BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HỒ CHÍ MINH KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI : GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓ
Trang 1BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI :
GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
GVHD: ThS Trần Thị Phương Lan
SVTH: Lê Đăng Doanh MSSV: 21510502084 Lớp: QH21 - CLC
Trang 2BỘ XÂY DỰNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Trường Đại học Kiến Trúc TP.HCM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
Họ và tên sinh viên: Lê Đăng Doanh
Mã số sinh viên: 21510502084
Mã lớp học phần: 0000130
ĐIỂM CỦA BÀI TIỂU LUẬN
Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 1
Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 2 Ghi bằng số Ghi bằng chữ
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày…17… tháng…6…năm 2022
Sinh viên nộp bài
Ký tên
LÊ ĐĂNG DOANH
Trang 3Nội dung
GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN
ĐẠI HÓA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lời mở đầu:
CHƯƠNG 1 : Cơ sở lí luận
1 Gia đình là gì ? 5
2 Yếu tố hiện đại và truyền thống trong gia đình Việt Nam 5
CHƯƠNG 2: Thực tiễn
1 Tác động của quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đối với gia đình Việt Nam hiện nay 7
1.1 Tại sao phải biến đổi thành thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ? 7
1.2 Các chức năng của gia đình đối với xã hội 8
2 Mặt tiêu cực trong sự chuyển đổi quá trình CNH – HĐH ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ của các thành viên trong gia đình hiện nay 9
CHƯƠNG 3: Phương pháp
KẾT LUẬN
NGUỒN THAM KHẢO:
Trang 4GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA –
HIỆN ĐẠI HÓA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lời mở đầu:
Gia đình là môi trường quen thuộc của hầu hết mọi người Đó là một lĩnh vực mà bất kỳ ai cũng có thể tham gia như một người trong cuộc Mặt khác, lĩnh vực kinh tế cũng vậy, phong phú, phức tạp, đầy mâu thuẫn và
Có thể nói, gia đình là vấn đề của mọi quốc gia, mọi thời đại Trong những năm gần đây, chủ đề gia đình đã trở thành tâm điểm được quan tâm cả trong khoa học và chính trị.Đặc biệt ở Châu Á người ta nói nhiều đến gia đình, văn hóa gia đình như một giải pháp để tránh sự xâm lăng của văn hóa phương tây
Không chỉ vậy, những quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam, đang trải qua một bước chuyển mình lớn: công nghiệp hóa và đô thị hóa đang được thực hiện với quy mô lớn hơn và với tốc độ nhanh hơn Đồng thời với quá trình này, ở Việt Nam đang diễn ra quá trình chuyển đổi sang cơ chế kinh
tế thị trường Tất nhiên, những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội này không thể tác động sâu sắc đến gia đình, một thể chế lâu đời và bền vững,
ổn định nhưng cũng rất nhạy cảm với bất kỳ sự thay đổi nào của xã hội một tình huống? Gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới này, và gia đình Việt Nam ngày nay đang gặp phải những vấn đề gì? Để tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, tôi đã chọn đề tài cho bài tiểu luận của mình là: “Gia đình Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Với vốn kiến thức hiện có và tinh thần ham học hỏi, tôi mong rằng bài viết sẽ giải đáp thỏa đáng cho vấn
đề đang đặt ra
Trang 5
CHƯƠNG 1 : Cơ sở lí luận
1 Gia đình là gì ?
Gia đình là một tổ chức xã hội đã có từ rất sớm trong lịch sử loài người
Từ thuở sơ khai của lịch sử, khi con người tách khỏi giới động vật và tổ chức cuộc sống của mình như một cộng đồng độc lập, đó cũng là lúc con người tổ chức cuộc sống của mình theo dòng của một cộng đồng nhỏ, một kiểu mẫu của gia đình Ban đầu gia đình chỉ có thành viên trực
hệ, chủ yếu là bà mẹ với con cháu (họ ngoại) Sau đó, nó được mở rộng
để bao gồm các thành viên khác có cùng tổ tiên, nhưng cũng có thể không có cùng tổ tiên
Về quy mô gia đình, số lượng thành viên trong gia đình lúc đầu tương đối lớn, có khi lên đến hàng trăm người.Về sau, số lượng thành viên trong gia đình giảm dần do nhu cầu thích nghi với cuộc sống ngày càng phát triển của xã hội loài người Trong gia đình hiện đại ngày nay, số lượng thành viên có khi chỉ là 1 - 3 Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, đồng thời những quan niệm cơ bản về gia đình dường như không thống nhất và thậm chí là trái ngược nhau
Nho giáo cho rằng gia đình là một nước nhỏ Vì vậy, khi “một ngôi nhà
tử tế, thì cả mảnh đất cũng tử tế Nếu một nhà nhượng bộ thì cả nước sẽ nhượng bộ Một người tham lam thì cả nước loạn ”(Đại học, Chương IX) Vì vậy, một xã hội muốn hòa bình thì trước hết phải có những gia đình hòa thuận Gia đình hòa thuận là gia đình mà các thành viên luôn quan tâm, lo lắng cho nhau Trong gia đình này, vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con cái nên người Cha mẹ hãy luôn giữ lời và tác phong làm gương cho con cái noi theo Ngược lại, con cái phải luôn hiếu thuận với ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng ông bà, cha mẹ, biết làm rạng rỡ ông bà, cha mẹ, không làm gì để ông bà, cha mẹ vui lòng Tôi xấu hổ với những người hàng xóm của tôi Gia đình hòa thuận còn là gia đình anh chị em biết bảo ban nhau cùng tiến bộ, thương yêu nhau, quan tâm giúp đỡ nhau
Trang 62 Yếu tố hiện đại và truyền thống trong gia đình Việt Nam
Các nhà nghiên cứu đánh giá gia đình truyền thống Việt Nam là một loại hình gia đình chứa đựng nhiều yếu tố dường như bất biến và ít thay đổi, ra đời từ cái nôi văn hóa bản địa, được gìn giữ và lưu truyền từ đời này sang đời khác Vì vậy, gia đình truyền thống Việt Nam là sản phẩm của nền văn minh lúa nước và tồn tại ở nông thôn Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là thành phố không có kiểu gia đình truyền thống Tác giả Đỗ Thái Đồng viết: “Gia đình truyền thống phải là gia đình nông thôn, gia đình trong các xã hội trọng nông châu Á, lâu đời và về nhiều mặt gần như bất biến Do đó nó cũng là một gia đình làm nông, một thể chế liên kết với nông nghiệp truyền thống ”
Bên cạnh đó, cũng cần nói thêm rằng gia đình truyền thống đôi khi được hiểu là "gia đình Nho giáo." Về cơ bản, điều đó không tệ Nhưng có lẽ mỗi khái niệm đều có một số sắc thái, và trong khi hầu hết nội dung của hai khái niệm này trùng nhau, chúng không phải là những khái niệm hoàn toàn giống nhau Từ đó có thể thấy nông nghiệp, nông thôn và Nho giáo là những đặc trưng cơ bản của gia đình truyền thống Việt Nam Và gia đình Nho học, theo tôi, là một thuật ngữ rất thích hợp để chỉ loại hình gia đình truyền thống ở các đô thị Việt Nam
Trong dân gian, gia đình truyền thống được xem như một đại gia đình
mà các thành viên được gắn kết bởi một chuỗi quan hệ huyết thống Trong gia đình này 3 thế hệ trở lên có thể sống chung là: ông bà, cha
mẹ, con cái, mà người ta thường gọi là “tam tứ ngũ đại đồng đường” Loại hình gia đình này phổ biến và tập trung nhiều hơn ở các vùng quê Bắc Bộ
Về góc độ tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quây quần bên con cái Vì vậy, đại gia đình sống chung dưới một mái nhà hoặc ở nhiều nhà cạnh nhau cũng là những hình thức tổ chức gia đình phổ biến ở trong đô thị Những năm 1960 trở về trước ở Hà Nội, kiểu gia đình này vẫn còn phổ biến Gia đình truyền thống có những lợi thế như gắn bó và tình cảm huyết thống, giữ gìn truyền thống văn hóa, phong tục, lễ nghi, phát huy truyền thống, lễ nghi, tín ngưỡng của gia đình Các thành viên trong gia đình có khả năng giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người cao tuổi, nuôi dạy thế hệ trẻ Đây là những giá trị cốt lõi của văn hóa gia đình mà chúng ta phải kế thừa và nuôi dưỡng
Trang 7Tuy nhiên, mặt trái của loại hình này là tuy giữ được truyền thống tốt đẹp nhưng cũng giữ được những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời Ngoài ra, sự chênh lệch về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng không tránh khỏi những xung đột giữa các thế hệ: giữa ông bà với cháu, giữa mẹ chồng con dâu… của gia đình, truyền thống cũng hạn chế phần nào sự
tự do, sự phát triển của mỗi cá nhân
CHƯƠNG 2: Thực tiễn
1 Tác động của quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đối với gia đình Việt Nam hiện nay
Gia đình Việt Nam chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại theo nhiều khía cạnh và xu hướng khác nhau Đó là sự thay đổi sâu rộng
cả về hình thức, chức năng, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và vai trò của người phụ nữ trong gia đình
1.1 Tại sao phải biến đổi thành thời kì công nghiệp hóa – hiện đại
hóa đất nước ?
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH) đã mang lại những hiệu quả và thay đổi trong xã hội Việt Nam không chỉ về kinh tế, mà còn về văn hóa, xã hội Gia đình, đơn vị cấu thành cơ bản của xã hội, tất yếu sẽ trải qua những thay đổi, xét về nhiều mặt Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong gia đình và xã hội Việt Nam Giải quyết như thế nào để giải quyết những vấn đề trên và xây dựng gia đình Việt Nam trở thành “nhân tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững của xã hội và thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Là câu hỏi đã được đặt ra cho xã hội nói chung và cho mỗi chúng ta nói riêng
Từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã phải đẩy mạnh công nghiệp hóa để có thể phát triển nhanh hơn, thu hút nhiều lao động hơn và tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách với các nước
Trang 8khác Quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam đang diễn ra chủ yếu nhằm tạo ra việc làm và đóng góp to lớn vào việc thực hiện công bằng xã hội Kết quả là xã hội Việt Nam đã thay đổi nhanh chóng
Chúng ta có thể thấy rằng quá trình CNH - HĐH đã mang lại những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra những chuyển biến xã hội mạnh mẽ Tất nhiên, những thay đổi này phải
có tác động sâu sắc đến thể chế của gia đình, một thể chế ổn định
và lâu đời cũng rất nhạy cảm với những thay đổi của xã hội
1.2 Các chức năng của gia đình đối với xã hội
Theo quan điểm xã hội học, gia đình về bản chất có 4 chức năng cơ bản (sinh ra, nuôi dạy, kinh tế và tâm lý - tình cảm) Do sự va chạm giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại nên sự chênh lệch giữa tốc độ biến đổi cơ cấu xã hội và tốc độ biến đổi của gia đình và chức năng của gia đình Việt Nam có sự thay đổi khác với gia đình phương Tây trong quá trình CNH -HĐH
- Thứ nhất, về chức năng sinh sản, đa số người Việt Nam vẫn cho rằng sinh con là một chức năng quan trọng của gia đình Tuy nhiên, có một
sự thay đổi đã mang lại cho chúng ta một sự nhận thức rất rõ ràng về số con Theo kết quả điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006, tỷ lệ người đồng ý rằng một gia đình nên có nhiều con là khá thấp (18,6% người cao tuổi, 6,6% người ở độ tuổi từ 18 đến 60 và 2,8% tuổi vị thành niên ), quan niệm “gia đình phải có một con trai” vẫn được một bộ phận dân cư ủng hộ (gần 37% ở độ tuổi 18-60), trong đó nhóm dân số nghèo có nhu cầu sinh con trai nhiều hơn hơn nhóm dân số giàu (45,5%
ở nhóm thu nhập thấp nhất, 26% ở nhóm thu nhập cao nhất)
Lý do giải thích tại sao nên có con trai chủ yếu vẫn là “có người nối dõi tông đường” (85,7%), “có nơi nương tựa tuổi già” (54,2%) và “có người làm việc lớn trong gia đình” (23,4 %)… Tuy nhiên, có gần 63% người từ
Trang 918-60 tuổi cho rằng không cần thiết phải có con Kết quả phân tích cho thấy hầu hết mọi người nhìn chung đều nhận thức được giá trị của con cái trong cuộc sống gia đình, và không chỉ đơn giản tuân theo các quy định của chính sách dân số
- Thứ hai, chức năng giáo dục được tăng cường hơn bao giờ hết và trở thành trách nhiệm lớn lao mà gia đình phải gánh vác Trong quá trình CNH - HĐH, nhu cầu lao động có kỹ năng tăng, do đó cần nguồn nhân lực để đáp ứng trình độ cần thiết Điều này cũng nâng cao tiêu chuẩn nuôi dạy trẻ Cạnh tranh ngày càng gay gắt đã làm tăng kỳ vọng của xã hội về tiêu chuẩn chất lượng trong việc nuôi dạy trẻ em Đây cũng là lý
do chính khiến phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình Tuy nhiên, sự quan tâm này không giống nhau ở khu vực, vùng, miền, dân tộc Phụ huynh ở thành thị quan tâm đến việc học hành của con cái hơn ở nông thôn Vùng Tây Bắc có tỷ lệ phụ huynh quan tâm đến việc học của con cái thấp nhất, người Hmông có tỷ lệ phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình thấp nhất
- Thứ ba, chức năng kinh tế của gia đình cho thấy gia đình
và nơi làm việc bị tách biệt về mặt không gian là kết quả của quá trình CNH, tức là chức năng sản xuất của họ bị suy giảm hoặc mất đi cũng như chức năng tiêu dùng sẽ được cải thiện Do đó, lối sống gia đình có thể được xác định bởi công việc hoặc mức thu nhập của thành viên trong gia đình, và tiêu chuẩn tiêu dùng của gia đình có thể có tác động trực tiếp đến mức độ hài lòng với cuộc sống gia đình Trong trường hợp của gia đình ở nông thôn, chức năng sản xuất của gia đình và chức năng tiêu dùng không phân biệt rõ ràng, nhưng do cơ chế xã hội lấy sản xuất để trao đổi nên sản xuất tự cung tự cấp của gia đình cũng suy giảm
2 Mặt tiêu cực trong sự chuyển đổi quá trình CNH – HĐH ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ của các thành viên trong gia đình hiện nay
Trang 10Cuộc sống của xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế đã phần nào phá vỡ truyền thống gia đình, đạo lý gia đình truyền thống Việt Nam Nhịp sống bận rộn với công việc và học tập xen kẽ khiến bữa ăn của gia đình hiếm khi no Một cuộc sống tiện nghi với những tiện ích công nghệ cao đã tạo nên “ốc đảo” trong mỗi gia đình, hướng con người đến cuộc sống khép kín
Ngoài ra, lối sống ích kỷ, thực dụng, đề cao lối sống ham vui, đề cao
tư tưởng tự do phát triển cá nhân Cũng có nguy cơ làm phai nhạt nhiều giá trị đạo đức, quá trình mai một, truyền thống tốt đẹp của gia đình Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình suy yếu Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ trong gia đình ngày nay và là nguồn gốc của biểu hiện tiêu cực trong xã hội như tệ nạn xã hội (ma tuý, mại dâm, cờ bạc, rượu chè) Đã xâm nhập vào một số gia đình và phá huỷ truyền thống văn hoá gia đình, giá trị tốt đẹp và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội Hành vi xuống cấp văn hóa, đạo đức khinh hoặc ly hôn, ly thân, chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn, quan hệ tình dục trước hôn nhân và gia tăng nạo phá thai trong tuổi vị thành niên
Không những thế, còn có những tác động khác như: giảm vai trò ảnh hưởng của cha mẹ đối với con cái (do con cái có nhiều cơ hội kiếm thu nhập mà không phụ thuộc vào nguồn kinh tế của cha mẹ), thời gian chăm sóc con cái bị tiêu tốn Và người cao tuổi giảm (do phụ
nữ tham gia vào các công việc tạo thu nhập cho gia đình), ảnh hưởng của giáo dục đến các chuẩn mực gia đình, lòng hiếu thảo của con cái (thời gian con cái đi học và thời gian cha mẹ làm công việc
xã hội) làm tăng giáo dục và sự hướng dẫn của cha mẹ để yêu thương con cái, suy giảm lòng biết ơn ông bà ), mâu thuẫn giữa các thế hệ về hành vi, lối sống và cách chăm sóc người cao tuổi hiện nay thách thức mới, bạo lực gia đình vẫn tồn tại
CHƯƠNG 3: Phương pháp
Những biến đổi trên đã góp phần mang lại không ít vấn đề phức tạp, những mâu thuẫn và nguy cơ bởi sự xung đột giữa quan điểm giá trị truyền thống
Trang 11và quan điểm giá trị mới, mâu thuẫn giữa thế hệ trước và thế hệ sau trong
xã hội Việt Nam
Để khắc phục những khiếm khuyết của gia đình trong xã hội hiện đại do các yếu tố sức mạnh phát triển của nền kinh tế thị trường cũng như toàn cầu hóa, cần có những chủ trương cơ bản cho việc xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng của vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong giai đoạn đến năm sắp tới, nếu chúng ta không có những chính sách, chiến lược củng cố và xây dựng gia đình thì những khó khăn, thách thức này sẽ tiếp tục là thực trạng đáng báo động, sẽ làm gia đình suy yếu, động lực phát triển của đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để giải quyết vấn đề này cần thực hiện 5 giải pháp sau :
- Trước hết, cần làm tốt công tác tuyên truyền để mọi người hiểu và nhận thức rõ gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng Chủ nghĩa xã hội
- Tăng cường sự lãnh đạo, điều hành đối với công tác gia đình, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của các ủy Đảng, chính quyền các cấp Đặc biệt chú trọng xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình; đấu tranh kiên quyết chống lối sống thực dụng, ích
kỷ, sa đọa; tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; có kế hoạch, biện pháp cụ thể để phòng, chống vấn đề xã hội và bạo lực gia đình
- Tăng cường công tác giáo dục đời sống gia đình nhằm cung cấp tới từng gia đình các kiến thức, kỹ năng sống Giáo dục và vận động mọi gia đình tự nguyện, tự giác, tích cực thực hiện nếp sống văn minh Thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình; nhân rộng các mô hình kinh tế hộ tiên tiến; bảo đảm kết quả bền vững của chương trình xóa đói, giảm nghèo và quan tâm đặc biệt tới các gia đình chính sách,
có công với cách mạng
- Gắn việc triển khai xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật trẻ