Quy luật “Từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại” làmột trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết phương thức của sự vậnđộng, phát triển.. 1
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
XHCN Ở VIỆT NAM
LỚP L12 - NHÓM 04 HK 202 Thành viên 06 NGÀY NỘP:
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Minh Hương
Trương Nguyễn Khôi Nguyên 2010468
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……….3
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUY LUẬT, TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI 1.1 Khái niệm chất và lượng ………4
1.1.1 Khái niệm về chất ………4
1.1.2 Khái niệm về lượng………5
1.2 Nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại ……… 5
1.2.1 Mối liên hệ giữa lượng và chất………5
1.2.2 Độ và điểm nút……… 5
1.2.3 Bước nhảy, đặc điểm và các hình thức của bước nhảy……… ……… 6
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận ……….7
Chương 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO QUÁ TRÌNH HÌNH -THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 2.1 Tính tất yếu khách quan của kinh tế thị trường (KTTT) định hướng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta ………8
2.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường ……….8
2.1.2 Tính tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam…9 a.Tính tất yếu khách quan ……… 9
Trang 3b Lợi ích của sự phát triển KTTT ở nước ta ………10
2.2 Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được sau 30 năm đổi mới ………… 11
2.2.1 Đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN và những vấn đề đặt ra hiện nay……… 11
a Định hướng phát triển phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay…….11
b Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế ……….12
c Những vấn đề lớn được đặt ra……… 13
2.2.2 Định hướng xây dựng “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt phục vụ người dân và doanh nghiệp” ……… 15
a Ưu điểm của mô hình “Nhà nước kiến tạo phát triển” ……… 15
b Những đột phá mà mô hình “Nhà nước kiến tạo phát triển đem lại……….17
2.2.3 Những thành tựu kinh tế nổi bật 19
a Kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ ổn định, các thị trường vận hành thông suốttạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tập trung sản xuất, kinhdoanh……….….19
b Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực và phù hợp hơn với mô hìnhtăng trưởng kinh tế……… 20
c Tiêu dùng nội địa và đầu tư tiếp tục trở thành hai trụ cột quan trọng của nềnkinh tế ……… 20
d Môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện, năng lực cạnh tranh quốcgia được nâng cao……… 21
KẾT LUẬN ……… 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 24
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong đời sống hàng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người
dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiện tượng, từ đóhình thành nên khái niệm “quy luật” Với tư cách là phạm trù của lý luận nhận thức, kháiniệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học, phản ánh sự liên hệ của các sự vật vàtính chỉnh thể của chúng
Các quy luật của tự nhiên, của xã hội cũng như của tư duy con người đều mang tínhkhách quan Con người không thể tạo ra hoặc tự ý xóa bỏ được quy luật mà chỉ nhận thức
và vận dụng nó trong thực tiễn
Quy luật “Từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại” làmột trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết phương thức của sự vậnđộng, phát triển Nhận thức được quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt độngthực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng Nếu nhận thức không đúng quy luậtnày sẽ dẫn đến tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh Tả khuynh là phủ nhận sự tích lũy vềlượng, muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh là khi chất đã biến đổi vượtquá giới hạn độ nhưng không dám thực hiện sự thay đổi căn bản về chất
Nước ta đang quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của Chủnghĩa Tư bản, việc nhận thức đúng đắn quy luật Lượng-chất sẽ có ý nghĩa rất lớn trongquá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong phạm vi của tiểu luận này, nhóm xin được trình bày những cơ sở lý luận chung
về nội dung của quy luật Lượng-Chất, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn của việc nhận
Trang 5thức quy luật này, sự vận dụng quy luật này để phát triển kinh tế thị trường định hướng
Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUY LUẬT, TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN SỰ THAY ĐỔ VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI.
1.1 Khái niệm chất và lượng
1.1.1 Khái niệm về chất
Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng;
là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật hiện tượng Mọi sự vật hiện tượng đều được cấu thành bởi các thuộc tính khách quan vốn có của
nó là căn cứ để ta phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác Chẳng hạncái bàn có những thuộc tính riêng giúp ta phân biệt nó với cái ghế
Tuy nhiên không thể đồng nhất khái niệm chất với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật,hiện tượng đều có thuộc tính cơ bản và không cơ bản những thuộc tính cơ bản mới hợpthành chất của sự vật, hiện tượng Phụ thuộc vào những mối quan hệ cụ thể mà thuộc tính
cơ bản và không cơ bản mới được phân biệt rõ ràng
– Chất của sự vật, hiện tượng không chỉ được quyết định bởi thành phần cấu tạo mà cònbởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng
Ví dụ: Ví dụ với C,H,O thì ta khi chúng liên kết ắt hẳn ta sẽ có chất khác so với khi cácnguyên tố P,O khi chúng liên kết Ngoài ra, với 3 nguyên tố C,H,O nếu chúng liên kếttheo nhiều kiểu khác nhau ta lại được các chất khác nhau như CH3–CH2–COOH và CH3-COO-CH3.,…
Trang 6Một sự vật, hiện tượng có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính thể hiện 1 chất Như vậymột sự vật, hiện tượng có thể có rất nhiều chất Giữa sự vật, hiện tượng và các chất của nó
là luôn gắn liền với nhau, không thể tách rời chúng
Như những gì phân tích ở trên, việc phân biệt giữa chất và thuộc tính cũng chỉ mangtính chất tương đối
1.1.2 Khái niệm về lượng
Khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiệntượng về mặt con số, yếu tố cấu thành, quy mô, tốc độ, nhịp điệu của quá trình vận động,phát triển của sự vật, hiện tượng Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức củacon người
Nói đến lượng là nói đến chiều dài, ngắn; quy mô lớn,nhỏ; trình độ cao thấp,… của
sự vật, hiện tượng Lượng thường được đo bởi các đơn vị cụ thể ( cao 166cm, vận tốc là1m/s,…) nhưng cũng có thể được hiểu một cách trừu tượng hóa ( trình độ văn hóa caohay thấp,…)
Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ mang tính chất tương đối: có cái trong mối quan
hệ này là chất nhưng trong mối quan hệ kia lại là lượng
1.2 Nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại
1.2.1 Mối liện hệ giữa lượng và chất
Mỗi sự vật, hiện tượng đều tồn tại mối quan hệ giữa lượng và chất trong một chỉnhthể Chúng không tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Sựthay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên,không phải lúc nào lượng thay đổi thì chất sẽ thay đổi Nếu lượng được cung cấp chưa đủ
Trang 7để vượt qua giới hạn nhất định thì chất vẫn chưa thể thay đổi Khoảng giới hạn đó đượcgọi là độ.
1.2.2 Độ và điểm nút
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảnggiới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiệntượng Như vậy muốn thay đổi ta phải cung cấp một lượng sao cho nó đạt đến một điểmnhất định Điểm đó gọi là nút
Điểm nút chính là ranh giới giữa lượng và chất mà tại đó khi sự thay đổi về lượngđạt đến thì sự thay đổi về chất bắt đầu được hình thành Độ mới và điểm nút mới của sựvật, hiện tượng cũng được hình thành
Ví dụ: Nước bình thường khi đun lên đến hơn 100 oC thì bốc hơi Vậy từ 0 oC đến 100
oC là độ của nước, 100 0C chính là điểm nút của nó
1.2.3 Bước nhảy, đặc điểm và các hình thức của bước nhảy
Thời điểm mà lượng chuyển sang chất được gọi là bước nhảy
Bước nhảy là một phạm trù triết học để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thayđổi về lượng trước đó gây nên
* Đặc điểm của bước nhảy:
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của mộtgiai đoạn phát triển mới Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liêntục của sự vật
* Các hình thức cơ bản của bước nhảy:
Trang 8Với bản chất của mỗi sự vật, hiện tượng và mối quan hệ của nó với các sự vật, hiện tượngkhác, để đủ lượng tác động làm thay đổi chất thì ta cần thực hiện một lượng bước nhảyxác định, từ đó tạo nên sự phong phú và đa dạng của bước nhảy.
