PHẦN MỞ ĐẦUQuy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật quan trọng nhấtcủa phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin; là bản chất, hạt nhân củaphép biện chứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
Ở VIỆT NAMLỚP L10 - NHÓM 12 - HK 201 NGÀY NỘP: _/11/2020 Giảng viên hướng dẫn: An Thị Ngọc Trinh
Nguyễn Nam Quốc 1914862
Nguyễn Thảo Trang 1915582
Huỳnh Ngọc Như Hảo 1913269
Lê Chơn Minh Đạt 1911007
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2MỤC LỤC
1 PHẦN MỞ ĐẦU 4
2 PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP 5
1.1 Những khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Khái niệm mặt đối lập 5
1.1.2 Khái niệm thống nhất giữa các mặt đối lập 5
1.1.3 Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập 6
1.1.4 Quan hệ giữa sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập 7
1.1.5 Sự chuyển hóa của các mặt đối lập 7
1.2 Các loại mâu thuẫn 8
1.2.1 Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản 8
1.2.2 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu 9
1.2.4 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng 10
1.3 Vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển 11
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận 12
Chương 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀO THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 12
2.1 Đặc diểm thành phần kinh tế nhà nước 12
2.1.1 Sự xuất hiện của thành phần kinh tế nhà nước 12
2.1.2 Tiến trình phát triển 12
2.1.2.1 Thời kì trước đổi mới 12
2.1.2.2 Thời kì đổi mới 13
2.1.3 Quan niệm về kinh tế nhà nước và đặc điểm kinh tế nhà nước torng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 13
2.1.4 Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 14
Trang 32.2 Đánh giá thực trạng việc liên hệ vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh
giữa các mặt đối lập vào hoạt động kinh tế Việt Nam 15
2.2.1 Những mặt tích cực và nguyên nhân 15
2.2.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 17
2.3 Những biện pháp khắc phục hạn chế 19
3 KẾT LUẬN 19
4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
3
Trang 41 PHẦN MỞ ĐẦU
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật quan trọng nhấtcủa phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin; là bản chất, hạt nhân củaphép biện chứng duy vật, bởi nó đề cập đến vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của phépbiện chứng duy vật – vấn đề nguyên nhân, động lực của sự vận động và phát triển
Theo V.I Lênin, “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống
nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm” 1 Cũng như nhữngquy luật Triết học khác, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nhữngmối liên hệ phổ biến, khách quan, bản chất, bền vững tất yếu giữa các đối tượng vànhất định tác động khi có các điều kiện phù hợp Vì vậy, việc nhận thức được quy luậtthống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là rất quan trọng trong việc nhận thức thếgiới, từ đó làm chủ được giới tự nhiên
Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngượcnhau Trong phép biện chứng duy vật, chúng được gọi là những mặt đối lập Mâu
thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cách vừa thống
nhất, vừa đấu tranh; vừa đòi hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt
đối lập Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng cũng như mọi lĩnh vực
của đời sống Từ tự nhiên, xã hội cho đến tư duy của con người… tất cả những lĩnhvực đó nếu thiếu đi mâu thuẫn cơ bản tạo thành sự vật, hiện tượng đó thì bản thân sựvật, hiện tượng không còn khả năng tồn tại Mâu thuẫn có từ khi sự vật, hiện tượngxuất hiện và chính nó là động lực cho sự phát triển, là nguồn gốc của sự vận động bêntrong sự vật, hiện tượng
Đối với nền kinh tế Việt Nam cũng vậy, nền kinh tế của nước ta hiện nay có nhiềuthành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu Song, sở hữu nhà nước và thành phần kinh
tế nhà nước là đặc trưng, giữ vai trò chủ đạo và là một trong các yếu tố quan trọng đảmbảo cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Mặc dù vậy, thành phần kinh tế nhà nước cũng chứa đựng trong nó nhiều mâu thuẫngiữa các mặt đối lập Cơ bản nhất là các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cáchxuyên tạc, chống phá khi chỉ dựa vào những yếu kém, hạn chế của kinh tế nhà nước
mà cho rằng thành phần kinh tế này không thể giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế; họ chorằng “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Việt Nam đã phải trả giá quá đắt” Từ đó,
họ đòi xóa bỏ vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này; đòi tư nhân hóa hết doanhnghiệp nhà nước, “khuyên” ta nên bỏ cụm từ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”
Để đi sâu tìm hiểu vào vấn đề này, nhóm chúng em quyết định đi tìm hiểu, nghiêmcứu, phân tích chủ đề: “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Vậndụng quy luật này vào thành phần kinh tế nhà nước ở Việt Nam”
Trang 52 PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
1.1 Những khái niệm cơ bản
Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập được làm sáng tỏthông qua một loạt những phạm trù cơ bản như mặt đối lập, mâu thuẫn biện chứng, sựthống nhất giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự chuyển hóa giữacác mặt đối lập,
1.1.1 Khái niệm mặt đối lập
Khái niệm mặt đối lập trong quy luật mâu thuẫn là sự khái quát các mặt, cáckhuynh hướng, các thuộc tính trái ngược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật,hiện tượng Mỗi mâu thuẫn phải có hai mặt đối lập
Ví dụ: Trong nguyên tử có hạt mang điện tích dương, có hạt mang điện tích âm.
