1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập tục sinh đẻ của người tà ôi ở huyện a lưới, tỉnh thừa thiên huế và so sánh tập tục sinh đẻ với người bana

10 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập tục sinh đẻ của người Tà Ôi ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế và so sánh tập tục sinh đẻ với người Bana
Trường học Trường Đại học Nghệ thuật Huế
Chuyên ngành Văn hóa học dân gian
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2016
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 179,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập tục sinh đẻ của người Tà Ôi ở Huyện A Lưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế và so sánh tập tụcsinh đẻ với người Bana Sinh đẻ là quá trình sản xuất ra thế hệ mới, chuyện sinh đẻ thì ở đâu cũng có

Trang 1

Tập tục sinh đẻ của người Tà Ôi ở Huyện A Lưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế và so sánh tập tục

sinh đẻ với người Bana Sinh đẻ là quá trình sản xuất ra thế hệ mới, chuyện sinh đẻ thì ở đâu cũng có nhưng tập tục sinh đẻ thì không phải chỗ nào cũng giống nhau, chính những tri thức cũng như quan niệm trong việc sinh đẻ tạo nên nét đặc trưng cho từng vùng, từng dân tộc Qua bài này sẽ làm rõ tập tục sinh đẻ của người Tà Ôi ở Huyện A Lưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế và đồng thời so sánh với tập tục sinh đẻ với người Bana để thấy sợ tương đồng cũng như khác biệt về tập tục sinh đẻ của hai dân tộc cùng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer Tài liệu mà sẽ được chủ yếu sử dụng sẽ là “Tìm Hiểu Văn hóa Dân gian Dân tộc Tà Ôi” của Trần Nguyễn Khánh Phong và “Phong tục, Nghi lễ của Người Cor và Người Bana” của Cao Chư và Nguyễn Quang Lê Qua “Tìm Hiểu Văn hóa Dân gian Dân tộc Tà Ôi” bài viết sẽ tìm hiểu về quan niệm của người Tà Ôi về sinh đẻ, tập tục của người Tà Ôi trong thời kỳ bảo vệ thai nghi và nghi lễ, tập quán liên quan đến sinh đẻ rồi so sánh với tập tục của người Bana thông qua “Phong tục, Nghi lễ của Người Cor và Người Bana”

1 Đặc điểm dân số của người Tà Ôi

Dân tộc Tà Ôi là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer cư trú chủ yếu ở vùng Duyên Hải miền Trung Vùng núi phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế là địa vực cư trú của cộng đồng dân tộc thiểu số Tà Ôi Năm 2004, người Tà Ôi ở Việt Nam có: 37.353 người (Nguyễn Văn Mạnh, 2005) nhưng tính đến năm 2009,theo Điều tra dân số năm 2009 thì trên

cả nước dân tộc Tà Ôi có 43.886 người trong đó có 43.675 người ở vùng Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung, tỉnh Thừa Thiên Huế là khu vực tập trung đông dân nhất của dân tộc

Tà Ôi với 29 558 người (Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương, 2009) Rõ ràng sau 5 năm đã có sự thay đổi rõ rệt trong lượng dân số của người dân Tà Ôi Có thể liên hệ tập tục sinh đẻ ở dân tộc Tà Ôi với sự ra tăng dân số trong 5 năm gần đây Để liên hệ thì trước hết phải hiểu về quan niệm cũng như tập quán của người Tà Ôi trong việc sinh đẻ

Trang 2

(Biểu 5: Dân số chia theo thành thị/nông thôn, giới tính, các vùng kinh tế - xã hội và

tỉnh/thành phố 1/4/2009 Trang 135 Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương và Nhà ở)

2 Quan niệm về sinh đẻ của người Tà Ôi

Khá giống người Việt, người Tà Ôi cũng có quan điểm về “con đàn cháu đống” tức là họ mong cho một gia đình có đông con bởi đông con thì cũng có nghĩa là thuận lợi trong việc duy trì và phát triển nòi giống ( Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) điều này là giống với người Việt, giống cả ở đặc điểm là mong có nhiều con trai bởi cũng giống người Việt đề cao vị trí của người con trai, con trai sẽ là người nối dõi gia tộc Nếu một gia đình có nhiều con được khen thì một gia đình mà không có con sau một thời gian cưới thì bị chê bai thậm chí là bị khinh rẻ bởi họ cho rằng không có con thì có thể ảnh hưởng đến vai vé trong cộng đồng (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) và với cộng đồng không lớn, đa phần là ở nông thôn tức khi mà có môi trường khép kín (Lê Thị Lan, 2015) tức là có cấu trúc đóng, cấu kết xã hội chặt chẽ thì dư luận xã hội luôn nhắm vào

họ để chê trách Điều này đã dẫn đến việc các cặp vợ chồng đặt quá nặng vấn đề sinh đẻ,

