nuôi lợn

- Thực trạng về sự liên kết của trang trại chăn nuôi lợn với thương lái, doanh nghiệp Phân tích khó khăn trở ngại cơ hội và thách thức trong quá trình nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại

- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy trang trại nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi chủ lực tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các trang trại và hộ chăn nuôi tại địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi về không gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, trong đó tập trung nghiên cứu tại các xã có nhiều trang trại chăn nuôi để làm đại diện đánh giá cho toàn huyện

Trang 11

4.2 Phạm vi về thời gian nghiên cứu

- Thời gian thu thập số liệu: Các số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm

2018 - 2020

- Thời gian thực hiện đề tài: từ 7/2020 đến 7/2021

5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn

Về lý luận: Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn

năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn và đánh giá hiệu quả của hoạt động này trong lĩnh vực ngành nông nghiệp

Về thực tiễn: Đề tài sẽ phân tích, đánh giá năng lực sản xuất hàng hóa và liên

kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Định Hóa, đề xuất các giải pháp quan trọng và có ý nghĩa nhằm tăng cường công tác quản lý, phát triển đối với hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi để từ đó từng bước nâng cao hoạt động hiệu quả phát triển sản xuất trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Định Hóa

6 Kết luận

Chăn nuôi của huyện Định Hóa trong thời gian gần đây đã có nhiều bước phát triển đáng ghi nhận Tuy nhiên các trang trại chăn nuôi vẫn chủ yếu là chăn nuôi độc lập, mang tính tự phát Chăn nuôi trên địa bàn đã có từ rất lâu đời, tuy nhiên 10 năm trở lại đây các trang trại trên địa bàn mới tập trung vào chăn nuôi lợn thịt, điều đó cho thấy kinh nghiệm chuyên môn chăn nuôi lợn thịt để bán của người dân chưa cao

Các trang trại có quy mô diện tích lớn, năng lực sản xuất cao, phần lớn có sự liên kết với doanh nghiệp để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc liên kết với doanh nghiệp hoặc thông qua HTX để tiêu thụ sản phẩm Các trang trại chăn nuôi có quy

mô lớn , công nghệ cao thường không bị chịu ảnh hưởng của dịch bệnhvì vậy để sản xuất hàng hóa tốt các địa phương cần tập trung phát triển loại hình trang trại quy mô lớn có áp dụng công nghệ như vậy hiệu quả sản xuất sẽ cao

Nguồn lực: TT sản xuất hàng hóa là những TT có đầy đủ nguồn lực về nhân lực (tuổi 38,17 tuổi với 2,09 lao động và 4,38 khẩu); đất đai (87.084 m2/TT); vốn đầu tư sản xuất (1.358,5 triệu đồng/TT, chủ yếu là vốn tự có); đã bắt đầu đầu tư

Trang 12

máy móc tư liệu sản xuất cơ giới hóa; khoa học công nghệ; có thông tin sản xuất, thị trường, giá cả đầu vào, đầu ra, đã bắt đầu có năng lực liên kết, hợp tác để sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm, l

Các TT đã bước đầu có những hình thức liên kết dọc, hợp tác với các tác nhân trong các chuỗi giá trị sản phẩm góp phần gia tăng giá trị cho cả chuỗi Một số liên kết hợp tác bước đầu có hiệu quả, một số chuỗi giá trịđượcđánh giá khá bền vững

Sự liên kết giữa TT với các thương lái, doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế

cả về chiều rộng lẫn chiều sâu: Giá cả phụ thuộc vào thương lái, doanh nghiệp, tình trạng được mùa mất giá do thị trường đầu ra không ổn định; các hộ gia đình, TT, chưa chủ động tìm kiếm và xây dựng các mối liên kết với các doanh nghiệp để có vật tư đầu vào (giống, phân bón, thức ăn, máy móc, ) và tiêu thụ các sản phẩm đầu

ra thông qua các hợp đồng liên kết, hợp tác;

Khả năng tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm còn thấp; khả năng đàm phán liên kết với doanh nghiệp, thương lái thấp; vai trò của TT luôn rất yếu trong các liên kết; sự liên kết ngang và dọc còn rất lỏng lẻo và thiếu; thiếu sự liên kết giữa sản xuất với thị trường tiêu thụ, do bản thân các hộ nông dân nhỏ lẻ không thể thực hiện tất cả các khâu từ tổ chức sản xuất, chế biến, nắm bắt nhu cầu thị trường, đưa sản phẩm hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng,…

- Các kênh tiêu thụ chủ yếu thông qua tư thương; mạng lưới tiêu thụ sản phẩm còn mang tính tự phát, hệ thống vận chuyển, xử lí, phân loại, đóng gói, tiêu thụ và tiếp thị mở rộng thị trường còn nhiều hạn chế

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ lâu và thực sự phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là từ năm

2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại Sự phát triển của kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung

du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy, phát triển kinh tế trang trại

là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.389 trang trại trong đó, có 9.178 trang trại trồng trọt (chiếm 31,23%), 15.068 trang trại chăn nuôi (chiếm 51.27%), 4.175 trang trại thủy sản (chiếm 14,21%) và 968 trang trại tổng hợp (chiếm 3.29%) (Chăn nuôi Việt Nam, 2020)

Tuy nhiên, kinh tế trang trại nói chung, kinh tế trang trại chăn nuôi lợn nói riêng hiện nay chưa phát triển rộng và chưa tương xứng với những tiềm năng, thế mạnh của các vùng, miền trong cả nước; chưa tạo ra bước đột phá trong việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả.; chưa đóng góp thỏa đáng vào việc mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh ngành hàng thịt lợn mang tính hàng hoá trong điều kiện thị trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Bên cạnh đó, việc tiêu thụ thịt lợncủa các trang trại sản xuất vẫn là một bài toán khó đối với người dân khi chưa tìm được một giải pháp toàn vẹn để liên kết với các thương lái và các doanh nghiệp trong việc cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm thịt lợn.Một điều rõ ràng là, các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ở các tỉnh MNPB đã được hình thành (Đinh Ngọc Lan và

cs, 2017) Nhưng sự liên kết giữa nông dân với thương lái và các DN còn rất hạn chế Phần lớn các mối quan hệ giữa nông dân, trang trại với thương lái,

Trang 14

DN còn "lỏng lẻo", chưa xác định và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên

tham gia liên kết Trình độ, năng lực sản xuất của người nông dân vẫn còn yếu kém Đầu ra cho các hàng hóa nông sản vẫn chưa ổn định (Hoàng Vũ Quang

và cs, 2017; Hoàng Vũ Quang, 2018)

Huyện Định Hóa là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên có vị trí, địa lý, kinh tế thuận lợi, được tỉnh và Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho sự phát triển chung của huyện Kinh tế trang trại từ lâu đã được huyện Định Hóa xác định là hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra các vùng tập trung sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho nông dân Cũng như nhiều địa phương khác, hơn 1 năm qua, các trang trại trên địa bàn huyện gặp không ít khó khăn do diễn biến thời tiết phức tạp, giá cả các sản phẩm trên thị trường chưa ổn định Quan trọng hơn cả là vấn đề tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn, người dân chưa biết cách tìm kiếm và liên kết với các thương lái, với đầu ra cho các sản phẩm của trang trại mình, nếu có cũng chỉ là tạm thời Ngoài ra, sự gắn kết giữa người chăn nuôi lợn với các doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là thị trường nội tiêu, chưa tận dụng được lợi thế để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định vì vậy người chưa thực sự yêu tâm khi đầu tư lớn Việc nghiên cứu một cách cụ thể chính sách, giải pháp thúc đẩy trang trại chăn nuôi lợn nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm, chăn nuôi lợn trong cả nước nói chung và tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nói riêng để từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu, mô hình mới nhằm tiến tới những chính sách mới hơn cơ chế phù hợp hơn sao cho thúc đẩy được năng lực của trang trại chăn nuôi lợn để phát triển sản xuất một cách hiệu quả

và bền vững là rất cần thiết và cấp bách Chính vì vậy đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên”

