1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam

114 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Huệ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Bách Phúc
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ thuật Điện và Năng lượng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 6,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015

Nguyễn Thị Huệ

Trang 2

Xin cảm ơn các bạn bè, người thân, đồng nghiệp và các bạn học cùng khóa đã giúp

đỡ, góp ý xây dựng trong thời gian nghiên cứu, học tập và thực hiện luận văn

Xin kính chúc sức khỏe và chân thành cảm ơn !

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Huệ

Trang 3

TÓM TẮT

Tìm hiểu các mô hình phát triển thị trường điện:Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống, mô hình thị trường điện một người mua,mô hình thị trường điện bán buôn, mô hình thị trường điện bán lẻ

Nghiên cứu công cuộc đổi mới của ngành điện Trung Quốc, trải qua nhiều giai đoạn với những mục tiêu khác nhau để từng bước xây dựng thị trường điện Trung Quốc

Phân tích hiện trạng ngành điện Việt Nam: từ mô hình quản lý nhà nước, những chính sách phát triển ngành điện, cơ sở vật chất, và phân tích mô hình thị trường phát điện cạnh tranh đang được vận hành tại Việt Nam

Từ kết quả đã nghiên cứu về thị trường điện Trung Quốc sẽ rút ra những ưu, khuyết điểm Bên cạnh đó, sau khi phân tích hiện trạng ngành điện Việt Nam sẽ xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho sự phát triển thị trường điện Việt Nam

Trang 4

MỤC LỤC

Quyết định giao đề tài

2.1 Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống 4

2.3.1Mô hình phát điện cạnh tranh - Thị trường một người mua 8

2.4 Điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường 14 2.4.1 Vai trò của điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện 14 2.4.2 Nguyên tắc hoạt động của cơ quan Điều tiết Điện lực 15 2.4.3 Nguyên tắc xây dựng tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực 18 2.4.4 Các mô hình cơ quan điều tiết hoạt động điện lực 18

Trang 5

2.5.1 Vai trò của hệ thống thông tin năng lượng 20 2.5.2 Vai trò của môi trường kinh doanh đối với thương mại điện tử 21

Chương 3.KHỞI TẠO VÀ NHỮNG BƯỚC ĐI BAN ĐẦU CỦATHỊ TRƯỜNG

3.3 Tổ chức ngành công nghiệp điện trước khi cải cách 30 3.4 Quá trình cải cách ngành công nghiệp điện của Trung Quốc 31 3.4.1 Giai đoạn I: Đổi mới để thu hút vốn đầu tư (1986-1996) 31 3.4.2 Giai đoạn II: Cải tổ mới quản lý ngành điện (1997-2001) 37 3.4.2.1 Tách chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh 37

3.4.3 Giai đoạn III: Khởi tạo và phát triển thị trường điện trung quốc

3.4.3.2 Thử nghiệm thị trường bán buôn cạnh tranh 52

4.3.1 Tổng quan về nguồn điện trong hệ thống điện Quốc gia 64 4.3.2 Tổng quan về lưới điện trong hệ thống điện Quốc gia 67

Trang 6

4.4 Chương trình phát triển thị trường cạnh tranh tại Việt Nam 70

4.5.6 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho vận hành và giám sát hoạt động của

Chương 5 TỔNG KẾT ƯU KHUYẾT ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH HÌNH

THÀNH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TRUNG QUỐC VÀ XÁC ĐỊNH NHỮNG

Trang 7

6.2 Hạn chế 99

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 TTĐ: Thị trường điện

2 VCGM: Thị trường phát điện cạnh tranh

3 NMĐ:Nhà máy điện

4 NMTĐ:Nhà máy thủy điện

5 EVN: Tổng công ty Điện lực Việt Nam

6 PVN: Tập đoàn dầu khí Việt Nam

7 TKV: Tập đoàn cộng nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam

8 BOT: Các nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức BOT

9 EVNNPT: Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia

10 CNTT : Công nghệ thông tin

11 RMD: Đồng nhân dân tệ

12 SPC: Công ty điện lực quốc gia

13 SERC: Ủy ban điều tiết điện nhà nước

14 SMEPC: Công ty điện lực Thượng Hải

15 SB: Cơ quan mua duy nhất

16 MO: Cơ quan điều hành thị trường

17 SO: Cơ quan vận hành hệ thống

18 IPP: Nhà máy điện độc lập

19 PPA: Hợp đồng mua bán điện

20 ZPEPC: Công ty điện lực tỉnh Triết Giang

21 CFD: Hợp đồng chênh lệch

22 SPRC: Cơ quan giám quản điện lực quốc gia

23 SCADA: Hệ thống giám sát và thu thập dữ liệu

24 CfD: Contracts for Differences ( Hợp đồng khác biệt)

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1:Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống 5

Hình 2.5: Các đòi hỏi, áp lực đối với cơ quan Điều tiết Điện lực 17

Hình 3.2:Tỉ lệ phần trăm công suất của nhà máy điện theo cơ cấu nhiên liệu 27

Hình 3.4:Tổng chiều dài các đường dây truyền tải (≥35KV) 28

Hình3.6 :Cấu trúc hệ thống điện sau khi cải tổ lần thứ nhất 33

Hình 3.7: Tái cấu trúc của Công ty điện nhà nước (SPCC) 44

Hình 3.8: Công suất phần lắp đặt của 5 tập đoàn phát điện năm 2009 46

Hình 3.9: Cấu trúc tập đoàn lưới điện truyền tải và phân phối 47

Hình 4.1: Cơ cấu nguồn của Hệ thống điện quốc gia theo chủ sở hữu năm 2015 65 Hình 4.2:Cơ cấu nguồn của Hệ thống điện quốc gia theo năng lượng sơ cấp

Hình 4.3: Đặc điểm các nhà máy điện theo các nguồn năng lượng ở Việt nam 66

Hình 4.6: Sơ đồ cấu trúc cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ thị trường phát

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1:Giá bình quân trả cho các nhà máy điện năm 2002 34

Bảng 3.2:Biểu giá cho người sửdụng điện vùng đồ thị Quảng Đông 1999 34

Bảng 3.4: Các sáng kiến cải cách ngành điện của Trung Quốc 60

Bảng 4.1: Chiều dài đường dây và dung lượng máy biến áp truyền tải năm 2014 67 Bảng 4.2: Số lượng máy biến áp tính đến ngày 31/12/2014 68

Bảng 4.3: Danh sách nhà máy điện đã hoàn thiện CSHT CNTT tháng 9 năm 201386

Trang 11

Luận văn thạc sĩ Chương 1

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Đặt vấn đề

Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, một làn sóng cải cách thị trường hoá ngành điện lực đã hình thành tại các nước châu Mỹ và châu Âu như Mỹ, Chi Lê, Argentina, Anh, New Zealand, sau đó lan rộng sang các quốc gia khác nhu: Úc, Thụy Ðiển, Na

Uy, Ðức, Tây Ban Nha vào những năm 80-90, và trở thành xu huớng phát triển chung của toàn thế giới

Thị trường điện cạnh tranh đã được hình thành và đang hoạt động hiệu quả ở một

số nước Theo kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, áp dụng mô hình thị trường điện cạnh tranh đã và đang mang lại nhiều lợi ích: hiệu quả trong sản xuất kinh doanh điện tăng lên, đầu tư vào nguồn lưới điện được tối ưu hơn, giá điện giảm, chất lượng các dịch vụ về điện tăng lên rõ rệt, các nguồn năng lượng cho phát điện được sử dụng tối ưu hơn theo hướng có lợi cho khách hàng và môi trường

