1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương

98 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương
Tác giả Trần Kế Nhân
Người hướng dẫn Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương, Viện Sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh
Trường học Trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương
Chuyên ngành Giáo dục nghề nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh nghề Điện công nghiệp tại trường trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả viết trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp HCM, ngày … tháng … năm 2015

Học viên

Trần Kế Nhân

Trang 2

Trong quá trình thực hiện Luận văn, người nghiên cứu luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Quý thầy, cô Viện Sư phạm kỹ thuật, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, người nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn đến quí thầy, cô Viện sự phạm kỹ thuật, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ người nghiên cứu với những chỉ dẫn khoa học quí báu trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy

mô đun Máy điện 1 cho học sinh học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương”

Người nghiên cứu xin ghi nhận công sức và đóng góp quí báu của học sinh học nghề Điện công nghiệp - Khóa T11,T12,T13 và quí thầy cô bộ môn Điện công nghiệp trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương đã hợp tác, giúp đỡ người nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu thực trạng dạy học mô đun Máy điện 1 và thực nghiệm sư phạm

Tác giả xin gởi lời cảm ơn đến bạn học viên lớp Lý luận và Phương pháp dạy học

2013 - 2015B Đặc biệt là sự quan tâm, động viên giúp đỡ từ gia đình

Một lần nữa người nghiên cứu xin chân thành cảm ơn quí thầy cô, bạn bè, gia đình

đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình trong quá trình hoàn thành Luận văn

Tp HCM, ngày … tháng … năm 2015

Học viên

Trần Kế Nhân

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

TÓM TẮT

Trong những năm gần đây, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã tác động tích cực đến sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Chính điều này đã tác động đến sự thay đổi của thị trường lao động trên phạm vi cả nước.Trong bối cảnh đó,

sự đổi mới trong giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng nhằm trang bị cho người lao động những năng lực tự học, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, sự sáng tạo

và khả năng làm việc độc lập, chính vì thế cần có sự đổi mới về phương pháp, hình thức tổ

chức dạy học là cần thiết Chính vì vậy, người nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho HS học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương” nhằm

mục đích giúp cho người học có những kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong nghề nghiệp qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề

Cấu trúc luận văn gồm có 2 phần chính:

Phần mở đầu: Nêu rõ lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và

khách thể nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung: Gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án

+ Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt nam

+ Một số khái niệm liên quan

+ Đặc điểm của phương pháp dạy học theo dự án

Chương 2: Thực trạng giảng dạy mô đun Máy điện 1 tại trường Trung cấp nghề Khu

công nghiệp Bình Dương

+ Giới thiệu sơ lược về trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương

+ Tìm hiểu về thực trạng hoạt động dạy và học mô đun Máy điện tại trường Trung cấp

nghề Khu công nghiệp Bình Dương

Chương 3: Tổ chức dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh học nghề Điện công nghiệptại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình

Dương:

Trang 4

+ Đề xuất các nguyên tắc vận dụng, qui trình và thiết kế giáo án để tổ chức dạy học theo

dự án mô đun Máy điện 1 Thực nghiệm sư phạm có đối chứng để kiểm nghiệm giả thuyết của đề tài

+ Thực nghiệm sư phạm

+ Kiểm nghiệm và đánh giá

+ Kết luận và kiến nghị

Trang 5

These years recent, requirement of development economic – social has contributed positive for quickly development of science, engineering and technology This fact contributed for changing of labor market over our country That social background, alterations in education and vocational training in particular make workers self-educated, solved problems complex ability, creativity and independent working So that, author

carried out this thesis “Applying the method of project based learning teaching module

1 for HS Electric Industrial Electrical apprenticeship at the Vocational Industrial Park, Binh Duong” point at purpose help students who can get skills to solve practical problems

in their vocation hence enhance quality vocational training

Thesis structure includes 2 main parts:

Preamble: Specify reason to choose a subject, objectives and tasks of research, the

object and the object of study, research methods

The body is composed of three chapters

Chapter 1: Rationale for project-based learning

+ Overview of research problems in the world and in Vietnam

+ Some concepts related

+ Features of teaching methods Project

Chapter 2: Current status of the teaching module electric machine 1 at the

Vocational Industrial Park in Binh Duong

+ Introduction to Vocational School of Binh Duong

+ Learn about the current status of teaching and learning activities modules Telephones vocational school in Binh Duong Industrial Zone

Chapter 3: Applying teaching methods Project-Electric teaching modules for students in vocational training 1 Industrial Electrical Vocational School in Binh Duong Industrial Zone:

+ Recommend applying the principles, processes and design lesson plans to organize project-based learning modules 1 Electric controlled pedagogical experiment to test the hypothesis of topics

Trang 6

+ Experimental pedagogy

+ Testing and evaluation

+ Conclusions and Recommendations

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đổi mới phương pháp dạy học đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo và các nhà quản lý đặt ra từ lâu và cũng là vấn đề bức thiết của giáo dục Việt Nam, đặc biệt đối với hệ thống giáo dục đại học Lấy người học làm trung tâm được khẳng định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà ngành giáo dục đang hướng đến Điều 40.2 của Luật giáo dục

Việt Nam, đã chỉ rõ: “Phương pháp giảng dạy đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng

năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, ứng dụng" 1

Ngày 13 tháng 6 năm 2012, Quyết định số 711/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính

phủ Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt: ”Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020" với

mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện Một trong những giải pháp quan

trọng của chiến lược này là cần phải: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh

giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo

và năng lực tự học của người học ”2

Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học trong các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề là một xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi giáo viên và học sinh

có quyết tâm cao để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục nghề nghiệp của nhà trường Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? Việc cốt yếu là phải tạo sự tự tin cho người học, trong đó vai trò của người giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn cho người học tự tìm kiếm phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm hình thành ở HS tính độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo các nhiệm vụ thực tiễn, mở rộng những tri thức lĩnh hội

trong quá trình học tập

Mô đun Máy điện1 là một trong những môn học thuộc chương trình khung nghề Điện công nghiệp được giảng dạy trong chương trình đào tạo hệ Trung cấp nghề Với đặc điểm của môn học gắn lý thuyết và thực hành, có tính phức hợp cao, rèn luyện kĩ năng

Trang 9

thực hành.Từ đó, người học phát triển tư duy, sáng tạo trong việc nâng cao khả năng ứng

dụng vào thực tiễn góp phần trong việc học tập và chuyên môn sau này

Qua thực tế dạy và học môn Máy điện 1 còn một số bất cập như GV chưa có sự đầu tư đúng mức cho môn học về phương pháp, kiểm tra đánh giá và ứng dụng những nội dung mang tính cập nhật Bên cạnh đó HS chưa phát huy tính tự lực, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập Phương pháp dạy học theo dự án (PPDHTDA) có đặc điểm định hướng vào người học, phát triển năng lực làm việc cộng tác, năng lực giải quyết vấn

đề có tính phức hợp

Từ những lý do trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài:“Vận dụng Phương pháp

dạy học theo dự án giảng dạy môn Máy điện 1 cho HS nghề Điện công nghiệp tại trường

Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương"

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Vận dụng Phương pháp dạy học theo Dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 tại

trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nhiệm vụ thứ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về DHTDA, cụ thể là:

+ Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu;

+ Định hướng đổi mới PPDH và các tiếp cận dạy học theo dự án

Nhiệm vụ thứ 2: Nghiên cứu thực trạng dạy và học mô đun Máy điện 1 tại Trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Binh Dương, cụ thể là:

+ Giới thiệu khái quát về trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương

+ Nội dung chương trình mô đun Máy điện 1,thực trạng dạy và học mô đun Máy

điện 1;

Nhiệm vụ thứ 3: Vận dụng phương pháp DHTDA giảng dạy môn Máy điện 1;

+ Cấu trúc lại nội dung chương trình môn học mô đun Máy điện 1theo các dự án

dạy học và thực nghiệm sư phạm

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Phương pháp dạy học theo Dự án, cụ thể là quy trình DHTDA và bộ công cụ đánh giá kết quả học tập mô đun Máy điện 1

Trang 10

5 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

+ Học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương

+ Chương trình mô đun Máy điện 1, hệ Trung cấp nghề

6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Hiện nay, việc tổ chức dạy và học mô đun Máy điện 1 tại Trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương chủ yếu là các phương pháp dạy học truyền thống nên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động học tập ở học sinh, dẫn đến kết quả học tập chưa cao Nếu vận dụng phương pháp DHTDA như người nghiên cứu đã đề xuất thì sẽ phát huy tính tích cực chủ động học tập, phát huy năng lực làm việc nhóm, năng lực thuyết trình, năng lực đánh giá và năng lực giải quyết vấn đề

7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

Triển khai PPDHTDA mô đun Máy điện 1tại Trường Trung cấp nghề Khu công

nghiệp Bình Dương;

Thực nghiệm sư phạm PPDHTDA HS lớp T12-ĐCN và T13-ĐCN nghề điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

+ Nghiên cứu các văn kiện, văn bản pháp qui về đổi mới PPDH

+ Các tạp chí giáo dục, báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ, sách giáo khoa, số liệu

thống kê, thông tin đại chúng có liên quan đến đề tài nghiên cứu

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiển

8.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Khảo sát bằng bảng hỏi đối với GV và HS học nghề Điện công nghiệp để tìm hiểu thực trạng dạy học mô đun Máy điện1 và những nguyên nhân hạn chế việc phát huy

Trang 11

8.2.3 Phương pháp thực nghiệm

+ Thực nghiệm sư phạm hai dự án: Dự án hổn hợp, dự án Thực hành ở lớp thực nghiệm T12-ĐCN và lớp đối chứng T13-ĐCN tại trường Trung cấp nghề Khu công

nghiệp Bình Dương để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết

+ Xử lý kết quả thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

8.3 Phương pháp thống kê toán học

Người nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê toán học để:

+ Xử lý kết quả khảo sát thực trạng dạy và học mô đun Máy điện 1 cho HS học

nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương;

+ Kiểm nghiệm giả thuyết của đề tài về sự hứng thú tính tích cực trong học tập, các kĩ năng, năng lực làm việc hợp tác và giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.Từ

đó người nghiên cứu phân tích, so sánh kết quả học tập cuối cùng của môn học để khẳng định giả thuyết nghiên cứu là đúng đắn

9 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả nghiên cứu của đề tài nếu được áp dụng, sẽ:

+ Góp phần nâng cao chất lượng dạy học mô đun Máy điện1 cho HS học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương;

+ Vận dụng PPDHTDA cho các môn học khác trong Chương trình đào tạo nghề Điện công nghiệp hệ Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề…

+ Hình thành các kĩ năng cho HS, để họ thích ứng nhanh với nhu cầu thực tiễn;

+ Đánh giá các kĩ năng làm việc hợp tác của HS qua việc thực hiện các dự án học tập

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

1 1.TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

1.1.1 Lịch sử phát triển của phương pháp dạy học theo Dự án trên thế giới

Phương pháp DHTDA có nguồn gốc từ Châu Âu thế kỉ XVI ở Ý và Pháp Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, DHTDA được các nhà sư phạm Mỹ (John Dewey, William Heard Kilpatrick, ) xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án và được xem đó là phương pháp dạy học (PPDH) quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống; và được đưa vào

sử dụng chủ yếu trong dạy học tích hợp các mô đun Kĩ thuật Cùng với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi, các dự án dạy học sau đó được sử dụng ở hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội

Ngày nay PPDHTDA được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương tây

Phương pháp DHTDA là một trong những PPDH mới được thực hiện trong vài thập kỷ gần đây, chủ yếu trong các trường THPT và Đại học ở các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Canada, và là một trong những PPDH hướng vào người học, tích cực hóa người học Các công trình nghiên cứu đã được công bố của các nhà nghiên cứu như sau:

+ William Heard Kilpatrick nhà sư phạm Mỹ với bài viết“Phương pháp dự án“ (Theproject method) công bố 1918 Ông đã miêu tả chi tiết về DHTDA3

+ Regie Stites (Viện Nghiên cứu quốc tế SRI, Mỹ) đã phân tích hiệu quả của DHTDA trên một số đối tượng người học nhất định4

+ Susan J Wolff (Đại học Bang Oregon, Mỹ) đã đưa ra 32 kiểu môi trường học tập tự nhiên đặc trưng thích hợp cho dạy học hợp tác và DHTDA ở bậc Cao đẳng cộng đồng5

3 William Heard Kilpatrick (1918), The Project Methode, Teachers College, (Record 19), trang 319 - 334

4 Regie Stites, “Evaluation of Project Based Learning What does research say about outcomes from project-based

learning? ”, SRI International

5 Susan J Wolff, Ed.D, “Relationships among People and Spaces: Design Features for the Optimal

Collaborative, Project - Based Learning Experience “, Oregon State University

http://www.designshare.com/Research/Wolff/Project_Leaming.htm

Trang 13

+ Viện nghiên cứu giáo dục Buck (USA) tổ chức đào tạo và xuất bản sổ tay hướng dẫn các GV trung học tích hợp DHTDA vào chương trình học

+ Tổ chức Phát triển giáo dục Quốc gia (USA): Cuốn Gắn kết các mảnh nhỏ (2000) bao gồm một chương về “Dạy học theo dự án và công nghệ thông tin”

+ Cách tiếp cận dự án: Trang web được duy trì bởi Sylvia Chard, Giáo sư trường Đại học Alberta (Canada) và đồng tác giả cuốn kích thích óc tư duy của trẻ: Cách tiếp cận dự án (2000)

Quá trình lịch sử nổi bật của dạy học theo dự án được chia thành 5 giai đoạn như sau6:

+ Từ 1590 - 1765: Khởi đầu SV được làm việc theo dự án tại các học viện kiến trúc Châu Âu

+ Từ 1765 - 1880: dự án đã trở thành một PPDH và lan tỏa ở khắp nước Mỹ + Năm 1880 - 1915: Dự án được làm việc ở trường kỹ thuật và các trường học công

+ Năm 1915 - 1965: Định nghĩa DHTDA và đưa DHTDA từ Mĩ quay lại Châu

Âu

+ Từ 1965 - nay: Làn sóng thứ 3 PPDA được lan rộng trên quốc tế

1.1.2 Lịch sử phát triển của dạy học theo Dự án ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu đã được sử dụng trong đào tạo Đại học trước hết là các Trường Đại học Kỹ thuật Hiện nay các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận thực hiện trong các Trường Đại học rất gần gũi với DHTDA Trong lĩnh vực lý luận, DHTDA bước đầu được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây Cụ thể một số kết quả nghiên cứu ở Việt Nam như sau:

Từ năm 2004, DHTDA được Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với tập đoàn Intel triển khai thí điểm tại 20 trường học thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước trong chương trình (Intel Teach to the Future, Teach Essentials, Teach Elements) nhằm giúp các GV khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm hiệu quả thông qua việc hướng dẫn họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kĩ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán

và kĩ năng hợp tác đối với học sinh

Năm 2005, Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường, chương trình hội thảo tập huấn“Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới” Tháng

Trang 14

5/2006 chương trình hội thảo của Việt - Bỉ, “Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV Tiểu học và Trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”

Tập đoàn Microsoft đã triển khai chương trình PIL (Partners in learning) tập huấn cho các GV về một số phương pháp dạy học thế kỉ XXI, trong đó có phương pháp DHTDA Đầu năm 2009, để hỗ trợ các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy và học tích cực, dự án Việt - Bỉ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm phát triển, nâng cao năng lực sư phạm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo về dạy

và học tích cực cho giáo viên, trong đó DHTDA cũng được chú trọng và giới thiệu chi tiết

Gần đây nhất vào tháng 10 năm 2012, chương trình đào tạo GV hướng tới việc nâng cao chất lượng dạy và học ở cấp trung học cơ sở tại 5 tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam (Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi) thông qua việc hỗ trợ thúc đẩy Dạy học tích cực VVOB (VVOB là Tổ chức Hợp tác Phát triển và

Hỗ trợ Kĩ thuật vùng Fla - măng, Vương quốc Bỉ, một tổ chức phi lợi nhuận Đại diện cho chính phủ vùng Fla-măng và chính phủ Vương quốc Bỉ) hỗ trợ các trường Cao đẳng/Đại học Sư phạm tại năm tỉnh này trong việc điều chỉnh cách đào tạo, đảm bảo SV

có được năng lực cần thiết để trở thành những thầy cô dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm Đồng thời, VVOB cũng hỗ trợ các trường trong việc phát triển tài liệu cho dạy học tích cực Công nghệ thông tin và Giáo dục môi trường được coi là phương tiện thích hợp để khởi động quá trình này

Dạy học theo dự án được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nghiên cứu sinh, giáo viên của các bậc học khác nhau từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, cao đẳng đại học trên cả nước quan tâm nghiên cứu:

Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo, “DHTDA và vận dụng trong đào tạo GV trung

học cơ sở môn Công nghệ”,luận án Tiến sĩ giáo dục học, Hà Nội, 2009 Trong luận án,

tác giả đã khái quát hóa và làm sáng tỏ vấn đề liên quan đến lý luận DHTDA Tác giả đã xây dựng tiến trình DHTDA trong đào tạo GV môn Kinh tế gia đình và vận dụng DHTDA trong đào tạo GV môn Công nghệ

Nguyễn Như Khương, “Áp dụng DHTDA vào quá trình dạy học môn Giáo dục

học ở trường Đại học Sư Phạm Kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ giáo dục học, TP.HCM, 2009 Nội dung luận văn của tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy tính tích cực, độc lập của SV có sự hỗ trợ của đa phương tiện, đặc biệt là công nghệ

Trang 15

thông tin và thiết kế một số dự án học tập lý thuyết cho môn học Giáo dục học của SV trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật - Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Kim Nhụy (2012),“Vận dụng phương pháp DHTDA cho Công nghệ lớp

12 tại trường THPT Trần Văn Ơn Tỉnh Bình Dương", luận văn thạc sĩ giáo dục học,

trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM, Tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy

tư duy phê phán, kĩ năng học tập hợp tác và đã thiết kế được hai dự án học tập vào môn

Công nghệ 12 của trường THPT Trần Văn Ơn tỉnh Bình Dương

Phạm Hồng Bắc,“Kinh nghiệm đưa DHTDA vào dạy học Hóa học vô cơ Trung

học phổ thông có hiệu quả”, tạp chí Giáo dục số 282 (kỳ 2-3/2012), trang 42 Tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm về DHTDA đó là cách lựa chọn chủ đề, việc chọn nhóm và cách trình bày sản phẩm của dự án trong môn học Hóa học vô cơ trung học phổ thông có hiệu quả

Lê Khoa, “Tổ chức DHTDA một số kiến thức Vật lý về sản xuất điện năng ở

trường Trung học phổ thông”, tạp chí Giáo dục số 290 (kỳ 2 -7/2012), trang 52 Tác giả

đã xây dựng qui trình DHTDA với 4 giai đoạn, 03 dự án và bộ câu hỏi định hướng cho

HS Thực nghiệm 3 dự án trên và kết quả HS đã biết vận dụng kiến thức đã học được vào việc thiết kế, chế tạo máy phát điện và phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong học tập đồng thời hình thành năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

Các đề tài trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo Dự án, thực trang dạy và học các mô-đun tại các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề đồng thời tiến hành thực nghiệm sư phạm Ngoài ra, các tác giả còn đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả của việc tổ chức dạy học như: Biên soạn nội dung dạy học trong các môn học/mô-đun theo hướng “tiếp cận kỹ năng”, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của giáo viên, trang bị bổ sung đầy đủ và kịp thời (phương tiện dạy học) trang thiết bị dụng cụ, nguyên vật liệu cho kịp theo yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học

Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy học là một quá trình lâu dài, phức tạp và rất nhiều khó khăn nó đòi hỏi cả người dạy và người học phải phấn đấu không ngừng, kiên quyết từ bỏ những thói quen, kinh nghiệm đã có từ lâu đời trong dạy học

Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng việc tiến hành đổi mới phương pháp dạy học đã đem lại nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có nhiều đề tài nghiên cứu đã quan tâm đến sự phát huy tính tích cực học tập của học sinh Cho đến nay, các trường học trong

Trang 16

cả nước nói chung và đặc biệt là các trường đào tạo nghề tiếp tục hưởng ứng và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng cho nền giáo dục Việt Nam Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn

xã hội nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao hơn trong việc đào tạo con người thích ứng với thời đại mới

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Dạy học và hoạt động dạy học

+ Dạy học: Theo từ điển tiếng Việt: dạy để nâng cao trình độ văn hóa và phẩm

chất đạo đức, theo chương trình nhất định7

Dạy và học là hai mặt trong một quá trình có mối quan hệ mật thiết tương tác với nhau Dạy học là một dạng hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách của người học Đó

là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra hai hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học.8

+ Hoạt động dạy: là một quá trình tác động đến người học có mục đích, có kế

hoạch, để truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh nghiệm xã hội và nghề nghiệp cho người học Nhằm hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng Hoạt động dạy không chỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt động học tập của HS

+ Hoạt động học: là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua

đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan Hoạt động học, chủ thể

là người học, hướng vào đối tượng học, tiếp nhận và chuyển hóa nó, biến thành của riêng, qua đó phát triển chính bản thân mình

1.2.2 Phương pháp dạy học

Thuật ngữ phương pháp (PP) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methods) có nghĩa là con đường đi đến mục đích Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học

7 Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm, Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh Hóa, 1999, trang 305

8 Nguyễn Văn Tuấn, PPDHĐH theo hướng tích cực hóa người học,TP.HCM, 2007, trang 30

Trang 17

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang:"PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò

dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức kĩ năng, kĩ xảo một cách

tự giác, tích cực, tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học "

Theo tác giả Hà Thế Truyền,"PPDH là những cách thức hoạt động tương tác được

điều chỉnh của GV và SV hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục

và phát triển trong quá trình dạy học"9

Theo tác giả Võ Thị Xuân, PPDH là cách thức hoạt động của GV và SV sao cho

phát huy được tính tích cực, tự lực, tự giác của HS để đạt mục tiêu dạy học; bản chất của

phương pháp học tập theo tra cứu Và PPDH còn được hiểu theo nghĩa rộng, là những

hình thức và cách thức hoạt động của GV và SV trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục tiêu dạy học

1.2.2.1 Dự án:

+ Theo từ điển Tiếng việt: Dự thảo văn kiện luật pháp hoặc kế hoạch 11

+ Thuật ngữ “Dự án” tiếng Anh: “project” có nguồn gốc từ tiếng La tinh

“projecere”, "Progetto" theo tiếng Ý, "Projet" tiếng Pháp, "Projekt" tiếng Đức và "Proekt" tiếng Nga: phác thảo, dự thảo hay một kế hoạch và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch.12

9 Hà Thế Truyền,Gỉáo dục học đại học, Hà nội 2006, trang 88

10 Võ Thị Xuân, Phương pháp dạy học chuyên ngành kĩ thuật,Tạp chí giáo dục, số 283 (kì 1 - 4/2012), trang 29

11 Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm, Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh Hóa, 1999, trang 337

12 Michael Knoll, The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development, University of Bayreuth, Volume 34, Spring 1997, Number 3

http: //edutechwiki.unige ch/en/Project-based_learning

Trang 18

+ Khái niệm “Dự án” được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế -

xã hội và trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn là một phương pháp hay hình thức dạy học

+ Theo tiêu chuẩn DIN (Deutsches Institut fuer Normung) 69901 của cộng đồng

Châu Âu:dự án là một kế hoạch, một dự tính, về cơ bản được đặc trưng bởi tính duy nhất

của các điều kiện trong tính tổng thể của nó, ví dụ có mục đích trước, giới hạn về thời gian, nhân lực và các điều kiện trước; phân biệt với các dự án khác; có tổ chức dự án chuyên biệt.13

Như vậy, khái niệm dự án có thể hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần

xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện, tài chính, vật chất, nhân lực cần được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra14

1.2.2.2.Dự án học tập

Dự án học tập (DAHT) là một dự án, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành; kết hợp kiến thức, kĩnăng, kinh nghiệm thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau

+ Mục tiêu của dự án học tập tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu được và đây là con đường để đạt mục tiêu dạy học

+ Đặc điểm của dự án học tập:

 Dự án học tập (DAHT) do HS trực tiếp lựa chọn và thực hiện;

 Dự án học tập có quy mô nhỏ so với dự án trong thực tiễn;

 Gắn liền với nội dung chương trình của môn học;

 Tạo ra sản phẩm có thể giới thiệu được;

 Học sinh làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề, những tình huống có trong đời sống

1.2.2.3.Dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án có tên gốc tiếng Anh là Project - based learning (viết tắt là

PBL), đôi khi được gọi tắt “dạy học dự án", hoặc “học tập dựa trên dự án", “phương

pháp DHTDA" Có nhiều định nghĩa về DHTDA như sau:

Một số nhà nghiên cứu về DHTDA của Hoa Kỳ như Thomas, Mergendoller hay Michaelson,“DHTDA là một mô hình tổ chức học tập xung quanh dự án Các dự án có

13 Bechler K.J, Lange D (Hrsg), DIN Normen in Projektmanagement Bonn (2005)

14 Prof Dr Bernd Meier - Dr Nguyễn Văn Cường, Cơ sở đổi mới phương pháp dạy học, POTSDAM, Hà Nội,

2011, trang 69

Trang 19

nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hay vấn đề đầy thử thách, đòi hỏi SV phải thiết

kế, giải quyết vấn đề, hoặc tiến hành các hoạt động điều tra; nó cung cấp cho người học

cơ hội để làm việc tương đối tự động trong một khoảng thời gian mở và kết quả cuối cùng

là tạo ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình trước lớp học"15

Theo Intel “Chương trình dạy học cho tương lai":DHTDA là một mô hình dạy

học lấy SV làm trung tâm Nó giúp phát triển kiến thức và các kĩ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích SV tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình.16

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học dưới chỉ đạo của

GV thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp mang tính thực tiễn với hình thức làm việc nhóm là chủ yếu Nhiệm vụ này được thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, tạo ra những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu”17

Dạy học theo dự án là là một phương pháp dạy học (PPDH) tích cực lấy người học

làm trung tâm, tạo điều kiện cho HS chủ động và tự lực trong mọi hoạt động để chiếm lĩnh tri thức bài học”18

Dạy học theo dự án là PPDH mà trong đó người học thực hiện nhiệm vụ học tập

phức hợp theo một quy trình đã xác định, nội dung học tập phải gắn với thực tiễn đời sống xã hội, khoa học kỹ thuật kết hợp lý thuyết với thực hành; tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả, dưới sự cố vấn, giám sát của người dạy Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể.19

Dạy học theo dự án là ngày nay đã được quan tâm và có rất nhiều công trình nghiên

cứu ứng dụng rộng rãi trên thế giới, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa thống nhất về tên gọi phương pháp dạy học, hình thức dạy học, mô hình hay quan điểm dạy học

Tác giả W H Kilpatrick đã coi DHTDA là một PPDH theo nghĩa rộng hay một

nguyên tắc là phương pháp dự án và dự án trong dạy học là: “Hành động có chủ ý, với

toàn bộ nhiệt tình, diễn ra trong môi trường xã hội, hay nói ngắn hơn là hoạt động có chủ

ý và có tâm huyết"

15 http://data4kid wordpress com,day-hoc-theo-du-an-mot-phuong-phap-day-hoc-moi-tai-ietnam, 12/10/2012

16 http://educate.intel.com/vn/ProiectDesign/Design/ 21h 30, 30/10/2012

17Nguyễn Thị Diệu Thảo, DHTDA và vận dụng trong đào tạo GVtrung học cơ sở môn Công nghệ, luận án Tiến sĩ

giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội - 2009, trang 23

18 Phạm Thị Hồng Bắc, Kinh nghiệm đưa DHTDA vào dạy học Hóa học vô cơ trung học phổ thông có hiệu quả, Tạp chí giáo dục, số 282 (kì 2 - 3/2012), trang 42

19 Vũ Hồng Nam, Sử dụng phương pháp DHTDA trong dạy học môn Hóa học ở trường ĐH và CĐ Tạp chí giáo dục, số 257 (kì 1- 3/2011), trang 50

Trang 20

Theo K Frey, quan niệm DHTDA là một phương pháp và hiểu khái niệm phương pháp theo nghĩa rộng đó là một hình thức của hoạt động học tập và định nghĩa: “Phương pháp dự án là một hình thức của hoạt động học tập, có tác dụng giáo dục" Đó là một hình thức của hoạt động học tập, có tác dụng giáo dục Quyết định là ở chỗ: nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về nội dung làm việc, tự lực lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được

Một số tác giả ở Đức không sử dụng khái niệm phương pháp dự án mà dùng khái niệm DHTDA và hiểu như một hình thức dạy học, hình thức lớn của PPDH" Khái niệm dạy học “định hướng dự án" cũng được sử dụng để chỉ DHTDA theo nghĩa rộng, trong

đó việc vận dụng có thể ở mức độ khác nhau

Theo chương trình PIL của Microsof sử dụng khái niệm “Học theo dự án", coi DHTDA là một hình thức và mô tả: “đó là các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy SV làm trung tâm

và hòa nhập với những vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại Tóm lại, không có sự thống nhất về quan niệm, cách gọi tên về DHTDA nhưng trong hệ thống các khái niệm thuộc phạm trù PPDH có nhiều quan niệm khác nhau:

Dạy học theo dự án với tư cách là một PPDH: khi hiểu DHTDA là một PPDH, có

tác giả hiểu đó là một PPDH theo nghĩa hẹp như một PPDH cụ thể, tuy nhiên nhiều tác giả sử dụng khái niệm phương pháp dự án theo nghĩa rộng, không phải là một PPDH cụ thể

Dạy học theo dự án với tư cách một hình thức dạy học (HTDH): theo quan niệm này, trong DHTDA có nhiều phương pháp cụ thể khác nhau được sử dụng, do đó đây là một HTDH

Dạy học theo dự án được hiểu theo nghĩa rộng nhất như một quan điểm, mô hình hay nguyên tắc dạy học: theo quan điểm này người ta muốn mở rộng phạm vi ứng dụng của DHTDA Khi đó người ta còn dùng thuật ngữ dạy học định hướng dự án

Từ những phân tích khái niệm và quan điểm DHTDA trên, theo người nghiên cứu được hiểu DHTDA thuộc phạm trù PPDH, là PPDH theo nghĩa rộng (được hiểu như là một hình thức dạy học), trong đó có nhiều PPDH cụ thể khác nhau được sử dụng trong

dự án học tập và định nghĩa được áp dụng trong đề tài nghiên cứu như sau:

Dạy học theo dự án là một PPDH, trong đó người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp theo một qui trình đã xác định, nội dung học tập gắn liền thực tiễn, tự lực lập

Trang 21

kế hoạch, hoạt động theo nhóm, thực hiện và đánh giá kết quả, dưới sự cố vấn, giám sát của người dạy Kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được

1.3 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ CÁC QUẢN ĐIỂM TIẾP CẬN DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

1.3.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học

và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục quan tâm Kết luận số 242 - TB/TƯ ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị do đồng chí Trương Tấn Sang ký về tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 2 (khóa VIII) về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 Bộ Chính trị đã đề ra l nhóm nhiệm

vụ, giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo Việt

Nam Tại giải pháp thứ tư có ghi "Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh

mẽ về phương pháp giáo dục Rà soát lại toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông Sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học; chuẩn bị kỹ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông mới theo hướng hiện đại, phù hợp và có hiệu quả Ðổi mới, hiện đại hóa chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều" 20

Tích cực hóa hoạt động học tập của người học là tư tưởng, là mục đích của quá trình đổi mới PPDH Người học phải đặt vị trí trung tâm của hoạt động dạy - học Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, người nghiên cứu thống nhất định hướng đổi mới bao gồm các nội dung sau:

+ Xác lập vị trí chủ thể của người học; bảo đảm tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của hoạt động học tập được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

+ Tri thức được cài đặt sẵn trong những tình huống có dụng ý sư phạm

+ Dạy cách học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học

+ Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học để tiếp nối và gia tăng sức mạnh của con người

+ Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân người học

20 vanban.moet.gov.vn/?page= 1 15&script=viewdoc&view= 1110&opt=brpage

Trang 22

+ Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết kế, ủy thác, điều khiển và thể chế hóa

Có thể nói cốt lõi của đổi mới PPDH là GV phải định hướng đến những phương pháp tích cực trong dạy học để tăng cường về hoạt động nhận thức của người học và chống lại thói quen học tập thụ động

1.3.2 Các quan điểm tiếp cận của dạy học theo Dự án

Quan điểm dạy học (QĐDH): là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những

cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học và những điều kiện dạy học cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học Các quan điểm tiếp cận của DHTDA là:

Quan điểm dạy học định hướng hoạt động

Dạy học định hướng hoạt động (DHĐHHĐ) là quan điểm dựa trên lý thuyết hành động nhận thức Cơ sở lý thuyết là trong quá trình nhận thức cần có sự kết hợp giữa tư duy và hành động, giữa lý thuyết và thực hành Tâm lý của con người hình thành và thể hiện qua hoạt động

Quan điểm dạy học này nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân, tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong đó, việc tổ chức quá trình dạy học được chi phối bởi những sản phẩm hành động đã được thỏa thuận giữa GV và người học Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng DHĐHHĐ có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội

Quan điểm dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề (DHGQVĐ) là một quan điểm nhằm phát huy năng lực

tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề người học SV được đặt trong một tình huống

có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp người học lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức

Theo quan điểm Tâm lí - Giáo dục, người ta coi trọng quá trình dạy học là quá trình phát triển tâm lí của con người thông qua hoạt động học tập Vì vậy, cần phải tìm mọi cách tạo mọi điều kiện, cơ hội để người học phát huy năng lực của HS, phát triển sức mạnh trí tuệ và ý chí, nghĩa là tập trung vào việc tích cực hóa hoạt động học tập của HS, kích thích nhu cầu, hứng thú và động cơ của người học

Trang 23

Quan điểm dạy học tích hợp

Tích hợp (integration) có ý nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Tích hợp có hai tính chất cơ bản, là tính liên kết và tính toàn vẹn

Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất

Theo từ điển tiếng Việt “Dạy học tích hợp là phương pháp sư phạm tìm cách thực hiện nhiều mục đích học tập đặt ra cho các môn học khác nhau ngay trong các bài học của một môn học nhất định”21

Dạy học tích hợp là quá trình dạy học được thiết kế trên cơ sở tiếp cận năng lực thực hiện với mục tiêu dạy học là hình thành một năng lực hoặc một thành tố năng lực nơi người học theo các yêu cầu và tiêu chuẩn của thực tiễn sản xuất

Dạy học tích hợp không thể hiểu đơn thuần là tích hợp lý thuyết và thực hành vào trong một bài giảng, tích hợp có thể trong một chương trình đào tạo, trong một môn học hay mô đun, trong một chương hay trong một phần; thậm chí có thể tích hợp nhiều năng lực hành nghề khác nhau vào trong một chương trình hay mô đun và tích hợp nhiều lĩnh vực, đa môn, liên môn

Tích hợp đào tạo là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức lý thuyết cần thiết liên quan (môn chung, cơ sở ngành, lý thuyết chuyên môn) và kĩ năng thực hành tương ứng thành một kĩ năng nhất định, nhằm đem đến cho người học các năng lực thực hiện công việc, nhiệm vụ cụ thể

Tóm lại: Những quan điểm dạy học như quan điểm dạy học định hướng hoạt động, dạy

học giải quyết vấn đề, dạy học tích hợp, đều phù hợp với DHTDA bởi vì:

+ Nội dung học tập được định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gắn với cuộc sống và nghề nghiệp

+ Nội dung học tập định hướng vào hứng thú của người học

+ Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác mang tính xã hội giúp cho người học tự điều chỉnh việc học tập của mình

1.4 DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

1.4.1 Bản chất của dạy học theo Dự án:

+ Lấy người học làm trung tâm của quá trình dạy học

21 Từ điển tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, 2008

Trang 24

Người học lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và quyết định chủ đề để hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ của dự án học tập GV giữ vai trò hỗ trợ, hướng dẫn Người học hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau

+ Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo và hình thành các năng lực cá nhân, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề trong quá trình thực hiện dự án

+ Người học thể hiện những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực hiện

1.4.2 Mục tiêu dạy học theo Dự án

Dạy học theo dự án hướng tới phát triển các kĩ năng tư duy, nhận thức bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực

Dạy học theo dự án hướng tới việc nâng cao kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

Dạy học theo dự án hướng tới các vấn đề của thực tiễn nhằm gắn kết nội dung học với cuộc sống thực

Dạy học theo dự án hướng tới phát triển kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng lắng nghe và giao tiếp, trao đổi, tranh luận, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng làm việc nhóm,

kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, và bảo vệ ý kiến cá nhân

1.4.3 Nội dung dạy học theo Dự án

Trong DHTDA, nội dung của dự án là sự vận dụng kiến thức và kĩ năng thông qua việc giải quyết một nhiệm vụ hay một vấn đề gắn với tình huống thực tiễn cuộc sống hoặc nghề nghiệp Nội dung DHTDA không chỉ nhằm mục đích là cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, cần thiết và có tính hệ thống mà còn tạo cơ hội cho người học phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bản thân, đồng thời khám phá ra những tri thức, những kĩ thuật, những năng lực cần thiết cho nghề nghiệp Bên cạnh đó, khi tổ chức DHTDA GV phải lựa chọn những nội dung kiến thức, những chủ đề của dự án có

sự gắn kết giữa lý thuyết - thực hành và những vấn đề này gần gũi với thực tiễn trong cuộc sống để người học dễ tiếp thu tri thức và vận dụng được trong thực tế

Nội dung dạy học mang tính tích hợp, liên môn, có sự tích hợp kiến thức của nhiều phần trong một môn học hay nhiều môn học khác nhau cũng như liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong thực tiễn Bên cạnh đó, HS vận dụng những tri thức của nhiều môn học khác nhau để giải quyết những vấn đề, những tình huống trong thực tiễn Nhiệm vụ

Trang 25

học tập đặt ra cho người học, từ việc xác định mục tiêu dự án, lập kế hoạch, thực hiện dự

án đến việc kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án

1.4.4 Các hình thức tổ chức dạy học theo Dự án

Dạy học toàn lớp: hình thức này được sử dụng chủ yếu trong giai đoạn đầu của DHTDA trong việc giao nhiệm vụ và thảo luận chung về chủ đề, nhiệm vụ của dự án học tập

Làm việc nhóm: là hình thức làm việc chủ yếu trong DHTDA Mỗi nhóm có thể thực hiện một dự án riêng hay một phần trong dự án chung Hoạt động trong DHTDA gồm các hành động, việc xây dựng các công việc, tham gia thảo luận, trao đổi thông tin

để cùng nhau xây dựng kế hoạch, phân công công việc và thực hiện kế hoạch đã vạch ra

Làm việc độc lập: là hình thức làm việc quan trọng DHTDA Mỗi thành viên trong nhóm được phân công một nhiệm vụ cụ thể trên cơ sở kế hoạch chung của nhóm và phải

tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ của mình

Dạy học theo dự án có thể tổ chức trong một số giờ học, hay một số ngày dự án, trong một môn học hay liên môn

1.4.5 Phương tiện dạy học theo Dự án

Những phương tiện hỗ trợ trong DHTDA theo các nhóm:

+ Phương tiện truyền thông như: máy chiếu, máy chụp hình, camera

+ Ứng dụng công nghệ thông tin như các phần mềm Microsoft Office (Word, Excel, Powerpoint) Bên cạnh đó, internet là phương tiện không kém phần quan trọng Bởi vì, internet đem lại nguồn thông tin vô cùng phong phú, những kiến thức liên quan đến nội dung dự án học tập cũng như những vấn đề thực tế cuộc sống, vv , nội dung kiến thức

HS lĩnh hội trong DHTDA không chỉ có trong giáo khoa, giáo trình mà là nguồn kiến thức mở và thông qua internet cũng hình thành cho người học những kĩ năng xử lí thông tin như xử lý hình ảnh, video, âm thanh, và internet còn là phương tiện hữu ích để HS trao đổi, thảo luận giữa các nhóm với nhau hay là sự góp ý của GV cũng được tiến hành thuận lợi thông qua internet (facebook, email)

1.4.6 Kiểm tra đánh giá dạy học theo Dự án

Đánh giá trong DHTDA không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà còn phải đánh giá khả năng nhận thức, kĩ năng và năng lực của HS đồng thời theo dõi sự tiến

bộ ở người học Một số công cụ được sử dụng đánh giá trong DHTDA đó là bộ công cụ,

“công cụ” được hiểu là các phương pháp, phương tiện và kỹ thuật được sử dụng trong suốt quá trình nhằm đạt mục đích đánh giá học tập Tính năng cơ bản của các công cụ

Trang 26

đánh giá là “thu thập thông tin” để cung cấp cho GV và HS trong quá trình đánh giá và

tự đánh giá Có nhiều loại công cụ đánh giá khác nhau, tác giả sử dụng bộ công cụ để đánh giá người học trong đề tài như sau:

Đánh giá theo tiêu chí 22

Là phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí Nội dung của một phiếu hướng dẫn đánh giá là một tập hợp các tiêu chí thường được liên hệ với mục tiêu học tập và được sử dụng đánh giá hoặc thông báo về sản phẩm hoặc quá trình thực hiện nhiệm vụ của người học

Phiếu hướng dẫn đánh giá bao gồm một hoặc nhiều khía cạnh như năng lực thực hiện được đánh giá, các khái niệm hoặc ví dụ làm sáng tỏ những yếu tố đang được đánh giá và một thang điểm cho từng khía cạnh Các khía cạnh được gọi là tiêu chí, thang đánh giá được gọi là mức độ Ưu điểm của phiếu đánh giá là:

+ Dễ sử dụng, dễ giải thích;

+ Giúp việc đánh giá được khách quan;

+ Khuyến khích HS đánh giá ngang hàng;

+ Cung cấp phản hồi cho GV và HS;

+ HS có thể tham gia vào việc xây dựng phiếu tiêu chí để tự đánh giá tiến bộ

Đánh giá đồng đẳng (người học đánh giá lẫn nhau)23

Là người học tham gia vào việc đánh giá công việc lẫn nhau của những người học khác Một HS sẽ theo dõi bạn học của mình trong suốt quá trình học và do đó sẽ biết thêm các kiến thức cụ thể về công việc của mình khi đối chiếu với GV HS đánh giá lẫn nhau dựa theo các tiêu chí được định sẵn Thông qua việc đánh giá tích cực và thường xuyên lẫn nhau, những lợi ích của làm việc nhóm sẽ được khai thác tối ưu

Tự đánh giá (trong học tập) 24

Là hình thức đánh giá mà HS tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả làm việc Dựa vào các tiêu chí đánh giá, người học có thể phản hồi lại và nhìn lại quá trình học của mình

Đánh giá theo năng lực 25

22 Leen Pil, Tài liệu tập huấn “Đánh giá dạy học tích cực”, Trường Đại học Leuven (Bỉ), trang 68

23 Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng, Dạy và học tích cực - Một số

phương pháp và kỹ thuật dạy học, 2010,NxB ĐHSP, trang 203

24 Leen Pil, Tài liệu tập huấn “Đánh giá dạy học tích cực", Trường Đại học Leuven (Bỉ), trang 201

25 Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng, Dạy và học tích cực - Một số

phương pháp và kỹ thuật dạy học, 2010,NxB ĐHSP, trang 177

Trang 27

Là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội Năng lực của cá nhân là sự tổng hòa của kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm Có nhiều năng lực khác nhau như năng lực tìm tòi, năng lực khám phá, năng lực xử lý thông tin, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực hợp tác

Trong DHTDA, để đánh giá được năng lực của người học, người GV cần kết hợp

cả đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết GV thiết kế các tiêu chí và nội dung đánh giá theo năng lực Các tiêu chí đánh giá theo năng lực mà người học đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ và giải quyết tình huống

1.4.7 Đặc điểm dạy học theo Dự án

Trong các tài liệu về DHTDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm

Mỹ đầu thế kỷ XX, khi xác lập cơ sở lý thuyết cho DHTDA này đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi của DHTDA: định hướng người học, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Ngày nay, các tài liệu về DHTDA đưa ra rất nhiều đặc điểm26 Sau đây là các đặc điểm cơ bản về DHTDA:

+ Định hướng thực tiển

Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn cuộc sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề cần giải quyết phù hợp với khả năng của người học

+ Có ý nghĩa thực tiễn xã hội

Do gắn với hoàn cảnh, các dự án học tập ở nhà trường gắn liền với thực tiễn xã hội Trong trường hợp lý tưởng, việc thực hiện dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

+ Định hướng hứng thú của người học

Học sinh được tham gia chọn đề tài phù hợp với hứng thú cá nhân Mặt khác, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

Trang 28

Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu, vận dụng lý thuyết

và hoạt động thực tiễn, thực hành, thông qua đó củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

+ Tính tự lực của người học

Trong DHTDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ

tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm

vụ

+ Cộng tác làm việc

Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHTDA đòi hỏi rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các

thành viên tham gia, giữa GV và HS cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

+ Định hướng sản phẩm

Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố và giới thiệu được

Trang 29

Hình 1.1: Các đặc điểm của DHTDA27

1.4.8 Phân loại dự án

Phương pháp DHTDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại DHTDA:

 Phân loại theo nội dung chuyên môn

+ Dự án trong môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học Ví dụ: Dự

án quấn lại bộ dây quấn động cơ KĐB 1 pha

+ Dự án liên môn: nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau Ví dụ: nghiên cứu chế tạo máy phát điện vừa và nhỏ”, HS phải sử dụng kết hợp kiến thức môn Vật lí, Công nghệ, Máy điện, Toán học để hoàn thành sản phẩm

+ Dự án ngoài chuyên môn: là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học Ví dụ: dự án thiết kế buổi trình diễn thời trang HS

27 Prof Dr Bernd Meier - Dr Nguyễn Văn Cường, Cơ sở đổi mới phương pháp dạy học, POTSDAM, Hà Nội,

2011, trang 163

Trang 30

 Phân loại theo quỹ thời gian

Theo K Frey28

+ Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 - 6 giờ học

+ Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

+ Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần hay 40 giờ học, có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)

Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn và các dự án thường được qui định thời gian theo số đơn vị học trình và điểm tín chỉ, có thể kéo dài vài ba đơn vị học trình đến hàng chục đơn vị học trình

TheoTrần Bá Hoành29, phân biệt về thời gian cho dự án với các dạng bài tập trong đào tạo như sau:

+ Bài tập (Exercices): từ 0 đến 2 giờ;

+ Bài tập lớn (Assignment): từ 2 - 12 giờ;

+ Đề án (Project): từ 12 đến 60 giờ

 Phân loại theo hình thức tham gia của người học

Gồm dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân, dự án toàn lớp, dự án toàn trường Trong

đó, loại dự án dành cho nhóm HS là hình thức chủ yếu Trong trường phổ thông còn có thể tổ chức các dự án cho toàn trường, dự án cho một khối lớp, dự án cho một lớp học

 Phân loại theo nhiệm vụ

Theo H J Apel và M Knoll đã khái quát các dự án theo các dạng sau:

+ Dự án thăm quan và tìm hiểu Ví dụ: Dự án tìm hiểu một qui trình sản xuất Sữa, Nước ngọt, Bia ở Bình Dương; dự án tìm hiểu về thực trạng an toàn giao thông ở Việt Nam hiện nay

+ Dự án nghiên cứu, học tập: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng

và quá trình Ví dụ: dự án khảo sát môi trường hay dự án khảo sát nghề qui trình đóng chai

+ Dự án thực hành: trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng

28 Frey K Die Projekmethode, Weinheim und Basel, 2005, trang 20

29 Trần Bá Hoành, Đổi mới phương pháp dạy học trong các trường ĐH, CĐ đào tạo GV THCS, Tài liệu nâng cao

năng lực PPDH cho GVcốt cán các trường ĐHSP, CĐSP, Dự án đào tạo GV THCS, 2003, Hà nội

Trang 31

bày, biểu diễn, sáng tác Ví dụ như dự án sắp xếp mô hình các thiết bị trong nhà ở, dự án

tổ chức sinh nhật, dự án tổ chức hội thi nấu ăn

+ Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng Các cách phân loại DHTDA trên đều có thể ứng dụng cho môn Máy điện Đặc biệt loại dự án thực hành và

dự án hỗn hợp

1.4.9 Quy trình dạy học theo Dự án

Trong các tài liệu30,31,32 có rất nhiều quy trình khác nhau về DHTDA được đưa ra, trong đó có sự khác nhau về phân chia các giai đoạn, các bước như:

Theo tài liệu Việt - Bỉ “Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” đã giới thiệu quy trình DHTDA gồm 6 bước được gói lại thành ba bước chính33:

1 Lập kế hoạch;

2 Thực hiện dự án;

3 Tổng hợp báo cáo kết quả

Theo Nguyễn Thị Diệu Thảo, đã xây dựng tiến trình DHTDA gồm 4 giai đoạn như sau:

1 Xác định chủ đề và mục tiêu của dự án;

2 Xây dựng kế hoạch thực hiện;

3 Thực hiện dự án;

4 Báo cáo kết quả và đánh giá dự án

Theo Lê Khoa giới thiệu quy trình DHTDA 5 giai đoạn như sau:34

1 Xây dựng ý tưởng, GV đề xuất ý tưởng của DA, SV lựa chọn chủ đề, xác định mục tiêu dự án, sau đó chia nhóm, phân công công việc cho từng SV;

32 Nguyễn Thị Diệu Thảo, Giáo trình Lý luận dạy học kinh tế gia đình, NXB ĐHSP, 2007, trang 20

33 Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, 2010,

NXB ĐHSP trang 132 -133

34 Lê Khoa, “Tổ chức DHTDA một số kiến thức vật lý về sản xuất điện năng ở trường trung học phổ thông", tạp

chí Giáo dục số 290 (kỳ 2-7/2012), trang 52 - 53

Trang 32

2 Lập kế hoạch: SV trao đổi, thảo luận các vấn đề liên quan đến dự án;

3 Quyết định chọn các giải pháp thực hiện: đánh giá những khó khăn của dự án

để đưa ra được giải pháp thực hiện dự án;

4 Thực hiện dự án theo kế hoạch đã vạch ra trong bản kế hoạch do SV lập;

5 Kiểm tra sản phẩm cuối cùng: SV tự đánh giá và đánh giá chéo các thành viên trong nhóm và cả nhóm khác khi sản phẩm được trình bày;

6 Đánh giá toàn bộ quá trình: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện dự án để rút kinh nghiệm cho dự án sau

Tất cả các quy trình nêu trên đều chứa đựng nội dung giống nhau là có sự tương tác giữa các thành viên tham gia dự án Để thuận lợi khi tiến hành lập kế hoạch dạy học, người nghiên cứu đã xây dựng quy trình DHTDA thành 4 giai đoạn để làm cơ sở cho tổ chức dạy học theo dự án mô đun Máy điện 1như sau:

35.Prof Dr Rudolf Tippelt, Ludwig Maximilian University, Munich Antonio Amorós M.A., International

Cooperation Office (BIZ), Theory and practice of the project-based method, February 2004, trang 11

Trang 33

Qui trình dạy học dự án mô đun Máy điện 1

Kế hoạch về thời gian

Phân công nhiệm vụ

Trang 34

Giai đoạn 1: Xác định chủ đề và mục tiêu dự án

Giáo viên gợi ý cho HS ý tưởng của chủ đề: Chủ đề mà GV khơi gợi cần có tính tổng hợp, xuất phát từ những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, phù hợp với mục tiêu dạy học và nhu cầu học tập, khả năng của HS, phù hợp với điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất của nhà trường và thời lượng cho phép GV cần phải bố trí thời lượng cho dự án dựa theo phân phối chương trình môn học GV chia nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm

Học sinh thảo luận, hình thành ý tưởng, xác định chủ đề và xác định mục tiêu của

dự án: HS tự chủ động lựa chọn nhóm làm việc Trong bước này, HS có thể tự đề xuất các ý tưởng nhằm cụ thể hóa chủ đề theo hứng thú, nguyện vọng của nhóm mình Khi đề xuất ý tưởng cần theo đúng mục tiêu chung của dự án

Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án

Học sinh xác định các công việc: Trong bước này HS cần xây dựng nội dung chi tiết kế hoạch dự án mà nhóm tự lập và thiết kế sản phẩm

Học sinh xây dựng kế hoạch thực hiện có sự góp ý của GV: Trong việc xây dựng

kế hoạch cần chú ý đến tiến trình thực hiện công việc cụ thể, dự kiến thời gian cho các công việc được hoàn thành, đề xuất phương án thực hiện

Học sinh tự phân công nhiệm vụ trong nhóm: Trưởng nhóm phân công và giao nhiệm vụ cho từng cá nhân

Học sinh kiểm tra kế hoạch thực hiện dự án và điều kiện thực hiện của từng nhóm: công việc này cần thực hiện suốt quá trình xây dựng kế hoạch, có sự hướng dẫn, cố vấn

và hỗ trợ của GV

Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

Trong quá thực hiện dự án, HS nghiên cứu tài liệu, khảo sát thị trường, sau đó xử

lý những thông tin liên quan đến dự án của nhóm Bên cạnh đó, GV kiểm tra, hỗ trợ về

kỹ thuật, hướng dẫn khi cần thiết cũng như theo dõi tiến độ làm việc các nhóm

Giai đoạn 4: Báo cáo kết quả và đánh giá dự án

Học sinh trình bày sản phẩm và báo cáo bằng powerpoint trước lớp: Đây là công việc rất có ý nghĩa, các em nhìn lại sản phẩm cũng như nhận thức được năng lực bản thân qúa trình bày bài báo cáo, để từ đó các em rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân tốt hơn trong công việc của mình

Học sinh tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng về công việc nhóm và bài báo cáo nhóm: các em sẽ nhìn lại những hoạt động đã thực hiện và đánh giá lẫn nhau dựa theo tiêu chí đã đề ra

Trang 35

Giáo viên đánh giá quá trình thực hiện dự án gồm: đánh giá sản phẩm; đánh giá bài báo cáo; đánh giá quá trình thực hiện của nhóm Cuối cùng cả GV và HS rút ra bài học kinh nghiệm để thực hiện dự án sau hoàn thiện hơn

1.4.10 Ưu, nhược điểm và phạm vi áp dụng

 Ưu điểm

+ Gắn lý thuyết với thực tiễn;

+ Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;

+ Phát huy tính tự lực, tính sáng tạo và trách nhiệm;

+ Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp, mang tính tích hợp; + Phát triển năng lực cộng tác làm việc và kĩ năng giao tiếp;

+ Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;

+ Phát triển năng lực đánh giá

 Nhược điểm

+ Dạy học theo dự án tốn nhiều thời gian để HS tìm hiểu nghiên cứu;

+ Dạy học theo dự án phải có phương tiện, cơ sở vật chất phù hợp;

+ Dạy học theo dự án đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm

và yêu nghề

 Phạm vi áp dụng

Từ những ưu, nhược điểm nêu trên, phạm vi áp dụng của DHTDA như sau:

+ Áp dụng DHTDA khi HS đã được luyện tập các kỹ năng cơ bản;

+ Áp dụng DHTDA trong những chủ đề có liên quan đến nội dung chương trình môn học có gắn với thực tiễn Khi thực hiện dự án, người học cần giải quyết các nhiệm

vụ mang tính phức hợp cao, kết hợp nhiều loại hoạt động khác nhau, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành

1.4.11 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo Dự án

 Vai trò của giáo viên

Vai trò của GV trong dạy học DHTDA khác hơn so với GV đã quen thuộc trong các lớp học truyền thống, GV nắm giữ tất cả các kiến thức rồi truyền đạt đến HS; còn với

DHTDA thì trong suốt quá trình thực hiện dự án, vai trò của GV là:

+ Thúc đẩy, đôn đốc HS trong việc giải quyết nội dung bài học;

+ Hướng dẫn, tham vấn chứ không phải là cầm tay chỉ việc;

Trang 36

+ Không phải dạy kiến thức trực tiếp mà chỉ gián tiếp bằng các hỗ trợ: các chỉ dẫn, sản phẩm mẫu, các tài liệu, các nguồn thông tin, các chuyển giao công việc, các phiếu đánh giá

+ Tạo môi trường học tập hợp tác

 Vai trò của học sinh

Trong lớp học theo dự án, các dự án thường được thực hiện bởi các nhóm nhỏ HS trong lớp Khi HS nhận được bài tập hoặc những thông tin chi tiết về dự án của mình, HS

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ kết quả nghiên cứu chương 1 cho thấy, DHTDA có lịch sử phát triển cách đây

từ rất lâu Hiện nay, DHTDA đã được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới Riêng ở Việt Nam, những năm gần đây DHTDA cũng được nhiều bậc học quan tâm

từ phổ thông đến dạy nghề Qua việc nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các quan điểm khác nhau của nhiều tác giả về DHTDA, cuối cùng người nghiên cứu đã tổng hợp các vấn đề trong chương 1 để làm cơ sở cho chương 2 và chương 3 như sau:

+ Tổng quan về vấn đề nghiên cứu của đề tài;

+ Các khái niệm cơ bản;

+ Những định hướng đổi mới PPDH và các quan điểm tiếp cận DHTDA;

+ Quy trình DHTDA;

+ Ưu và nhược điểm của DHTDA;

+ Vai trò của GV và HS trong DHTDA;

Từ các vấn đề trên, người nghiên cứu nhận thức rằng: DHTDA là một PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như: định hướng vào người học, tích cực hóa người học, định hướng hành động và DHTDA giúp HS kết hợp được kiến thức lý thuyết và thực hành vào thực tiễn, đồng thời hình thành được các năng lực cá nhân, năng lực phương pháp và năng lực xã hội

Trang 38

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔ ĐUN MÁY ĐIỆN I

TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG

Trường Trung Cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương, tiền thân là Trung tâm Giới thiệu việc làm, được thành lập từ năm 2009 theo Quyết định số 2533/QĐ-UBND ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương

Chức năng nhiệm vụ của Nhà trường là Tập huấn An toàn lao động, Tuyển sinh, đào tạo hệ Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề và Giới thiệu việc làm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Dương và khu vực

Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, công chức theo yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn theo từng vị trí công tác

Các phòng chức năng và các tổ Bộ môn Trường Trung Cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương được bố trí như hình 1.2, Cụ thể như sau:

Trang 39

Hình 1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của nhà trường

HỘI ĐỒNG NHÀ TRƯỜNG

TỔ CHỨC ĐẢNG,

ĐOÀN THỂ

HIỆU TRƯỞNG VÀ CÁC PHÓ HIỆU TRƯỞNG

PHÒNG KẾ TOÁN DỊCH VỤ

PHÒNG TUYỂN SINH & GIỚI THIỆU VIỆC LÀM

Trang 40

2.2 GIỚI THIỆU BỘ MÔN ĐIỆN CÔNG NGHIỆP

Bộ môn Điện công nghiệp là đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tổ chức các hoạt động

đào tạo nghề Điện công nghiệp với các công việc được Ban Giám hiệu phân công cụ thể

+ Thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào quá trình dạy nghề

+ Quản lý giáo viên, nhân viên, người học thuộc đơn vị

+ Quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị thuộc phạm vi theo quy định của Hiệu trưởng; đề xuất, xây dựng các kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy nghề

+ Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của Hiệu trưởng Biên chế của Bộ môn Điện công nghiệp có tổng số 14 GV trong đó có 1 Tổ trưởng Bộ môn Số lượng học sinh khoảng 100 - 150 học sinh Cơ sở vật chất của Bộ môn được bố trí trên diện tích 100 m2

2.3.NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN MÁY ĐIỆN I

2.3.1 Vị trí và đặc điểm của mô đun Máy điện 1

Mô đun Máy điện 1 được xây dựng trên cơ sở chương trình khung của Bộ Lao động TB & XH, hệ Trung cấp nghề được ban hành theo Thông tư số 21/20014/TT-BLĐTBXH, ngày 26 tháng 08 năm 20014

Mô đun Máy điện 1 là môn học có tính bắt buộc và thuộc nhóm các môn học chuyên ngành Điện công nghiệp hệ Trung cấp nghề

Nội dung môn học chủ yếu là rèn luyện kĩ năng thực hành, phần lớn các bài trong

mô đun Máy điện 1 chiếm 70% thực hành so với tổng số tiết

Mô đun Máy điện 1 đòi hỏi người học phải khéo léo, kiên trì và có tính thẩm mỹ cao

2.3.2 Mục tiêu của mô đun Máy điện 1:

Học xong mô đun này học sinh có khả năng:

+ Trình bày đầy đủ các bộ phận cơ bản, công dụng và nguyên lý làm việc của các loại Máy điện

Ngày đăng: 21/12/2022, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Văn Cường – bernd meier (2012) Một số vấn đề về đổi mới PPDH. Potsdam – Hà nội – Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới PPDH
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Năm: 2012
[2] Chương trình Dạy học cho Tương lai của Intel, Phiên bản VN 2.1 – 1.0 (Tài liệu Chương trình Thí điểm tháng 9/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Dạy học cho Tương lai của Intel, Phiên bản VN 2.1 – 1.0 (Tài liệu Chương trình Thí điểm tháng 9/2004)
Năm: 2004
[3] Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004), “Dạy học dự án và đào tạo giáo viên Kinh tế gia đình”, Tạp chí giáo dục, (88), tr.22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học dự án và đào tạo giáo viên Kinh tế gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thảo
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 2004
[4] Nguyễn Thị Diệu Thảo (2008 ), luận văn tiến sĩ , “Dạy học theo dự án và vận dung trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn công” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo dự án và vận dung trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn công
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thảo
Năm: 2008
[5] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (2011): về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (2011): về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Năm: 2011
[6] Nguyễn Văn Tuấn, tài liệu học tập về PPDH ĐH theo hướng tích cực hóa người học, Tp.HCM, 2007.2. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài liệu học tập về PPDH ĐH theo hướng tích cực hóa người học
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI
Năm: 2007
[1] Bechler K.J, Lange D. (Hrsg), (2005), DIN Normen im Projektmanagement. Bonn Sách, tạp chí
Tiêu đề: DIN Normen im Projektmanagement
Tác giả: Bechler K.J, Lange D. (Hrsg)
Năm: 2005
[2] Debbi Candau; Jennifer Doherty; Robert Hannafin; John Jugde; Judi Yost; Paige Kuni: Intel Teach to the Future. Chương trình Dạy học cho tương lai của Intel. Phiên bản VN 2.1 -1.0 (Tài liệu chương trình dạy thí điểm tháng 9.2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intel Teach to the Future. Chương trình Dạy học cho tương lai của Intel. Phiên bản VN 2.1 -1.0 (Tài liệu chương trình dạy thí điểm tháng 9.2004)
Tác giả: Debbi Candau, Jennifer Doherty, Robert Hannafin, John Jugde, Judi Yost, Paige Kuni
Năm: 2004
[3] [Eyerer, Peter: TheoPrax-Projektarbeit in Aus- und Weiterbildung. Stuttgart Klett- Cotta-Verlag, 2000, trang 59] Sách, tạp chí
Tiêu đề: TheoPrax-Projektarbeit in Aus- und Weiterbildung
Tác giả: Peter Eyerer
Nhà XB: Klett-Cotta-Verlag, Stuttgart
Năm: 2000
[4] Susan J. Wolff, Ed.D. "Relationships among People and Spaces: Design Features for the Optimal Collaborative, Project-Based Learning Experience.", Oregon State University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationships among People and Spaces: Design Features for the Optimal Collaborative, Project-Based Learning Experience
Tác giả: Susan J. Wolff, Ed.D
Nhà XB: Oregon State University
[5] Michael Knoll, “The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development”,p8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development
Tác giả: Michael Knoll
[6] ĩberblich ĩber die Fundamente der Projektmethode fuer Deutschland nach M. Ludwig. (tài liệu đã trích dẫn 4, trang 59) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĩberblich ĩber die Fundamente der Projektmethode fuer Deutschland nach M. Ludwig
[7] Rudolf Tippelt, Ludwig Maximilian University, Munich, “The project methode in vocational training”,p13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The project methode in vocational training
Tác giả: Rudolf Tippelt
[1] The Online Learning with Multimedia. http://www.pbl-online.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Online Learning with Multimedia
[2] Regie Stites “ Evaluation of Project Base Leaning. What does research say about outcomes from project –based leaning?”, SRI International. http://pblmm.k12.ca.us/PBLGuide/pblresch.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Project Base Leaning. What does research say about outcomes from project –based leaning
Tác giả: Regie Stites
Nhà XB: SRI International
[3] The Online Resource for Project Based Learning. http://www.pbl-online.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Online Resource for Project Based Learning
[4] “The Project Method”: Child Centeredness in Progresstive Education… History Metters The US. Survey Couse on the Web. http://historymatters.gmu.edu/d/4954/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Project Method: Child Centeredness in Progressive Education
[5] Celestin Ferenet.http://en.wikipedia.org/wiki/celestin_Freinet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Célestin Freinet

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w