Hai là, trình bày căn cứ ly hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong đó bao gồm căn cứ ly hôn theo “thuận tình ly hôn” và “ly hôn theo yêu cầu của một bên”.. Chồng k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOAĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 17
STT Họ và tên MSSV Nhiệm vụ Kết quả Chữ ký
1 Đặng Minh Triết 1912275 Phần mở đầu, mục 2.2,
phần kết thúc, chỉnh sửa
2 Đỗ Hữu Toàn 2014769 Mục 2.1, 2.2
3 Lê Thị Xuân Trang 2012241 Mục 1.3, 2.2
4 Nguyễn Hoàng Minh Trí 2010734 Mục 1.2, 2.2
5 Lê Bảo Triều 1915630 Mục 1.1, 2.2
NHÓM TRƯỞNG: Đặng Minh Triết Số điện thoại: 0336172127 Email: triet.dangvl26_short@hcmut.edu.vn
Trang 3MỤC LỤC
1.1 Chế định ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 3
1.3 Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 11
CHƯƠNG II CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 23
2.1 Vấn đề pháp lý trong vụ việc và quan điểm của các cấp tòa án 24
2.2 Quan đi m c a nhóm nghiên c u vêề tranh chấấp và kiêấn ngh hoàn thi n quy đ nh pháp lu t hi n ể ủ ứ ị ệ ị ậ ệ
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong suốt lịch sử của bất kỳ nền văn hóa hay tôn giáo nào, hôn nhân đều có riêng cho nó
một định nghĩa Hôn nhân trở thành một trong những nền tảng không thể thiếu của xã hội Luật
Hôn nhân và gia đình đã ra đời như một điều tất yếu nhằm điều chỉnh những mối quan hệ
trong hôn nhân và gia đình Ở Việt Nam hiện tại, Luật Hôn nhân và gia đình là một trong
những nghành luật trong hệ thống pháp luật Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: "Hôn
nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ, một vợ một chồng nhằm xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững" Hôn nhân được khởi đầu bằng một sự
kiện pháp lý là đăng ký kết hôn và kết thúc bằng một sự kiện pháp lý là ly hôn
Thế nên, bên cạnh chế định kết hôn, chế định ly hôn thật sự là một phần quan trọng, thiết
yếu thuộc lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, nằm trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Nhất là khi thực tiễn cho thấy, trong nhiều năm trở lại đây, số vụ án ly hôn ở nước ta có xuhướng tăng rất nhanh và mạnh Nhiều vụ vẫn chưa được xử lý một cách thỏa đáng, đúng theocăn cứ ly hôn theo quy định pháp luật, dẫn đến nhiều hệ lụy không đáng có Nhà nước cũng đãthể hiện sự quan tâm đến lĩnh vực này bằng các văn bản Luật điều chỉnh trong nhiều năm qua
Kết quả là sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với các căn cứ đặc biệt là căn cứ
về ly hôn mới được điều chỉnh và bổ sung.
Khi đời sống hôn nhân không thể duy trì được nữa, ly hôn là giải pháp cần thiết cho giađình và xã hội Làm thế nào để có thể giải thoát cho đôi bên khỏi những mâu thuẫn, bế tắttrong cuộc sống mà vẫn đảm bảo được sự bình đẳng về quyền lợi và lợi ích, thật sự là một vấn
đề rất cần thiết cho sự phát triển của xã hội Bởi vậy, với mong muốn được tìm hiểu sâu hơnnhằm nâng cao nhận thức và kiến thức về những vấn đề trên hay xa hơn là đưa ra những kiến
nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật Nhóm nghiên cứu chọn đề tài “Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” cho Bài tập lớn trong chương trình học môn
Pháp luật Việt Nam Đại cương
Trang 62 Nhiệm vụ của đề tài:
Một là, làm rõ khái quát lý luận về vấn đề ly hôn theo pháp luật Việt Nam Đặc biệt trong
đó là quyền yêu cầu giải quyết ly hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Hai là, trình bày căn cứ ly hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong
đó bao gồm căn cứ ly hôn theo “thuận tình ly hôn” và “ly hôn theo yêu cầu của một bên”
Ba là, phân tích làm sáng tỏ từng căn cứ ly hôn khi vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình
hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng hoặc vợ/chồng bị tuyên bố mất tíchhoặc ly hôn theo yêu cầu cha, mẹ, người thân thích khác
Bốn là, nhận xét vấn đề từ góc độ thực tiễn, phát hiện những bất cập của quy định hiện
hành
Năm là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và
gia đình 2014
3 Bố cục tổng quát của đề tài:
Nhóm nghiên cứu chia đề tài thành 3 phần lớn gồm Phần Mở Đầu, Phần Nội Dung và Phần
kết thúc Phần Nội Dung gồm 2 chương chính: “Chương I: Lý luận chung về căn cứ ly hôn
(tìm hiểu về những khái niệm cơ bản, những căn cứ về ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014); Chương II: Căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 – từ
thực tiễn đến kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật (phân tích và đưa ra quan điểm từ
tình huống thực tiễn).”
