1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỌC PHẦN văn HOÁ DU LỊCH chủ đề sổ TAY DU LỊCH điện BIÊN

36 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sổ Tay Du Lịch Điện Biên
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hoá Du Lịch
Thể loại Bài tập kết thúc học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỆN BIÊN (6)
    • 1.1. Vị trí (6)
    • 1.2. Bối cảnh lịch sử hình thành (7)
    • 1.3. Đặc điểm (8)
  • PHẦN 2. NỘI DUNG (10)
    • 1. Di tích lịch sử văn hóa (10)
      • 1.1. Khái niệm di tích lịch sử văn hóa (10)
      • 1.2. Các công trình di tích lịch sử văn hóa (10)
        • 1.2.1. Đồi Him Lam (10)
        • 1.2.2. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ (10)
        • 1.2.3. Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ (11)
        • 1.2.4. Đồi A1 (13)
        • 1.2.5. Sở Chỉ Huy chiến dịch Điện Biên Phủ (14)
    • 2. Danh Lam Thắng Cảnh (15)
      • 2.1. Khái niệm (15)
    • 3. Các lễ hội (18)
      • 3.2 Lễ hội Thành Bản Phủ (20)
      • 3.3 Lễ hội Hạn Khuống (22)
  • PHẦN 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH (23)
  • Ngày 1: HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN (Ăn: Trưa, Tối) (0)
  • Ngày 2: SỞ CHCD ĐIỆN BIÊN PHỦ - HỒ PA KHOANG CÁNH ĐỒNG MT – THÀNH BẢN PHỦ (Ăn: Sáng, Trưa, Tối) (24)
  • Ngày 3: ĐIỆN BIÊN – HÀ NỘI (Ăn: Sáng) (0)
  • PHẦN 4: KINH NGHIỆM DU LỊCH ĐIỆN BIÊN (28)
    • 1. Thời điểm (28)
    • 2. Phương tiện (cá nhân, công cộng, phương tại đi lại tại ĐB) (29)
    • 3. Nơi lưu trú ( khách sạn, homestay, (0)
    • 4. Ẩm thực (31)
    • 5. Những lưu ý khi du lịch Điện Biên (32)
  • PHẦN 5: NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM VỀ CÔNG TÁC GIỮ GÌN BẢO VỆ (33)
  • Tài liệu tham khảo (35)

Nội dung

Bối cảnh lịch sử hình thành: Điện Biên là vùng đất cổ, là trung tâm của người Việt Cổ, các di tích thuộc địa bàn như hang Thẩm Khương, Thẩn Búa đã chứng minh được con người từ thời t

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỆN BIÊN

Vị trí

Điện Biên là tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, có diện tích tự nhiên 9.541,25 km² Nằm cách thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây-Nam, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp Lai Châu, phía Tây Bắc giáp với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, và phía Tây cũng như Tây Nam giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc.

455 km đường biên giới Việt Nam – Lào và Việt Nam – Trung Quốc được nắm rõ, trong đó biên giới Việt Nam – Lào dài 414,712 km, biên giới Việt Nam – Trung Quốc dài 40,86 km Ngoài ra còn có tuyến giao thông đi đến Bắc Lào và Vân Nam (Trung Quốc) và đường hàng không tới Hà Nội với tần suất bay bình quân 2 chuyến/ngày, cùng tuyến đi Hải Phòng Đặc biệt, cửa khẩu Tây Trang là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc và của cả nước; Việt Nam và Lào đã thỏa thuận nâng cấp cửa khẩu này thành cửa khẩu quốc tế và khu kinh tế cửa khẩu đang được xây dựng.

Bối cảnh lịch sử hình thành

Điện Biên là vùng đất cổ, nơi được coi là trung tâm của người Việt Cổ Các di tích trên địa bàn, như hang Thẩm Khương và Thẩn Búa, cho thấy con người từ thời thượng cổ đã xuất hiện ở nơi đây, khẳng định lịch sử cư trú lâu dài và giá trị khảo cổ của vùng Tây Bắc.

Khoảng thế kỷ thứ 6, 7 tại vùng Vân Nam (Trung Quốc), quốc gia Nam Chiếu ra đời.

Thế kỷ 9 - 10, Tại Mường Thanh, người Lự phát triển khá mạnh.

Vào thế kỷ 11–12, người Thái đen tràn xuống chiếm Mường Lò (Nghĩa Lộ) Dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Pú Lạng Chọng, họ vượt qua Than Uyên và Văn Bàn, sau đó làm chủ Mường Lò và mở rộng quyền lực lên Mường La (Sơn La) và Mường Thanh (Điện Biên).

Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập Mặc dù vậy, thủ lĩnh người

Lự vẫn làm chủ Mường Thanh.

Năm 1831, Minh Mạng đổi thành tỉnh Hưng Hóa.

Vào năm 1841, vua Thiệu Trị đặt tên Điện Biên bắt nguồn từ châu Ninh Biên Điện có nghĩa là vững chãi, Biên là vùng biên giới, biên ải Do đó Điện Biên được hiểu là miền biên cương vững chãi của Tổ quốc.

Ngày 28/6/1909, ngày Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu.

Chiều 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, báo hiệu sự sụp đổ của Pháp ở Điện Biên Phủ và mở ra chiến thắng quyết định cho chiến dịch lịch sử này Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Ngày 7/5/1954, sau chín năm kháng chiến trường kỳ cùng quân dân cả nước và nhân dân Điện Biên, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và mở ra bước ngoặt quan trọng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp và đánh dấu sự tự chủ, độc lập của đất nước ta.

Ngày 26/9/2003, chính phủ đã ban hành Nghị định về việc thành lập thành phố Điện Biên Phủ.

Ngày 26/11/2003, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn việc điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Lai Châu Theo quyết định này, tỉnh Lai Châu được tách thành hai tỉnh là Lai Châu mới và Điện Biên, đánh dấu sự hình thành hai đơn vị hành chính độc lập tại khu vực Tây Bắc.