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi

Trang 15

- Đánh giá được năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại về sản phẩm chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá được liên kết giữa trang trại với thương lái, doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Phân tích được khó khăn trở ngại cơ hội và thách thức trong quá trình nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại chăn nuôi lợn

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm thúc đẩy năng lực sản xuất hàng hóa

về sản phẩm chăn nuôi lợn và các liên kết để phát triển kinh tế trang trại trong thời gian tới của huyện

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các trang trại và hộ chăn nuôi tại địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi về không gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, trong đó tập trung nghiên cứu tại các xã có nhiều trang trại chăn nuôi lợn để làm đại diện đánh giá cho toàn huyện

4.2 Phạm vi về thời gian nghiên cứu

- Thời gian thu thập số liệu: Các số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm

2018 - 2020

- Thời gian thực hiện đề tài: từ 7/2020 đến 7/2021

5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn

Về lý luận: Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn năng

lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn

và đánh giá hiệu quả của hoạt động này trong lĩnh vực ngành nông nghiệp

Về thực tiễn: Đề tài sẽ phân tích, đánh giá năng lực sản xuất hàng hóa và liên

kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Định Hóa, đề xuất các giải pháp quan trọng và có ý nghĩa nhằm tăng cường công tác quản lý, phát triển đối với hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi để từ đó từng bước nâng cao hoạt động hiệu quả phát triển sản xuất trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Định Hóa

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Khái niệm trang trại

Khi nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế trong nông nghiệp, các nhà kinh

tế thấy rằng, khi công nghiệp phát triển thì nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp phục

vụ cho tiêu dùng, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hàng xuất khẩu tăng lên rất lớn Để 10 đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp thì không thể dựa vào hình thức sản xuất nông hộ với quy mô nhỏ lẻ, manh mún với phương thức canh tác lạc hậu, sản xuất tự cung, tự cấp Như vậy, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì đòi hỏi các hộ nông dân phải sản xuất theo hướng hàng hóa, tập trung với quy mô lớn và hình thành nên các nông trại hay trang trại như ngày nay Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học kinh tế, trang trại và kinh tế trang trại được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về trang trại Trong từ điển Việt, trang trại được hiểu một cách khái quát là: “Trại lớn sản xuất nông nghiệp” Trong các tài liệu nghiên cứu về kinh tế trang trại thường gắn với ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp gọi là “nông trại”, “lâm trại”, “ngư trại” để phân biệt chuyên ngành sản xuất của các trang trại Có ý kiến cho rằng, trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có

tư cách pháp nhân, được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý để tổ chức lại quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người tham gia Theo tác giả Trần Đức, (1998) “Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông lâm, thuỷ sản, có mục đích sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và

Trang 17

trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” Theo tác giả Nguyễn Điền, (1993) “Trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả” Theo tác giả Trần Hai, (2000) “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu,

có tư cách pháp 11 nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội” Kế thừa các quan điểm trên, tác giả luận văn cho rằng: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường

1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại

Trong thời gian qua những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại đã được các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn nghiên cứu trong các công trình khoa học đã được công bố, trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiện thông tin đại chúng Cho đến nay một số vấn đề cơ bản về kinh tế trang trại vẫn tiếp tục được nghiên cứu, trao đổi và hoàn thiện Thực tế hiện nay ở nước ta còn có một số khái niệm khác nhau về kinh tế trang trại: Theo PGS TS Lê Trọng: Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại,…) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định, được chủ trang trại tổ chức trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ Theo Ban kinh tế Trung ương:

“Kinh tế trang trại mang tính chất sản xuất hàng hoá, gắn liền với thị trường, chính

vì vậy có nhu cầu cao hơn hẳn kinh tế hộ mang nặng tính tự cấp, tự túc, về tiếp thị,

về sự tác động của khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, về sự phát triển của công nghiệp, trực tiếp là công nghiệp bảo quản, chế biến nông lâm thuỷ sản, chế

Trang 18

tạo nông cụ nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và đáp ứng được đòi hỏi của khách hàng về quy cách, chất lượng sản phẩm để bảo đảm tiêu thụ hàng hoá, cạnh tranh trên thị trường” Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 của Chính phủ ban hành đã nêu rõ: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp với mục đích là sản xuất hàng hóa trên cơ sở tự chủ về ruộng đất, tư liệu sản xuất của trang trại gia đình, tự hạch toán và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra sức sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra; có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, 2000)

1.1.3 Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi

Kinh tế trang trại chăn nuôi là một hình thức tổ chức kinh tế - hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp với nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp 17 đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, qui mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá như thịt, trứng, sữa… trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay Kinh tế trang trại chăn nuôi là một bộ phận của hệ thống kinh tế trang trại nói chung, là một bộ

Trang 19

phận của nền sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Khác với các ngành sản xuất khác: Lâm nghiệp hay Thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, khí tượng và thời tiết, nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là những ảnh hưởng tác động đến vật nuôi,

nó phụ thuộc chính vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của các trang trại Sản phẩm của chăn nuôi phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của đại đa số nguời dân trong cả nước Vậy có thể đúc kết lại khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi: Là một hình thức tổ chức kinh tế, hình hình tổ chức sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa như: thịt, trứng, sữa … với quy

mô đất đai, các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, có tổ chức và quản

lý tiến bộ, có hạch toán kinh tế như các doanh nghiệp

Đặc điểm kinh tế trang trại chăn nuôi:

- Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc điểm là sản xuất sản phẩm hàng hóa mà sản phẩm của nó là các loại thịt, trứng, sữa…đáp ứng nhu cầu của thị trường, như vậy để đáp ứng được nhu của thị trường thì quy mô trang trại chăn nuôi phải ở mức

độ tương đối lớn, khác biệt với hộ gia đình

- Các sản phẩm của kinh tế trang trại chăn nuôi như thịt, trứng, sữa … trong điều kiện kinh tế thị trường đều phải xuất phát từ nhu cầu thị trường Chính vì vậy, tất cả các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học kỹ thuật, cũng như các yếu tố đầu ra như sản phẩm thịt, trứng, sữa…đều là sản phẩm hàng hóa

- Đặc trưng sản xuất hàng hóa ngành chăn nuôi chi phối là phải đòi hỏi tạo

ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái sản xuất

mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế tích tụ, tập trung sản xuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ suất hàng hóa cao, khối lượng hàng hóa ngày càng nhiều, chất lượng tốt

1.2 Cơ sở khoa học về liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn

1.2.1 Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt

Từ những khái niệm và nội dung của liên kết, liên kết kinh tế ta có thể đưa ra các khái niệm về liên kết trong chăn nuôi lợn thịt

Liên kết trong chăn nuôi lợn thịt là biểu hiện của sự hợp tác, nó phản ảnh mối quan hệ của các tác nhân trong chăn nuôi lợn thịt ở cả khâu sản xuất và tiêu thụ

Trang 20

Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt là hình thức kết hợp các hộ chăn nuôi lợn thịt với nhau, giữa các hộ chăn nuôi lợn thịt với người cung cấp đầu vào cho chăn nuôi lợn thịt hay với người tiêu thụ lợn thịt Sự kết hợp này dựa trên cơ sở

tự nguyện liên kết lại với nhau trong một khâu hoặc nhiều khâu của quá trình chăn nuôi lợn thịt, để đem lại hiệu quả, sự phát triển ổn định và lâu dài của các tác nhân tham gia Các hộ chăn nuôi lợn thịt có thể liên kết với nhau về vốn, nhập đầu vào, dịch vụ thú ý hay cùng nhau trao đổi, chia sẻ kĩ năng trong chăn nuôi, chăm sóc cũng như kĩ năng đàm phán, Các doanh nghiệp, người cung cấp dịch vụ đầu vào trong liên kết thực hiện chuyển giao kĩ thuật, đầu tư vốn cho các hộ chăn nuôi hay đơn giản là chấp nhận trả chậm các khoản thanh toán Các thương lái người tiêu thụ đầu ra cung cấp thông tin thị trường, định kế hoạch sản lượng hay đưa ra các tiêu chuẩn kĩ thuật đối với người chăn nuôi Bên cạnh đó liên kết trong chăn nuôi lợn thịt còn là sự liên kết giữa người chăn nuôi, các doanh nghiệp cung cấp đầu vào, đầu ra với các tổ chức tín dụng trong đầu tư vốn, với các nhà khoa học trong nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, với Nhà nước trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