Trong một bản nhạc có nốt nhạc trầm, có nốt nhạc cao Trong cơ thể sinh vật có yếu tố
di truyền, có yếu tố gây biến dị; có quá trình đồng hóa, có quá trình dị hóa
Tuy nhiên, không phải hai mặt đối lập bất kỳ của một mặt đối lập nào cũng tạothành mâu thuẫn Chỉ những mặt đối lập nào nằm trong một chỉnh thể có quan hệkhăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫn làmột chỉnh thể, trong đó các mặt đối lập vừa đấu tranh, vừa thống nhất với nhau, quyđịnh mọi quá trình diễn ra của sự vật hiện tượng đó
Tính chất của mâu thuẫn biện chứng:
- Mâu thuẫn biện chứng mang tính khách quan vì mọi sự vật trong tự nhiên, xãhội và tư duy không phải là cái gì hoàn toàn thuần nhất mà là một hệ thống các yếu tố,các mặt, các khuynh hướng trái ngược nhau, liên hệ hữu cơ với nhau, tạo nên nhữngmâu thuẫn vốn có của sự vật Như vậy mâu thuẫn không do ai sáng tạo ra, không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của con người Nó là cái vốn có của sự vật
- Mâu thuẫn biện chứng mang tính phổ biến, tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và
tư duy Không có sự vật nào không có mâu thuẫn, mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫnkhác xuất hiện, từ đó sự vật phát triển không ngừng
Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực, lànguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường vươn tới chân lý kháchquan, chân lý tuyệt đối về hiện thực
1.1.2 Khái niệm thống nhất giữa các mặt đối lập
Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập có quan hệ thống nhất với nhau Khái niệm
“thống nhất” trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là hai mặt đối lập liên hệ với nhau,ràng buộc nhau, quy định nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại của mình Nếu
5
Trang 6thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tạicủa sự vật Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếuđược cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào và ngược lại.
Ví dụ: Nguyên tử nào cũng có hạt mang điện tích âm, hạt mang điện tích dương.
Trong sinh vật, hai mặt đối lập đồng hoá và dị hoá thống nhất với nhau, nếu chỉ là mộtquá trình thì sinh vật sẽ bị chết Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
là hai mặt đối lập thống nhất với nhau, nếu không có giai cấp vô sản với tư cách là giaicấp bán sức lao động cho giai cấp tư sản, thì cũng không có giai cấp tư sản tồn tại với
tư cách là một giai cấp mua sức lao động của giai cấp vô sản để bóc lột giá trị thặngdư
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau củachúng Song, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển,khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ có tính chất tạm thời, tương đối, chỉ tồn tạitrong một thời gian nhất định Đó chính là nguyên nhân của trạng thái đứng im tươngđối của các sự vật hiện tượng
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấutranh chuyển hoá giữa chúng Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trọng cùng một sựvật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điềuchỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân sự vật Sự đấutranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong thế giới kháchquan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội có đối kháng giai cấp,
mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hãm nódiễn ra rất quyết liệt và gay gắt Chỉ có thể thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằngrất nhiều hình thức kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn một cách căn bản.1.1.3 Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủđịnh lẫn nhau giữa các mặt đó
Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức đa dạng Tính đa dạng đó tùythuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như mối quan hệ qua lại giữa chúng, phụthuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập, phụ thuộc vào điều kiện trong đó diễn
ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia thành nhiều giai đoạn Thông thườngkhi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gay gắt người ta gọi
đó là giai đoạn khác nhau Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng đượcgọi là mâu thuẫn Chỉ những sự khác nhau nào cùng tồn tại trong cùng một sự vật cóliên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của
Trang 7sự phát triển thì hai mặt đối lập đó mới hình thành bước đầu của một mâu thuẫn Khihai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến xung đột gay gắt, nó biến thành độclập Sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành Sau khi mâu thuẫn được giải quyết sựthống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lậpmới, hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫnđược giải quyết, sự vật mới xuất hiện Cứ như thế đấu tranh giữa các mặt đối lập làmcho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp đến cao Chính vì vậy Lênin khẳng định “sựphát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập” 2