Dựa trên nhịp điệu bước nhảy ta chia thành Bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.+ Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian ngắn làm thay đổi
cơ bản toàn bộ kết cấu của sự vật, hiện tượng
+ Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ thông qua việc tích lũy chất mới
và loại bỏ chất cũ
Tuy nhiên bước nhảy dần dần khác với thay đổi dần dần Bước nhảy dần là sự chuyển hóadần dần từ chất này sang chất khác còn thay đổi dần dần là sự tích lũy dần về lượng đểvượt qua điểm nút tạo nên sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng đó
Căn cứ vào quy mô ta phân chia làm bước nhảy cục bộ và bước nhảy toàn bộ
+ Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt,những yếu tố riêng rẻcủa sự vật, hiện tượng
+ Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi toàn bộ chất của sự vật hiện tượng
Trên thực tế, muốn thực hiện bước nhảy toàn bộ ta phải thực hiện bước nhảy cục bộ Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng đều có sự thống nhất về chất và lượng; với sự tíchlũy về lượng khi vượt qua giới hạn nào đó gọi là điểm nút thì bước nhảy được hình thành
và chất của sự vật, hiện tượng bắt đầu được thay đổi Khi chất được hình thành thì sẽ cótác động trở lại tới lượng của sự vật, hiện tượng, quy định nên điểm nút và độ mới Qúatrình đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng vận động, phát triển
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 9- Thứ nhất, tích lũy về lượng để làm thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng Cùng với quá
trình thay đổi về lượng phải tạo ra những điều kiện cần thiết để khi đủ lượng thì thay đổichất Chống tả khuynh, nóng vội, khi chưa tích lũy đầy đủ về lượng đã yêu cầu thay đổi
về chất của sự vật, hiện tượng
- Thứ hai, khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quancủa sự vận động của sự vật, hiện tượng Do đó, khi đã tích lũy đủ về lượng và có điềukiện chín muồi phải quyết tâm thực hiện và thực hiện kịp thời những bước nhảy Có nhưvậy chúng ta mới khắc phục được tư tưởng hữu khuynh, bảo thủ, trì trệ, không muốn cáimới tiến bộ xuất hiện
- Thứ ba, phải có thái độ khách quan, khoa học và quyết tâm thực hiện bước nhảy Khithực hiện bước nhảy trong lĩnh vực xã hội phải chú ý đến điều kiện chủ quan
- Thứ tư, phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiệntượng để lựa chọn phương pháp phù hợp vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy
Chương 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO QUÁ TRÌNH HÌNH
-THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM.
2.1-Tính tất yếu khách quan của kinh tế thị trường định hướng CNXH ở nước ta
2.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường
- Khái niệm: Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế trong đó các yếu tố đầu vào và đầu rađều phải thông qua thị trường
Trong điều kiện mới của thời đại ngày nay, nhất định không thể duy trì mãi mô hìnhkinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, không thể đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa
tư bản Chính C.Mác đã phê phán sự lầm lẫn giữa kinh tế hàng hóa với kinh tế tư bản chủ
nghĩa của phái kinh tế học tầm thường C.Mác khẳng định rằng : “… sản xuất hàng hóa
Trang 10và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau… Chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất
ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy” 1
Đại hội IX nêu lên nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước,được gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng XHCN
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN: là một kiểu tổ chức kinh tế vừa dựa trênnhững nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa trên cơ sở được dẫn dắt và chiphối bởi các nguyên tắc và bản chất CNXH thể hiện trên 3 mặt: sở hữu, tổ chức quản lý
và phân phối
2.1.2 Tính tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
a.Tính tất yếu khách quan
Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những điều kiện chung để kinh
tế hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn tại Do đó, sự tồn tại kinh tế hàng hóa kinh tế thị trường
ở nước ta là một tất yếu khách quan:
- Phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hóa vẫn tồn tại và ngàycàng phát triển cả về chiều rộng lần chiều sâu ở nước ta hiện nay
+Phân công lao động xã hội phát triển thể hiện ở chỗ các ngành nghề ở nước ta ngàycàng đa dạng, phong phú, chuyên môn hóa sâu Tác động của phân công lao động:
+Góp phần phá vỡ tính chất tự cung tự cấp của nền kinh tế tự nhiên trước đây và thúcđẩy kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ hơn
1 C.Mác & Ph.Ăng-ghen (1993), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 23, tr 175
Trang 11+Là cơ sở và là động lực để nâng cao năng suất lao động xã hội, nghĩa là làm cho nềnkinh tế ngày càng có nhiều sản phẩm thặng dư dùng để trao đổi mua bán Do đó, làm chotrao đổi, mua bán hàng hóa trên thị trường ngày càng phát triển hơn.
- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế: Do tồn tại nhiều hình thức sở hữu ( sở hữu toàndân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp) Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tếđộc lập, lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ Có thể thực hiện bằng quan hệ hànghóa tiền tệ
- Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tưliệu sản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủtrong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng, mặt khác các đơn vị kinh tế còn có sự khácnhau về trình độ kỹ thuật - công nghệ về trình độ quản lý, nên chi phí sản xuất và hiệu quảcũng khác nhau nên quan hệ kinh tế giữa họ phải thực hiện bằng quan hệ hàng hóa tiền tệ
- Trong quan hệ kinh tế đối ngoại trong điều kiện phân công lao động quốc tế mỗi quốcgia riêng biệt là chủ sở hữu đối với mỗi hàng hóa đưa ra trao đổi trên thị trường, sự traođổi này phải trên nguyên tắc ngang giá
Với bốn lý do trên, kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu
b Lợi ích của sự phát triển KTTT ở nước ta
Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định mô hình nền kinh tế ở nước ta trong thời kỳquá độ là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự lựa chọn đó là xuất phát từnhững lợi ích của việc phát triển kinh tế - xã hội đem lại cho nước ta
*Lợi ích của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam:
- Tạo động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Do cạnh tranh trong nền sản xuất hăng hóa, buộc các chủ thể sản xuất phải cải tiến kỹthuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất làm cho năng suất lao động tăng, chi phí sản
Trang 12xuất giảm ở mức thấp nhất nhờ đó mà chiến thắng trong cạnh tranh Quá trình đó đã thúcđấy lực lượng sản xuất phát triển.
- Kích thích tính năng động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng caochất lượng, cải tiến mẫu mã, tăng khối lượng hàng hóa và dịch vụ làm cho sản xuất gắnvới tiêu dùng Kinh tế thị trường chịu sự chi phối của quy luật giá trị, cạnh tranh, cungcầu, buộc mỗi người sản xuất tự chịu trách nhiệm về hàng hóa mình làm ra Mỗi ngườisản xuất đều chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị trường, sao cho sảnphẩm của mình được xã hội thừa nhận và cũng từ đó thì họ mới có thu nhập
- Thúc đẩy phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất vì thế mà phát huy được tiềmnăng, lợi thế của từng vùng, của đất nước để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
- Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tạo điều kiện ra đời nền sản xuất lớn xãhội hóa cao; đồng thời chọn lọc được những nhà sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành độingũ cán bộ quản lý có trình độ, đội ngũ lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu của đất nước
- Phát triển nền kinh tế thị trường làm cho lực lượng sản xuất phát triển sản phẩm xã hộingày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi người Như vậy, phát triển kinh
tế thị trường đối với nước ta là một tất yếu kinh tế một nhiệm vụ kinh tế cấp bách đểchuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại,hội nhập vào sự phân công lao độngquốc tế Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất khai thác có hiệu quảmọi tiềm năng của đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế thịtrường của Đảng là hoàn toàn đúng đắn
2.2-Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được sau 30 năm đổi mới
2.2.1 Đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN và những vấn đề đặt ra hiện nay
a Định hướng phát triển phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trên cơ sở vâ ›n dụng và phát triển lý luâ ›n của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và những điềukiện thực tiễn của Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định lựa chọn con đường tiến lên chủ
Trang 13nghĩa xã hội, bỏ qua chế đô › tư bản chủ nghĩa Điều này được Đảng ta thể hiện rất rõ tạiĐại hội VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta khẳng định: từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài là một tất yếu khách quan Thời kỳ quá độ ởnước ta do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn pháttriển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn Đến Đại hội VII củaĐảng (năm 1991), Đảng ta khẳng định: Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa Đến các Đại hội VIII, IX, X của Đảng, mặc dù có nhiều sự bổ sung
và điều chỉnh, nhưng nhìn chung, về cơ bản, Đảng ta đều nhất quán với Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII thông qua Dùlựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế đô › tư bản chủ nghĩa nhưng nhìnvào thành tựu to lớn sau khoảng thời gian dài đổi mới, chúng ta thấy được sự đúng đắn,hợp lý trong việc lựa chọn con đường phát triển của Đảng ta Như vậy, khi nhìn nhận vàđánh giá về sự phát triển thì chúng ta không chỉ thấy sự phát triển theo đường thẳng, đilên theo bậc thang từ thấp đến cao, mà còn phải thấy được những bước rút ngắn, bỏ quakhi có điều kiện thích hợp
b Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta được hình thành và phát triểntrên cơ sở phát huy vai trò làm chủ xã hô ›i của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiếtnền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo Nhà nước ngày càngtăng dần vai trò chủ thể quản lý và thu hẹp dần vai trò chủ thể về kinh tế
Theo đó, Nhà nước thực hiện quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hô ›i bằng pháp luâ ›t, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
và lực lượng vâ ›t chất, bảo đảm cho thị trường phát triển, tuân thủ các quy luâ ›t của kinh tếthị trường, tương thích với thông lệ của các nước; kiến tạo được môi trường vĩ mô; xâydựng kết cấu hạ tầng cơ sở và bảo đảm an sinh xã hô ›i; ban hành cơ chế chính sách vềphân bổ nguồn lực, phân phối và phân phối lại theo hướng bảo đảm tăng trưởng kinh tếgắn với tiến bô › và công bằng xã hô ›i; bảo vệ môi trường