Để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, và tạo điều kiện thúc đẩy cho ngành Điện Việt Nam phát triển, cần có một cơ chế mới nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào ngành Điện Xuất phát từ những yêu cầu

trên ngành Điện cần “Xây dựng thị trường điện tại Việt Nam” tạo ra một cơ chế

cạnh tranh mới nhằm đáp ứng yêu cầu cho các hộ tiêu thụ về giá cả, công suất và điện năng chất lượng cao

Tuy nhiên, việc hình thành và phát triển một thị trường điện cạnh tranh không thể nóng vội, phải có những bước đi cụ thể, đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện về cơ cấu tổ chức, cơ sở pháp lý, cơ sở vật chất kỹ thuật một cách đồng bộ Chúng ta cần phải nghiên cứu, học hỏi quá trình đổi mới, các mô hình tổ chức, sự phát triển thị trường điện của các nước đi trước trên thế giới

Trung Quốc và Việt Nam có điều kiện phát triển ngành điện tương đương, có nền

Trang 12

Luận văn thạc sĩ Chương 1 tảng cơ sở vật chất và cách quản lý ngành điện tương đồng nhau Đồng thời, Trung Quốc đã thực hiện cải cách ngành điện trước Việt Nam và đã gặt hái được kết quả khả quan: nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao từ 7,5% đến 9,5% trong một thập kỷ gần đây Để đạt sự phát triển ổn định như vậy nhờ có một bước nhảy vọt về công suất lắp đặt từ 65,9 GW vào năm 1980 đến nay con số đó đã tăng lên 1,505GW đứng đầu thế giới về công suất lắp đặt

Vì vậy, chúng ta sẽ “Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường điện của Trung Quốc để định hướng tối ưu lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam”

1.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố

Trong chương trình học tập kinh nghiệm các nước có điều kiện phát triển tương đương, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đã dẫn đầu đoàn công tác

đi tham quan và học tập kinh nghiệm sắp xếp, đổi mới và tái cơ cấu ngành điện tại Trung Quốc từ ngày 22 đến 29/5/2005 Đoàn đã tìm hiểu và học tập kinh nghiệm gồm: Lộ trình sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp ngành điện, các kết quả thực hiện

Lộ trình cải cách do Chính phủ Trung Quốc đề xướng, quá trình hình thành và phát triển thị trường điện thí điểm tại Trung Quốc

1.3 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu quá trình hình thành điện lực Trung Quốc và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho nghành điện Việt Nam, từ đó có thể sử dụng các kết luận của Đề tài làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu sự phát triển của ngành điện Việt Nam, trên con đường thị trường hóa ngành Điện

1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn đề tài

a Nhiệm vụ

- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển thị trường điện của Trung Quốc

- Phân tích hiện trạng ngành điện Việt Nam

- Tổng kết những ưu khuyết điểm của quá trình hình thành và phát triển thị trường điện lực Trung Quốc, dựa vào tình hình hiện tại ngành điện Việt Nam để xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện Việt Nam

Trang 13

Luận văn thạc sĩ Chương 1

b Giới hạn đề tài

- Nghiên cứu lộ trình phát triển của thị trường điện Trung Quốc đến năm 2014 và rút ra những ưu khuyết điểm

- Nghiên cứu hiện trạng và xác định những kinh nghiệm cho ngành điện Việt nam

1.5 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập thông tin:

+ Thu thập thông tin từ các trang Website của Trung quốc và các nước có liên quan đến Ngành Điện trung Quốc

+ Thu thập thông tin trên các Tạp chí của Việt nam về Ngành Điện Trung Quốc và Ngành Điện Việt nam

- Nghiên cứu sự phát triển của Ngành Điện Việt Nam, các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Ngành Điện

- Trên cơ sở những thông tin và những nghiên cứu nói trên, có thể phân tích những

ưu khuyết điểm của quá trình phát triển thị trường điện Trung Quốc và xác định những kinh nghiệm tốt có thể áp dụng cho Việt nam

1.6 Nội dung cụ thể của Luận văn

Chương 2 Tống quan về thị trường điện cạnh tranh

Chương 3 Khởi tạo và những bước đi ban đầu của thị trường điện Trung Quốc

Chương 4 Hiện trạng ngành điện Việt Nam

Chương 5 Tổng kết ưu khuyết điểm của quá trình hình thành thị trường

điện Trung Quốc và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện Việt Nam

Chương 6: Kết luận

Trang 14

Luận văn thạc sĩ Chương 2

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH

2.1 Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống

Trong thị trường độc quyền, cả ba khâu phát điện – truyền tải – phân phối đều do một công ty điện lực quản lý nên không có sự cạnh tranh, khách hàng không có sự lựa chọn mà chính phủ giữ vai trò điều tiết và đưa ra mọi quyết định

- Với ngành điện lực, chi phí đầu tư gia nhập hoặc rút khỏi ngành điện là rất lớn, nên thực tế trước những năm 40 của thế kỷ 20 các công ty tư nhân không đủ khả năng và tiềm lực tài chính để tham gia kinh doanh điện năng Vì vậy mô hình độc quyền liên kết dọc là phù hợp nhất, các nước trên thế giới đều xây dựng các công ty điện lực theo mô hình này và đa số thuộc sở hữu nhà nước

- Mô hình này về lý thuyết là giảm thiểu được các chi phí cố định Chi phí giao dịch, phối hợp tốt nhất giữa đầu tư, vận hành, khai thác, công tác quản lý kỹ thuật, công tác điều độ, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống điện là ưu việt bởi cùng chịu sự điều hành, chi phối của một ông chủ

- Các công ty điện lực có nghĩa vụ cung ứng điện đến mọi khách hàng trên địa bàn phục vụ kể cả các phụ tải ở xa như khu dân cư, miền núi, hải đảo hoặc vùng nông thôn Ngược lại, khách hàng không có cơ hội về quyền lựa chọn người bán điện cho mình mà chỉ mua điện từ một công ty độc quyền

- Trong cơ chế này, các công ty điện lực cũng chủ trì tham mưu, đề suất về cơ chế chính sách quản lý nhà nước về các hoạt động điện lực

Hầu hết chính phủ các nước thường quản lý chặt chẽ giá bán điện dựa theo chi phí giá thành sản xuất do các công ty điện lực đệ trình, mô hình truyền thống thường cho phép thực hiện việc bù chéo giữa các khu vực khách hàng dùng điện Ví dụ: giá điện ở khu vực thành phố cao hơn ở khu vực nông thôn và miền núi để bù đắp cho chi phí đầu tư lưới điện ở các khu vực này Đối với các nước đang phát triển, công

Trang 15

Luận văn thạc sĩ Chương 2

ty độc quyền kết liên dọc có nhiều cơ hội được vay vốn từ các tổ chức tín dụng quốc tế với lãi suất ưu đãi thấp, thời gian gia hạn dài để xây dựng, phát triển các nhà máy và lưới điện

Hình 2.1 : Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống

-Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thập niên 1970, mô hình công ty điện lực truyền thống đã bắt đầu bộc lộ các khuyết điểm:

 Giá bán điện bao gồm chi phí giá thành và chi phí đầu tư hệ thống điện đã làm cho khách hàng dùng điện phải trả giá cho những công trình đầu tư không hiệu quả hay sự lạc hậu của thiết bị và công nghệ

 Cơ chế độc quyền đã không tạo động lực để các công ty điện lực giảm giá thành, tăng lợi nhuận và nhất là không phải xây dựng các chiến lược cạnh tranh giành thị trường

 Ngành công nghiệp được điều chỉnh theo truyền thống thường dẫn đến giá điện cao

 Trợ giá chéo giữa các loại khách hàng tạo nên sự hoạt động kém hiệu quả

Trang 16

Luận văn thạc sĩ Chương 2

 Kết quả là ngành điện lực có hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả đầu tư không cao

2.2 Khái niệm thị trường điện cạnh tranh

a Định nghĩa thị trường: Có nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường, ở mức độ