Đặc điểm

Địa hình nơi đây rất phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và bị chia cắt mạnh, xen kẽ cùng thung lũng và sông suối nhỏ Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với độ cao từ 200 m đến trên 1.800 m, tạo nên cảnh quan núi cao đồ sộ Địa hình hạ dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng từ Tây sang Đông, khiến thung lũng hẹp và dốc xen giữa các dãy núi cao.

Thung lũng Mường Thanh, rộng trên 150 km2, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của vùng Tây Bắc Do quá trình bào mòn mạnh, nơi đây hình thành những cao nguyên rộng như cao nguyên A Pa Chải và cao nguyên Tả Phình Bên cạnh đó, vùng đất này còn sở hữu nhiều dạng địa hình đa dạng khác như thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi, nón phong hóa và sườn tích, mang đến một bức tranh địa chất phong phú của khu vực Tây Bắc.

Thời tiết nơi đây mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa núi cao: mùa đông tương đối lạnh và ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều và có đặc tính thất thường, thể hiện sự phân hoá đa dạng của khí hậu; chịu ảnh hưởng của gió tây nên khí hậu khô và nóng.

Xét về mặt dân cư, khu vực này có 598.856 người (dữ liệu năm 2019) và là nơi tập trung của nhiều dân tộc, với 19 dân tộc anh em sinh sống, trong đó các nhóm tiêu biểu gồm Thái, Mông, Kinh, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, Lào, Hoa (Hán), Kháng, Mường, Cống, Xi Mun và Si La, cùng một số dân tộc khác Sự đa dạng dân tộc này tạo nên bức tranh văn hóa phong phú, đa ngôn ngữ và tập quán riêng biệt, đồng thời đóng góp tích cực vào thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Nùng; Phù Lá; Thổ; Tày; Sán Chay và dân tộc khác), tạo thành bức tranh đa sắc màu cho nền văn hóa Điện Biên

Cuối cùng là hệ thống sông: rất phong phú với ba hệ thống sông lớn là : Sông Đà

NỘI DUNG

Di tích lịch sử văn hóa

1.1 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa

Di tích Lịch sử - Văn hóa là tập hợp các công trình xây dựng, địa điểm, hiện vật, di vật và đồ vật có giá trị văn hóa, lịch sử và được xếp vào danh mục bảo vật quốc gia Những di tích này liên quan đến các sự kiện lịch sử và quá trình phát triển của văn hóa, xã hội của một dân tộc, một đất nước Việc bảo tồn và phát huy di tích giúp khẳng định bản sắc văn hóa, giáo dục cộng đồng và thúc đẩy du lịch văn hóa, đóng góp vào phát triển bền vững Di tích lịch sử - văn hóa vừa là bằng chứng sống động của quá khứ, vừa là nguồn cảm hứng cho đời sống văn hóa đương đại.

1.2 Các công trình di tích lịch sử văn hóa

Him Lam được coi là cửa ngõ của cụm cứ điểm do thực dân Pháp xây dựng đầu tiên tại một điểm cao gần 500 m Khu vực này gồm ba cứ điểm trên ba quả đồi nằm ngay cửa ngõ phía đông-bắc cánh đồng Mường Thanh, án ngữ con đường Tuần Giáo - Điện Biên và cách phân khu trung tâm khoảng 2,5 km.

Với vị thế nơi sóng ngọn gió nên

Him Lam đã xây dựng cho mình một vị trí kiên cố nhất của tập đoàn cứ điểm, được biết đến như một pháo đài do chính tay cố vấn Mỹ trên chiến trường thiết lập.

Triều Tiên đã hoàn thiện mô hình và trực tiếp chỉ đạo xây dựng tổ hợp phòng ngự tại Him Lam Tiểu đoàn 3 thuộc Bán lữ đoàn Lê Dương thứ 13 đảm nhận nhiệm vụ trấn giữ Him Lam, một đơn vị có bề dày lịch sử gần 100 năm Nơi đây được chuẩn bị đầy đủ lực lượng bảo vệ và trang bị vũ trang gồm súng và kính ngắm điện tử, cùng quân bị gồm xe tăng, pháo binh và không quân, với lực lượng chi viện sẵn sàng đáp trả nếu Him Lam bị tấn công Do đó tướng Na-va, tướng Cô-nhi và tướng Đờ Cát đều tin rằng trung tâm đề kháng Him Lam (Béatrice) đủ mạnh để đứng vững.

1.2.2 Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ

Tọa lạc trên đồi D1, tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ là một công trình nghệ thuật, văn hóa có giá trị nhân văn, lịch sử và tâm linh sâu sắc, tôn vinh chiến thắng lẫy lừng của Điện Biên Phủ đã chấn động địa cầu và gợi niềm tự hào dân tộc Điểm xuất phát của hành trình tham quan tượng đài là quảng trường lễ đài, một không gian rộng rãi để tổ chức các sự kiện văn hóa, xã hội và lễ hội Tại quảng trường có bức phù điêu đại cảnh lớn nhất Đông Nam Á, cao 7,5 mét và rộng 58 mét, được ghép từ 217 phiến đá xanh, thể hiện sự anh dũng của quân và dân Điện Biên.

Thanh Hóa, nặng gần 400 tấn Thể hiện toàn bộ chiến dịch Điện Biên

Phủ từ khi Bộ Chính trị chọn Điện

Biên Phủ đóng vai trò là điểm quyết định chiến lược của chiến dịch Đông-Xuân 1953-1954 cho đến khi ta bắt De Castries và tham mưu của tập đoàn cứ điểm vào chiều ngày 7/5/1954, mở đường cho lễ kỷ niệm chiến thắng của quân, dân và đồng bào địa phương vào ngày 13/5/1954 tại Mường Phăng Đường chính dẫn vào đài tưởng niệm là trục lễ đài dài.

320 bậc được chia thành 3 bệ lớn, tượng trưng cho 3 đợt tấn công của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Hai bên trục hành lễ là 56 cột mốc được làm từ đá xanh Thanh Hóa, khắc họa 56 ngày đêm kiên cường của bộ đội ta với cảnh tượng khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt.