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN 1.1 Chế định ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình
1.1.1 Khái niệm ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình
Theo từ điển : 1 “Ly Hôn là việc hai vợ chồng bỏ quan hệ vợ chồng chính thức, vì những nguyên nhân nào đó mà không đạt được mục đích hôn nhân Việc Ly Hôn có thể xảy ra ở 2 thời kì: sau khi dạm hỏi (trước lúc cưới), và sau lúc cưới khi hai vợ chồng đã ăn ở với nhau một thời gian, thậm chí sau khi đã sinh con cái”.
Theo triết học: Theo Lênin: “Tự do ly hôn tuyệt không có nghJa là làm “tan rã” những m Āi
liên hệ gia đình mà ngược lại, nó cLng c Ā những mĀi liên hệ đó trên những c漃 sở dân chL,
những c 漃 sở duy nhĀt có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” Các-Mác đã viết: 2
"Sự ly hôn chS là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại cLa nó chS là cái vỏ bề ngoài và là sự giả d Āi” 3
Ly hôn được định nghĩa tại Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Ly hôn là
việc ch Ām dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cLa Tòa án.
Tòa án là c 漃 quan duy nhĀt có trách nhiệm ra phán quyết chĀm dứt quan hệ hôn nhân cLa vợ
chồng Phán quyết ly hôn cLa Tòa án thể hiện dưới hai hình thức là bản án hoặc quyết định.”
Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nộidung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyếtđịnh
Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.Theo quy định của Pháp luật Việt Nam thì ly hôn hay ly dị là chấm dứt quan hệ hôn nhân
do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng
1 http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn/noidung/tudien/Lists/GiaiNghia/View_Detail.aspx?ItemID=15851
2 23 Lênin, Về quyền dân tộc tự quyết, Toàn tập, Tập 25, NXB Tiến Bộ, Matxcova 1980, tr 335
3 C.Mác-Ph.䄃ngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Hà Nội, NXB Sự thật, 1978, tr 119-121
Trang 8khi mà tình trạng gia đình trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hônnhân không đạt được Nhiều người cho rằng ly hôn là giải pháp để kết thúc sự đổ vỡ của tìnhyêu hoặc nhằm chấm dứt quan hệ gia đình khi không còn hạnh phúc.4
Ở mỗi lĩnh vực, khái niệm về “ly hôn” đều sẽ có những điểm khác nhau Tuy nhiên, kháiniệm về “ly hôn” trong Luật Hôn nhân và gia đình ở Việt Nam có tính cụ thể nhất Khái niệm
ly hôn đã chỉ ra rõ rãng từ các chủ thể có liên quan, lý do và mục đích trọng tâm của ly hôntrong quan hệ hôn nhân
1.1.2 Chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
Tại Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “ 1 Vợ, chồng hoặc cả hai
người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; 2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chL được hành vi cLa mình, đồng thời là nạn nhân cLa bạo lực gia đình do chồng, vợ cLa họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần cLa họ; 3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Vậy theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, có ba chủ thể có quyền được yêu cầugiải quyết ly hôn là vợ, chồng và người thân thích khác Họ có quyền yêu cầu giải quyết ly hônkhi cuộc hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đíchhôn nhân không đạt được
Trong Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chủ thế bị hạn chế quyền ly hôn được quyđịnh:
Thứ nh Āt, theo quy định tại Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, người chồng
không có quyền yêu cầu ly hôn với tư cách nguyên đơn trong trường hợp người vợ đang cóthai, sinh con hoặc nuôi con dưới mười hai tháng tuổi Việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn này
sẽ chấm dứt khi người vợ đã qua thời kì mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi
4https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%8Bnh_ly_h%C3%B4n_(Lu%E1%BA%ADt_Vi
%E1%BB%87t_Nam)#cite_note-2
Trang 9Như vậy, trong trường hợp người vợ đã bị sảy thai thì quyền yêu cầu ly hôn của người chồngđược phục hồi.