đơn giản thị trường được hiểu như nơi tập hợp các sự thoả mãn lẫn nhau giữa những người có nhu cầu bán và nhu cầu mua Trong thị trường, người bán có thể là người trực tiếp làm ra sản phẩm, dịch vụ hoặc có người trung gian giữa người mua và người sản xuất

Ở thị trường, với cùng một loại sản phẩm có thể có nhiều nhà sản xuất hoặc cung ứng, nhu cầu sử dụng lại có hạn nhưng nhà sản xuất nào cũng muốn mình chiếm lĩnh thị phần càng cao càng tốt, để tăng lợi nhuận Chính điều này tất yếu dẫn đến tính cạnh tranh trong thị trường và kết quả là hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, giá thành thấp, người tiêu dùng càng được hưởng lợi Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy vì lý do gì đó, một loại hàng hóa chỉ có một nhà cung ứng, người tiêu dùng không có cơ hội lựa chọn, nguyên nhân và động lực cạnh tranh không có, giá thành hàng hóa không giảm

b Định nghĩa thị trường điện: Môi trường để các bên sản xuất và tiêu thụ điện

tham gia thực hiện hoạt động mua bán điện với nhau theo các nguyên tắc định trước (giá, số lượng, chất lượng, vận chuyển) Thị trường điện cạnh tranh là thị trường mà trong đó sản phẩm là điện năng phải được bán bởi nhiều nhà cung ứng để người mua có quyền lựa chọn nhà cung ứng theo ý mình và được hưởng lợi từ sự cạnh tranh đó

Như vậy, khâu sản xuất điện năng muốn có thị trường cạnh tranh thì các nhà máy điện phải thuộc sở hữu nhiều công ty khác nhau, thay vì trực thuộc một công ty duy nhất quản lý và điều hành Khâu truyền tải và phân phối có đặc điểm là: trên một mặt bằng địa lý không thể để nhiều công ty cùng xây dựng nhiều lưới điện truyền tải và phân phối, do đó có thể chấp nhận một công ty độc quyền cung ứng dịch vụ

Trang 17

Luận văn thạc sĩ Chương 2 này Khâu kinh doanh điện năng muốn có cạnh tranh thì phải tạo cơ chế để có nhiều nhà cung ứng cùng tham gia thị trường

c Đặc thù sản xuất và tiêu thụ điện: tức thời, cung và cầu phải luôn cân bằng

d Cơ chế cung cầu trong thị trường điện:

- Cung là tổng năng lượng điện mà nhà sản xuất cung ứng cho thị trường

- Cầu là sản lượng điện năng cần thiết cung cấp cho các nhà truyền tải - phân phối

và các nhà tiêu thụ

- Quy luật hoạt động của nền kinh tế thị trường: đặc tuyến cung – cầu cắt nhau tại một điểm gọi là điểm cân bằng giữa giá cả và số lượng Điểm này gọi là điểm thăng bằng thị trường Cơ chế thị trường là xu hướng để cho giá cả thay đổi cho đến khi thị trường thăng bằng (có nghĩa là cho đến khi lượng cung cân bằng với lượng cầu)

e.Hoạt động giao dịch buôn bán trong thị trường điện: Hoạt động mua bán trong

thị trường điện cạnh tranh thông qua Trung tâm mua bán điện Trung tâm mua bán điện sẽ nhận các đồ thị phụ tải của khách hàng mua điện và các hồ sơ thầu của các nhà cung ứng năng lượng và thực hiện giao dịch đấu thầu Khi hoạt động đấu thầu hoàn tất, Trung tâm sẽ lên kế hoạch cho các nhà cung ứng kết nối theo như các hợp đồng

đã thắng thầu

f Lợi ích của việc hình thành thị trường điện:

Tất cả mọi người, từ khách hàng, chính phủ, công ty điện lực, đến các nhà đầu tư sẽ

có lợi từ chương trình cải cách ngành điện và sự hình thành thị trường điện Những

lợi ích này là:

- Hạn chế thiếu hụt công suất: Do hình thành thị trường điện, hình thành luật lệ rõ

ràng minh bạch, giá cả hợp lý sẽ thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nguồn điện đáp ứng nhu cầu phụ tải và phục vụ phát triển kinh tế

- Cải thiện hiệu suất, giảm chi phí, và gia tăng dịch vụ cung cấp điện: Do cạnh

tranh nên bắt buộc các nguồn phát phải nâng cao hiệu suất, đầu tư công nghệ tiên tiến, cắt giảm chi phí sản xuất, vận hành, và nâng cao các dịch vụ cung cấp điện

Trang 18

Luận văn thạc sĩ Chương 2

- Cải thiện độ tin cậy hệ thống và chất lượng điện năng: Các ràng buộc mới về

lưới điện, quy định về điều tiết điện lực tạo sức ép để cải thiện độ tin cậy hệ thống

và nâng cao chất lượng điện năng

- Phục vụ và bảo vệ khách hàng tốt hơn: Việc hình thành cơ quan điều tiết độc

lập tạo điều kiện phục vụ và bảo vệ khách hàng tốt hơn bằng các quy định pháp luật chặt chẽ

- Giá bán điện giảm và ổn định sau một thời gian thực hiện thị trường điện

2.3 Các cấp độ phát triển thị trường điện

Cấp độ phát triển thị trường điện thể hiện ai là người có quyền lựa chọn mua điện Các cấp độ này gồm có: thị trường một người mua, thị trường bán buôn cạnh tranh và thị trường bán lẻ cạnh tranh

2.3.1 Mô hình phát điện cạnh tranh - Thị trường một người mua

Mô hình này được coi là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới tự do hóa trong kinh doanh điện Mô hình một người mua cho phép các nhà đầu tư tư nhân xây dựng, sở hữu và quản lý các IPP Các công ty phát điện phải cạnh tranh để bán điện cho đơn vị mua điện duy nhất Đơn vị mua duy nhất độc quyền mua điện từ các nguồn phát và bán điện đến các khách hàng sử dụng điện Các công ty phát điện sẽ cạnh tranh để được xây dựng nhà máy và bán điện theo các hợp đồng mua bán điện ( PPA- power purchase Agreement) thỏa thuận giữa nhà sản xuất điện và đơn vị mua duy nhất Thực chất đây là một mô hình chuyển tiếp, được bắt đầu bằng việc cho phép cạnhh tranh trong lĩnh vực phát điện trong khi chưa có điều kiện để thiết lập các thiết chế của thị trường cạnh tranh đến tận khâu bán buôn và bán lẻ Mô hình bảo đảm rủi ro ít nhất cho các IPP, làm tăng trách nhiệm của các công ty điện lực mặc dù nó vẫn tạo động lực thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực phát điện Việc lựa chọn thời điểm đầu tư, vị trí đầu tư phụ thuộc vào các nhà lập kế hoạch nhiều hơn là của bản thân doanh nghiệp Thị trường phát điện cạnh tranh một người mua đòi hỏi phải chia tách chức năng của các khâu truyền tải và phát điện trong mô hình liên kết

Trang 19

Luận văn thạc sĩ Chương 2 dọc

Việc cho phép các nhà dầu tư tư nhân trong và ngoài nước đầu tư vào xây dựng các IPP sẽ giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho ngân sách của chính phủ đầu tư vào ngành điện, chia sẻ bớt các rủi ro khi đầu tư xây dựng các nhà máy điện Việc đa dạng hóa thành phần trong phát điện cũng là động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động giảm giá thành sản xuất điện của các nhà máy điện Trong giai đoạn đầu hình thành thị trường điện, có nhiều nước đã trải qua mô hình này, chủ yếu là các nước Đông Âu thuộc Liên Xô cũ và các nước đang phát triển như: Hàn Quốc, Nam Mỹ, một số nước Đông Nam Á, và tại một số tỉnh của Trung Quốc