Cụm tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ là nhóm tượng đồng cao nhất, lớn nhất và nặng nhất trong lịch sử Việt Nam từ trước tới nay; Tượng đài cao 12,6 mét, đúc từ đồng nặng 217 tấn, được đặt trên đế cao 3,6 mét và gồm 12 tầng, trong đó mỗi tầng có khối lượng lên tới 40 tấn; Chiến thắng Điện Biên Phủ đã trải qua hơn nửa thế kỷ, nhưng tượng đài vẫn sừng sững giữa đất nước và Điện Biên lịch sử nay đã trở thành một địa danh trường tồn gắn với sự phát triển bền vững của vùng đất Điện Biên Phủ anh hùng; Di tích lịch sử cách mạng này là bằng chứng muôn đời về sự tồn tại và phát triển bền vững của vùng đất Điện Biên Phủ anh hùng; Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên và là điểm dừng chân của du khách mỗi khi đến Điện Biên, nơi mảnh đất lịch sử hào hùng.

1.2.3 Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tọa lạc trên Quốc lộ 279, phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, là nơi lưu giữ và tôn vinh chiến thắng Điện Biên Phủ qua các thời kỳ lịch sử Công trình được khởi công xây dựng vào tháng 10/2012 trên diện tích khoảng 22.000 m2 và chính thức mở cửa đón khách vào ngày 5/5/2014 Với nội dung trưng bày phong phú và thiết kế kiến trúc ấn tượng, bảo tàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử, văn hóa và kiến trúc địa phương, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và kỹ thuật để xứng tầm với chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.”

Nhà bảo tàng được thiết kế theo hình dạng nón cụt với phần trang trí xung quanh gợi hình quả trám tượng trưng cho lưới ngụy trang của mũ lính, thể hiện sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại Toàn công trình gồm hai tầng: tầng hầm và tầng nổi Tầng hầm là khu vực đón tiếp khách tham quan, đồng thời là không gian học tập, giao lưu và giải trí Tầng nổi là không gian trưng bày cố định chuyên đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, khu vực panorama toàn cảnh và một số khu vực làm việc của nhân sự bảo tàng.

Triển lãm được tổ chức trên tầng nổi của Bảo tàng, có diện tích trưng bày 1.250 m2 với khoảng 1.000 tài liệu, hiện vật (đa dạng chất liệu), hình ảnh và bản đồ, được đánh giá là một trưng bày hiện đại, được bố trí khoa học và mỹ thuật với sự hỗ trợ của kỹ thuật và công nghệ tiên tiến Phần trưng bày được sắp xếp theo trình tự thời gian, gồm một không gian chung với 4 chủ đề chính: Sơ lược cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; Chiến dịch Điện Biên Phủ (âm mưu của thực dân Pháp, chủ trương của ta, diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ); Ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ đối với trong nước và thế giới; Sự giúp đỡ của cộng đồng thế giới trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngoài các tài liệu, mỗi phòng triển lãm đều có phối cảnh không gian với các mô hình giả về người, vật, đồ vật và cây cối, tạo nên một trải nghiệm thị giác sống động cho người xem Một không gian nổi bật khác là phần trưng bày về công tác quân y, với các mô hình bác sĩ và y tá chăm sóc thương binh trong các hầm trú ẩn ở cả phía ta và Pháp, cho thấy thực tế đau thương của chiến tranh và sự khốc liệt của súng đạn, pháo và bom mìn Cùng với đó, toàn bộ phía trong tầng được bố trí nhằm tăng tính tương tác và giáo dục cho khách tham quan.

Phần 2 của bảo tàng được thiết kế như một bức tranh panorama độc đáo, thể hiện toàn bộ chiến dịch Điện Biên Phủ qua các bức tranh liên hoàn vẽ trên tường trong cùng một không gian Những tác phẩm nối tiếp nhau tạo nên một hành trình lịch sử sống động, giúp du khách hình dung diễn biến chiến dịch từ những ngày đầu cho tới kết quả cuối cùng, đồng thời mang lại cái nhìn toàn diện về cuộc chiến và những yếu tố chiến thuật, tinh thần đồng đội và vai trò lãnh đạo.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được khái quát lên vẻ đẹp sinh động và sắc nét qua những hình ảnh 56 ngày đêm chiến dịch Điện Biên Phủ, nơi khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt trở thành biểu tượng cho gian khổ và quyết tâm của quân và dân ta Sự hoành tráng của thiết kế và các thủ pháp trưng bày độc đáo đã đưa người xem trở về những năm tháng lịch sử, chứng kiến cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam.

1.2.4.Đồi A1 Đồi A1 thuộc địa phận huyện

Mường Thanh, thành phố Điện Biên

Đồi A1 ở Điện Biên Phủ là một trong những cứ điểm quan trọng bậc nhất trong nhóm cứ điểm do thực dân Pháp xây dựng tại chiến trường Điện Biên Phủ Đồi A1 nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm nhiều vị trí công sự kiên cố và khu vực phòng thủ được bố trí để củng cố tuyến phòng ngự nơi đây.

Danh Lam Thắng Cảnh

Năm 1984, Danh lam thắng cảnh có thể được hiểu là: “Những khu vực thiên nhiên có quang cảnh đẹp, hoặc có công trình xây dựng kiến trúc cổ đẹp nổi tiếng” Cạnh đó, tiếng Hán Việt còn có thể hiểu là: từ“ Danh” đó có nghĩa là tiếng tăm lừng lẫy, tiếp đến là“ lam” của đình chùa, sau là

“thắng” hiểu là vẻ đẹp, còn “cảnh” nghĩa là phong cảnh

Luật di sản văn hoá (2001) đã thống nhất văn hóa là “Danh làm thắng cảnh đó là vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên hay là sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên vả công trình kiến trúc đã đem lại giá trị về thẩm mỹ,khoa học và lịch sử”.