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nói lên mặt biến đổi thường xuyên của sự vật,quy định sự tự vận động của sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan Đấu tranhgiữa các mặt đối lập có tính quyệt đối quy định tính tuyệt đối của sự vận động, pháttriển của sự vật
1.1.4 Quan hệ giữa sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
Với tư cách là hai trạng thái đối lập trong mối quan hệ qua lại giữa hai mặt đối lập,
sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ chặt chẽ với nhau Sự thốngnhất có quan hệ hữu cơ với sự đứng im, sự ổn định tạm thời của sự vật Còn sự đấutranh có mối quan hệ gắn bó với tính tuyệt đối của sự vận động và sự phát triển Do đó
sự thống nhất của các măt đối lập là tương đối, còn sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
là tuyệt đối
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập,Lênin chỉ ra rằng: “Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa làchính nó – nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được sựvật, sự vật tồn tại trong thế giới khách quan Song bản thân sự thống nhất chỉ là tạmthời Đấu tranh của các mặt đối lập mới là tuyệt đối Nó diễn ra thường xuyên, liên tụctrong suốt quá trình tồn tại của sự vật Kể cả trong trạng thái ổn định, cũng như khichuyển hoá nhảy vọt về chất” Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tácdụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua tương đối
Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển,
sự vận động tuyệt đối”
1.1.5 Sự chuyển hóa của các mặt đối lập
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn tới sự chuyển hoágiữa chúng Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một trình độ nhấtđịnh, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫnnhau Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập thường diễn ra một cách tựphát, còn trong xã hội chuyển hoá của các mặt đối lập diễn ra nhất thiết phải thông quahoạt động có ý thức của con người
2 V.I Lênin (1981) Bút ký triết học, Toàn tập, t.29, Sđd Tr.379
7
Trang 8Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá của các mặt đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trímột cách đơn giản, máy móc Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo haiphương thức:
- Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhưng ởmột trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật Ví dụ: Lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hìnhthành quan hệ sản xuất mới ở trình độ cao hơn
- Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập đều chuyển hoá lẫn nhau để tạo thànhhai mặt đối lập hoàn toàn mới Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển hoá từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới thực, bất kỳ sự vật, hiện tượng nàocũng chứa đựng trong nó những mặt những thuộc tính có khuynh hướng phát triểnngược chiều nhau Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt đối lập trong điều kiện cụ thểtạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến của thế giới Mâuthuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành Sự vật mới lại nảy sinhcác mặt đối lập và mâu thuẫn mới
Các mặt đối lập này đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau dể tạo thành sự vậtmới hơn Cứ như vậy các sự vật, hiên tượng trong thế giới khách quan thường xuyênbiến đổi và phát triển không ngừng Vì vậy mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực pháttriển của mọi quá trình phát triển
1.2 Các loại mâu thuẫn
1.2.1 Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Căn cứ vào sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, hiện tượng, có mâu thuẫn cơbản và không cơ bản:
- Mâu thuẫn cơ bản tác động trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng; nóquy định bản chất, sự phát triển của chúng từ khi hình thành đến lúc tiêu vong
Ví dụ: Trong hoàn cảnh sống của bạn Lan đang tồn tại một mâu thuẫn Đó là mâu
thuẫn giữa việc có tiền ít và muốn đi du lịch nhiều. Mâu thuẫn giữa việc có tiền
ít và muốn đi du lịch nhiều là mâu thuẫn cơ bản vì nó liên quan đến giá trị sống củabạn Lan Khi mâu thuẫn cơ bản này được giải quyết (ví dụ như kiếm được nhiều tiền
để đi du lịch nhiều), cuộc sống mới nhiều hạnh phúc của Lan thay thế cho cuộc sống
cũ ít hạnh phúc Như tế, sự vật đã thay đổi căn bản về chất
-Mâu thuẫn không cơ bản đặc trưng cho một phương diện nào đó, chỉ quy định sự