Trang 3

coi nó là một nghĩa vụ, trọng trách nặng nề đối với cộng đồng và gia tộc (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016)

Trong xu hướng hiện nay nếu người vợ đầu sau một thời gian cưới về mà chưa có con thì người chồng có quyền thỏa thuận với người vợ để tìm vợ mới nhằm tìm kiếm con để duy trì nòi giống Với một xã hội tự hào khi gia đình có đông con thì họ quan niệm rằng nếu trong gia đình có nhiều coi trai thì sẽ tương ứng với việc phát triển kinh tế vì theo họ con trai là trụ cột kinh tế của một gia đình còn nếu trong trường hợp nhà có nhiều con gái thì họ cho rằng có thể làm giàu bằng cách gả con gái đi (Trần Nguyễn Khánh Phong

& Vũ Thị Mỹ Ngọc, 2017)

Với quan niệm càng nhiều con càng tốt của dân tộc Tà Ôi có thể coi là một trong những

lý do dẫn đấn sự ra tăng dân số nhanh chóng của người Tà Ôi từ 2005 – 2009 Bởi quan niệm, tư tưởng luôn có tác động mạnh mẽ đến sinh hoạt hàng ngày của con người

3 Tập tục liên quan đến sinh đẻ trong thời kỳ bảo vệ thai nhi

Với một gia đình theo chế độ phụ hệ của người Tà Ôi thì việc chăm sóc người phụ nữ có thai từ khi thai nghén đến lúc sinh nở thì trách nhiệm này chủ yếu thuộc về người chồng

và mẹ chồng có thể có cả mẹ đẻ nếu nhà ở gần Ngoài ra thì do việc có thai là một tin mừng với dân tộc Tà Ôi nên người phụ nữ còn được nhận ưu ái từ người thân bên nhà chồng về của cải, lương thực, thực phẩm như thịt gà, măng khô, cá khô, ; còn với bên gái thì có thể tùy tình hình kinh tế phụ 2 bữa/1 ngày hoặc vài ống thịt nướng (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) Có thể thấy là việc phụ nữ có thai là việc trọng đại, được

sự quan tâm đến từ cả hai phía đằng chồng và đằng vợ

Trong việc bảo vệ thai nhi thì mẹ chồng là người có trách nhiệm chính Người mẹ chồng

sẽ là người truyền kinh nghiệm cho con dâu và con trai mình cách để bảo vệ thai nhi được hiệu quả

Trang 4

Công việc, lao động để tạo của ra kế sinh nhai là điều không thể thiếu của người Tà Ôi

kể cả với phụ nữ mang thai Mặc dù không được miễn trừ việc lao động nhưng người phụ nữ được mẹ chồng giao cho những công việc được cho là phù hợp, không gây quá sức với người phụ nữ mang thai Cụ thể là khoảng 3 tháng đầu sẽ được giao cho những công việc như là hái rau, xúc cá, đi rẫy bẻ bắp, Từ tháng 4 đến tháng 8 thì các công việc như gùi củi hay giã gạo, chăm sóc vườn nhà được cho là những công việc cần thiết

để giúp sản phụ cử động cơ thể (Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, 2017)