2.2 Các điểm danh lam thắng cảnh

Pa Chải, hay còn gọi là cực Tây, là địa danh gắn với mốc số 0 và đồn biên phòng cửa khẩu A Pa Chải, nằm trên đỉnh Khoan La San thuộc xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; nơi đây ở ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc, biểu trưng cho sự tỉnh thức của dân tộc mỗi bình minh với hình ảnh con gà gáy vang vọng cả ba nước Điểm mốc giới được thống nhất cắm vào ngày 27/6/2005, làm từ đá granit ở giữa thành hình lục giác, với khối ô vuông và ba mặt quay về ba hướng khác nhau Đến Pa Chải, du khách ngỡ ngàng trước vẻ đẹp ngút ngàn của núi rừng, bờ sông Đà dữ dội mà thơ mộng, phóng mắt lên trời để đắm chìm trong biển mây trắng, sông Đà e ấp thoáng hiện rồi lặng như gương, hay dòng suối lấp ló trong rừng xanh; không gian được tô điểm bởi cung đường rợp hoa dại, dã quỳ vàng tươi và ánh hoàng hôn rực lửa, làm bừng lên sắc màu của miền sơn cước mỗi mùa đông Tại Pa Chải, các thực khách và du khách cùng chung lý tưởng trải nghiệm từng tấc đất của Tổ quốc qua những cung đường núi cao bạt ngàn và hoang vu nhưng vẫn đầy hùng vĩ, thơ mộng và huyền ảo giữa thiên nhiên.

Cánh đồng Mường Thanh là biểu tượng của vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và giá trị lịch sử hào hùng của những năm 1945 Vùng đất này đã có từ lâu, ghi dấu chặng đường kháng chiến hào hùng và lưu giữ các địa danh nổi tiếng như Mường Phăng và Mường Nha Cánh đồng Mường Thanh không chỉ là chứng nhân lịch sử mà còn là điểm đến giáo dục, du lịch và nghiên cứu về cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Qua các di tích và câu chuyện nơi đây, du khách có thể hình dung được ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết của người dân Tây Bắc Với vẻ đẹp tự nhiên và ý nghĩa lịch sử sâu sắc, Mường Thanh xứng đáng trở thành một điểm đến thu hút du khách, nhà sử học và các nhà nghiên cứu văn hóa.

Mường Luân,…tại huyện Điện Biên; hay Mường U thuộc tỉnh Phong Xa

Lỳ của Lào; Mường Va, Sốp Cộp nay thuộc tỉnh Sơn La Cùng với những chiến tích của ông cha về giá trị di tích lịch sử, nơi đây lưu giữ và tôn vinh các di tích nổi bật như Sân bay Mường Thanh, Cứ điểm Him Lam, đồi Độc Lập, các vị trí A1, C1, C2, D1 và Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, tạo nên một bối cảnh lịch sử sâu sắc cho du khách và nhấn mạnh vai trò của Sơn La trong lịch sử Việt Nam.

Và nơi đây từng được người Thái cho rằng là “nhất Than;nhì

Lò;tam Than;tứ Tấc” Trên mảnh đất Việt Nam nằm trong lòng chảo Điện Biên, cánh đồng

Mường Thanh như một kho tàng khổng lồ chứa đầy nương lúa và nương ngô, mang đến cảm giác thân thuộc của cánh đồng quê Bắc Bộ và vẻ đẹp hùng vĩ của núi non bao quanh Nơi đây lúa nước bốn bề ôm trọn bức tranh đồng quê, tạo nên một cảnh quan bình yên mà đầy sức sống Mùa lúa chín vàng như trái tim ngân nga, khiến Điện Biên được khoác lên một màu áo vàng diệu kỳ, làm khung cảnh nơi đây thêm phần rực rỡ và lôi cuốn du khách.

Nhìn lại dòng thời gian của lịch sử, ít ai lại không biết đến đèo Pha Đin - con đèo huyền thoại, hùng vĩ và đầy kiêu hãnh, như thể đang treo lơ lửng ở độ cao trên nghìn mét so với mực nước biển Đèo Pha Đin được xem là một trong tứ đại đèo miền Tây Bắc, tượng trưng cho sự kiên cường của vùng núi Tây Bắc và là điểm đến hấp dẫn cho du khách muốn khám phá vẻ đẹp hoang sơ cùng cung đường đèo đầy thách thức.

Với cảnh đẹp được mệnh danh là nơi cất giấu lịch sử, Dốc Pha Đin hiện lên như một huyết mạch nối liền các vùng miền Tây Bắc Nơi đây sở hữu vẻ đẹp ngút ngàn của đất trời, từ những dải đèo uốn lượn đến thung lũng xanh ngắt và bình minh rực rỡ trên đỉnh núi Không chỉ là một điểm đến du lịch lý tưởng, Dốc Pha Đin còn lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử của người dân địa phương, khiến mỗi hành trình ghé thăm nơi đây thêm phần ý nghĩa và khó quên.

2 tỉnh Sơn La - Điện Biên gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủ vào những năm 1954, nơi bom đạn từng oanh tạc nhưng con người nơi đây vẫn kiên cường, mang tinh thần xung phong và ý chí dũng cảm vô cùng lớn lao Sự trường tồn của họ in sâu vào tiềm thức, góp phần tạo nên niềm tự hào, ý nghĩa lịch sử và sự trân trọng giá trị văn hóa, cảnh quan của vùng cao Tây Bắc Lâu dần, dốc đèo nơi đây cũng thấm đẫm giọng nói của người Thái, với những từ như Phạ Đin và Phạ mang sắc thái văn hóa đặc trưng của địa phương.

Trời và đất là hai nhân tố quan trọng của đất nước, đã tạo nên ý nghĩa sâu sắc cho lịch sử và khiến danh lam thắng cảnh thêm phần trọn vẹn Sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người làm phong phú di sản, tăng giá trị du lịch và khơi dậy niềm tự hào về văn hóa truyền thống của dân tộc.