1.2.2 Các hình thức liên kết

Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là quá trình gắn kết giữa vùng nguyên liệu với người sản xuất chế biến và tiêu thụ, giữa người mua và người bán hay giữa những người bán với nhau

Liên kết kinh tế là cách thức tổ chức phân công lao động xã hội, trong đó các

hộ, các doanh nghiệp phối hợp, phụ thuộc lẫn nhau thông qua các cam kết, các thỏa thuận về điều kiện sản xuất - tiêu dùng nhằm đem lại lợi ích cho các bên Điều này làm cho liên kết kinh tế phụ thuộc vào chế độ kinh tế xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đặc điểm ngành nghề, sản phẩm và nguyên liệu cụ thể

Nếu dựa theo vai trò thì quan hệ kinh tế giữa các tác nhân, ta có thể phân ra các hình thức liên kết là liên kết dọc và liên kết ngang

Trang 21

Sơ đồ 2.1 Phân loại liên kết

- Liên kết dọc (vertical integration) là liên kết giữa các tác nhân ở các mắt xích liên tiếp nhau trong sản xuất của một ngành hàng

Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi tác nhân đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó Trong

đó có kiểu liên kết dọc toàn diện nhất là kiểu liên kết bao gồm các giai đoạn từ cung cấp đầu vào, giai đoạn sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm Trong mối quan hệ này thì mỗi tác nhân của liên kết vừa đóng vai trò là khách hàng của mắt xích phía trước vừa đóng vai trò là người cung cấp của mắt xích phía sau Kết quả của mối liên kết này là tạo nên chuỗi giá trị của ngành hàng và góp phầm giảm chi phí cho các tác nhân và sự thất thoát qua các khâu trung gian

Hiện nay, hình thức liên kết này phát triển mạnh ở hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh và mang lại hiệu quả tốt Trong đó có chuỗi liên kết 4 nhà từ nông dân đến nhà khoa học, kinh doanh bán lẻ đang được chú trọng, hình thức này đã được thực hiện qua việc kí kết hợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân và bước đầu đã

có hiệu quả đáng ghi nhận Các doanh nghiệp và nông dân đã biết tìm đến với nhau qua mô hình tiêu thụ nông sản hàng hòa thông qua hợp đồng

- Liên kết ngang (horizotal integration) là mối liên kết giữa các tác nhân sản xuất như nhau ở cùng một cấp, cùng một giai đoạn hay cùng một mắt xích của ngành hàng

Trang 22

Trong sự liên kết này các tác nhân tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ có sự cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao sức cạnh tranh so với các mắt xích khác nhờ có sự phát huy lợi ích của tổ chức liên kết Chẳng hạn như hưởng chiết khấu cao hơn từ nhập đầu vào đến sự quyết định thỏa thuận giá bán ra Kết quả của sự liên kết này là tạo ra các HTX, liên minh, hiệp hội, các tổ chức độc quyền Với hình thức liên kết này có thể hạn chế được sự ép giá của các cơ sở chế biến nhờ sự làm chủ thị trường

1.2.3 Nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện tham gia của các bên Các liên kết chỉ thành công và hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi ích cao hơn thông qua liên kết Chỉ khi tự nguyện tham gia các chủ thể liên kết mới phát huy hết năng lực nội tại của mình, xây dựng nên mối quan hệ hiệu quả, bền chặt vì lợi ích chung, đồng thời đem hết khả năng cùng chịu trách nhiệm về những thất bại hay rủi ro trong liên kết Mọi liên kết kinh tế được thiết lập mang tính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ không tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia

Kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia Trong liên kết thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo dán lâu dài các bên tham gia Việc chia

sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự bền vững của các liên kết nên đòi hỏi phải tìm ra một cơ chế giải quyết thích hợp Cơ chế đó cần tập trung vào các yêu cầu cơ bản và câp thiết nhất, trong từng mối liên kết, từng mặt hàng hóa và có hình thức và phương pháp giải quyết lợi ích khác nhau Ngoài ra cơ chế đó cần bảo đảm các bên tham gia được bình đẳng với nhau về quyền lợi cũng như trách nhiệm

Các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của liên kết

Do các nguồn lực của liên kết được hình thành dựa trên sự đóng góp của các chủ thể tham gia, mặt khác các liên kết có liên quan chặt chẽ đến các lợi ích của chủ thể tham gia nên hoạt động quản lý, điều hành, giám sát và phân phối lợi ích trong liên kết phải bảo đảm dân chủ và bình đẳng Dân chủ và bình đẳng trong liên kết không

có nghĩa là công bằng quyền lợi và trách nhiệm mà trên cơ sở đóng góp của mỗi bên

Trang 23

Để có sự bình đẳng và dân chủ các quyết định liên kết phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và được thực hiện qua một cơ chế điều phối chung được thống nhất giữa các bên ngay từ đầu

Các mối liên kết phải được pháp lý hóa Trong cơ chế thị trường hiện nay nhiều quan hệ kinh tế được phát triển dựa trên cơ sở tin cậy lẫn nhau của các bên tham gia Liên kết giữa họ thường xuyên và bền chặt vì các bên đều đạt được lợi ích của mình khi tham gia Tuy nhiên, với mục tiêu hướng đến một nền sản xuất hiện đại thì mọi quan hệ kinh tế đều phải được thể chế bằng pháp luật dưới hình thức hợp đồng kinh tế, điều lệ, hiệp ước cua tổ chức liên kết… Khi các mối liên kết được pháp luật hợp lý hóa, một mặt nâng cao vị thế cho các bên tham gia đồng thời là cơ

sở quan trọng để ràng buộc trách nhiệm của họ cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết khi có tranh chấp phát sinh

Các nguyên tắc của liên kết kinh tế phải được đảm bảo thực hiện một cách chính xác để đảm bảo quyền lợi giữa các bên Nếu có bất kì nguyên tắc nào bị vi phạm cũng có thể gây ra các kết quả không mong muốn

1.2.4 Đặc trưng cơ bản của liên kết

Liên kết kinh tế là một quan hệ kinh tế chỉ có thể diễn ra giữa hai hoặc nhiều chủ thể kinh tế độc lập, tự chủ về kinh tế, có quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng tài sản của mình và do đó theo qui luật quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý nên quan hệ giao dịch với nhau giữa các “người chơi” trong liên kết kinh tế chỉ có thể diễn ra theo “luật chơi” tự nguyên, thỏa thuận, cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau Tuy nhiên đặc trưng nay cũng là đặc trưng của cơ chế thị trường

Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như quá trình vận động phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ chuyên môn, phạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh (Trần Văn Hiếu, 2005)

Liên kết kinh tế là một quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau theo một kế hoạch định trước dài hạn trong tương lai hoặc thường xuyên Tính định trước trong tương lai tự nó không nhất thiết phải là quan hệ thường xuyên, theo đó một quan hệ

Trang 24

giao dịch dù chỉ xảy ra một lần giữa hai đổi tác độc lập một cách tự nguyện, cùng có lợi và được định trước diễn ra trong một thời gian nhất định vần là một liên kết kinh

tế Ngược lại đã là một quan hệ giao dịch thường xuyên lâu thì tất yêu phải mang tính định trước