Về việc kiêng khem thì có xuất hiện trong vấn đề ăn uống và vấn đề liên quan khác Trong ăn uống thì kiêng ăn ớt vì sợ trẻ sơ sinh mờ mắt; kiêng thịt vịt, thịt chó vì sợ thai nhi bị ghẻ lở; kiêng thịt khỉ vì sợ con đẻ ra sẽ bướng bỉnh; kiêng uống rượu vì sợ trẻ đỏ mặt, bướng bỉnh (Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, 2017) Có thể thấy là việc kiêng này đến từ việc quan niệm của họ về bản chất của loài vật hay thực phẩm ví

dụ như là uống rượu nhiều thì say rượu sẽ dẫn đến đỏ mặt và không kiểm soát được bản thân hay là khỉ thì tính cách của nó hoang dã thích trêu chọn người khác tức là bướng bỉnh Việc ăn hay uống những thứ đó là hấp thụ cái bản chất truyền lại cho đứa trẻ do đó cần phải kiêng cữ để ngay ngừa Ngoài ra thì phụ nữ khi mang thai không được làm việc nặng không được buồn chán để con cái có khuôn mặt tươi vui (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) Người phụ nữ khi mang thai bị cấm đến nhiều nơi như là nhà mồ, nhà kho, nhà Rông Người phụ nữ Tà Ôi cũng không được đến nơi người chết khi đang mang thai bởi họ quan niệm rằng con mình sau này sẽ gầy còm, còn việc đến nhà Rông

là một sự ô uế, xúc phạm đến thần linh (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) Có thể thấy rằng người phụ nữ khi đang mang thai được bảo vệ tuyệt đối mặc dù có những hạn chế trong việc kiêng cữ tức là phải kiêng quá nhiều thứ thì có thể đánh giá là người phụ nữ khi mang thai được đề cao

4 Tập quán và nghi lễ liên quan đến sinh đẻ của người Tà Ôi

Trước hết là về tập tục Về địa điểm sinh nở thì sản phụ không được đẻ trong nhà mình mà sẽ được mẹ chồng chuẩn bị cho một chỗ ở dưới nền đất của nhà sàn được

Trang 5

lót chuối khô/rơm hoặc chiếu Ân chát do quan niệm cho rằng đẻ trong nhà chồng thì

sẽ gặp vận rủi trong mọi công việc làm ăn ( Trần Nguyễn Khánh Phong, trang 560 –

561, 2016) Địa điểm sinh nở cũng có thể là nhà mẹ đẻ, nếu ở nhà mẹ đẻ thì không phải đẻ dưới sàn nhà mà được đẻ trong một buồng kín nhưng sau khi về lại nhà chồng thì cần phải có mâm cúng tại nhà mẹ vợ để tạ ơn thần linh và mẹ vợ (Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, trang 90, 2017) Nếu con trai ở rể thì sản phụ đẻ ngay tại nhà mẹ đẻ mà không cần lễ tạ (Trần Nguyễn Khánh Phong, trang

561, 2016)

Trong ngày chuyển dạ thì người đỡ đẻ sẽ thường là mẹ chồng hoặc người thân bên chồng mà có kinh nghiệm Người nhà chồng sẽ nghỉ làm và chuẩn bị mọi thứ phục

vụ cho việc sản phụ lâm bồn Họ sẽ chuẩn bị những thứ như thu dọn chỗ để sản phụ

đẻ, đun nước, chuẩn bị thuốc thang và quan trọng nhất là dụng cụ cắt dây rốn cho đứa trẻ ( Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) Sử dụng một sợi dây rừng dát mỏng rồi phơi khô lấy từng sợ xe lại với nhau thành một sợi vừa dai vưa chắc để cắt (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016)

Sau khi sinh xong thì sẽ được mẹ chồng lau chùi và cắt rốn cho đứa trẻ, tùy loại rốn

mà sử dụng thanh nứa cho phù hợp và thanh nứa cắt rốn sẽ không bị vứt đi mà dắt lên mái nhà để sử dụng cho lần sau Khi cắt rốn, người cắt tức là mẹ chồng của sản phụ phải tự tin, tránh làm đau hoặc kéo dài thời gian, gây khó khăn cho đứa trẻ (Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, 2017) Sau khi tắm rửa và cuốn “tã” cho đứa trẻ thì gia đình sẽ đặt đứa trẻ nằm bên bếp rồi chờ người mẹ làm vệ sinh cá nhân Nếu sản phụ sau khi sinh yếu sức mất nhiều máu không dậy được thì mẹ chồng sẽ làm thủ tục rước hồn họ về để xin có sức khỏe việc rước hồn được thực hiện bằng cách lấy nước nóng để một bên, lấy một cục đá vừa nướng nóng trong bếp lửa nơi sản phụ đẻ, tưới nước nóng lên hòn đá rồi sản phụ hơ chân qua với dụng ý là để phục hồn (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) Sau khi bình phục chồng sẽ dìu vợ lên chỗ con đang nằm Mẹ chồng thu dọn đồ và giặt chỗ giẻ lau nhưng thay về ra suối thì phải múc nước về giặt (Trần Nguyễn Khánh Phong, 2016) do họ sợ thần Sông sẽ

