Với cách tiếp cận như vậy, có thể quan niệm: nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thờ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÔN: VĂN HOÁ DÂN GIAN VIỆT NAM
GVHD: TS Phan Thị Kim Anh Chủ đề thuyết trình:
Tìm hiểu về cơ sở lí luận
SVTH : Bùi Tô Quế Anh - 2182003758
Phạm Trần Mỹ Duyên - 2182003826
Nguyễn Trần Duy Hân - 2182004577
Trần Huỳnh Minh Khôi - 2182004597
Nguyễn Hoài Linh - 2182004439
Lê Anh Quân - 2182004636
Cao Văn Thông - 2182004138
Lê Đình Thuận - 2182004478
Lâm Châu Hải Thụy - 2182004151
Nguyễn Phạm Như Ý - 2182001998
Trang 2Họ và tên Mssv Công việc được
giao % hoàn thànhBùi Tô Quế
Thuận 2182004478 Soạn PowerPoint 100%
Lâm Châu Hải
100%
1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần con người Theo nghĩa thông
Trang 3dụng, văn hóa thường được sử dụng để chỉ trình độ học vấn ( trình độ văn hóa ), lốisống ( nếp sống văn hóa ) Hiểu theo nghĩa chuyên biệt, văn hóa được dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn trong lịch sử ( Van hóa Đông Sơn), chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng ( văn hóa Nam Bộ)… Trong khoa học nghiên cứu về văn hóa, văn hóa thường được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tát cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất chođến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Nói đến văn hóa là nói đến khía cạnh ý thức hệ của văn hóa, tính giai cấp của văn hóa và trên cơ sở đó hiều rõ sự vận động của văn hóa trong xã hội có giai cấp Với cách tiếp cận như vậy, có thể quan niệm: nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp thống trị chi phối phương hướng phát triển và quyết định hệ thống các chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo UNESCO: ‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu Chúng tôi cho rằng, văn hóa
là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nênkhác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lạc: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa
ở cấp xã lại càng không phải chỉ có thế UNESCO đã phân chia văn hóa thành 2 lĩnh vực: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Trang 4- Văn hóa vật thể được hiểu là các di sản văn hóa vật chất do con người tạo ra như đình, chùa, miếu, lăng mộ,…; những công trình kiến trúc có giá trị văn hóa lịch sử; các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, các công cụ sản xuất…
- Văn hóa phi vật thể là những thành tựu thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần, baogồm các biểu hiện tượng trưng và “ không sờ thấy được” của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, bao gồm tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, các loại hình nghệ thuật truyền thống…
Sự phân chia này là cần thiết giúp ta có một cái nhìn toàn diện, tổng thể về vănhóa, tuy nhiên nó chỉ mang tính chất tương đối Bởi lẽ hai lĩnh vực này luôn gắn bóhữu cơ với nhau, không thể tách bạch giữa các lĩnh vực
Nhưng ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân Văn hóa làcủa con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.2 Các đặc trưng và chức năng của văn hoá
1.2.1 Tính hệ thống và chức năng tổ chức xã hội
Văn hóa là một tổng thể hài hòa những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Đặc trưng này giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; giúp phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển nó Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật với nhau trong quá trình phát triển
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội
Xã hội loài người được tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những tổ nhóm, hội đoàn, làng xã, quốc gia, đô thị… là nhờ văn hóa Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật lại với nhau
Trang 5trong quá trình phát triển Như có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thức thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Nó là nên tảng của xã hội – có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từchỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hóa( nền văn hóa).