Nằm giữa lòng thung lũng lớn, thung lũng Mường Thanh được bao bọc bởi dãy rừng già, uốn quanh núi cao và trải rộng trên địa bàn xã Pá Khoang và xã Mường Phăng Bên cạnh hồ, dãy rừng trúc nổi lên với độ cao khoảng 900 m so với mực nước biển, tạo nên một bức tranh thiên nhiên ấn tượng Diện tích lưu vực nơi đây lên tới 2.400 ha, làm phong phú thêm cảnh quan đa dạng và hùng vĩ Với vẻ đẹp kỳ vĩ của đất trời Tây Bắc, nơi đây được ví như một danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long thu nhỏ, mang lại cảm giác vừa quen thuộc vừa đầy khám phá cho du khách.

Điện Biên nổi bật với du lịch sinh thái nhờ nhiều dãy núi trùng điệp hùng vĩ và một hồ nước đẹp nằm trên địa bàn xã gần sở chỉ huy chiến dịch Đây là điểm nhấn quan trọng của vùng cao, thu hút du khách bằng cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, khí hậu trong lành và sự hòa quyện giữa thiên nhiên với bề dày lịch sử của khu vực Du khách có thể trải nghiệm trekking giữa núi rừng, thư giãn bên hồ nước yên bình và tìm hiểu về chiến dịch lịch sử tại khu vực này, từ đó nâng cao nhận diện điểm đến và thúc đẩy du lịch sinh thái Điện Biên.

Mường Phăng, thuộc huyện Điện Biên, như một máng nước khổng lồ tập trung từ hàng trăm con sông, suối và thác đổ về các bản Đông Mệt 1, Đông Mệt 2 và Đông Mệt 3 Nơi đây được ví như một đảo hoa Đà Lạt mê hoặc bởi tiếng gọi của thiên nhiên, rực rỡ và huyền ảo với sắc hoa đào và phong lan đua nhau khoe dưới ánh nắng mai diễm lệ Những mái nhà của đồng bào Khơ-Mú, Thái và H’Mông hiện lên giữa bối cảnh sắc màu bản sắc dân tộc đậm nét, tạo nên một bức tranh thanh bình mà đầy sức sống.

Khi nhắc đến Điện Biên – Lai Châu, không thể bỏ qua Cầu Hang Tôm, cây cầu văng lớn nhất Đông Dương bắc ngang sông Đà và nối hai tỉnh cách nhau khoảng 100km Sau khi thủy điện Sơn La hoàn thành, cầu Hang Tôm bị ngập nước và được xây thành cầu Hang Tôm mới Vào cuối thập niên 1960, tuyến đường sông Đà bị chia cắt nên cầu Hang Tôm được xây dựng lại để nối liền hai bờ sông, tạo nên một thế mạnh đầy kỳ vĩ Đặc biệt, kết cấu của cầu gồm bốn nhịp với cốt thép chắc chắn Cái tên Hang Tôm gắn với vùng sông này bởi xưa có rất nhiều tôm từ nguồn trên cao đổ về Với danh hiệu "Đông Dương đệ nhất cầu", nơi đây thu hút du khách đến chiêm ngưỡng công trình lịch sử và là kỳ quan như một dấu mốc niềm tự hào, ký ức của dân tộc, được gọi là "Kỳ quan hùng vĩ giữa lòng sông Đà".

Các lễ hội

Tây Bắc nói chung và Điện Biên nói riêng được xem như xứ sở của hoa ban, loài hoa trắng tinh khôi mỗi độ xuân về bung nở trên núi rừng, tạo nên những đường chỉ thêu tự nhiên trên sườn đồi và góp phần làm đẹp cảnh sắc Tây Bắc Hoa ban không chỉ mang vẻ đẹp trong trẻo mà còn biểu trưng cho sức sống mãnh liệt, dù đất khô cằn hay trên vách đá cheo leo, khi mùa đông lạnh lẽo trôi qua lại đâm chồi nảy lộc và nở hoa kết trái Vì vậy hoa ban đã ăn sâu vào đời sống văn hóa và tinh thần của nhiều dân tộc ở Điện Biên, nổi bật là dân tộc Thái, những người yêu mến vẻ đẹp và trân trọng sức sống bền bỉ của hoa ban Từ kho tàng văn học dân gian đến những làn điệu dân ca, dân vũ, hình ảnh hoa ban đã đi sâu vào tiềm thức và đời sống tâm linh của đồng bào nơi đây, tạo nên một mối liên kết vô hình giữa hoa ban và tâm hồn Tây Bắc.

Truyền thuyết Hoa Ban kể về mối tình mãnh liệt nhưng đầy nước mắt giữa nàng Ban và chàng Khum, được ví như Romeo và Juliet của phương Tây; dù trái tim Ban dành cho Khum, cha nàng chê Khum nghèo nên gả cô cho con trai của nhà Tạo Mường Khi biết cha mẹ đang bàn chuyện cưới hỏi, Ban bỏ chạy tìm người yêu để cứu tình yêu; đúng lúc Khum đi xa, Ban buộc khăn piêu lên cầu thang nhà Khum và vượt núi, vượt đèo tìm Khum Kiệt sức, nàng ngã xuống chết trên đỉnh núi, và ở nơi ấy sau này mọc lên một loài hoa trắng muốt vào mùa xuân, được người Mường gọi là hoa Ban và xem là biểu tượng của tình yêu chung thủy Còn Khum trở về thấy Ban đã bỏ đi, theo tìm nàng và cũng kiệt sức mà chết, hoá thành con chim sống lẻ loi Mỗi khi xuân về, hoa Ban nở trắng núi rừng, trai gái Tây Bắc rủ nhau đi hội, ca hát, múa xoè và bày tỏ tình yêu đôi lứa.

Lễ hội hoa Ban, hay Lễ Xên Mường của người Thái ở Tây Bắc, được tổ chức vào tháng 2 âm lịch khi hoa ban nở trắng khắp núi rừng, thể hiện tấm lòng tôn kính và tri ân các vị tiền bối đồng thời cầu mong quốc thái dân an, bản Mường no ấm, mùa màng bội thu và gia đình hạnh phúc Đây là biểu hiện rõ nét của văn hóa tâm linh và đời sống tinh thần của đồng bào Thái, với nguyện thỉnh bái và mong ước sự bình an cho vùng đất Tây Bắc.

Trong tín ngưỡng của người Thái, Then là vị thần tối cao đứng đầu hàng ngũ thánh thần Họ thỉnh bái “Nàng Ban”, một nhân vật huyền thoại biểu thị sự trinh trắng của người thiếu nữ Thái và tình yêu đôi lứa thủy chung Đồng thời, họ thỉnh bái ma trời, ma Mường, ma núi, ma sông và các linh hồn khác để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật đơm hoa kết trái, mang lại hạnh phúc cho lứa đôi và phù hộ cho cuộc sống của dân bản luôn đầm ấm, yên vui.

Trong lễ hội tại hang Thẩm Lé, người dân mang lễ vật lên cúng gồm một con lợn, mấy cành ban, hoa ban, chai rượu, hai bát gạo, hai bát cơm, vài nén hương và trầu cau Thầy mo làm lễ cúng thần hang và thần rừng, cầu mong cho dân chúng có cuộc sống ấm no, sung túc.

Phần hội mở ra bằng niềm vui của thanh niên trai gái tham gia hái hoa ban, sôi nổi với nhịp vang của pí, khèn và trống chiêng Trai thổi khèn, gái dập dìu múa điệu Thẩm Lé - điệu múa dành riêng cho việc hái hoa ban Các chàng trai thi nhau trèo lên các cây ban hái hoa, một cây có khi 5, 6 người trèo lên Ở dưới, các cô gái lấy cái ớp (gần giống cái giỏ) đón những bông hoa thả xuống Anh chàng nào có ý với cô gái nào thì thả hoa đúng vào chỗ cô ấy; các cô cũng vậy, ưng anh nào thì cố mà đón lấy hoa của anh ấy.

3.2 Lễ hội Thành Bản Phủ.

Di tích lịch sử Thành Bản Phủ – Đền thờ Hoàng Công Chất được Nhà nước xếp hạng và công nhận là Di sản văn hóa quốc gia; Lễ hội Thành Bản Phủ được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Mỗi năm, nơi đây thu hút hàng vạn lượt khách du lịch và nhân dân các dân tộc đến tham quan, thắp hương tưởng niệm và góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa–lịch sử của địa phương.

Lễ hội Thành Bản Phủ được tổ chức hàng năm vào hai ngày 24 và 25 âm lịch nhằm tưởng nhớ thủ lĩnh tướng quân Hoàng Công Chất Đây là sự kiện văn hóa – lịch sử của địa phương, kết nối cộng đồng và du khách thông qua các hoạt động thể hiện di sản và tinh thần của Thành Bản Phủ Việc duy trì lễ hội góp phần bảo tồn di sản văn hóa và tôn vinh những đóng góp của Hoàng Công Chất trong lịch sử địa phương.

Ở địa phương này, Hoàng Công Chất cùng hai vị tướng người Thái là Ngải và Khanh đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc ở Điện Biên đánh đuổi giặc Phẻ và giải phóng Mường Thanh Để duy trì hoạt động lâu dài của phong trào, ông cho xây dựng Thành Bản Phủ làm căn cứ, từ đó củng cố lực lượng và tạo nền tảng cho sự tự chủ của vùng đất.

Phần lễ mở màn với âm vang oai hùng của tiếng trống, nhắc nhở về sự trang nghiêm của nghi thức chào cờ Sau khi cử hành nghi thức chào cờ xong, sẽ là một phút mặc niệm nhằm tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh thân mình để bảo vệ sự bình yên của Tổ quốc và mang lại cuộc sống an lành cho nhân dân.

Lễ giỗ tướng quân gồm ba phần chính: anh linh và nhạc đệm hùng tráng, nghi lễ rước và dâng lễ vật, đồng thời tái hiện lại lịch sử dân tộc bằng sân khấu hóa Đoàn lễ rước có đội múa rồng, múa lân và kiệu đều mặc trang phục lễ hội; đoàn tế lính nghĩa quân sẽ mặc trang phục như lính trận, tay cầm giáo mác hướng lên trời; đoàn cờ và lực lượng quần chúng phải hết sức nghiêm trang Màn tái hiện phong trào khởi nghĩa của tướng quân Hoàng Công Chất bằng sân khấu hóa có ba phần chính: bối cảnh lịch sử, tướng quân lãnh đạo quân và dân đánh đuổi giặc ngoại xâm Mường Thanh hân hoan trong ngày giải phóng và từ đó thể hiện tinh thần đoàn kết giữa đồng bào Tây Bắc và các tỉnh miền xuôi.

Phần hội diễn ra với sự háo hức chờ đón những niềm vui của người dân và du khách thập phương; ngoài các trò chơi dân gian lành mạnh, lễ hội còn có hoạt động nghệ thuật - văn hóa, triển lãm tranh, ảnh và di vật của nghĩa quân Hoàng Công Chất Bản Phủ có các trò chơi như đua ngựa giết Phẻ, bắn nỏ, kéo co, đi cà kheo, đẩy gậy, tung còn; cuộc thi nấu ăn và ẩm thực văn hóa các dân tộc được tổ chức đi kèm là biểu diễn văn nghệ của các đoàn nghệ thuật quần chúng Những cô gái trẻ dân tộc Thái duyên dáng trong trang phục truyền thống, tay cầm chiếc quạt sặc sỡ, nhịp nhàng trong điệu múa uyển chuyển, đằm thắm, tạo sự lôi cuốn cho khán giả Vòng xoè đoàn kết là đặc trưng của dân tộc Thái được tôn vinh trong lễ hội.