Liên kết kinh tế là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết với nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết (Dương Bá Phượng, 1995) Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang quan hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất lại Như vậy phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh là điều kiện hình thành các liên kết kinh tế, còn hợp tác hóa, liên hiệp hóa là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những bước phát triển của liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế là một trong những hình thức phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế, chứ không phải là mọi sự phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh

tế Điều đó cũng tương tự như mệnh đề liên kết kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế chứ không phải là mọi quan hệ kinh tế

Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữa các chủ thể liên kết thông qua những thỏa thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp định, điều lệ… nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh…) Tùy theo góc độ xem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra theo liên kết ngành, liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ

1.2.5 Vai trò của liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế giúp các mắt xích trong liên kết khắc phục các bất lợi về quy

mô, phản ứng tốt hơn với thay đổi của thị trường, giảm chi phí

Trong khi các mắt xích sản xuất kinh doanh riêng lẻ sẽ chịu sự chèn ép về giá đầu vào, không có tiếng nói trong thỏa thuận giá đầu ra thì liên kết kinh tế sẽ giúp khắc phục các điểm yếu trên Các đại diện của liên kết sẽ tham gia thỏa thuận

để nhập đầu vào để thương thảo giá và hưởng mức chiết khấu lớn hơn Việc này cũng sảy ra khi tiêu thụ sản phẩm đầu ra, với sức mạnh cạnh tranh của mình các đại diện liên kết sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các mắt xích trong chuỗi liên kết

Trang 25

Nhu cầu của thị trường luôn thay đổi, điều này làm cho các nhà sản xuất phải nắm được thông tin, chủ động thay đổi mẫu mã sản phẩm để phù hợp với nhu cầu thị trường Chính sự liên kết kinh tế giúp cho người sản xuất nắm bắt thông tin tốt hơn và thực hiện được điều đó Ngoài ra liên kết kinh tế còn giúp người sản xuất chủ động hơn trong tiếp cận và ứng dụng công nghệ và kĩ thuật mới nhờ sự phối hợp của các mắt xích khác trong lên kết Liên kết kinh tế còn giúp cho tiêu thụ sản phẩm được nhanh hơn, thể hiện thông qua sự liên kết của hệ thống các nhà thương mại với các nhà sản xuất, thông qua các hình thức đại lí

Bên cạnh đó liên kết kinh tế còn giúp giảm thiểu chi phí ngoài sản xuất cho các mắt xích như chi phí vận chuyển, chi phí giành cho trung gian Sự hợp tác chặt chẽ trong liên kết đem lại sự kịp thời của thông tin, hạn chế dịch bệnh do phải thực hiện theo tiêu chuẩn sản xuất chung của chuỗi Khắc phục được những mặt yếu kém của từng mắt xích trong sản xuất

Liên kết kinh tế giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh

Phát triển sản xuất là một quá trình vận động không ngừng, tích tụ tập trung rồi lại chia tách ra, sáp nhập để đáp ứng như cầu phát triển của xã hội và phù hợp với khả năng nội tại của doanh nghiệp nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao nhất

mà giảm thiểu được rủi ro Quá trình đó diễn ra thực chất là thông qua các hoạt

động liên kết kinh tế

Khi tham gia liên kết kinh tế các mắt xích trong liên kết thường phải thực hiện sản xuất theo tiêu chuẩn chung do đại diện và toàn thể mắt xích trong liên kết nhất chí đặt ra Thực hiện theo tiêu chuẩn chung này sẽ giúp cho các mắt xích giảm thiểu được rủi ro về dịch bệnh, phòng tránh tốt hơn

Bên cạnh đó khi đứng trước một cơ hội kinh doanh như một đơn hàng lớn, nhiều khi đơn hàng đó vượt quá khả năng của các mắt xích Lúc này nếu không nhận hợp đồng sẽ mất đi một khoản lợi nhuận hoặc nếu tự mình thực hiện thì hiệu quả có thể sẽ thấp Khi tham gia liên kết để tránh hiện tượng này sảy ra các mắt xích có thể mời các mắt xích khác cùng tham gia thực hiện hợp đồng, mỗi mắt xích đảm nhận một công việc để cùng hưởng lợi nhuận cũng như chia sẻ một phần rủi ro nếu có

Trang 26

1.2.6 Ý nghĩa của liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt

1 Đối với các hộ chăn nuôi

Khi có liên kết trong chăn nuôi lợn thịt, các hộ chăn nuôi có thể dễ dàng hơn trong trao đổi, chia sẻ kĩ năng, cách thức chăm sóc với hộ chăn nuôi khác; Có được mối tiêu thụ đầu ra ổn định với giá cả hợp lí, có thể được hỗ trợ về vốn, kĩ thuật và được cung cấp thông tin thị trường nên có phản ứng nhanh với nhu cầu thị trường

và yên tâm hơn trong sản xuất và tập trung sản xuất sản phẩm thịt lợn tốt hơn, đáp ứng được với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Thông qua liên kết các hộ chăn nuôi cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với tiến bộ kĩ thuật trong chăn nuôi và phương thức sản xuất mới, từ đó giúp tăng thêm thu nhập thông qua liên kết

2 Đối với các tác nhân liên quan

Các tác nhân liên quan cũng được hưởng lợi từ việc có thể chủ động được kế hoạch sản xuất nhờ có thị trường đầu vào và đầu ra ổn định khi tham gia liên kết Các tác nhân này có thể giảm được đáng kể các chi phí cho những khâu trung gian hoặc phân phối Bên cạnh đó liên kết còn giúp cho các doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trên thị trường

3 Đối với toàn xã hội

Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt giúp cho kinh tế tập thể phát triển

mà nòng cốt là các hợp tác xã chăn nuôi, các hiệp hội chăn nuôi

Liên kết kinh tế giúp phát huy lợi thế của các tác nhân tham gia, từ đây sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, số lượng lớn, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường

Thông qua liên kết giúp hình thành chuỗi giá trị của ngành hàng mà ở đó phúc lợi xã hội được phân phối hài hòa hơn cho các tác nhân tham gia, nhất là các

hộ chăn nuôi nhỏ, không có lợi thế cạnh tranh lớn

Từ đó có thể thấy rằng liên kết trong chăn nuôi lợn thịt là một quá trình phát triển tất yếu của ngành chăn nuôi lợn thịt, xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi tác nhân tham gia để nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường, nhất là trong bối cảnh hội nhập như hiện nay

Trang 27

1.3.Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn và tiêu thụ trên thế giới

1.3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới

Chăn nuôi lợn ra đời rất sớm Cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở Châu Âu và Châu Á Sau đó, khoảng thế kỷ XVI, bắt đầu phát triển ở Châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở Châu Úc Đến nay, chăn nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia Ở nhiều nước chăn nuôi lợn có công nghệ cao và tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điểm, Đức, Ý, Trung Quốc, Singapo, Đài Loan

Nói chung ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao

Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bổ không đồng đều ở các châu lục.Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở Châu Á và Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác.Trong

đó, tỷ lê lợn được nuôi nhiều ở các nước chăn nuôi lợn tiên tiến.Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước Châu Âu chiếm khoảng 52%, Châu Á 30,4%, Châu Úc 5,8%, Châu Phi chiếm khoảng 52%, Châu Á 30,4%, Châu Úc 5,8%, Châu Phi 3,2%, Châu Mỹ 8,6% Nhìn chung, sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các nước theo tín ngưỡng Hồi giáo) Nguyễn Đăng Vang, 2002

Trong sự tăng trưởng và phát triết đó, ngành chăn nuôi lợn đóng góp một phần không nhỏ Sản lương thịt lợn trên thế giới ngày càng tăng mặc dù có sự biến động ở các châu lục, khu vực khác nhau đặc biệt là chịu ảnh hưởng, tác động cảu một số dịch bệnh như Lở mồm long móng, tai xanh, dịch tả Châu Phi đối với gia súc, đại dịch cúm gia cầm H5N1 Tuy vậy trong những năm gần đây sản lượng thịt lợn sản xuất ra vẫn liên tục tăng lên

Thịt là nguồn cung cấp quan trọng nhất về đạm, vitamin, khoàng chất cho con người.Chất dinh dưỡng từ động vật có chất lượng cao hơn dễ hấp thụ hơn là từ rau quả.Trong khi mức tiêu thụ bình quân đầu người ở các nước công nghiệp rất cao thì tại nhiều nước đang phát triển, bình quân dưới 10kg gây nên hiện tượng thiếu và suy dinh dưỡng Ước tính có hơn 2 tỷ người trên thế giới, chủ yếu là các nước chậm

Trang 28

phát triển và nghèo bị thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là Vitamin A, iodine, sắt, kẽm, do đó họ không được tiếp cận với các thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt, cá, trái cây và rau quả (Nguyễn Đăng Vang, 2002)

1.3.1.2 Tình hình tiêu thụ lợn thịt trên thế giới

Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu thịt lợn của các nước có chiều hướng tăng Trong đó sản lượng thịt lợn xuất khẩu cao nhất là EU với sản lượng xuất khẩu đạt 2.600 nghìn tấn, sau đó đến Canada đạt 1.250 nghìn tấn, Braxin 670 nghìn tấn Việt Nam đứng thứ 8 với sản lượng xuất khẩu đạt 40 nghìn tấn

Hầu hết các nước trên thế giới đều có nhập khẩu thịt lợn, tuy nhiên nhập khẩu thịt lợn cũng tập trung vào các nước chính: Nhật Bản, Trung Quốc, Mexico, Hàn Quốc, Hồng Kông, Liên Bang Nga Ngoài ra, Úc, Canada và Philippin cũng nhập khẩu trên 100 nghìn tấn thịt/năm Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ năm

2018 nhập khẩu thịt lợn của Nhật Bản lên đến con số 1.320 nghìn tấn, Trung Quốc 1.300 nghìn tấn

Nhìn chung chăn nuôi lợn trên thế giới đang từng bước chuyển dịch từ các nước đã phát triển sang các nước phát triển Các nước đã phát triển xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển ngành chăn nuôi duy trì sự ổn định, nâng cao quá trình thâm canh, các biện pháp an toàn sinh học và vệ sinh an toàn thực phẩm Các nước đang phát triển ở Châu Á và châu Nam Mỹ được nhận định sẽ trở thành khu vực chăn nuôi chính và cũng đồng thời là khu vực tiêu thụ nhiều các sản phẩm chăn nuôi Đó là cách tiếp cận để giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh ở động vật

1.3.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn tại Việt Nam

1.3.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại Việt Nam

Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời.Theo một số tài liệu khảo cổ học, nghề chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá, cách đây khoảng 1 vạn năm Từ khi, con người biết sử dụng công cụ lao động là đồ đá, họ đã săn bắn, hái lượm

và bắt được nhiều thú rừng, trong đó có nhiều lợn rừng Khi đó, họ bắt đầu có ý thức trong việc tích trữ thực phẩm và lương thực cho những ngày không săn bắt

và hái lượm được và họ đã giữ lại những con vật đã săn bắt được và thuần dưỡng chúng.Cũng từ đó nghề chăn nuôi lợn đã được hình thành

Trang 29

Thời kỳ Bắc thuộc và dưới cách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đời sống nhân dân ta rất khổ và ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng hầu như không phát triển Vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, khi trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, chăn nuôi lợn mới bắt đầu được phát triển Dân cư phía Bắc đã nhập các giống lợn lang Trung Quốc vào nuôi tại các tỉnh miền Đông Bắc

Bộ Tuy nhiên, trong thời kỳ này trình độ chăn nuôi còn thấp Vào thời kỳ Pháp thuộc, khoảng năm 1925 Pháp bắt đầu đã nhập các giống lợn Châu Âu vào nước ta như Yorkshire, Berkshire và lai với lợn nội địa của Việt Nam như Móng Cái, lợn Ỉ, lợn Bồ Xụ

Trong những năm chuyển đổi kinh tế sự hỗ trợ của nước ngoài 3 giảm, cộng thêm đó là dịch bệnh đã làm cho hệ thống các nông trường giống lợn dần dần tan rã hay chuyển đổi từ sở hữu nhà nước sang cổ phần hóa hay tư nhân

Giai đoạn từ năm 1986 đến nay: Đây là giai đoạn chuyển đổi kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái và nông nghiệp sản xuất hàng hóa để tham gia thị trường khu vực (AFTA) và tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Từ đó, các mô hình chăn nuôi lợn được hình thành và phát triển ở các tỉnh miền Nam và các tỉnh phía Bắc, hình thức chăn nuôi lợn theo trang trại và doanh nghiệp tư nhân hình thành và phát triển mạnh Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp và công ty chăn nuôi lợn có vốn đầu tư 100% của nước ngoài Với hình thức chăn nuôi công nghiệp tập trung này, trong những năm tới chăn nuôi lợn ở nước ta

sẽ phát triển nhanh chóng, tuy nhiên chăn nuôi nông hộ vẫn chiêm tỷ lệ lớn 96,4% ở các khu vực nông thôn (Viện kinh tế Nông nghiệp, 2005)

Hiện nay nhiều doanh nghiệp, công ty hay các Trung tâm giống lợn đã có khả năng sản xuất các giống lợn tốt đáp ứng nhu cầu nuôi lợn cao nạc và phát triển chăn nuôi lợn ở các hình thức khác nhau trong cả nước Trong đó, việc quản lý con giống cũng là một vấn đề nan giải và nhiều thách thức Vì hiện tượng các giống lợn kém chất lượng bán trên các thịt trường nông thôn vẫn còn khá phổ biến, do vậy người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc gây dựng đàn lợn ban đầu

Chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh ở Đồng Bằng Sông Hồng, Trung du

và Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền trung chiếm tỷ lệ lần lượt

Trang 30

là 25,50%; 24,76% và 19,46% năm 2018 Tuy nhiên từ năm 2016 đến 2017 Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền trung có xu hướng giảm nhưng đến năm 2018 đã có chiều hướng tăng lên Cụ thể, Đồng Bằng Sông Hồng 6.855,2 nghìn con (2016) đến năm 2017 giảm xuống còn 6.759,5 nghìn con; đến năm 2018 tăng lên 6.824,8 nghìn con tăng 65,3 nghìn con, tương ứng 1,01%

Trung du và Miền núi phía Bắc và Đông Nam Bộ năm 2017 giảm so với năm 2016 tuy nhiên đến năm 2018 tăng mạnh đạt số lượng lần lượt là 6.626,4 nghìn con và 2.890,1 nghìn con tăng 131,3 nghìn con, tương ứng đều tăng 1,05% (Tổng cục thống kê năm 2018)

1.3.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn và tiêu thụ tại Thái Nguyên

* Tình hình chăn nuôi lợn tại Thái nguyên

Chăn nuôi lợn tại Thái Nguyên luôn được xem là một ngành quan trọng Vì thế mà sản lượng lợn tại tỉnh không ngừng tăng lên qua các năm Trong năm 2017 Thái Nguyên có tổng số lợn là 680.381 con lợn nhiều hơn so với năm 2016 là 3.278 con

Mà trong đó sản lượng của năm 2016 nhiều hơn năm 2017 là 1.143,94 tấn Điều đó

lý giải cho việc tổng số lợn năm 2017 nhiều nhưng do năng suất lợn kém nên dẫn

đến sản lượng năm 2016 thấp hơn 2016 Trong năm 2018 tổng số lợn và sản lượng

thịt lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tăng nhanh so với năm 2017 là 64.891 con và sản lượng tăng 18.910,31 tấn

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.3.1 Kinh nghiệm sản xuất theo liên kết ở các nước