Hình 2.2: Mô hình thị trường một người mua

Cơ quan mua

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Cơ quan mua

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Trang 20

Luận văn thạc sĩ Chương 2 hạn; ổn định được giá điện, giảm áp lực tăng giá

- Thu hút được đầu tư vào các nguồn điện mới, giảm nhẹ được yêu cầu vốn đầu tư

từ chính phủ cho ngành điện, là mô hình thích hợp cho thời kỳ có nhu cầu điện tăng với tốc độ cao, nhu cầu đầu tư nguồn điện mới lớn

- Không gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty phân phối hiện tại, do đó không ảnh hưởng trực tiếp với các khách hàng sử dụng điện, các công ty phân phối có đủ thời gian cho để tăng cường năng lực tài chính và quản lý, chuẩn bị cho các cấp độ cạnh tranh cao hơn trong tương lai

- Mô hình thị trường đơn giản nên hệ thống các qui định cho hoạt động của thị trường chưa phức tạp

- Nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường không lớn

Hạn chế:

- Đơn vị duy nhất được độc quyền mua nguồn điện từ các đơn vị phát điện sẽ có nhiều cơ hội cho các tiêu cực trong điều hành thị trường Vì vậy, đòi hỏi phải có mức độ điều tiết rất cao

- Mức độ cạnh tranh chưa cao Chỉ giới hạn cạnh tranh trong phát triển các nguồn điện mới và một phần cạnh tranh trong thị trường ngắn hạn Sức ép đối với các đơn

vị phát điện giảm chi phí, tăng hiệu quả chưa lớn Không có cơ hội cho các công ty phân phối lựa chọn nhà cung cấp

- Đơn vị mua duy nhất phải có năng lực tài chính đủ mạnh để đảm bảo thực hiện các PPA đã ký và đủ uy tín thu hút các nhà đầu tư mới

- Chưa có lựa chọn mua điện cho các công ty phân phối khách hàng

2.3.2 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh

Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh tạo ra sự canh tranh trong khâu phát và bán buôn điện Điểm khác biệt nổi bật đối với mô hình một người mua là các công

ty phân phối được quyền lựa chọn mua điện trực tiếp từ bất cứ công ty phát điện nào, không nhất thiết phải từ đơn vị mua duy nhất Tuy nhiên khâu bán lẻ điện đến

Trang 21

Luận văn thạc sĩ Chương 2 các khách hàng dùng điện vẫn độc quyền bởi các công ty phân phối quản lý địa bàn của mình Trong mô hình này sẽ xuất hiện một số công ty kinh doanh mua bán điện nhưng không sở hữu lưới điện Các công ty này sẽ thực hiện các hợp đồng mua điện

từ các công ty phát điện và bán điện cho các công ty phân phối

Trong mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh, các công ty phát điện sẽ tự do cạnh tranh và chịu các rủi ro trong đầu tư kinh doanh Các giao dịch mua bán điện năng được thực hiện thông qua các hợp đồng song phương hoặc thông qua thị trường tức thời hoặc dưới cả hai hình thức Thị trường điện có thể ở dạng tự nguyện hoặc bắt buộc Trong thị trường bắt buộc, tất cả điện năng bán buôn tại lưới truyền tải điều bắt buộc phải thực hiện thông qua thị trường Ưu điểm nổi bật của mô hình thị trường điện bắt buộc là số lượng giao dịch ít nên chi phí giao dịch ít có tranh chấp giữa các bên khi thực hiện các hợp đồng mua bán điện Nhược điểm cùa mô hình này là người mua chưa hoàn toàn được quyền lựa chọn phương thức mua điện phù hợp nhất Phần lớn các nước khi mở ra cạnh tranh điều nhanh chóng chuyển sang mô hình này Các nước hiện đang hoạt động theo mô hình này gồm: một số bang của Mỹ, phần các nước trong cộng đồng châu Âu, Singapore, philipine, một số bang của Ấn Độ

Ưu điểm:

- Đã xóa bỏ được độc quyền mua điện của đơn vị mua duy nhất trong thị trường một người mua

- Các công ty phân phối có quyền cạnh tranh mua điện từ nhà cung cấp Các khách

hàng tiêu thụ lớn được quyền lựa chọn nhà cung cấp

- Lượng điện mua bán qua thị trường ngắn hạn tăng lên đáng kể, tăng mức độ cạnh tranh

Hạn chế:

- Khách hàng tiêu thụ vừa và nhỏ chưa được quyền lựa chọn nhà cung cấp, vẫn còn độc quyền trong khâu bán lẻ điện

Trang 22

Luận văn thạc sĩ Chương 2

- Hoạt động giao dịch thị trường bán buôn phức tạp hơn nhiều so với thị trường một người mua, đòi hỏi hệ thống qui định cho hoạt động của thị trường phức tạp hơn

- Nhu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường lớn hơn so với một người mua

Hình 2.3: Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh 2.3.3 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Mô hình bản lẻ cạnh tranh là bước phát triển cao nhất, cuối cùng của cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh điện Trong mô hình này, cho phép cạnh tranh trong tất

cả các khâu phát điện, bán buôn và bán lẻ điện Vấn đề cơ bản của mô hình này là

sự chia tách hoàn toàn khâu phát điện và bán lẻ ra khỏi khâu truyền tải và phân phối, không còn độc quyền bán lẻ nữa Tuỳ theo từng bước phát triển thị trường, các khách hàng sẽ dần được quyền lựa chọn mua điện từ các công ty bán lẻ, các công ty bán lẻ lại được quyền lưạ chọn điện từ các công ty phát điện hoặc các đơn

vị bán buôn điện hoặc thông qua thị trường bán buôn điện Ưu điểm của mô hình

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Công ty phân phối

Trang 23

Luận văn thạc sĩ Chương 2 cạnh tranh bán lẻ là cho phép tự do kinh doanh và cạnh tranh trong kinh doanh, đầu

tư vào các khâu phát và phân phối điện, thông qua cạnh tranh, các công ty kinh doanh điện buộc phải tìm cách nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh Điện năng thực sự trở thành hàng hóa được giao dịch mua bán trên thị trường Kinh nghiệm của một số nước đã thực hiện mô hình canh tranh bán lẻ cho thấy tự

do hóa và cạnh tranh trong kinh doanh điện đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực Với sự tham gia kinh doanh điện của các doanh nghiệp cá nhân tư nhân và nhà nước, các công ty kinh doanh đặc biệt là các công ty phân phối đã hợp nhiều dịch

vụ gia tăng, đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng Mô hình này được ngành điện các nước trên thế giới phát triển rất nhanh trong những năm gần đầy, Hiện nay tại nhiều nước đã đạt được mô hình cạnh tranh bán lẻ toàn diện như: Anh, Bắc Âu, Australia, New Zealand, Argentina, một số bang của Mỹ, chile…

Hình 2.4: Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát

Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng

Lưới truyền tải & Thị trường bán buôn

Lưới phân phối & Thị trường bán lẻ

Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát

Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng

Lưới truyền tải & Thị trường bán buôn

Lưới phân phối & Thị trường bán lẻ

Trang 24

Luận văn thạc sĩ Chương 2

Ưu điểm:

- Mức độ cạnh tranh tăng rất nhiều, khách hàng dùng điện được hưởng lợi trực tiếp

từ cạnh tranh, được lựa chọn mua điện Xoá bỏ hoàn toàn độc quyền trong kinh doanh mua bán điện

- Chất lượng dịch vụ, chất lượng điện năng sẽ được tăng lên đáng kể; giá điện do cạnh tranh cao nên có thể giảm đáng kể

- Giảm dần tiến tới loại bỏ bù chéo trong kinh doanh phân phối và bán lẻ điện giữa các vùng trong cả nước