Cây lúa nước Việt Nam có ảnh hưởng rất nhiều tới sự hình thành, phát triển văn hóa, xã hội và kinh tế của nước ta qua mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử Là một quốc gia có nền văn minh lúa nước lâu đời do đó những tác động của cây lúa nước tới đời sống của người dân Việt sẽ thấy rất rõ Ví dụ như trong nền văn họa dân gian sẽ không thể thiếu những câu ca dao, tục ngữ nói về cây lúa nước “Ăn lấy chắc mặc lấy bền”; “Trời đánh còn tránh ng ăn” hay “Trâu ơi ta bảo trâu này, trâu
ra ngoài ruộng trâu cày với ta…”, “hạt gạo là hạt ngọc trời”
Ngoài ra, nền văn minh lúa nước còn có những ảnh hưởng nhất định tới suy nghĩ, cách cử xử, lối suy nghĩ của người dân Việt Ví dụ như suy nghĩ lối ăn chắc mặc bền, đức tính cần cù, chăm chỉ, chịu thương chịu khó… Văn minh lúa nước cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới tín ngưỡng dân gian hay hoạt động văn hóa lễ hội… Từ nền văn hóa lúa nước cốt lõi đã hình thành nên chức năng tổ chức xã hội, ở đây chúng mình xin phép nói về đặc trưng nổi bật về tổ chức làng xã
Làng Việt (kẻ, thôn…) là một thiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức chặt chẽ của nông thôn Việt trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú; là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt; trồng trọt là điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng tự quản đa dạng và phong phú của người nông dân, ở đó họ sống, làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ Làng Việt là một thành tố quan trọng trong cơ cấu xã hội Việt (nổi lên là gia đình (nhà) – làng – nước, còn cấp vùng, tỉnh là đơn vị trung gian ít quan trọng hơn) với hai đặc trưng cơ bản là: tính cộng đồng và tính tự trị Làng Việt được tổ chức rất chặt chẽ, không phải theo một mà nhiều cách, nhiều nguyên tắc khác nhau, tạo nên nhiều loại hình, nhiều cách tập hợp người khác nhau, khác nhau nhưng lại hoà đồng trong phạm vi làng Về cơ bản, cơ cấu làng Việt (cổ truyền và hiện đại) được biểu hiện dưới những hình thức tổ chức (liên kết, tập hợp người) sau đây: - Tổ chức theo địa vực (khu đất cư trú) với mô thức phổ biến: Làngphân thành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ gồm một hay nhiều
Trang 6nhà… thành những khối dài dọc đường cái, bờ sông, chân đê, những khối chặt kiểu
ô bàn cờ, theo hình Vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi và phân bố lẻ tẻ, tản mát, xen kẽ với ruộng đồng… Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống tương đối riêng
1.2.2 Tính giá trị và chức năng điều chỉnh xã hội
Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Văn hóa theo nghĩa đen là “trở thành đẹp, thành có giá trị” Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội
và con người Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất ( phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần ( phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm
mĩ theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái hiện chứng- và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng, tránh được những xu hướng cực đoan- phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời Dưới sự chi phối của văn hóa, con người vừa biến đổi tự nhiên để phục vụ cho mình ( tạo ra thức ăn, quần
áo, nhà cửa…), vừa tự biến đổi mình để thích nghi với môi trường tự nhiên và xã hội ( nhập gia tùy tục) Nhờ có chức năng điều chỉnh xã hội mà văn hóa trở thành mục tiêu và động lực cho sự phát triển trong xã hội
Thay đổi mình để thích nghi với môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội( nhập gia tùy tục): điều này cũng dễ hiểu thôi vì phép vua thua lệ làng Khi bạnchuyển đến sinh sống ở một nơi khác thì tất nhiên văn hóa cũng sẽ có phần khác biệt và bạn bắt buộc phải thích nghi với nó Chẳng hạn như khi bạn ở Việt Nam khigiơ ngón cái là bày tỏ sự khích lệ, sự đồng ý nhưng khi bạn đến Iran thì đó là sự xúc phạm đối với họ Khi bạn ở VN nói riêng và các quốc gia khác nói chung tạo hình ngón tay chữ V thường được rất nhiều bạn trẻ và thậm chí người lớn đều sử dụng để khi chụp hình, với các bạn gái thì nó vừa đơn giản vừa một chút dễ