1 Philippines

Các chủ hợp đồng thường thích ký hợp đồng với các hộ chăn nuôi lợn quy

mô lớn (từ 200 con trở lên) hơn là ký với các hộ chăn nuôi qui mô nhỏ vì nó giúp họ giảm được chi phí khi phân phối các đầu vào cũng như chi phí giám sát các trại chăn nuôi Đồng thời khi ký hợp đồng với các hộ qui mô lớn, các chủ hợp đồng sẽ cóđược sản phẩm đồng đều vàđảm bảo chất lượng để có thể cung cấp cho các siêu thị và hệ thống phân phối chính thống nhằm đạt lợi nhuận cao hơn so với ký hợp đồng với các hộ chăn nuôi qui mô nhỏ (Costales, 2007)

2 Trung Quốc

Trang 31

Hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc phát triển nhanh chóng khoảng 10 năm trở lại đây Theo kết quả khảo sát của Trung Quốc thì hầu hết nông dân được phỏng vấn đồng tình với phương pháp sản xuất theo hợp đồng và hưởng ứng cách làm này (Trần Hữu Cường, 2012) Kết quả của sản xuất theo phương pháp này là chất lượng sản phẩm cao hơn, chi phí sản xuất và tiếp thị thấp hơn Tuy nhiên sản xuất theo hợp đồng tại đây có xu hướng bỏ qua những người sản xuất nhỏ Trong chương trình công nghiêp hóa nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc có chủ trương hỗ trợ và thúc đẩy phương thức hợp đồng sản xuất nông nghiệp nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận và tăng khả năng cạnh tranh cho sản xuất nông nghiệp

3 Trong nghiên cứu của Fairoze (2006), các tác giảđã chỉ ra rằng các lợi ích chủ yếu của việc chăn nuôi theo hợp đồng liên kết chủ yếu từ giảm chi phí giao dịch vàđảm bảo thu nhập thường xuyên cho các hộ chăn nuôi gà thịt Trong sản xuất sữa, Birthal (2006), chứng minh rằng các hộ tham gia sản xuất theo hợp đồng liên kết thu được lợi nhuận cao hơn các hộ sản xuất tự do, với các lợi ích chủ yếu là giảm chi phí giao dịch và các hỗ trợ dịch vụ và kỹ thuật từ các bên tham gia liên kết

4 Thái Lan là nước có nền nông nghiệp khá phát triển, có hệ thống marketing rất đa dạng, có kinh nghiệm lâu năm áp dụng rộng rãi hình thức hợp đồng sản xuất nông sản Với kinh nghiệm lâu năm áp dụng rộng rãi hình thức hợp đồng sản xuất nông sản Dự đoán được những cơ hội, thách thức khi mở cửa thương mại tự do, nông dân sẽ phải đương đầu với những biến động của thị trường thế giới Hơn nữa nếu để nhà nước đóng vai trò trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp sẽ tốn kém và không hiệu quả bàng việc để tư nhân tự liên kết với nông dân Chính phủ Thái Lan đã quyết định đưa hình thức hợp đồng thành nội dung chính của Chiến lược “tư nhân liên kết phát triển nông nghiệp trong chương trình phát triển kinh tế đất nước”

Mô hình sản xuất theo hợp đồng dầu tiên ở Thái Lan do Tập đoàn CP (Charoen Pokpland) thực hiện CP bắt đầu ký hợp đồng với nông dân để chăn nuôi

gà gia công vào đầu thập niên 1970 Đây là mô hình thành công và được nhân rộng kháp Thái Lan Đến cuối thập niên 1990, gần 100% hộ chăn nuôi gà ở Thái Lan đều sản xuất gia công cho các doanh nghiệp chế biến

Trang 32

Việc sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan phần lớn xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp chế biến Cấu trúc sản xuất theo hợp đồng của Thái Lan chủ yếu theo

mô hình một bên là doanh nghiệp chế biến một bên là nông dân Trong mô hình này người nông dân chủ yếu sản xuất gia công cho doanh nghiệp chế biến Các doanh nghiệp chế biến đầu tư đầu vào và nguồn lực, hướng dẫn kĩ thuật và giám sát chất lượng

1.3.2 Kinh nghiệm chăn nuôi theo liên kết ở Việt Nam

1 Liên kết để phát triển chăn nuôi hiệu quả, bền vững tại tỉnh Đồng Nai

Để ngành chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hiệu quả, bền vững, đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm thì các cơ sở, trang trại chăn nuôi, công ty, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc gia cầm cần liên kết hỗ trợ nhau tạo ra chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi

Trong đó, tại tỉnh Đồng Nai có nhiều chuỗi liên kết Trại chăn nuôi lợn Tài Đức của ông Phạm Văn Tạo, rộng 7,5 ha cùng vườn cao su xung quanh tại ấp Bàu Hốt, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát, Bình Dương Đây là mô hình liên kết với nông dân đểđặt nuôi gia công và cơ sở giết mổ, tạo sản phẩm thịt cung cấp cho thị trường Với gần 6.000 con lợn, trong đó 600 lợn nái mỗi năm cung cấp hàng ngàn con lợn giống cho hộ nuôi gia công Hiện trong trại của ông Tạo có hơn 5.000 con lợn thịt

và gần 4.000 con lợn cho các hộ nuôi gia công Mỗi tháng, trại ông Tạo xuất ra thị trường 1.300 con lợn thịt tương đương 130 tấn thịt lợn hơi Lượng thịt này được bán toàn bộ cho Công ty kĩ nghệ súc sản Vissan theo giá thỏa thuận đã ký kết

2 Nông dân làm chuỗi liên kết chăn nuôi để tạo thương hiệu “Thịt heo sạch Đồng Nai”

20 hộ chăn nuôi trong vùng sẽ cùng liên kết sản xuất, tạo ra số lượng thịt đồng nhất, chất lượng Cùng với đó, hiệp hội vận động các doanh nghiệp (DN) có liên quan cùng tham gia chuỗi liên kết như DN thức ăn chăn nuôi, cung cấp con giống, thuốc thú y Các DN tham gia chuỗi liên kết sẽ cam kết giữổn định giá bán sản phẩm trong một kỳ hạn chăn nuôi (3 – 4 tháng) Sau kỳ hạn đó, các bên sẽ xem xét lại mức giá, theo sự biến động của thị trường

Có 46 thương lái chuyên thu mua heo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng đã ghi

Trang 33

danh tham gia chuỗi liên kết, đồng ý hỗ trợ lẫn nhau trong việc kinh doanh thịt heo đảm bảo chất lượng, không làm giá, ép giá nông dân hoặc tranh mua, tranh bán

Về thị trường tiêu thụ, ngoài việc ký kết hợp đồng tiêu thụ với các đơn vị trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, hiệp hội cũng làm việc với Ban quản lý chợ đầu mối nông sản thực phẩm Tân Xuân (huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh) để

bố trí 3 gian hàng phân phối sản phẩm “Thịt heo sạch Đồng Nai” Ông Nguyễn Trí Công – Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cũng cho biết, để hoàn thiện chuỗi liên kết từ đầu vào đến đầu ra, đơn vị này cũng đang xin phép đầu tư xây dựng lò

mổ với công suất từ 500 – 1.000 con heo/đêm

3 Mô hình liên kết 4 nhà

Mô hình liên kết 4 nhà giữa Công ty cổ phần sữa Ba Vì, Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba vì, Hiệp hội Chăn nuôi Hà Nội và hàng trăm hộ nông dân nuôi bò sữa tại các xã Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bái, huyện Ba Vì Tham gia mô hình này, các hộ chăn nuôi được hỗ trợ chuyển giao tiến bộ kĩ thuật, vay vốn phát triển đàn bò Đặc biệt, các hộ chăn nuôi được hỗ trợ bao tiêu đầu ra cho sản phẩm