vận động, phát triển của một hay một số mặt của sự vật, hiện tượng và chịu sự chi phốicủa mâu thuẫn cơ bản
Trang 9Ví dụ: Phòng A và phòng B đều đang phấn đấu để trở thành đơn vị kinh doanh
xuất sắc nhất của công ty X Ở đây tồn tại mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B Mâuthuẫn giữa phòng A và phòng B trong nội bộ công ty X là mâu thuẫn không cơ bản.1.2.2 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiệntượng trong mỗi giai đoạn nhất định:
-Mâu thuẫn chủ yếu luôn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn phát triển của sự vật,
hiện tượng, có tác dụng quy định đối với các mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn đócủa quá trình phát triển Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu sẽ tạo điều kiện để giải quyếtcác mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn, còn sự phát triển, chuyển hóa của sự vật, hiệntượng từ hình thức này sang hình thức khác phụ thuộc vào việc giải quyết mâu thuẫnchủ yếu
Ví dụ: Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20, trên đất nước
Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trong về kinh, văn hoá, xã hội, giáo dục.Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó chủ yếu là mâu thuẫngiữa toàn thể nhân dân ta với thực dân Pháp và phản động tay sai
Mâu thuẫn chủ yếu trong nền kinh tế là sản xuất và tiêu thụ
Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội trước là giữa tư sản với vô sản
-Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định trong sự vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Mâu thuẫn thứ yếu của kinh tế có thể nói là giữa người lao động với người
sở hữu lao động, do bị sản xuất với tiêu dùng chi phối
Tuy vậy, ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu, thứ yếu chỉ là tương đối, tuỳ theo từnghoàn cảnh cụ thể, có mâu thuẫn trong điều kiện này là chủ yếu, song trong điều kiệnkhác lại là thứ yếu và ngược lại
Ví dụ: Mâu thuẫn chủ yếu thời nay ở nước mình có thể nói là có văn hoá với
không có văn hoá, mâu thuẫn chủ yếu giữa người với người về tính cách là giữa cái tốtvới cái xấu, sinh ra mâu thuẫn thứ yếu giữa sống có văn hoá với sống không văn hoá,mâu thuẫn giữa ổ khoá và ăn trộm, giữa Toà án với người phạm tội
1.2.3 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập với một sự vật, hiện tượng:
-Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối
lập nằm trong chính mỗi sự vật, hiện tượng; có vai trò quy định trực tiếp quá trình vậnđộng và phát triển của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Mâu thuẫn giữa hoạt động ăn và hoạt động bài tiết là mâu thuẫn bên trong
mỗi con người
9
Trang 10-Mâu thuẫn bên ngoài xuất hiện trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với
nhau; tuy cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chúng, nhưng phải thôngqua mâu thuẫn bên trong mới phát huy tác dụng Các mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu đều
là những mâu thuẫn giữa các mặt, các bộ phận, yếu tố bên trong cấu thành sự vật hiệntượng nên có thể gọi chúng là mâu thuẫn bên trong Song các đối tượng còn có nhữngmối liên hệ và quan hệ với các đối tượng khác thuộc về môi trường tồn tại của nó,những mâu thuẫn loại này được gọi là các mâu thuẫn bên ngoài
Ví dụ: Phòng A và phòng B đều đang phấn đấu để trở thành đơn vị kinh doanh
xuất sắc nhất của công ty X Ở đây tồn tại mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B Nếuxét riêng đối với phòng A (hoặc phòng B), mâu thuẫn này là mâu thuẫn bên ngoài.Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối, bởi trong quan hệ nàyhoặc so với một số đối tượng này, nó là bên trong; nhưng trong quan hệ khác, so vớimột số đối tượng khác, nó lại là bên ngoài
Ví dụ: Ở trên ta đã đưa ra các ví dụ về phòng A, phòng B của công ty X Nếu xét
trong nội bộ phòng A thì mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B là mâu thuẫn bên ngoài.Nhưng nếu xét trong nội bộ công ty X thì mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B là mâuthuẫn bên
1.2.4 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Căn cứ vào tính chất của lợi ích cơ bản là đối lập nhau trong mối quan hệ giữa cácgiai cấp ở một giai đoạn lịch sử nhất định:
-Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người, lực lượng,
xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không thể điều hoà được Đó làmâu thuẫn giữa các giai cấp bóc lột và bị bóc lột, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bịtrị
Ví dụ: Mâu thuẫn giữa công nhân với giới chủ, giữa nông dân với địa chủ, giữa
thuộc địa với chính quốc
-Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người, lực
lượng, xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản không đối lập nhau nên là mâu thuẫn cục