- Mức độ điều tiết trong thị trường giảm đi rất nhiều so với hai cấp độ trước

2.4 Điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường

2.4.1 Vai trò của điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện

Điều tiết được định nghĩa là việc thiết lập và đảo bảo hiệu lực thi hành các luật

lệ, quy định nhằm thúc đẩy vận hành hiệu quả và tính tối ưu thị trường điện Điều tiết thường chỉ áp dụng cho các ngành công nghiệp có lợi ích công cộng khá lớn, ví

dụ như ngành điện, khí đốt, viễn thông, cấp nước

Đối với ngành điện, cơ quan điều tiết là một mắt xích quan trọng cơ bản trong thị trường điện cạnh tranh Để đảm bảo thành công của việc đưa cạnh tranh vào ngành điện, cần thiết phải có một thể chế điều tiết rõ ràng, minh bạch, có một cơ quan điều thiết độc lập được trao đầy đủ quyền để chuyên trách thực hiện các chức năng điều tiết

Mục tiêu chính của điều tiết hoạt động điện lực là bảo vệ quyền và lợi ích cho khách hàng sử dụng điện và các nhà đầu tư Khách hàng sử dụng điện và các nhà

Trang 25

Luận văn thạc sĩ Chương 2 đầu tư cần được bảo vệ chống lại sự lũng đoạn thị trường và những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của thị trường điện Ngoài ra điều tiết còn nhằm thúc đẩy các lợi ích công cộng, tối đa hóa các lợi ích xã hội, các giá trị xã hội đồng thời với việc duy trì khả năng tài chính và nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành điện về lâu dài

2.4.2 Nguyên tắc hoạt động của cơ quan Điều tiết Điện lực

Cơ quan điều tiết điện lực là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức và giám sát thực hiện các mục tiêu, chính sách của chính phủ các chính sách về phát triển điện lực được xã hội chấp nhận Việc thực hiện các mục tiêu chính sách của chính phủ có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tiết điện lực Các hoạt động của cơ quan điều tiết điện lực đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu rất khác biệt (Hình 2.5):

- Đáp ứng các mục tiêu và chính sách đề ra cho phát triển của ngành điện cũng như các chính sách xã hội của chính phủ

- Phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

- Bảo vệ quyền lợi của người sử dụng

- Bảo vệ quyền lợi của người đầu tư

- Bảo vệ quyền lợi của các đơn vị hoạt động điện lực

- Thỏa mãn các yêu cầu của công luận

- Đáp ứng sự thay đổi về công nghệ

- Giảm thiểu các rủi ro khác

Theo kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới, muốn hoạt động hiệu quả cơ quan điều tiết điện lực cần: “phải độc lập với các đơn vị mà nó điều tiết, được bảo vệ khỏi các

áp lực chính trị và được trao toàn quyền để điều tiết thị trường bằng các quyết định

về chính sách và cưỡng chế thi hành, cơ quan điều tiết có quyền ra các phán quyết, xét sử để thực hiện các chức năng điều tiết và cưỡng chế một cách hiệu quả và rõ ràng Cơ quan điều tiết điện lực phải được cung cấp tài chính đầy đủ từ các nguồn

Trang 26

Luận văn thạc sĩ Chương 2 doanh thu tin cậy và dự tính được”

Để đồng thời đáp ứng được các yêu cầu đa dạng từ nhiều phía như trên, cơ quan điều tiết điện lực cần được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau:

- Cơ quan điều tiết điện lực cần phải độc lập về quyền lợi với các hoạt động của đơn

vị tham gia thị trường để tránh bị chi phối và dẫn tới hoạt động không khách quan

và kém hiệu quả, muốn vậy nguồn tài chính cho cơ quan điều tiết điện lực phải từ các nguồn ổn định không dễ bị thay đổi (chủ yếu là từ phí thị trường và phí giao dịch thị trường do các đối tượng tham gia giao dịch nộp qua cơ quan điều hành giao dịch thị trường)

Tính tự chủ cao:

- Cơ quan điều tiết điện lực phải có quyền tự chủ về tài chính, tự chủ về tài chính sẽ giúp cho các hoạt động điều tiết mạnh hơn trong triển khai thực hiện, đáp ứng đủ và kịp thời các yều cầu, diễn biến của thị trường, nguyên tắc này cũng phần nào giúp cho cơ quan điều tiết điện lực đảm bảo được tính độc lập

Tính minh bạch cao trong hoạt động:

- Cơ quan điêu tiết điện lực cần phải minh bạch trong tất cả các phán quyết, quyết định và hoạt động tài chính của mình Có “minh bạch” thì chính phủ và các bên tham gia thị trường mới có thể giám sát được các hoạt động điều tiết điện lực và loại bỏ hoạt động của cơ quan điều tiết sai lệch chính sách của nhà nước, sai lệch mục tiêu của phát triển thị trường điện Có minh bạch, các phán quyết, quyết định của cơ quan điều tiết điện lực sẽ có sức thuyết phục cao hơn đối với các đối tượng tham gia thị trường

Trang 27

Luận văn thạc sĩ Chương 2

Năng lực thực hiện:

- Năng lực thực hiện thể hiện ở chỗ có khả năng xem xét phân tích đánh gía, dự báo trước được diễn biến, xây dựng được các cơ chế chiến lược để đáp ứng được diễn biến, ra quyết định và cưỡng chễ thi hành Để thực hiện được nguyên tắc này cơ quan điều tiết điện lực cần tuân thủ các yêu cầu sau:

 Rõ ràng minh bạch trong các quyết định

 Tuân thủ chặt chẽ các qui định của pháp luật

 Nhất quán trong giải quyết và xử lý các vấn đề

 Đáp ứng thông tin kịp thời chính xác

 Đáp ứng được các điều kiện thay đổi của thị trường

Hình 2.5: Các đòi hỏi, áp lực đối với cơ quan Điều tiết Điện lực

Đáp ứng mục tiêu của chính phủ

Các rủi ro khác

Phù hợp với nền kinh tế

Đáp ứng mục tiêu của chính phủ

Thay đổi

công nghệ

Quyền lợi của người

sử dụng

Quyền lợi của đơn vị điện lực

Áp lực công luận

Quyền lợi của nhà đầu tư

Trang 28

Luận văn thạc sĩ Chương 2

2.4.3 Nguyên tắc xây dựng tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực

Tuỳ theo vai trò, chức năng và nhiệm vụ điều tiết trong từng cấp độ phát triển của thị trường điện mà nội dung hoạt động điều tiết và cơ cấu tổ chức cụ thể của cơ quan điều tiết điện lực được xây dựng và điều chỉnh cho phù hợp Tuy nhiên, cơ cấu

tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực cần được xây dựng sao cho luôn đáp ứng các nguyên tắc hoạt động nêu trên Tuỳ cơ cấu tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực có thể thay đổi qua các cấp độ thị trường nhưng tổ chức của các cơ quan điều tiết điện lực cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Phù hợp với hệ thống tổ chức văn bản pháp luật, liên quan tới các vấn đề về hoạt động doanh nghiệp, cạnh tranh, thanh tra, khiếu nại, tố tụng…

- Phù hợp với lộ trình phát triển thị trường và thiết kế chi tiết mô hình tổ chức và hoạt động của thị trường điện lực tại từng cấp độ

- Tuỳ theo từng cấp độ phát triển của thị trường, điều tiết phải được tập trung, tránh phân tán, chồng chéo làm giảm hiệu quả của hoạt động điều tiết

- Giảm thiểu các điều chỉnh lớn về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan điều tiết điện lực khi chuyển dịch qua các cấp độ của thị trường