thương Nhưng khi bạn ở Úc, Anh, Nam Phi, Newzealand, Ireland nếu chữ V được tạo ra với mu bàn tay hướng vào người đối diện thì đó là khiêu khích nặng nề Nên
là hãy cẩn thận trước khi muốn làm đièu gì ở một nơi xa lạ nhé ! Khi bạn đến một nơi có khí hậu khác thì bạn cũng sẽ phải thay đổi cách ăn uống, ăn mặc, các hoạt động khác có thể cũng sẽ bị lôi theo
Nói đến những giá trị đạo đức thì người Việt Nam đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống như: tín ngưỡng thờ cúng ông bà, kính già yêu trẻ, tình nghĩa vợ chồng, tôn trọng mẫu quyền, gia đình gắn với dân tộc Gia đình là tế bào của xã
Trang 7hội, nơi sinh thành, nuôi dưỡng nhân cách con người Mỗi tộc người, mỗi quốc gia
có sự lựa chọn, đề cao những giá trị khác nhau trong văn hóa gia đình Đối với người Việt, giá trị văn hóa gia đình truyền thống được đúc kết từ sự thích nghi và ứng phó của dân tộc đối với tự nhiên và xã hội trước những thách thức của lịch sử Cũng là thờ cúng tổ tiên nhưng người Việt dành tình cảm sâu nặng với tổ tiên qua các nghi thức tín ngưỡng Trong ngôi nhà vị trí trang trọng nhất, trang trí lộng lẫy nhất là bàn thờ tổ tiên, khi đó nhiều dân tộc trên thế giới không thờ, hoặc có thờ nhưng bàn thờ người mất thường nhỏ, lại để ở góc nhà Người Việt thờ cúng tổ tiênkhông giới hạn thời gian, sau 5 đời thì nhập bát nhang thờ cụ kị vào một bát nhang chính gọi là bát nhang thờ tiên tổ Coi trọng mồ mả, giỗ kỵ ngày mất của ông bà, cha mẹ, không có tục bỏ mả, dỡ bỏ nơi thờ cúng Suy cho cùng tôn kính tổ tiên là cách hành xử người Việt coi trọng người sinh thành ra mình
Văn hóa gia đình truyền thống người Việt giàu tính nhân văn như kính trọng người già, yêu quý trẻ nhỏ, đề cao tình nghĩa vợ chồng: “Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm xông hương mặc người” Tình nghĩa chồng vợ luôn làchủ đề không bao giờ tử của các nhà văn nhà thơ Rất nhiều câu nói nhân gian, ca dao tục ngữ và những câu chuyện đi vào lòng người từ cái tình cái nghĩa vợ chồng
Tôn trọng mẫu quyền, dù sống trong xã hội phụ quyền nhưng vai trò người
Mẹ không thể thiếu trong các sinh hoạt văn hóa gia đình Mẹ là người tay hòm chìakhóa, chủ chi và tham gia chính kiến tạo các lễ nghi văn hóa Con cháu phải giữ được nếp nhà, hiếu thảo với cha mẹ Anh em phải gắn bó, hòa thuận giúp nhau những lúc hoạn nạn, khó khăn, phương châm ứng xử là “chị ngã em nâng” Giá trị văn hóa gia đình truyền thống biểu hiện trong các quan hệ xã hội như gọi người lớn tuổi là ông, bà, chú, bác, cô… còn người ít tuổi hơn là em, cháu, con Đây cũng
là nền tảng cho tục thờ mẫu ở nhiều nơi trên Việt Nam
1.2.3 Tính nhân sinh và chức năng giao tiếp
Đặc trưng thứ ba của văn hóa đó là tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội ( do con người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần (như truyền thuyết về các cảnh quan tự nhiên) Có rất nhiều những truyền thuyết, câu chuyện gắn liền với những cảnh quan thiên nhiên như sự tích hồ ba bể, sự tích suối hát bản Hát, nàng Han… nhưng
sự tích này được truyền tai nhau từ đời này sang đời khác để giải thích cho những
Trang 8địa danh ở VN ta Tính nhân sinh là cơ sở cho chức năng giao tiếp văn hóa Một trong những đặc điểm khu biệt con người với động vật là ở sự hợp quần thành xã hội, mà xã hội không thể hình thành và tồn tại được nếu thiếu sự giao tiếp Văn hóatạo ra những điều kiện và phương tiện ( ngôn ngữ, các hệ thống ký hiệu) cho sự giao tiếp ấy Mặt khác, văn hóa cũng là sản phẩm của giao tiếp, bởi bản thân văn hóa là sản phẩm của các hoạt động xã hội Trong thời đại hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, việc am hiểu nhiều nền văn hóa là vô cùng cần thiết Sẽ khó có sự thành công khi trong giao tiếp chúng ta hoàn toàn không hiểu gì về văn hóa đối tác, thậm chí không biết gì về ngôn ngữ của họ Văn hóa gắn liền với hoạt động của con người trong xã hội mang tính nhân sinh Do đó văn hóa là sợi dây nối liền và thực hiện chức năng giao tiếp giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc kia Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dây liên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người Đó chính là ý nghĩa nhânsinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa
1.2.4 Tính lịch sử và chức năng giáo dục.
Văn hóa còn có tính lịch sử, được hình thành qua một quá trình và được tích lũy Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối
ổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và
cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ,… Văn hóa có tính lịch sử cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc nhữngtinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục…
Ví dụ nhắc đến văn hoá từ Giai đoạn văn hoá Văn Lang – Âu Lạc, từ gần năm
3000 đến cuối thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên vào thời đại đồ đồng sơ khai, trải
18 đời vua Hùng, được coi là đỉnh cao thứ nhất của lịch sử văn hoá Việt Nam, với sáng tạo tiêu biểu là trống đồng Đông Sơn và kỹ thuật trồng lúa nước ổn định Đến bây giờ nét đẹp văn hoá này vẫn được Việt nam ta tiếp tục pháp huy, kế truyền.(1)
Và chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết về nét đẹp phụ nữ Việt qua tà áo dài thanh lịch nhưng tôn lên vẻ đẹp của cánh chị em
Áo dài là trang phục truyền thống của Việt Nam, mặc cùng với quần dài, chethân từ cổ đến hoặc quá đầu gối và dành cho cả nam lẫn nữ nhưng hiện nay thường
Trang 9được biết đến nhiều hơn với tư cách là trang phục nữ Áo dài thường được mặc vàocác dịp lễ hội, trình diễn; hoặc tại những môi trườngđòi hỏi sự trang trọng, lịch sự; hoặc là đồng phục nữ sinh tại trường trung học phổ thông hay đại học; hay đại diệncho trang phục quốc gia trong các quan hệ quốc tế Các người đẹp Việt Nam hầu hết đều chọn áo dài cho phần thi trang phục dân tộc tại các cuộc thi sắc đẹp quốc
tế Trước đây, áo dài thường được mặc kết hợp cùng với nón quai thao, nón lá, hay
là khăn đóng Nhưng kiểu sơ khai nhất của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh ChúaNguyễn Phúc Khoát là người được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam như ngày nay Thế kỉ 17 áo giao lãnh : Kiểu dáng sơ khai của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh bốn vạt, tiền thân của áo tứ thân Áo giao lãnh khoác ngoài yếm lót, mặc cùng váy đen và thắt lưng màu tương tự như
áo tứ thân, chỉ khác là hai vạt trước buông thả chứ không buộc trước bụng
Thế kỉ 18 đến thế kỉ 20 Việt Nam ta đã xuất hiện áo tứ thân Để tiện lợi hơn cho người phụ nữ trong việc đồng án, buôn bán, người xưa đã tạo ra áo tứ thân gọngàng với 2 vạt trước rời nhau và có thể buộc lại, 2 vạt sau may liền lại với nhau thành 1 tà Chiếc áo được may để phục vụ cho tầng lớp bình dân, thời bấy giờ khổ vải chỉ rồng tầm 35-40cm nên may 1 tà sau cho tiện Áo tứ thân thường được may bằng vải màu tối nhằm tiện cho việc đồng án
Năm 1934, họa sĩ bậc thầy Việt Nam Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt Từ đây, áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó, và từ bấy giờ đến nay dù trải qua bao thăng trầm, bao lần cách tân cách điệu, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn giữ nguyên Một vài nhà tạo mẫu áo dài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, nhưng gần như họ chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo, vì vải phương Tây dệt được khổ rộng hơn Tay áo vẫn may nối Nổi nhất lúc ấy là nhà may Cát Tường ở phố Hàng Da, Hà Nội Năm
1939 nhà tạo mẫu này tung ra một kiểu áo dài được ông Âu hóa Áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may không nối sống bên dưới Nhưng cổ áo khoét hình tráitim Có khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ Vai áo may bồng, taynối ở vai Khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải Nhưng kiểu áo này chỉ tồn tại đến khoảng năm 1943
Trang 10Đến khoảng năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may có eo Các thợ may lúc
đó đã khôn khéo cắt áo lượn theo thân người Thân áo sau rộng hơn thân áo trước,
để áo ôm theo thân dáng mà không cần chít eo Vạt áo cắt hẹp hơn Thân áo trong được cắt ngắn dần từ giai đoạn này Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu được hạ thấp xuống Cuối năm 1958 khi bà Trần Lệ Xuân còn tại vị Đệ Nhất Phu Nhân của nước Việt Nam Cộng Hòa, bà đã thiết kế ra kiểu áo dài cách tân mới bỏ đi phần cổ
áo gọi là áo dài cổ thuyền, cổ hở, cổ khoét, dân gian gọi là áo dài Trần Lệ Xuân hay áo dài bà Nhu Không chỉ lạ về mẫu áo, chiếc áo dài hở cổ còn được ‘phá cách’với họa tiết trang trí trên áo: nhành trúc mọc ngược Một số nhà phê bình phương tây cho rằng nó hợp lý với thời tiết nhiệt đới của miền nam Việt Nam Nhưng kiểu
áo này khiến những người theo cổ học lúc đó tức giận và lên án nó không hợp với thuần phong mỹ tục Loại áo dài không có cổ này vẫn phổ biến đến ngày nay và phần cổ được khoét sâu cho tròn chứ không ngắn như bản gốc Năm 1960, nhà may Dung ở Đa Kao, Sài Gòn đã sáng tạo ra cách ráp tay raglan vào áo dài Cách ráp này khắc phục được các nếp nhăn hai bên nách áo.Với cách này, tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách 2 tà nối với nhau bằng đường nút dọc hông Kiểu này tạo dáng ôm theo đường cong người mặc, giúp người phụ nữ cử động tay thoải mái, linh hoạt
Truyền thông văn hóa tồn tại nhờ giáo dục Mục tiêu cao cả nhất của văn hóa
là vì sự phát triển và hoàn thiện con người Do đó, chức năng bao trùm nhất của văn hóa chính là chức năng giáo dục, bồi dưỡng con người, hướng lý tưởng, đạo đức và hành vi của con người vào điều hay lẽ phải, theo những chuẩn mực mà xã hội quy định Văn hóa thực hiện theo chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống) mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Hailoại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ đó
mà văn hóa tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, đóng vai trò quyết định trong việc hình thành, nuôi dưỡng nhân cách con người, tạo nên nền tảng tinh thần xã hội
Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh đảm bảo tính kế tục của lịch sử Văn hóa duy trì và phát triển bản sắc dân tộc, tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử Nếu gen sinh học di truyền lại cho các thế hệ sau hình thể con người thì văn hóa được xem là một thứ “gen” xã hội di truyền phẩm chất cộng đồng người lại cho các thế hệ sau
Trang 11Những năm 1960, áo dài chít eo thách thức quan điểm truyền thống trở thành kiểu dáng thời thượng Lúc này, chiếc áo nịt ngực tiện lợi đã được sử dụng rộng rãi Phụ nữ thành thị với tư duy cởi mở muốn tôn lên những đường cong cơ thể quakiểu áo dài chít eo rất chặt để tôn ngực Gần cuối thập kỷ 60, áo dài miniraglan trở nên thịnh hành trong giới nữ sinh vì sự thoải mái, tiện lợi của nó Đây là kiểu áo dài dành riêng cho nữ sinh Theo đó tà áo được may tới mắt cá chân, nhưng hai ống quần được phủ xòe ôm hai bàn chân Với kiểu áo dài này, làm tăng thêm tính hồn nhiên, ngây thơ cho nữ sinh Thời nay còn gọi là áo dài nữ sinh Sau những năm 1970, đời sống đổi mới đã khiến chiếc áo dài dần vắng bóng trên đường phố Đến những năm 90, áo dài đã trở lại, cầu kỳ hơn, thanh nhã hơn và bắt đầu được bạn bè Quốc Tế nghĩ tới như là một biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.
Chỉ với quá trình phát triển của tà áo dài mà chúng ta đã thấy được lịch sử văn hóa có ảnh hưởng như thế nào Những năm văn hóa phương tây du nhập vào
vn và người việt chúng ta đã biết tận dụng những cái hay cái tốt để làm nên những nét đặc trưng tiêu biểu của mình Ngoài ra do dưới chế độ phong kiến mà nước ta
bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa rất nhiều trong văn hóa Tiêu biểu là lĩnh vực văn học
Hơn 10 thế kỷ dưới chế độ phong kiến, văn hóa Trung Hoa trong đó có chữ Hán, phần nhiều phổ biến ở tầng lớp trên của xã hội như vua chúa, quan lại, nho sĩ,
và quí tộc Do đó văn hóa tam giáo từ Trung Hoa du nhập vào văn hóa Việt Nam qua từng thành phần trên một cách sâu đậm hơn tầng lớp bình dân Hiện tượng nàykhông những chỉ thể hiện trong đời sống gia đình, xã hội và bộ máy nhà nước, mà còn phản ánh trong đời sống văn học, nhất là những tác phẩm Hán văn; văn hóa tam giáo biểu hiện khi sâu đậm khi bàng bạc qua dòng văn học chữ Hán, nhưng ít
có những tác phẩm trường thiên, phần nhiều là những bài thơ, bài kịch, bài kệ,… thông qua thi pháp Trung Hoa với các thể thơ cổ phong, đường luật Tầng lớp tri thức Việt Nam hội nhập văn hóa Tam giáo vào các tác phẩm của mình
1/ Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn thơ: Có Đoạn trường tân thanh, Lục Vân Tiên, thơ của Nguyễn Công Trứ,…
2/ Ảnh hưởng Phật giáo trong văn thơ: Có Cung oán ngâm khúc, Quan Âm Thị Kính,…
3/ Ảnh hưởng của Lão giáo trong văn thơ: Có Thơ Nhàn, Bích câu kì ngộ
Trang 12Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày đến thơ ca tục ngữ lúc nào cũng đưa giáo dục lên hàng đầu “ học ăn học nói học gói học mở”, “ muốn lành nghề chớ nề học hỏi”, “tiên học lễ hậu học văn” Bác Hồ vĩ đại cũng đã từng nói vì lợi ích 10 năm trồng cây vì lợi ích trăm năm trồng người Muốn đất nước sánh đôi cường quốc năm châu thì trước hết phải biết giáo dục nuôi trồng những búp măng mầm non của Đảng Vì vốn dĩ cây có uốn mới nên hình, người có nắn mới nên nhân Có giáodục mới tạo nên con người tốt Và cũng chính giáo dục mới lưu trữ được những văn hóa lịch sử lâu đời của ta Dạy con em biết trân quý giữ gìn và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp là điều không thể thiếu của chức năng giáo dục Đảng và Nhà nước ta, các bậc phụ huynh và nhà trường luôn tạo điều kiện để các em tiếp xúc nhưng văn hóa quý báu của dân tộc như: những hoạt động về nguồn, thăm đền liệt sĩ, thăm những khu di tích lịch sử, những trò chơi lễ hội dân gian…
Chức năng này xuất phát từ đặc trưng mang tính giá trị của văn hóa Mỗimột nền văn hóa đều có những giá trị riêng, những giá trị này được hình thành thông qua quá trình con người điều chỉnh thói quen, nhận thức và hành động để có thể thích nghi với sự thay đổi từ môi trường Nhờ có chức năng mà ta có thể thấy được sự đa dạng giữa các nền văn hóa với nhau, đồng thời cũng có thể tìm thấy những nét tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các nền văn hóa Đó chính là mục tiêu
và động lực để phát triển của nhân loại
1.3 Một số khái niệm liên quan
1.3.1 Văn minh
Trần Ngọc Thêm đã nhận định :” Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” ( Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.10) Song song với vănhoá, chúng ta còn có văn minh, văn hiến và văn vật Lâu nay, vẫn không ít người vẫn sử dụng “ văn minh”( civilization) như một từ đồng nghĩa với “ văn
hoá”( culture) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêngcho mọi tập đoàn người Thực ra, như viện sĩ D.Likhachov (1990) có nhận xét:” đây là những khái niệm gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau, song không đồng nhất Văn hoá giàu tính nhân bản, nó hướng tới những giá trị muôn thuở; trong khi
đó thì văn minh hướng tới sự hợp lí, sự sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi.” Để nắm bắt và hiểu rõ hơn về chúng, ta cần phải hiểu rõ bản chất và định nghĩa của chúng “ Văn minh” là gì, thế nào là “ văn minh” ?
Trang 13- Văn minh là danh từ Hán – Việt ,”văn” là vẻ đẹp, “minh” là sáng; chỉ tia sáng của đạo đức; biểu hiện ở chính trị; luật pháp; văn học; nghệ thuật Trong tiếng Anh,Pháp, từ civilisation với nội hàm nghĩa văn minh; có căn gốc Latinh là civitas với nghĩa gốc: đô thị; thành phố; và các nghĩa phái sinh: thị dân; công dân.
- W Durran sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hoá; nhờ một trật
tự xã hội gây ra và kích thích Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội; tổ chức luân lí và hoạt động văn hoá Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội
đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết Theo F Ăngghen; văn minh là chính trị khoanh văn hoá lại và sợi dây liên kết văn minh là nhà nước Như vậy khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản: đô thị; Nhà nước; chữ viết
và các biện pháp kĩ thuật cải thiện; xếp đặt hợp lí; tiện lợi cho cuộc sống của con người
- Văn minh chủ yếu liên quan tới kĩ thuật làm chủ thế giới, biến đổi thế giới sao cho đáp ứng được đòi hỏi của con người Cho nên một thành tựu của văn minh thường lan rộng khắp thế giới Nghiên cứu văn minh là nghiên cứu mặt động của trí tuệ, tâm thức con người Nếu như văn minh của loài người tiến lên không ngừngthì văn hóa lại không thể Có những nước văn minh rất cao nhưng văn hóa lại suy giảm Thế giới đã trải qua nhiều nền văn minh như: văn minh đồ đá, văn minh du mục, văn minh nông nghiệp, văn minh thương nghiệp, văn minh công nghiệp và đang bước vào văn minh hậu công nghiệp
- Như vậy, văn hóa và văn minh khác nhau ở các điểm sau:
+ Trước hết, văn hóa là khái niệm bao trùm gồm cả giá trị vật chất lẫn tinh thần còn văn minh thiên về giá trị vật chất, như những dụng cụ, vật chất, thiết bị tiện nghi mà chúng ta đang sử dụng hằng ngày, đấy chính là văn minh
+ Điểm khác biệt thứ hai, đó chính là văn hóa luôn có bề dày của quá khứ còn văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, song chúng thường có chung một nét nghĩa là chỉ đến “trình độ phát triển” Văn minh luôn là đặc trưng của một thời đại: nếu như vào thế kỉ 19, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỉ 20, nó đã trở thành biểu tượng của sự lạc hậu, nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ
và máy vi tính Một dân tộc có trình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hoá nghèo nàn, và ngược lại, một dân tộc lạc hậu vẫn có thể có một nền văn hoá phong phú Điều này chúng ta có thể thấy ngay tại đất nước Việt Nam, mảnh đất
mà chúng ta đang sinh sống Dù cho nền văn minh của chúng ta không được tiên tiến và hiện đại bằng các nước phát triển khác, song nền văn hoá của chúng ta lại rất phong phú, từ truyền thống đến ẩm thực, từ nếp sống đến cách ăn mặc