Hạn khuống là hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Thái ở Điện Biên, được tổ chức sau vụ thu hoạch vào tháng 11 hàng năm Lễ hội do bên gái tổ chức, thực chất là một cuộc vui nhằm tìm hiểu bạn đời và sau đó chia tay về nhà chồng Khi nhắc đến Hạn khuống, người Thái nghĩ ngay đến nơi hò hẹn và những lời ca thắm tình của thanh niên Thái, một nét sinh hoạt văn hóa cổ xưa của dân tộc Có thể nói lửa sân Hạn khuống càng thắm đượm tình người khi du khách và bạn bè gần xa đến giao duyên trên sân Hạn khuống trong ngày lễ hội, dịp tết đến xuân sang.

Ngoài căn nhà sàn thân quen của mình, khi mùa xuân về và bản Mường bước vào mùa lễ hội, nam nữ thanh niên Thái cùng nhau vào rừng đốn vài cây để dựng một sàn ở khu đất trống giữa bản, được gọi là Hạn Khuống, nơi nam nữ thanh niên Thái đến hát đối đáp Trên sàn Hạn Khuống chuẩn bị dụng cụ cho nam thanh, nữ tú hội tụ giao duyên: con gái Thái quay sợi, cán bông, dệt vải, thêu thùa bằng chỉ màu các loại, có bếp củi để đốt lửa; dụng cụ cho trai Thái gồm có lạt xanh, lạt đỏ, lạt trắng để đan hom, đan giỏ, đan ớp, hoặc đan các con vật để tặng bạn gái, người mà trai Thái có ý tỏ tình trong đêm khắp đối giao duyên Sàn Hạn Khuống dựng cao khoảng 1,2m – 1,5m, rộng chừng 0,6m, dài chừng 5m, xung quanh có lan can được trang trí hoa văn mang bản sắc dân tộc.

Khi đã vào cuộc, hai bên — trai Thái và các cô chủ Hạn Khuống — trình diễn lời đối đáp tinh tế và sắc bén, thể hiện sự thông minh và tài ứng biến của người trẻ Thái Khi các cô gái cảm phục tài ứng tác của các chàng trai trong hát đối, họ thả thang xuống, đưa tay mời các chàng trai lên sàn Hạn Khuống Trên sàn, phía gái tiếp tục thử thách tài ba, lòng kiên trì và cách đối đáp của bên trai: không cho ghế, lại khắp xin ghế ngồi, xin ống điếu thuốc lào, và cứ thế lặp đi lặp lại các bài khắp đối Sau một loạt các bài khắp, các chàng trai đã vượt qua thử thách và được các cô gái đồng ý cho dự cuộc vui đến thâu đêm Khi chàng trai và cô gái nào có tình cảm riêng, họ tự đến bên nhau để thổ lộ bằng những lời khắp đối ân tình.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH

Giới thiệu: Lễ hội Hoa Ban hàng năm dự kiến được tổ chức từ ngày 13 -

Ngày 15/3, Lễ hội Hoa Ban Điện Biên mang đến chuỗi hoạt động phong phú và hấp dẫn, cho du khách trải nghiệm đậm nét văn hóa dân tộc Điện Biên – Tây Bắc qua chương trình nghệ thuật "Về miền Hoa Ban", các triển lãm tranh và quà tặng, ẩm thực "Hương sắc Điện Biên", cùng các cuộc thi đấu thể thao và trò chơi dân gian, trình diễn trang phục và lễ hội dân tộc.

Ngày 1: HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN (Ăn: Trưa, Tối) Sáng:

07h30 : Xe và HDV có mặt tại điểm hẹn đón đoàn di chuyển ra sân bay

Nội Bài làm thủ tục đáp chuyến bay QH1692 của hãng hàng không

Bamboo Airways lúc 10h10’ đi Điện Biên.

11h20 : Đến sân bay Điện Biên Phủ - Điện Biên, xe và HDV địa phương đón đoàn về nhà hàng ăn trưa, nhận phòng nghỉ ngơi.

Chiều: Đoàn đi tham quan quần thể khu di tích lịch sử Điện Biên Phủ.

+ Đoàn dâng hương tại Nghĩa trang liệt sỹ Điện Biên, thăm bảo tàng lịch sử

+ Đồi A1 - căn cứ điểm quan trọng bậc nhất trong hệ thống phòng tuyến

5 quả đồi phía Đông bảo vệ khu trung tâm Mường Thanh

Hầm De Castries, hay còn gọi là Sở chỉ huy binh đoàn tác chiến Tây Bắc, là cơ quan đầu não của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và đảm nhận vai trò chỉ huy, điều phối toàn bộ hoạt động tác chiến ở khu vực Tây Bắc Địa danh này mang âm hưởng hào hùng và được xem như một mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, khắc họa tinh thần kiên cường và những chiến công trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tiếp tục hành trình dâng hương tại tượng đài chiến thắng và tham quan cầu Mường Thanh, sông Nậm Rốn, bản Co Mỵ - một trong tám bản văn hóa du lịch cộng đồng của Điện Biên Tại đây, du khách tìm hiểu cuộc sống thường ngày và phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Thái, đồng thời cảm nhận sự giao thoa giữa lịch sử và văn hóa địa phương.

Đêm nay đoàn thưởng thức ẩm thực Tây Bắc với các món đặc sản như thịt trâu gác bếp, cá suối nướng, măng đắng, gà nướng và canh bon, sau đó hòa nhịp vào chương trình lửa trại, dân vũ và nhạc truyền thống do các chàng trai cô gái dân tộc Thái biểu diễn, mang đến trải nghiệm văn hóa và ẩm thực đặc sắc cho hành trình du lịch Tây Bắc Đoàn nghỉ ngơi tại khách sạn sau những hoạt động sôi nổi.

Ngày 2: SỞ CHCD ĐIỆN BIÊN PHỦ - HỒ PA KHOANG CÁNH ĐỒNG MT – THÀNH BẢN PHỦ ( Ăn: Sáng, Trưa, Tối)

Sáng : Quý khách dùng điểm tâm sáng tại khách sạn Xe và HDV đưa quý khách tham quan :

Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ là nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và bộ chỉ huy chiến dịch năm xưa; từ căn hầm chỉ huy, đi ra triền núi phía sau rồi trèo lên đỉnh đồi Pú Cá, có thể quan sát toàn bộ thành phố Điện Biên Phủ, thung lũng Mường Thanh và các cứ điểm như đồi Him Lam, đồi Độc Lập, đồi D1, đồi C1, đồi A1, cầu Mường Thanh.

Hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nơi ở của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái Đây là một con đường hầm dài 320m, được đào xuyên vào lòng một quả đồi để tránh bom đạn đại pháo.

Khu di tích trên đồi Pú Cá lưu giữ các công trình lịch sử như chòi canh gác số 1, hầm thông tin liên lạc, đài quan sát, lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hầm của ban cố vấn Trung Quốc, nhà hội trường, hầm ban chính trị và Bộ chỉ huy chiến dịch năm xưa, là minh chứng sống cho thời kỳ kháng chiến Đây là nơi du khách có thể hình dung lại nhịp sống chiến trường và tham quan các di tích theo lối mạch lạc Quý khách tự do tham quan ngọn đồi Pú Cá ngày xưa, nay được gọi là đồi Chiến Thắng, để hiểu rõ hơn về lịch sử và tầm quan trọng của các công trình quân sự đã từng đóng vai trò trong chiến dịch.

Hồ Pá Khoang nằm ở độ cao gần 1.000 m so với mực nước biển và có hệ sinh thái đặc sắc với diện tích 2.400 ha, trong đó diện tích mặt nước chiếm khoảng 600 ha, sức chứa 37,2 triệu m3 nước Bên cạnh vai trò tham quan, hồ còn đảm nhận nhiệm vụ cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện, tưới cho hơn 4.000 ha lúa hai vụ trên cánh đồng Mường Thanh và bảo vệ môi trường sinh thái khu vực.

Trưa: Đoàn dùng cơm tại nhà hàng, về khách sạn nghỉ ngơi

Chiều : Đoàn tham quan cánh đồng Mường Thanh - cánh đồng lúa nằm giữa lòng chảo Điện Biên, cánh đồng Mường Thanh được ví như một

“cái kho” khổng lồ chứa đầy ngô lúa Từ cuối tháng 9, lúa mùa khu vực lòng chảo Mường Thanh bắt đầu chín rộ, khiến du khách ghé thăm ngỡ như đi giữa mùa vàng Tại đây quý khách có thể tới các thửa ruộng giữa cánh đồng chụp ảnh hoặc leo lên ngọn núi cao gần đó và nhìn ngắm phong cảnh ruộng bậc thang độc đáo của người Tây Bắc.

+ Xe HDV tiếp tục đưa đoàn đến Di tích Trại tập trung Noong Nhai - Tưởng niệm 444 người dân thường bị thảm sát bằng của bom napan của Pháp ngày 25/4/1954 Nổi bật ở khu tưởng niệm là bức tượng người phụ nữ Thái bế em bé bị bom giặc giết chết, thể hiện nỗi đau mất con của những người mẹ và qua đó gửi thông điệp, nhắc nhở đến thế hệ con cháu hôm nay mãi nhớ về lịch sử.

Di tích Thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất là chứng tích ghi dấu mốc lịch sử về công cuộc đánh đuổi ngoại xâm do tướng quân Hoàng chỉ huy, phản ánh tinh thần kiên cường và ý chí bảo vệ độc lập của dân tộc Đây không chỉ là di tích lịch sử mà còn là điểm đến giáo dục và du lịch, nơi những câu chuyện về các trận đánh và sự kiện lịch sử được bảo tồn và kể lại cho người đời nay và mai sau Tham quan di tích giúp du khách hình dung bối cảnh lịch sử, tôn vinh công lao của tướng quân Hoàng và những người đã đồng lòng bảo vệ đất nước.

Công chất lãnh đạo vào thế kỷ 18 được thể hiện qua những nét đặc trưng ghi nhận tại di tích và đền thờ Điểm nhấn nổi bật khi bước vào đền là cây khổng lồ mang tên “đại đoàn kết”, một cổ thụ được hình thành từ sự hòa quyện của ba loại cây phổ biến: cây si, cây đa và cây đề, tượng trưng cho sự gắn kết và sức mạnh tập thể của thời kỳ ấy.

Buổi tối, quý khách dùng bữa tại nhà hàng và thưởng thức đặc sản của núi rừng Tây Bắc, cảm nhận hương vị ẩm thực vùng cao Quý khách có thể tự do khám phá thành phố Điện Biên Phủ về đêm, tận hưởng không khí phố thị và vẻ đẹp của miền núi khi màn đêm buông xuống Sau đó, đoàn nghỉ đêm tại khách sạn tiện nghi để chuẩn bị cho hành trình ngày tiếp theo.

Ngày 3: ĐIỆN BIÊN – HÀ NỘI ( Ăn: Sáng) Sáng :

Quý khách dùng điểm tâm sáng trước khi tự do tham quan và mua sắm tại chợ Điện Biên, nơi quý vị có thể thưởng thức đặc sản vùng núi Tây Bắc và trải nghiệm không khí sôi động của chợ Bạn có cơ hội mua sắm các mặt hàng truyền thống đa dạng, từ đặc sản địa phương đến các sản phẩm thủ công độc đáo Đặc biệt, những bộ trang phục được làm bằng chất liệu thổ cẩm do bàn tay khéo léo của những người con gái Thái dệt nên mang đậm nét văn hóa và sự tinh tế của vùng cao.

Đúng giờ, xe đưa đoàn tới sân bay để làm thủ tục cho chuyến bay QH1691, khởi hành lúc 11h50’ về Hà Nội Khi đến sân bay Nội Bài, xe đưa Quý khách về điểm đón ban đầu và kết thúc chuyến đi.

Chương trình Điện Biên - Những sắc màu văn hóa

KINH NGHIỆM DU LỊCH ĐIỆN BIÊN

Ngày đăng: 21/12/2022, 16:03

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w