- Xây dựng cơ quan điều tiết điện lực có đủ các chức năng, quyền hạn để đảm bảo điều tiết hoạt động điện lực có hiệu quả, đạt được các mục tiêu, chính sách của chính phủ đề ra

- Đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động độc lập và ổn định đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu, diễn biến của thị trường

- Có khả năng phù hợp chặt chẽ với hệ thống cơ quan hành pháp liên quan như: cơ quan quản lý cạnh tranh, thanh tra, cơ quan tư pháp để kiểm tra, giám sát, xử phạt

và cưỡng chế thi hành các quy định, quyết định về điều tiết trong giá trình điều tiết hoạt động điện lực

2.4.4 Các mô hình cơ quan điều tiết hoạt động điện lực

Việc chọn mô hình tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực có vài trò quan trọng

Trang 29

Luận văn thạc sĩ Chương 2 trong việc thực thi thành công điều tiết điện lực Tuỳ theo khuôn khổ pháp lý và mục tiêu chính trị của từng nước, việc lựa chọn mô hình tổ chức cơ quan điều tiết điện lực của từng quốc gia là tương đối khác nhau

Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình tổ chức chính của cơ quan điều tiết điện lực là:

- Cơ quan điều tiết điện lực độc lập

- Cơ quan điều tiết điện lực trực thuộc Bộ quản lý ngành

- Bộ quản lý ngành trực tiếp thực hiện chức năng điều tiết

Cơ quan điêu tiết độc lập:

Mô hình này, cơ quan điều tiết điện lực hoàn toàn độc lập với chức năng quản lý nhà nước của Bộ quản lý ngành Mô hình tổ chức này hiện được áp dụng cho cơ quan điều tiết điện lực tại Úc Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Iceland, Ý, Bồ Đào Nha, Thụy điển, Anh, Mỹ, Nam phi, Philipin, Mông Cổ cơ quan điều tiết điện lực ở các nước nêu trên thường được điều hành bởi một cơ quan, đối với các nước có nhiều bang, mỗi bang có một cơ quan điều tiết với đầy đủ các chức năng về điều tiết hoạt động điện lực

Theo mô hình này, cơ quan điều tiết điện lực thường là những cơ quan công cộng độc lập được trao quyền để điều tiết một số lĩnh vực nhất định của một ngành công nghiệp Cơ quan điều tiết điện lực có thể có một số quyền phán quyết như là đặt ra các mức phạt đối với những đơn vị điện lực không thực hiện những qui định của cơ quan điều tiết hoặc đóng vai trò của một quan tòa trong những vụ tranh chấp giữa các đơn vị điện lực tham gia thị trường điện

Cơ quan điều tiết trực thuộc Bộ quản lý ngành:

Cơ quan điều tiết trực thuộc Bộ quản lý ngành Nhưng được hoạt động tự chủ Phạm vi hoạt động của cơ quan điều tiết này cũng tương tự như cơ quan điều tiết độc lập Mô hình này được áp dụng tại Hungary, Hà Lan, Na Uy, cơ quan điều tiết điện lực trực thuộc Bộ hoạt động dựa trên một nguồn ngân sách riêng biệt, theo

sự quản lý tự chủ và có thể theo một khung pháp lý riêng Kinh nghiệm thực tế cho

Trang 30

Luận văn thạc sĩ Chương 2 thấy, các cơ quan điều tiết tự chủ trực thuộc Bộ ở một số nước lại được vận hành, hoạt động với một mức độ độc lập khá cao

Bộ quản lý ngành trực tiếp làm chức năng điều tiết:

Mô hình này được áp dụng ở một số nước như: Áo, Bỉ, CH Séc, Hy Lạp, Nhật Bản, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ, là các nước chưa hình thành thị trường điện cạnh tranh và ngành điện vẫn còn hoạt động chủ yếu theo mô hình tích hợp dọc, các hoạt động điều tiết tại Bộ phụ thuộc chủ yếu vào chính sách điều tiết của mỗi nước

2.5 Thương mại điện tử trong thị trường điện

2.5.1 Vai trò của hệ thống thông tin năng lượng

Hoạt động của thị trường cạnh tranh đã mang lại lợi nhuận kinh tế và ảnh hưởng

xã hội rất lớn Tuy nhiên, kinh doanh thị trường điện năng thời gian thực tế vẫn rất phức tạp do có sự khác nhau giữa các thị trường cổ truyền và điện thì không lưu trữ được, nên cần phải có thông tin rộng lớn trên thị trường Đó là lý do tại sao phát triển thị trường điện năng phải dựa trên thông tin và thương mại điện tử, là những

hệ thống tính toán và thương mại Không có Internet, mục đích thương mại không thể đạt được

Do yêu cầu thực tế, từ đầu những năm 1960 ngành công nghiệp điện bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin (IT) và trở thành một trong những nơi IT được sử dụng sớm nhất Phân thành 3 bước: Đầu tiên, IT được đưa vào quá trình sản xuất, giám sát và điều khiển tự động ở các nhà máy điện và trạm biến áp Thứ hai, IT chuyển sang dùng như công cụ chuyên biệt như tự động hóa truyền tải hệ thống điện, điều khiển công suất, thiết kế có hỗ trợ máy tính, hệ thống mô phỏng máy tính Thứ ba, ứng dụng IT để điều khiển và quản lý toàn bộ hệ thống điện và quản lý thị trường điện

Thị trường điện năng, bao gồm việc điều hành hệ thống, quản lý tải, sự hợp tác của các nhà cung cấp và khách hàng, truyền thống và thương mại điện tử, vì thế, hệ thống vận hành trở nên rất phức tạp và cần hệ thống đo đếm hoàn chỉnh đáng tin cậy và chính xác, hệ thống xử lý thông tin, hệ thống giám sát truyền thông tin, hệ

Trang 31

Luận văn thạc sĩ Chương 2 thống kế toán và các bộ luật, điều lệ

Toàn bộ các thủ tục bao gồm cung cấp, truyền tải, phân phối, và sử dụng điện, phải được phối hợp và quản lý trong thị trường điện duy nhất sao cho thị trường có thể đáp ứng nhu cầu của các đơn vị

Trong thị trường điện năng, số lượng thông tin là rất lớn, bao gồm việc thu thập

dữ liệu và sử lý dữ liệu, quản lý thị trường kinh doanh năng lượng điện, dịch vụ truyền tải, đấu thầu và các công tác thương mại khác Xuất bán thành phẩm cho nhà cung cấp nhu cầu, dịch vụ truyền tải, giá mua bán điện theo thời gian thực, giám sát

và quản lý tiến độ thực hiện hợp đồng, và những thứ tương tự như thế Vì vậy, hệ thống xử lý thông tin phải là hệ thống tốc độ cao và phải có độ tin cậy cao

2.5.2 Vai trò của môi trường kinh doanh đối với thương mại điện tử

Sự phát triển thương mại điện tử là một công trình xã hội mang tính hệ thống và phức tạp, không chỉ liên quan đến việc xây dựng cấu trúc nền tảng thông tin, mà còn phụ thuộc vào tín dụng thương mại, hệ thống trả tiền qua Internet, thẻ ID, các tiêu chuẩn, hệ thống giao nhận, hệ thống thuế, ban hành đạo luật, và sự bổ sung sửa đổi các luật liên quan và chế độ chính trị Nói cách khác, nó dựa vào 2 yêu tố cơ bản, một là ứng dụng rộng rãi kỹ thuật và một nữa là sử dụng các chính sách và môi trường thị trường Nghiên cứu sự tiến triển thương mại điện tử trong thị trường điện năng của nhiều nước có thể dễ dàng kết luận rằng khâu trì trệ chủ yếu của sự phát triển thương mại điện tử là những qui tắc môi trường thị trường và chính sách

Hệ thống quản lý thương mại:

Hệ thống quản lý thương mại đặt trên nền tảng của Internet, đóng vai trò quan trọng nhất trong thị trường điện năng Nó đưa ra một qui tắc cho tất cả các đơn vị tham gia thị trường, như các nhà máy điện và các đơn vị cung cấp điện

Hệ thống kế toán:

Hệ thống kế toán trong thời gian thực hiện phải giải quyết các trường hợp không chỉ trong điều kiện bình thường mà còn trong trường hợp vi phạm hợp đồng, hệ thống này phải phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế trong thị trường một cách chính

Trang 32

Luận văn thạc sĩ Chương 2 xác hợp lý

Hệ thống thanh toán trên Internet:

Để phát triển thị trường điện năng, trước tiên phải hoàn thiện hệ thống thanh toán trên Internet; ngược lại hiệu suất kinh doanh sẽ rất thấp

2.5.3 Kết luận

Trên cơ sở Intemet/Intranet, trong thế kỷ này thương mại điện tử sẽ là kiểu kinh doanh chính yếu ở các doanh nghiệp điện rất có ích cho việc vận hành thị trường năng lượng điện Thật ra, thị trường rất phức tạp và gặp hàng loạt trở ngại như chính sách quốc gia, hệ thống kinh tế, các qui định và luật lệ, cấu trúc thị trường và

kỹ thuật đo đạc liên quan, phương pháp tính kỹ thuật truyền tải và kỹ thuật tự động hóa Tuy nhiên, với nỗ lực của chính quyền và các chuyên gia có thể tiên đoán rằng

nó sẽ có một tương lai sáng sủa

Trang 33

Luận văn thạc sĩ Chương 3

Chương 3 KHỞI TẠO VÀ NHỮNG BƯỚC ĐI BAN ĐẦU CỦA

THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TRUNG QUỐC

3.1 Giới thiệu

Công cuộc đổi mới của ngành điện Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1980, trải qua nhiều giai đoạn, với những mục tiêu khác nhau ở từng giai đoạn,và đã gặt hái được kết quả khả quan Trong thập kỷ 2002-2011, công suất lắp đặt ở Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình 12% đã vượt qua tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước 11% mỗi năm.Để đạt sự phát triển ổn định như vậy nhờ có một bước nhảy vọt

về công suất lắp đặt, từ 65GW vào năm 1980 lên đến 319GW vào năm 2000, và đến năm 2014 con số đó đã tăng lên 1,505GW (Hình 3.1), sản lượngđiệnnăm 2014

là 5398 tỷ kWh và mức tiêu thụ điệnnăm 2014 là 5322 tỷ kWh Tuy nhiên, tính về sản lượng điện bình quân đầu ngườinăm 2014 là 3925,67(kWh/người) chỉ đứng thứ

69 trên thế giới.[34]

Cùng với xu thế tái cơ cấu ngành điện trên thế giới, Trung Quốc cũng đã xúc tiến nhiều nghiên cứu về xây dựng thị trường điện nhằm tạo những cơ hội phát triển mới.Nổi bật lên là giai đoạn từ 2002 cho đến nay Trung Quốc đã dấn bước vào con đường thử nghiệm, khởi tạo và từng bước xây dựng thị trường điện cạnh tranh

3.2 Sơ lược lịch sử phát triển ngành công nghiệp điện Trung Quốc

-Ngành công nghiệp điện của Trung Quốc ra đời trong thập niên 1880 của thế kỷ

19 Cơ sở nguyên thuỷ của ngành công nghiệp điện được hình thành bởi những nhà đầu tư tư nhân và chính phủ, hoạt động rải rác ở nhiều địa phương

-Năm 1882, nhà máy điện đầu tiên được xây dựng bởi một công ty của Anh tại Thượng Hải

-Năm 1888, chính quyền Tỉnh Quảng Đông của triều đại nhà Thanh đã cho xây dựng và lắp đặt một nhà máy điện tại thành phố Quảng Châu và đây được xem như

Trang 34

Luận văn thạc sĩ Chương 3 nhà máy sản xuất điện đầu tiên của Trung Quốc Nhiên liệu được sử dụng cho nhà máy điện này là than đá và năng lượng điện từ các nhà máy này chỉ được sử dụng

để thắp sáng đường phố Do sự gia tăng nhu cầu sử dụng điện của các gia đình giàu

có ở thành thịnên việc đầu tư vào ngành công nghiệp điện của nước này được thúc đẩy trong thập kỷ kế tiếp Chính quyền Trung Quốccũng như những công ty tư nhân trong và ngoài nướcđã xây dựng những hệ thống điện ở các địa phương để phục vụ cho các thành phố lớn như Thượng Hải, Thiên Tân, Bắc Kinh, Trùng Khánh, Vũ Hán Tuy nhiên, trong hơn 60 năm, những hệ thống điện này phát triển chậm chạp

vì đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh và thay đổi chế độ

-Năm 1949,nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập đã mang lại một

sự thay đổi quan trọng trong việc tổ chức và phát triển của ngành công nghiệp điện.Chế độ mới đã quốc hữu hóa ngành công nghiệp điện, vào thời điểm đótổng công suất lắp đặt của Trung Quốc là 1,85 triệu kW, và sản lượng điện hàng năm chỉ

-Một hệ thống cấp quốc gia gồm năm vùng được liên kết với nhau và nhiều hệ thống lưới điện cấp tỉnh dần dần phát triển Tuy nhiên, bất chấp sự gia tăng nhanh

về mọi mặt của ngành công nghiệp điện việc cung cấp điện luôn luôn tụt hậu so với việc gia tăng nhu cầu về điện theo kế hoạch phát triển của chính quyền trung ương Vào giữa thập niên 1970, việc thiếu hụt công suất quốc gia được dự kiến khoảng 5.000MWh hay 12% công suất lắp đặt

-Năm1979,chính quyền bắt đầu những cải tổ kinh tế để khắc phục những khó khăn

Trang 35

Luận văn thạc sĩ Chương 3 chung về kinh tế Những cải tổ ban đầu này được thực hiện trên toàn bộ nền kinh tế, nhưng chỉ thâm nhập vào lĩnh vực điện một cách từ từ và có chọn lọc.Để đối phó với tình trạng thiếu hụt nguồn cung cấp điện, các biện pháp cải cách trong lĩnh vực năng lượng đã được áp dụng từ những năm 1980.[18]

-Từ năm 1986, chính phủ Trung Quốc đã đưa ranhiều cải cách ngành công nghiệp điện,giúp Trung Quốc vượt qua tình trạng thiếu điện trầm trọng của cả nước vào cuối những năm 1990 và đưangành công nghiệp điện Trung Quốc hiện naytrở thành

hệ thống điện đứng đầuthế giới Những cải cách này sẽ được trình bày chi tiết dưới

đây(Mục 3.4Quá trình cải cách ngành công nghiệp điện của Trung Quốc)

 Về Phát điện

- Công nghiệpđiện Trung Quốc khởi đầu với những nhà máy quy mô nhỏ chạy bằng than đá và một số các trạm thủy điện được phát triển vào đầu thế kỷ 20

- Sau năm 1949, Trung Quốc thực hiện chính sách sử dụng các nguồn năng lượng

có sẵn, chủ yếu là than đá và thủy điện

+ Tài nguyên về than đá của Trung Quốc rất phong phú, tuy nhiên than có chất lượng tốt dùng cho việc phát điện lại tập trung tại miền Bắc, rất xa các trung tâm công nghiệp tại các vùng bờ biển phía Đông và Đông Nam Việc vận chuyển than, hay truyền tải điện được phát từ các khu vực hầm mỏ là một bài toán của ngành năng lượng Trung Quốc Do đó, việc sản xuất, vận chuyểnđể cung cấp than cho những nhà máy điện được đưa ra trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm.Thêm vào đó, việc trợ cấp giá than và việc kiểm soát nhập khẩu nhiên liệu được thực hiện như một phần của chính sách năng lượng quốc gia Kết quả đã làm tăng mức độ phụ thuộc vào than nội địa Công suất của các nhà máy chạy bằng than chiếm tỉ lệcao so với tổng công suất lặp đặt