1.3.3 Một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Kết quả từ một số công trình nghiên cứu tại các tỉnh ở miền núi phía Bắc cho thấy đã có nhiều mô hình liên kết giữa nông dân, trang trại, doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao (Dương Văn Sơn, 2009; Đinh Ngọc Lan, Đoàn Thị Thanh Hiền, 2017;

Hà Quang Trung, 2018) Điển hình như mô hình liên kết chăn nuôi bò Mông ở Cao Bằng: Với quy mô 452 hộ dân, 2 doanh nghiệp, nhiều cơ sở giết mổ tham gia, tổng

số bò tại các hộ là khoảng 1.500 con, sản lượng thịt xuất chuồng vào khoảng 50-60 tấn thịt lợn/năm Các hộ nông dân này đã tham gia vào hội chăn nuôi bò thịt Cao Bằng Mô hình liên kết và quản lý của chuỗi giá trị bò Mông như sau: Các hộ chăn nuôi nuôi bò tại hộ gia đình, mỗi hộ có mã số riêng để truy suất nguồn gốc, các hộ phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò thịt Hai công ty có trách nhiệm thu mua bò thịt, giết mổ và xuất ra thị trường.Bài học kinh nghiệm từ mô hình này là mô hình đã thể hiện sự tham gia của 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, doanh nghiệp và nhà khoa học, là mô hình liên kết có tổ chức sản xuất, thu mua và phân phối chuyên nghiệp, là mô hình đầu tiên của cả nước trong việc truy suất nguồn gốc

Trang 34

đến tận hộ chăn nuôi bò Mô hình này đã mang lại lợi ích cao cho hộ chăn nuôi bò

và đã làm thay đổi chính sách đầu tư về bò đực giống của tỉnh, trước kia chỉ đầu tư

bò lai Sind nay đã chuyển sang hỗ trợ đầu tư bò đực giống là bò Mông (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2014)

Kết quả từ một số công trình nghiên cứu cho thấy đã có nhiều mô hình liên kết giữa nông dân, HTX, doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao Điển hình như HTX chăn nuôi Gò Công ở phường 3, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang có mô hình liên

kết khá độc đáo với khoảng 40 hộ dân "nuôi góp" không tập trung khoảng 100 nghìn con gà vừa gà giống và gà thịt thương hiệu “gà Gò Công” khá nổi tiếng, sản

lượng gà giống khoảng 200.000 con/năm, gà thịt 10 tấn/năm và hiện cung cấp cho khoảng 10 cửa hàng thực phẩm tiện ích trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, cách làm của HTX đưa đến sự thành công là đưa mức hỗ trợ cao đồng thời tạo cơ chế thuận lợi cho các doanh nghiệp nên đã khuyến khích các doanh nghiệp tham gia cùng liên kết tiêu thụ với nông dân và HTX Theo đó, ngoài mức hỗ trợ cao nhất, không quá 10 tỷ đồng đối với tiền sử dụng đất khi thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất và vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng phục vụ liên kết,… cần có các mức hỗ trợ với các nhóm đối tượng khác nhau Bởi đối với một hộ nông dân, 10 tỷ đồng là số tiền rất lớn, nhưng đối với những doanh nghiệp lớn, con số này lại chẳng thấm tháp vào đâu, do đó sẽ không đủ sức khuyến khích các DN lớn tham gia liên kết

TS Nguyễn Tuấn Sơn và cộng sự, 2007“Nghiên cứu các hình thức tổ chức sản xuất và hợp tác trong chăn nuôi lợn ở Miền Bắc Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp bộ Đề tài chỉ ra rằng ở miền Bắc nước ta tồn tại ba hình thức tổ chức hợp tác trong chăn nuôi lợn: Hình thức chăn nuôi có hợp đồng chính thống với các chủ hợp đồng là các công ty CP (Thái Lan) và Japffa comfeed (Indonesia), hình thức chăn nuôi có hợp đồng phi chính thống giữa người chăn nuôi với các hợp tác

xã hoặc các tư thương cung cấp dịch vụ đầu vào/tiêu thụ sản phẩm cho người chăn nuôi, và các hộ chăn nuôi độc lập với nhiều qui mô khác nhau Trong ba hình thức

đó thì hình thức chăn nuôi gia công hợp đồng cho các công ty liên doanh là hình thức mang lại hiệu quả cao hơn so với hai hình thức còn lại, tuy nhiên nó đòi hỏi vốn lớn, khả năng quản lý cao

Trang 35

Nguyễn Hồng Thêu, 2010: “Nghiên cứu các hình thức liên kết trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên”, Khóa luận tốt nghiệp đại học,

trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.Đề tài nghiên cứu và chỉ ra trên địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên tồn tại 3 hình thức liên kết trong chăn nuôi Đó là hình thức chăn nuôi hợp đồng chính thống với công ty cám CP của Thái Lan Thứ hai, hình thức chăn nuôi hợp đồng phi chính thống với tư thương cung cấp dịch vụ đầu vào/tiêu thụ sản phẩm cho người chăn nuôi Thứ ba, hộ chăn nuôi độc lập với nhiều quy mô khác nhau từ chăn nuôi tận dụng đến chăn nuôi theo xu hướng thị trường và chăn nuôi trang trại.Trong 3 hình thức tổ chức chăn nuôi, hình thức chăn nuôi hợp đồng chính thống (chăn nuôi gia công) cho công ty cám CP của Thái Lan đạt kết quả và hiệu quả cao nhưng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, khả năng quản lý cao và không phải hộ gia đình nào cũng đáp ứng được Các hộ chăn nuôi độc lập dễ dàng thay đổi qui mô chăn nuôi để thích ứng với điều kiện thị trường (giá cả, dịch bệnh ) nhưng khó khăn khi ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm vì khối lượng sản phẩm không có thường xuyên Các giải pháp tác giả đưa ra chưa bám sát nội dung thực trạng khó khăn mà đề tài đưa ra

Trần Thị Vân, 2013, “Nghiên cứu mối liên kết giữa các tác nhân trong tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên”, Luận văn tốt nghiệp đại

học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Đề tài chỉ ra thực trạng phương thức chăn nuôi trên địa bàn huyện Tiên Lữ hiện còn nhỏ lẻ, tự phát và mang tính chất độc lập Bên cạnh đó đặc điểm tiêu thụ của các tác nhân cũng mang tính độc lập, mối quan hệ mua bán giữa các tác nhân là ngẫu nhiên, việc trao đổi thông tin và chia sẻ rủi ro giữa các tác nhân còn hạn chế Trên địa bàn nghiên cứu có sự liên kết trong tiêu thụ giữa người giết mổ tập trung với các tác nhân tiêu thụ và giữa tác nhân ngoài tỉnh với trung gian, tuy nhiên, những hình thức liên kết này còn đơn giản, chưa ổn định Từ các kết quả phân tích tác giả đưa ra những giải pháp tăng cường mối liên kết giữa các tác nhân trong chăn nuôi Tuy nhiên các giải pháp này chưa đồng bộ, chưa thuyết phục

Trang 36

1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu tại Định Hóa

- Từ những môi hình liên kết sản xuất trên, ta thấy rằng các hộ sản xuất chăn nuôi lợn huyện Định Hóa cần thành lập các tổ sản xuất, các hợp tác xã

và đẩy nhanh quá trình liên kết trong sản xuất (cả liên kết ngang và liên kết dọc) nhất là liên kết với các thương lái hay doanh nghiệp, các cơ sở giết mổ chế biến để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, người dân được tiếp cận với khoa học, kỹ thuật, để tăng thu nhập cho người dân, tăng hiệu quả sản xuất

- Tiến hành liên kết tất cả các khâu trong sản xuất từ cung ứng giống, thức ăn, dịch vụ thú ý, chế biến sản phẩm và tiêu thu sản phẩm; ở khâu cung ứng thức ăn và thuốc thú y cần liên kết với các doanh nghiệp để cung ứng nguồn thức ăn uy tín chất lượng và dịch vụ chăm sóc thú ý tốt nhất; ở khâu chế biến và tiêu thu sản phẩm các hộ sản xuất cần liên kết với các công ty hay

cơ sở giết mổ để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm

- Các đề tài nghiên cứu trước đây đề cập được ít nhiều trên các góc cạnh khác nhau của sản xuất hàng hóa, của liên kết giữa nông dân, TT với doanh nghiệp

nhưng chưa có hệ thống giải pháp thúc đẩy liên kết hữu hiệu

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Huyện Định Hóa cách thành phố Thái Nguyên 50 km theo quốc lộ 3 và Quốc

lộ 3C có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc: Giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn)

- Phía Nam: Giáp huyện Đại Từ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên)

- Phía Đông: Giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn)

- Phía Tây: Giáp huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang)

Diện tích tự nhiện của huyện Định Hóa là 51.351,9 ha trong đó: Đất nông nghiệp là 47.703,5 ha; đất phi nông nghiệp là 3.333,3 ha; đất chưa sử dụng là 315,1

ha Diện tích các loại đất được thể hiện ở Bảng 2.1 dưới đây

Bảng 2.1 Diện tích huyện Định Hóa phân theo đơn vị hành chính và loại đất

Đơn vị tính: ha

Đơn vị hành chính

Tổng diện tích đất của đơn vị hành chính

Chia theo loại đất Đất sản

xuất nông nghiệp

Đất lâm nghiệp

Đất nuôi trồng thuỷ sản

Đất ở

Đất chuyên dùng

Đất chưa

sử dụng

Huyện Định Hóa 51.351,9 12.095,5 34.351,8 1.256,2 1.135,4 2.198,0 315,1

Chia ra xã, thị trấn

Thị trấn Chợ Chu 441,0 232,4 73,4 5,6 45,6 84,1

Xã Linh Thông 2.801,7 351,5 2.291,9 47,5 31,9 71,0 7,9

Trang 38

Nguồn: Thống kê đất đai huyện Định Hóa năm 2021)

Qua bảng trên ta thấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 23,5 % diện tích đất tự nhiên của huyện; diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn chủ yếu nằm ở các xã phí nam huyện Định Hóa như xã Bình Thành, Phú Đình,…

b) Địa hình, địa mạo

Địa hình đa dạng và phức tạp chủ yếu là vùng núi cao, có độ dốc lớn, địa hình hiểm trở, độ chia cắt mạnh Những vùng đất tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven sông, suối hoặc các thung lũng đá vôi

Trang 39

Với đặc điểm địa hình thấp dần về phía Nam và quá trình sản xuất, huyện Định Hoá chia thành 3 tiểu vùng:

- Tiểu vùng 1 (vùng phía Bắc gồm 8 xã): Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vỹ, Tân

Thịnh, Bảo Linh, Kim Sơn, Kim Phượng và Tân Dương, vùng này đặc trưng là núi cao, đất lâm nghiệp chiếm ưu thế do đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở đây phân bố khá phân tán

- Tiểu vùng 2 (vùng trung tâm gồm 7 xã): Phúc Chu, Thị trấn Chợ Chu, Định

Biên, Đồng Thịnh, Bảo Cường, Phượng Tiến, Trung Hội, với địa hình khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ, đây là vùng sản xuất lúa trọng điểm của huyện Vùng này

có xen lẫn núi đá vôi

- Tiểu vùng 3 (vùng phía Nam gồm 9 xã): Thanh Định, Bình Yên, Trung

Lương, Điềm Mặc, Phú Tiến, Phú Đình, Sơn Phú, Bộc Nhiêu, Bình Thành, vùng này chủ yếu là đất đồi gò xen kẽ, là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp của huyện (cây chè)

c) Đặc điểm khí hậu

Định Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ, có hai mùa: Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10

- Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5oC, tổng tích ôn 8.000oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 39,5oC (tháng 6), nhiệt độ tối thấp là 3oC (tháng 1), biên độ ngày đêm khá lớn (> 7oC).Tháng 7 là tháng nóng nhất với nhiệt

độ trung bình tháng là 28,7oC, tháng 1 là tháng lạnh nhất với nhiệt độ trung bình là 14,9oC.Số giờ nắng trong năm là 1.628 giờ

- Chế độ mưa, ẩm: Mưa phân bố không đều, mưa tập trung từ tháng 6 đến

tháng 9 (chiếm 90% lượng mưa cả năm) Lượng mưa trung bình đạt 1.710 mm/năm, tháng 7 lượng mưa lớn nhất đạt 4.200 mm

Lượng bốc hơi trung bình trong năm đạt 985,5 mm, tháng 5 có lượng bốc hơi lớn nhất (100 mm), có 3 tháng trong mùa khô, chỉ số ẩm ướt k < 0,5 Đây là thời kỳ khô gay gắt, nếu không có biện pháp tưới, giữ ẩm… thì ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng

Trang 40

Với đặc điểm thời tiết của huyện như trên, trong quy hoạch sử dụng đất của huyện, cần lợi dụng chế độ nhiệt cao, độ ẩm khá để bố trí nhiều vụ và hệ thống cây trồng trong năm - nhằm hạn chế rửa trôi, xói mòn trong mùa mưa Chú ý các hạng mục công trình kiên cố cần tránh các khu vực thường xảy ra ngập lụt, sạt lở

d) Thủy văn

Huyện Định Hoá có hệ thống sông suối phân bố khá đều trên lãnh thổ với nguồn nước tương đối phong phú Huyện Định Hoá là nơi bắt nguồn của những nhánh suối và hình thành ba hệ thống sông chính, đó là hệ thống sông Chợ Chu, hệ thống sông Công và hệ thống sông Đu

Hệ thống sông, hồ và đập nước của huyện khá lớn với trên 100 ao hồ lớn nhỏ, đặc biệt có hồ Bảo Linh có diện tích mặt nước trên 80 ha và khoảng 200 đập thuỷ lợi nhỏ dâng tưới cho khoảng trên 3.000 ha đất sản xuất nông nghiệp

+ Hệ thống sông Chợ Chu: Tổng diện tích lưu vực 437 km2 bắt nguồn từ xã Bảo Linh, Quy Kỳ chảy qua xã Tân Dương, thị trấn Chợ Chu rồi chảy sang huyện Chợ Mới (Tỉnh Bắc Kạn)

+ Hệ thống sông Công: Tổng diện tích lưu vực 128km2 thuộc địa phận xã Phú Đình chảy qua xã Bình Thành rồi chảy sang huyện Đại Từ

+ Hệ thống sông Đu: Tổng diện tích lưu vực 70 km2 thuộc địa phận xã Bộc Nhiêu chảy qua xã Phú Tiến rồi chảy sang huyện Phú Lương

Ngoài ra còn có các hệ thống hồ, đập nhằm đáp ứng cho sản xuất nông lâm nghiệp

Do đặc điểm mùa mưa tập trung vào các tháng mùa hè (tháng 6 đến tháng 9),

vì vậy lưu lượng dòng chảy cao nhất đạt vào tháng 7, tháng 8; nhỏ nhất vào tháng 3 Tại các vùng núi thấp và trung bình Modul dòng chảy là 20 – 30l/s Nhìn chung lũ lụt ở địa phương năm nào cũng có nhưng ở mức độ khác nhau Qua theo dõi cho thấy lũ lụt ở vùng này có quy luật: Cứ theo chu kỳ khoảng 3 đến 5 năm thì 1 năm có

lũ lụt ở mức độ trung bình và 8 - 10 năm lại xảy ra lũ lụt lớn gây thiệt hại nhiều cho hoạt động sản xuất và đời sống người dân trên địa bàn huyện

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tình hình dân số, lao động của huyện Định Hóa

Dân số trung bình năm 2021huyện Định Hoá là: 88.964 người, mật độ dân số

Ngày đăng: 22/12/2022, 04:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w