Trang 6

trừng phạt nếu để lai tạp chất ô uế đó Nhau thai cũng sẽ được gói vào đùm lá chuối

và bỏ vào rừng chôn

Ở người Tà Ôi không có quan niệm bắt sản phụ phải đẻ vào một giờ, ngày, tháng nào

cố định cả mà chỉ cần bố chồng chồng làm nài con nộm Panóc để cho ma lai khỏi vào quấy phá đứa trẻ ( Trần Nguyễn Khánh Phong, trang 565, 2016)

Sau khi sinh xong, sản phụ có thể nằm dưỡng sức tùy theo lứa sinh con nếu là con đầu lòng thì sẽ nghỉ dưỡng sinh lâu hơn con thứ, lâu hơn khoảng 3 ngày vì lần đầu chưa quen nên sẽ được nghỉ dưỡng sức từ 7-10 ngày

Về nghi lễ, Sau hơn một tuần sẽ có lễ cúng tiên Chủ nhà là bố chồng và chồng soạn

lễ cúng Yàng Dung và con ma đẻ với lễ vật cúng đơn giản chỉ cần một quả chứng, một chén gạo để cúng và đốt kỳ cul tức chất đốt để tẩy uế (Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, trang 75, 2017) Sau khi làm lễ cúng Yàng Dung xong người phụ nữ có thể quay về với sinh hoạt thường ngày xong vẫn giữ một vài kiêng

cữ nhỏ

Vậy là với việc sinh đẻ của người Tà Ôi với quan niệm con đàn cháu đống cùng với những chuẩn bị kỹ càng từ trước khi đến kì sinh nở, người phụ nữ Tà Ôi có thể coi là mắn đẻ và đây là những điều kiện giúp phát triển dân số của người Tà Ôi trong những năm gần đây Đặc biệt là bây giờ khi người Tà Ôi đã thu nhận những phương pháp chăm sóc hiện đại như là sử dụng sữa bột để bổ sung chất cho người mẹ cũng như là đứa trẻ, chuẩn bị sức khỏe thật tốt giúp người phụ nữ dễ đẻ và không gặp khó khăn khi đẻ

5 So sánh tập tục sinh đẻ của người Tà Ôi với người Bana

Người Bana là một trong 21 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer giống như

Tà Ôi Nếu người Tà Ôi cư trú chủ yếu ở vùng duyên hải miền trung thì người Bana

là cư dân bản địa của vùng đất Tây Nguyên Mặc dù không sống trong cùng 1 khu vực nhưng tập tục sinh đẻ có một vài điểm tương đồng, bài viết sẽ so sánh để chỉ ra

sự tương đồng và khác biệt giữa tập tục sinh đẻ từ khâu chuẩn bị, dưỡng thai đến thời

kỳ trở dạ và tiến hành quá trình sinh con của hai dân tộc này

Trang 7

Người Bana coi sinh đẻ như là một trong nghi lễ quan trọng trong hệ thống nghi lễ vòng đời Sự mang thai, sinh nở là điều thiêng liêng việc thực hiện nghi lễ là cách con người “giải tỏa”, tạo nên sự cân bằng trong mỗi giai đoạn gắn liền với vòng đời của con người (Võ Thị Thùy Dung, 2015) Nghi lễ vòng đời có thể hiểu là “những nghi lễ liên quan đến cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết” (Ngô Đức Thịnh, 2006) tức

là nghi lễ gắn với quá trình phát triển sinh học của con người Là một hệ thống nghi

lễ quan trọng của người Bana thì trong đó việc sinh sản có tính biểu tượng cao Hệ thống phong tục và nghi lễ liên quan trực tiếp đến vòng đời của con người ở đồng bào Bana cũng có nhiều nét tương đồng với các tộc người khác (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012)

Ở giai đoạn phụ nữ dưỡng thai khi bắt đầu biết được mình mang thai thì Phản ứng của cả hai dân tộc là như nhau, người phụ nữ sẽ báo cho chồng và gia đình bên chồng đặc biệt là chồng sẽ là người đứng ra để lo liệu và chăm sóc người phụ nữ này Khác

là người phụ nữ Bana thường sinh con sau khi cưới chồng được vài ba năm thay vì là mong chờ có con càng sớm càng tốt như dân tộc Tà Ôi Giống như dân tộc Tà Ôi người phụ nữ sẽ lập túc báo tin cho chồng khi biết có thai để cùng nhau giữ gìn và chăm sóc cho chu toàn (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012)

Về việc kiêng cữ thì đối với các loại thức ăn giống như người Tà Ôi phụ nữ Bana khi mang thai cũng không ăn ớt cũng vì lý do là sợ con sẽ bị đau mắt (Cao Chư &

Nguyễn Quang Lê, 2012) nhưng khác với người phụ nữ Tà Ôi khi mà còn kiêng cả việc ăn nhiều loại động vật với lý do là sợ con sau này có thể trở nên có nuôi thì người phụ nữ Bana chỉ kiêng những thứ như mít, mía, đồ ăn ngọt vì lý do có thể khiến người phụ nữ bị khó đẻ (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012) Tức là nghĩ đến sự sinh ra thuận lợi của đứa trẻ chứ không nghĩ sâu xa đến tương lai của đứa trẻ như người Tà Ôi Điều này có thể giải thích dựa vào tính cách “được chăng hay chớ” (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê,trang 229, 2012) của người Bana Ngoài ra các món thịt, cá và các loại rau thì người sản phụ vẫn ăn như bình thường

Trang 8

Về công việc lao động thì đặc điểm tương đồng với người Tà Ôi là người phụ nữ Bana cũng vẫn lao động và đi lại một cách bình thường đến tháng 7 – 8 thì người vợ giảm dần cường độ lao động nhưng vẫn cố đi lại để dễ đẻ con sau này (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012) Điều này là giống với người Tà Ôi khi mà phụ nữ vẫn cố làm việc để cả chỉ là việc nhẹ để có thể vận động

Ở giai đoạn lâm bồn khác với dân tộc Tà Ôi khi mà nếu người Tà Ôi không thuê, mướn người khác đỡ đẻ vì sợ người đó dơ bẩn, ô uế và không cẩn thận sẽ gây khó khăn cho sản phụ (Trần Nguyễn Khánh Phong, trang 562, 2016) thì người Bana rất

đề cao vai trò của bà đỡ Cụ thể là khi sản phụ có dấu hiệu chuyên dạ người chồng sẽ cho mời bà đỡ đồng thời chuẩn bị mâm lễ để cúng mụ và trả ơn cho bà đỡ Việc sử dụng dụng cụ cắt dây rốn khác nhau nếu người Tà Ôi dung dây nứa thì người Bana

sử dụng dao bằng cật lồ ô (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012) Nhau thai thay vì chôn vào rừng như người Tà Ôi thì sẽ được chôn ở sau nhà (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012)

Việc sinh đẻ ở người Tà Ôi không hề có sự kiêng cữ khi có người hàng xóm đến thăm tức là khi sản phụ cảm thấy khỏe thì bà con hàng xóm có thể đến thăm (Trần Nguyễn Khánh Phong, trang 566, 2016) Còn với người Bana thì là khi đẻ xong người chồng lấy một cành lá cắm ở cầu thang nhà để người lạ không đến trong vòng một tuần (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012) tức là có sự kiêng cữ đối với người ngoài

Việc đặt tên thì người Tà Ôi cho rằng đó là việc hệ trọng, gửi gắm nhiều mong muốn tốt đẹp của các bậc làm cha mẹ với đứa con mới sinh thành (Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, 2017) điều này tương tự với người Bana khi mà tên của người Bana nhiều khi cũng mang một ý nghĩa đẹp, hoặc một biểu tượng đẹp nào đó trong thiên nhiên (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012) Khác là người Tà Ôi có đặt

họ còn người Bana chỉ có tên mà không có họ (Cao Chư & Nguyễn Quang Lê, 2012)

Trang 9

Vậy là qua bài viết đã thấy được sự tương đồng trong tục sinh đẻ của người Bana và người Tà Ôi ở khía cạnh kiêng cữ, lao động trong quá trình mang thai, việc đặt tên,

và luôn có bóng dáng của người chồng ở cả hai tập tục Khác biệt là với người Tà Ôi

họ đề cao vai trò của người mẹ chồng còn người Bana đề cao vai trò của bà đỡ và khác biệt ở việc kiêng cữ sau khi sinh con Ngoài ra cũng chứng minh được là quan điểm và tập tục sinh đẻ của người Tà Ôi là những đặc điểm dẫn đến sự ra tăng dân số của dân tộc này từ 2005 – 2009

Trang 10

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Văn Mạnh.2005 “Vài suy nghĩ về thành phần tộc người Tà Ôi ở nước ta”

Số 6(138) Tập chí Dân tộc học

2 Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương 2009 “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ” NXB Thống kê

3 Trần Nguyễn Khánh Phong 2016 “Tập tục trong sinh đẻ của người Tà Ôi huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” trong “ Tìm hiểu văn hóa dân gian dân tộc Tà Ôi” NXB Hội Nhà Văn

4 Lê Thị Lan 2015 “Tư tưởng làng xã ở Việt Nam” Số 3 Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam

5 Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, 2017 “ Tiếp cận văn hóa Tà Ôi” NXB Hội Nhà Văn

6 Võ Thị Thùy Dung 2015 “ Giá trị văn hóa trong nghi lễ vòng đời của người M’nông

ở tỉnh Đăk Nông” Số 3(22) Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một

7 Ngô Đức Thịnh 2006 “Nghi lễ và phong tục các tộc người ở Tây Nguyên” NXB Khoa học Xã hội

8 Cao Chư & Nguyễn Quang Lê 2012 “Phong tục và nghi lễ theo vòng đời” trong

“Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba Na” Trang 307 – 313 NXB Văn hóa Dân tộc

9. Cao Chư & Nguyễn Quang Lê 2012 “Khái quát về lịch sử - văn hóa làng Đê Kơtu, thị trấn Kon Downg, Huyện Mang Yang, Tỉnh Gia Lai” trong “Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba na”.Trang 226 – 240 NXB Văn hóa Dân tộc

Ngày đăng: 21/12/2022, 11:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Mạnh.2005. “Vài suy nghĩ về thành phần tộc người Tà Ôi ở nước ta”. Số 6(138). Tập chí Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về thành phần tộc người Tà Ôi ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 2005
2. Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương. 2009. “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ”. NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ
Tác giả: Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
3. Trần Nguyễn Khánh Phong. 2016. “Tập tục trong sinh đẻ của người Tà Ôi huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” trong “ Tìm hiểu văn hóa dân gian dân tộc Tà Ôi”. NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa dân gian dân tộc Tà Ôi
Tác giả: Trần Nguyễn Khánh Phong
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2016
4. Lê Thị Lan. 2015. “Tư tưởng làng xã ở Việt Nam”. Số 3. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng làng xã ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Lan
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2015
5. Trần Nguyễn Khánh Phong & Vũ Thị Mỹ Ngọc, 2017. “ Tiếp cận văn hóa Tà Ôi”. NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn hóa Tà Ôi
Tác giả: Trần Nguyễn Khánh Phong, Vũ Thị Mỹ Ngọc
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2017
6. Võ Thị Thùy Dung. 2015. “ Giá trị văn hóa trong nghi lễ vòng đời của người M’nông ở tỉnh Đăk Nông”. Số 3(22). Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa trong nghi lễ vòng đời của người M’nông ở tỉnh Đăk Nông
Tác giả: Võ Thị Thùy Dung
Nhà XB: Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một
Năm: 2015
7. Ngô Đức Thịnh. 2006. “Nghi lễ và phong tục các tộc người ở Tây Nguyên”. NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ và phong tục các tộc người ở Tây Nguyên
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2006
8. Cao Chư & Nguyễn Quang Lê. 2012. “Phong tục và nghi lễ theo vòng đời” trong “Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba Na”. Trang 307 – 313. NXB Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba Na
Tác giả: Cao Chư, Nguyễn Quang Lê
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 2012
9. Cao Chư & Nguyễn Quang Lê. 2012. “Khái quát về lịch sử - văn hóa làng Đê Kơtu, thị trấn Kon Downg, Huyện Mang Yang, Tỉnh Gia Lai” trong “Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba na”.Trang 226 – 240. NXB Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba na
Tác giả: Cao Chư, Nguyễn Quang Lê
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w