+Tài nguyên về thủy điện của Trung Quốc rất đồi dào, sự phân bố của chúng chủ yếu tại phía Tây

- Trung Quốc bắt đầu phát triển điện hạt nhân vào thập niên 1980 Nhà máy điện nguyên tử đầu tiênđược xây dựng tại tỉnh Triết Giang là nhà máy điện Tần Sơn có

Trang 36

Luận văn thạc sĩ Chương 3 công suất là 300MW và đã được vận hành vào năm 1992

-Về quy mô các nhà máy phát điện, mặc dù nhiều nhà máy lớn đã được xây dựng trong suốt thời kỳ cải tổ, nhưng các nhà máy nhỏ hơn(nhỏ hơn 100MW) vẫn cung cấp hơn một nửa tổng công suất lắp đặt (Hình 3.2) Trong đợt cải tổ ngành công nghiệp điện lần thứ nhất vào giữa thập niên 1980, chính quyền các địa phương đã khuyến khích các doanh nghiệp phi chính phủ đầu tư vào việc phát điện, ưu đãi những nhà máy điện nhỏ, đòi hỏi vốn đầu tư thấp, thời gian xây dựng ngắn.[18]

- Năm 2014, nhà máy Tam Hiệp có công suất đứng đầu thế giới (22.500 MW), với sản lượng điện hằng năm là 92,2 TWh và Xiluodu có công suất đứng thứ 3 thế giới (13.860 MW) , với sản lượng điện hằng năm là 57,1 TWh

Trang 37

Luận văn thạc sĩ Chương 3

Hình 3.2:Tỉ lệ phần trăm công suất của nhà máy điện theo cơ cấu nhiên liệu [18]

Hình 3.3: Công suất theo kích cỡ đơn vị ( 2000 ) [18]

<100 MW 63%

100-125 MW 2%

200-270 MW 8%

300-360 MW 20%

500-660 MW 7%

Trang 38

Luận văn thạc sĩ Chương 3

 Truyền tải

- Năm 1949, chính quyền mới đã tiếp nhận một cơ sở hạ tầng điện lực yếu kém với

6500 km đường dây truyền tải (35KV và cao hơn) Các hệ thống truyền tải và phân phối đã được ưu tiên phát triển cao theo các kế hoạch trọng tâm và năm 2014 nó đã được tănglên hàng trăm lần kể từ đó (Hình3.4)

Hình 3.4:Tổng chiều dài các đường dây truyền tải (≥35KV) [18]

- Năm 1972, Trung Quốc đã xây dựng đường dây 330KV đầu tiên với chiều dài 534Km và cho đến năm 1981 thì đường dây 500KV mới được lắp đặt

- Sự phát triển mạng truyền tải điện của Trung Quốc tụt hậu so với sự phát triển của công suất phát điện, trong nhiều năm, các hệ thống truyền tải không tương xứng đã làm hạn chế việc lắp đặt các nhà phát điện bằng thủy điện và sử dụng than ở phía Tây của Trung Quốc, là vùng có nguồn tài nguyên phong phú Không thể đáp ứng nhu cầu của các trung tâm phụ tải ở phía Đông.Các hệ thống truyền tải điện yếu kém đã tạo nên sự tắc nghẽn trong trao đổi điện liên tỉnh và nội tỉnh

Sự yếu kém của cả truyền tải và phân phối trở nên rõ ràng hơn khi những nhà cung cấp điện không thể tiếp cận với một số lượng lớn người sử dụng vùng nông thôn ngay cả khi tình trạng dư thừa điện xuất hiện trong các thị trường điện lực vào cuối

Trang 39

Luận văn thạc sĩ Chương 3 thập niên 1990

- Từ năm 1998, chính quyền trung ương bắt đầu gia tăng đầu tư vào các hệ thống truyền tải và phân phối [18]

 Tiêu dùng điện

-Kể từ năm 1949, chính quyền Trung Quốc đã hướng chiến lược phát triển kinh tế vào công nghiệp hoá.Do các nguồn tài chính có hạn,sản xuất hàng hoá tiêu dùng và công nghiệp dịch vụ buộc phải nhường bước để tăng cường tập trung cơ sở hạ tầng vào các lĩnh vực công nghiệp nặng

-Cấu trúc của việc tiêu thụ điện cả nước đã phản ánh đầy đủ những ưu tiên phát triển này Hình 3.5 cho thấy khu vực công nghiệp nặngchiếm hơn 80% tiêu thụ điện quốc gia trong năm 1980 sau 30 năm phát triển theo kế hoạch trung ương

Hình 3.5: Phân bố công suất theo ngành [18]

Công nghiệp Nông nghiệp Giao thông Thương mại

Trang 40

Luận văn thạc sĩ Chương 3 -Một đặc điểm điển hình khác của sự phát triển điện Trung Quốc không giống như một số nước đang phát triển là tiêu thụ điện trong sản xuất nông nghiệp đã chiếm một phần nhỏ,và kết hợp sử dụng điện ngoài giờ cao điểm Đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế tăng tốc trong thập niên 1980 và 1990, phần tiêu thụ điện nông nghiệp đã trượt 10% xuống còn chỉ 4% của tổng tiêu thụ điện quốc gia [18]

3.3Tổ chức ngành công nghiệp điện trước khi cải cách

Ngành công nghiệp điện Trung Quốc trước khi bắt đầu cải tổ giống hình thức của nhiều nước về mặt cấu trúc kinh tế và cơ chế

Thứ nhất, từ năm 1949 ngành công nghiệp điện được quốc hữu hóa Theo lý thuyết

tất cả tài sản thuộc về toàn dân, tuy nhiên trên thực tếchính quyền trung ương đã thực thi hoàn toàn cácquyền sở hữu Chính quyền chỉ đạo việc quản lý tất cả các tài sản, phân bổ các khoản thu mà chúng sản sinh theo lợi ích tốt nhất của quốc gia, như ngân sách quốc gia quy định Các tài sản được quốc hữu hóa và được vận hành bởi những doanh nghiệp nhà nước, kết hợp việc phát điện, truyền tải và phân phối, hoạt động với độc quyền trong các lĩnh vực dịch vụ Các doanh nghiệp nhà nước được đặt dưới sự giám sát hành chính của Bộ công nghiệp điện

Thứ hai, toàn bộ nền công nghiệp được tổ chức như hệ thống phân cấp quốc gia

thống nhất Bộ công nghiệp điện kiểm soát hệ thống trong mọi giai đoạn quan trọng Chính quyền trung ương lập kế hoạch xác định chính sách và chiến lược năng lượng dài hạn của quốc gia.Thông qua việc khảo sát và phát triển công nghệ, kinh phí đầu tư, lựa chọn địa điểm đặt nhà máy, thiết kế và xây dựng, thậm chí đến cả các quy tắc hoạt động, những lịch biểu phức tạp, và những phân bổ công việc hàng ngày và hạn ngạch người dùng Các doanh nghiệp nhà nước là những xí nghiệp không bao giờ độc lập về mặt quản lý Họ là những đơn vị hành chính có nhiệm vụ thực hiện chỉ đạo của chính phủ

Thứ ba,doanh nghiệp nhà nước không chỉ là các đơn vị sản xuất của chính quyền

mà còn phải đảm bảo đời sống xã hội cho cán bộ công nhân viên của họ Nói chung, chính phủ đã giaocho các doanh nghiệp nhà nước một nguồn ngân sách được trích

Ngày đăng: 21/12/2022, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm