Nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiên...10 2.1... Dẫn đến đến sự phá sản của các quan điểmduy hình về vật chất, k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA T HÀNH P HỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Giảng viên hướng dẫn: ThS ĐOÀN VĂN RE
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL
Môn: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN (MSMH: SP1031)
% Điểm BTL
Điểm
Họ và tên nhóm trưởng:Lê Minh Khoa Số ĐT: 0918225185 Email: khoa.leminh7777@hcmut.edu.vn
Trang 3MỤC LỤC
Trang
I MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục tiêu nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu của đề tài 3
II NỘI DUNG
Chương 1 Khái quát một số quan niệm của các nhà triết học về phạm trù vật chất 1.1 Quan niệm của triết học trước Mác về phạm trù vật chất 4
1.2 Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về phạm trù vật chất 7
Tóm tắt Chương 1 9
Chương 2 Nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiên 10
2.1 Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin 10
2.2 Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiên 12
2.2.1 Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát triển của triết học 12
2.2.2 Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên 13
Tóm Tắt Chương 2 14
III KẾT LUẬN……… 16
Trang 4IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 50 0
Trang 6I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vào thời cổ đại, các nhà triết học duy vật thừa nhận sự tồn tại khách quan của thếgiới vật chất, lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên mà họ đang tồntại Mọi thứ được các nhà triết học nhìn thấy được và cảm nhận được từ chính đôimắt của mình Điển hình như, đối với các nhà triết học Trung Quốc, họ cho rằngthuyết âm dương là hai lực đối lập của âm và dương nhưng chúng phụ thuộc lẫn nhaumới tồn tại được và có ý nghĩa Hay các triết gia Ấn Độ có thuyết ngũ hành, cho rằngngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, thổ là những yếu tố khởi nguồn cấu tạo nên mọivật, chúng tương sinh tương khắc lẫn nhau Còn ở các Phương Tây cổ đại có các yếu
tố nước và lửa Trong số này, lý thuyết của Đê-mô-crít được coi là tiên tiến nhất vì nócoi nguyên tử là dạng vật chất nhỏ nhất, vững chắc nhất và không thể phân chiađược Đặc điểm chung của các nhà duy vật cổ đại khi đưa ra quan niệm về vật chất:trực quan, đơn giản, không có cơ sở khoa học, họ xem điều gì quan trọng đối vớicuộc sống thì đồng nhất dạng vật chất đó (ví dụ: lửa là quan trọng => xác định vậtchất là lửa)
Vào thế kỉ XIX-XX đã diễn ra các cuộc cách mạng khoa học tự nhiên như:Rơnghen phát hiện ra tia X, Henri Becquerel phát hiện ra hiện tượng phóng xạ củanguyên tố uranium, Thomson phát hiện ra electron, Kaufmann đã chứng minh ra sựphụ thuộc vào vận tốc của khối lượng, Dẫn đến đến sự phá sản của các quan điểmduy hình về vật chất, không ít các nhà khoa học và triết học đứng trên lập trường duyvật tự phát đã hoang mang, dao động, hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật
Từ đó một số nhà khoa học thay đổi từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình sangchủ nghĩa tương đối, rồi rơi vào chủ nghĩa duy tâm
Nhưng Các-mác và Ăng-ghen đã đưa ra nhưng tư tưởng hết sức quan trọng về vậtchất, tất cả những cái mà tư tưởng loài người sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm, phêphán và thông qua phong trào công nhân mà kiểm tra lại Chủ nghĩa Mác, một mặt,
đã kế thừa toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân lọai; mặt khác, đãđược đúc rút ra từ việc tổng kết thực tiễn của phong trào cách mạng thời bấy giờ.Chủ nghĩa Mác không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế
1
Trang 7giới; trái lại, thiên tài của Mác ở chỗ là đã giải đáp được những vấn đề mà nhân loạitiên tiến đặt ra một cách khoa học, chính xác Chính cơ sở này quy định bản chấtcách mạng và khoa học trong chủ nghĩa Mác Sau này Lênin đã nghiên cứu nhữngthành tựu của khoa học, đặc biệt là những phát minh trong vật lý học; mặt khác, tổngkết thực tiễn phát triển của Chủ Nghĩa Tư Bản chuyển sang giai đoạn đế quốc và pháttriển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới, hình thành một giai đoạn mới, giai đoạnLênin Vậy với lối suy nghĩ của Các-mác, Ăng-ghen và V.I.Lênin có đi đúng hướnghay không ?
Những đóng góp của Lênin cũng đã có tác động đáng kể đến sự phát triển củangữ văn và khoa học tự nhiên hiện nay Những thành tựu của ông ấy đã giúp pháttriển sự hiểu biết của chúng ta về các thuật ngữ và khái niệm chính của phạm trù vậtchất, đồng thời cung cấp cho chúng ta các hướng dẫn để nghiên cứu thêm Vào thờiphục hưng, quan niệm coi triết học là “người mẹ” của các khoa học xuất hiện thời cổđại, bị lãng quên thời trung cổ, bây giờ được khôi phục Sau đó,quan niệm này pháttriển thành quan niệm coi triết học là “khoa học của các khoa học” trong thời cận đại.Thời này, triết học phát triển nhanh, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tựnhiên, một lần nữa lý trí triết học và hiểu biết khoa học vượt lên trên lý lẽ thần học
và niềm tin tôn giáo (phù hợp với nguyên tắc phủ định biện chứng trong triết họcMac – Lênin: lý trí – niềm tin – lý trí) Thời hiện đại, đặc biệt là khoa học tự nhiênđầu thế kỷ XIX đã có bước phát triển mới, chuyển từ giai đoạn thực nghiệm sang giaiđoạn khái quát lý luận Quan điểm siêu hình đã không còn thích hợp với sự phát triểncủa khoa học tự nhiên mà cản trở sự phát triển của khoa học tự nhiên Khoa học thờiđại chúng ta đang đi theo những chỉ dẫn của Lênin, chứng cớ là sinh học hiện đại,thiên văn học… đang ở trong một tình thế cách mạng tương tự vật lý học cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX song nó không rơi vào khủng hoảng, không "sa chân, lạc bước"vào chủ nghĩa duy tâm là vì số đông các nhà khoa học, kể cả một số ở các nước tư bản,
đã có bài học của vật lý học, đặc biệt là được sự hướng dẫn của phép biện chứng duyvật.Chúng ta càng thấy việc khai thác những tư tưởng ấy, hơn thế nữa việc vận dụngchúng một cách đúng đắn vào hiện tình của đất nước ta để mang lại kết quả tốt nhất làviệc làm có ý nghĩa thiết thực
2
Trang 8Để có thể hiểu sâu hơn về cách nhìn nhận thế giới của các nhà triết học vĩ đại Các-mác, Ăng-ghen và V.I.Lênin, Cũng như hiểu rõ được sự hình thành của phạm trù vật chất qua các thời kì và tầm ảnh hưởng của chủ nghĩa chủ nghĩa Mác-lênin thì nhóm chúng em đã chọn đề tài quan niệm của các nhà triết học về phạm trù vật chất, nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiên.
2 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, khái quát một số quan niệm của các nhà triết học về phạm trù vật chất Thứ hai, nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát
triển của triết học và khoa học tự nhiên
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với
sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiên
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất, làm rõ một số quan niệm của các nhà triết học về phạm trù vật chất Thứ hai, phân tích nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin.
Thứ ba, làm rõ ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự phát triển của
triết học và khoa học tự nhiên
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất làcác phương pháp: phương pháp thu thập số liệu ; phương pháp phân tích và tổng hợp;phương pháp lịch sử - logic;…
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2chương:
3
Trang 9Chương 1: Khái quát một số quan niệm của các nhà triết học về phạm trù vậtchất.
Chương 2: Nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đối với sự pháttriển của triết học và khoa học tự nhiên
4
Trang 10II NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC
VỀ PHẠM TRÙ VẬT CHẤT
1.1. Quan niệm của triết học trước Mác về phạm trù vật chất
Vật chất với tư cách là 1 phạm trù triết học có lịch sử khoảng 2500 năm, xuấthiện cùng với sự xuất hiện của triết học trong lịch sử Ngay từ khi mới ra đời, xungquanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt không khoan nhượng giữachủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Các nhà triết học duy tâm, cả chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan ,từ cổđại đến hiện tạo buộc phải thừa nhận sự tồn tạo của các sự vật hiện tượng của thế giớinhưng lại phủ nhận đặc trưng “tự thân tồn tại” của chúng Chủ nghĩa duy tâm kháchquan thừa nhận sự tồn tại hiện thực của giới tự nhiên, nhưng lại cho rằng nguồn gốccủa nó là do “sự tha hóa” của “tinh thần thế giới” Chủ nghĩa duy tâm chủ quan chorằng đặc trưng cơ bản nhất của mọi sự vật, hiện tượng là sự tồn tại lệ thuộc vào chủquan , tức là một hình thức tồn tại khác của ý thức Do đó về mặt nhận thức luận chủnghĩa duy tâm cho rằng con người hoặc là không thể , hoặc là chỉ nhận được cái bóng ,cái bề ngoài của sự vật , hiện tượng Thậm chí theo họ , quá trình nhận thức của conngười chẳng qua chỉ là quá trình ý thức đi “tìm lại” chính bản than mình dưới hìnhthức khác Như vậy, về thực chất, các nhà triết học duy tâm đã phủ định đặc tính tồntại của vật chất Thế giới quan duy tâm rất gần với thế giới quan tôn giáo và tất yếudẫn họ đến với thần học
Chủ nghĩa duy vật coi thực thể thế giới là vật chất tồn tại vĩnh cửu, tạo nên mọi sựvật hiện tượng và các thuộc tính của chúng Chủ nghĩa duy tâm tìm mọi cách phủnhận và làm sụp đổ phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật Chúng công kích, xuyêntạc phạm trù vật chất, cho rằng cơ sở tồn tại của thế giới là một bản nguyên tinh thầnnào đó Có thể là do ý Chúa, do ý niệm tuyệt đối tạo nên Vì vậy, họ cho rằng vật chấtchỉ là một phạm trù trống rỗng, phi hiện thực, một sự nhào nặn chủ quan của các nhà
5
Trang 11duy vật Phạm trù vật chất có quá trình phát sinh phát triển gắn liền với hoạt động thựctiễn của con ngư ời và sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên Việc tìm hiểu,khám phá về bản chất, cấu trúc của thế giới xung quanh con người luôn là một vấn đềđược quan tâm trong các trường phái triết học duy vật Vào thời kỳ trước khi có sựxuất hiện của triết học Mác thì người ta quan niệm, tìm mọi cách để tìm hiểu , để giảithích nguyên thể cơ bản đầu tiên cấu tạo nên thế giới Và vì vậy, phạm trù vật chấtđược xuất hiện từ khá sớm và được đặc biệt quan tâm Chủ nghĩa duy vật khẳng địnhthực thể tạo nên thế giới khách quan và các vật thể nói riêng đó là vật chất và nó tồntại vĩnh cửu Tuy nhiên, việc lập luận và lý giải về vật chất của các nhà triết học ở thời
kỳ trước Mác là không đồng nhất với nhau
* Vào thời kỳ cổ đại: ở Hy Lạp nói riêng, ở phương Tây nói chung các nhà triết học
duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể nào đó của nó
Ở phương Đông, quan niệm vật chất thể hiện qua một số trường phái triết học Ân
Độ và Trung hoa về thế giới Ấn Độ có Trường phái Lokāyata cho rằng tất cả được tạo
ra bởi sự kết hợp trong 4 yếu tố Đất- Nước - Lửa - Khí Những yếu tố này có khả năng.
tự tồn tại, tự vận động trong không gian và cấu thành vạn vật Tính đa dạng của vạnvật chính là do sự kết hợp khác nhâu của 4 yếu tố bản nguyên đó Phái Nyāya vàVaisésịka coi nguyên tử là thực thể của thế giới
Trung Hoa có Thuyết Âm Dương cho rằng nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biếncủa vạn vật là tương tác của những thế lực đối lập nhau đó là Âm và Dương Trong đó
âm là phạm trù rất rộng phản ánh khái quát, phổ biến của vạn vật như là nhu, tối, ẩm,phía dưới, bên phải, số chẵn
Dương cũng là phạm trù rất rộng đối lập với âm Phản ánh những thuộc tính nhưcương, sáng, khô, phía trên, số lẻ, bên trái Hai thế lực này thống nhất với nhau, chếước lẫn nhau tạo thành vũ trụ và vạn vật
Thuyết Ngũ hành của Trung quốc có xu hướng phân tích về cấu trúc của vạn vật đểquy nó về yếu tố khởi nguyên với tính chất khác nhau Theo thuyết này có 5 nhân tố
khởi nguyên là Kim- Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
6
Trang 12+ Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, ở phía Tây
+ Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, ở phía Đông
+ Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, ở phía Bắc
+ Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, ở phía Nam
+ Thổ tương trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa
Năm yếu tố này không tòn tại đọc lập, tuyệt đối mà tác động lẫn nhau theo nguyêntắc tương sinh, tương khắc với nhau tạo ra vạn vật Những tư tưởng về âm, dương,ngũ, hành, tuy có nhưng hạn chế nhất định nhưng đó là triết lý đặc sắc mang tính duyvật và biện chứng nhằm lý giải về vật chất và cấu tạo của vũ trụ
Ở phương Tây, các nhà triết học quy thế giới vào 1 chỉnh thể thống nhất từ đó đitìm bản nguyên vật chất đầu tiên cấu tạo nên thế giới đó, chẳng hạn người ta cho rằngvật chất là nước, không khí, lửa Một số quan điểm điển hình thời kỳ này là: Taketcoi vật chất là nước, Anaximen coi vật chất là không khí, Heraclitus coi vật chất là lửa,Anximangdo coi vật chất là hạt praton, đây là một thực thể không xác định về chất.Đặc biệt đỉnh cao của quan niệm về vật chất của thời kỳ Hy Lạp cổ đại là thuyếtnguyên tử của Leucipe và Democritos Theo thuyết này thì thực thể tạo nên thế giới lànguyên tử và nó là phần tử nhỏ bé nhất và không thể phân chia được, không thể xâmnhập và quan sát được, chỉ có thể nhận biết được bằng tư duy Các nguyên tử khôngkhác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình dạng Sự kết hợp các nguyên tử khácnhau theo một trật tự khác nhau sẽ tạo nên vật thể khác nhau Thuyết nguyên tử tồn tạiđến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mới bị khoa học đánh đổ và có hạn chế lịch sử nhấtđịnh Tuy nhiên nó có ý nghĩa to lớn đối với sự định hướng cho sự phát triển khoa họcnói chung đặc biệt là lĩnh vực vật lý sau này Đồng thời nó có tác dụng to lớn trongcuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thần học, tôn giáo
*Vào Thời kỳ cận đại: Vào thế kỷ 17, thế kỷ 18 nền khoa học tự nhiên, thựcnghiệm ở châu âu có sự phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là trên lĩnh vực vật lý học vớiphát minh của Newton, phương pháp nghiên cứu ở trong vật lý đã xâm nhập ảnh
7
Trang 13hưởng rất lớn vào trong triết học Chủ nghĩa duy vật nói chung và phạm trù vật chấtnói riêng đã có những bước phát triển mới chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng.
- Nicolai Copernic chứng minh mặt trời là trung tâm đã làm đảo lộn truyền thuyếtcủa kinh thánh và quan điểm của thần học về thế giới
- Quan điểm của Francis Bacon: coi thế giới vật chất tồn tại khách quan, vật chất làtổng hợp các hạt Ông coi tự nhiên là tổng hợp của những vật chất có chất lượng muônmàu, muôn vẻ
- Quan điểm của Pierre Gassendi: Phát triển học thuyết nguyên tử của thời cổ đạicho rằng thế giới gồm những nguyên tử có tính tuyệt đối như tính kiên cố và tínhkhông thể thông qua
Thế kỉ 18 các nhà triết học Pháp đã phát triển phạm trù vật chất lên một tầm caomới Đitơro cho rằng vũ trụ trong con người, trong mọi sự vật chỉ có 1 thực thể duynhất là vật chất Sự xâm nhập ấy đã chi phối sự hiểu biết, nhận thức về vật chất, mọihiện tượng tự nhiên đã được giải thích là được tác động qua lại giữa lực hút và lực đẩy,giữa các phần tử của vật chất, các phần tử ấy là bất biến Sử thây đổi của nó chỉ là mặt
vị trí, hình thể trong không gian Mọi sự phân biệt về chất bị xem nhẹ và đều được quygiải chỉ sự khác nhau về lượng Vì vậy, các nhà triết học duy vật thời kỳ này đã đồngnhất vật chất với khối lượng và coi vận động của vật chất chỉ là vận động cơ học vànguyên nhân của sự vận động đó là do tác động từ bên ngoài
Vào thế kỷ 19, trong nền triết học Đức cổ điển là Ludwig Feuerbach (1804), ôngchứng minh và khẳng định rằng thế giới này là vật chất và vật chất theo ông là toàn bộthế giới tự nhiên Nó không được sáng tạo ra mà nó tồn tại độc lập với ý thức và khôngphụ thuộc vào bất cứ ý niệm, ý thức nào
Sự tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong lòng của giới tự nhiên tuy nhiênL.Feuerbach lại không thấy đuợc mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, mối quan hệgiữa con người với xã hội, con người với giới tự nhiên Ông đã không xác định đuợcvật chất trong lĩnh vực xã hội, cung như hoạt động vật chất của con người là gì Mặc
8
Trang 14dù vậy những quan niệm của ông về vật chất đã có ý nghĩa lịch sử lớn lao trong cuộcđấu tranh chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, trong việc khôi phục những tư tưởng duy vậtthành hệ thống Và vì vậy, triết học duy vật của ông đã trở thành một trong những tiền
đề, nguồn gốc lý luận của Triết học duy vật Mác xít sau này
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trong vật lý học đã có nhiều phát minh quan trọng.Năm 1895 , Wilhelm Conrad Rontgen phát hiện ra tia X Năm 1897, Joseph JohnThomson phát hiện ra điện tử Năm 1898 – 1902 ,nhà nữ vật lý học người Ba Lan –Marie Sklodowska cùng chồng bà là Pierre Curie , nhà hóa học người Pháp , đã khámphá ra chất phóng xạ mạnh là poloni và radium Những phát hiện vĩ đại đó đã chứng tỏrằng nguyên tử không phải phần tử nhỏ nhất mà nó có thể bị phân chia, chuyển hóa.Năm 1905 , thuyết tương đối hẹp và năm 1916, thuyết tương đối tổng quát của AlbertEinstein ra đời đã chứng minh : Không gian, thời gian, khối lượng luôn biến đổi cùngvới sự vận động của vật chất Thế giới vật chất không có và không thể có những vậtthể không có kết cấu, tức là không thể có đơn vị cuối cùng, tuyệt đối đơn giản và bấtbiến để đặc trưng cho vật chất
Trước những phát hiện trên, không ít nhà khoa học và triết học đứng trên lậptrường duy vật tự phát, siêu hình đã hoang mang, dao động, hoài nghi tính đúng đắncủa chủ nghĩa duy vật Họ cho rằng nguyên tử không phải phần tử nhỏ nhất, mà có thể
bị phân chia, phân rã, bị “mất đi” Do đó vật chất cũng có thể biến mất, quy luật cơhọc không còn tác dụng gì trong thế giới vật chất “kì lạ”, thế giới tồn tại không có quyluật, mọi khoa học trở thành thừa và nếu có chăng cũng chỉ là sự sáng tạo tùy tiện của
tư duy con người; khách thể tiêu tan, chủ thể trở thành cái có trước , cái còn lại duynhất là chúng ta và cảm giác cùng tư duy của chúng ta để tổ chức những cảm giác đó Tình hình trên đã làm các nhà khoa học trượt từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêuhình sang chủ nghĩa tương đối, rồi rơi vào chủ nghĩa duy tâm V.I Leenin gọi đó là
“chủ nghĩa duy tâm vật lí học” và coi đó là :một bước ngoặc lớn nhất”, là “thời kỳ ốmđau ngắn ngủi” , là “ chứng bệnh của sư trưởng thành” , là “một vài sản phẩm chết,một vài thứ cặn bã nào đó phải vứt vào sọt rác” Để khắc phục tình trạng này, V.I lênin1
11,2 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.18, tr.388, 379.
9