Thứ hai, quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn tại Khoản 3 Điều 51 luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 chỉ đặt ra đối với người chồng mà không áp dụng đối với người vợ Trong thờigian người vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu xét thấy mâu thuẫn
vợ chồng đã quá sâu sắc, mục đích của hôn nhân không đạt được, việc tiếp tục duy trì hôn nhân
sẽ gây bất lợi cho quyền lợi của người vợ, ảnh hưởng đến sức khỏe của người vợ, thai nhi hoặctrẻ sơ sinh mà người vợ có yêu cầu ly hôn thì tòa án thụ lí giải quyết vụ kiện theo thủ tụcchung Đây là một trong những quy định thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Luật Hôn nhân vàgia đình Quyền lợi của trẻ em và phụ nữ có thai được pháp luật tôn trọng, đề cao và bảo vệchặt chẽ
Thứ ba, điều này được áp dụng ngay cả trong trường hợp người vợ đang mang thai với
người khác hoặc bố của đứa trẻ là ai thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền ly hôn Điều nàycho thấy trong trường hợp người chồng phát hiện vợ ngoại tình và đứa con vợ mình đang mangthai, mới sinh hay dưới 12 tháng tuổi không phải là con của mình thì vẫn bị hạn chế quyền lyhôn tức là không được quyền yêu cầu Tòa án cho ly hôn
Thứ tư, vấn đề điều luật quy định người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhưng đối với
con nuôi của hai vợ chồng thì người chồng có được yêu cầu ly hôn không vẫn còn gây bối rốitrong việc giải quyết của các Tòa Có Tòa thì không hạn chế ly hôn của người chồng khi đangnhận con nuôi, vì người vợ không bị tổn hại sức khỏe, tâm lý không bị ảnh hưởng nhiều nênngười chồng có quyền yêu cầu ly hôn Ở đây chỉ xét đến trường hợp con của vợ chồng trongthời kỳ hôn nhân Hay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mới có quy định về việc mangthai hộ, nếu người vợ vì mục đích nhân đạo, đang trong thời gian mang thai hộ hoặc đang trongthời gian sinh con hộ thì liệu người chồng có được yêu cầu ly hôn không? Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2014 chưa có văn bản hướng dẫn các trường hợp cụ thể Căn cứ về nguyên tắcbảo vệ phụ nữ và trẻ em suy ra trong trường hợp người vợ đang mang thai hộ hoặc sinh con hộ,thì người chồng vẫn bị hạn chế ly hôn
Trang 10Thứ năm, cần lưu ý rằng, khi vợ, chồng không thể bộc lộ ý chí do bị bệnh tâm thần hoặc
mắc bệnh khác mà không thể nhân thức, làm chủ được hành vi của mình mà dẫn tới việc đượcxác định mà mất hành vi năng lực dân sự thì người vợ, chồng đó cũng không thể thực hiệnquyền yêu cầu ly hôn Trường hợp này không được coi là hạn chế quyền yêu cầu ly hôn vì đây
là trường hợp mà bản thân người mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng tự thực hiệnquyền của mình.’5
1.2 Khái quát chung về căn cứ ly hôn
1.2.1 Khái niệm về căn cứ ly hôn
Theo quy định của Điều 55 và Điều 56, tại Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, thì quyđịnh về hai trường hợp là: “Thuận tình ly hôn” và “ Ly hôn theo yêu cầu của một bên”
Nếu như kết hôn là khởi đầu để xác lập nên quan hệ vợ chồng thì ly hôn có thể coi làđiểm cuối của hôn nhân khi quan hệ này thực sự tan rã Khi đời sống hôn nhân không thể duytrì được nữa thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên vợ chồng, Ly hôn giải phóngcho các cặp vợ chồng và những thành viên trong gia đình thoát khỏi xung đột, mâu thuẫn, bếtắc trong cuộc sống Bằng các quy định về ly hôn, Nhà nước cũng hướng tới bảo vệ lợi ích củagia đình, của xã hội khi xác định những điều kiện cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân trước
pháp luật, gọi chung là căn cứ ly hôn.6
Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấpthống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chícủa Nhà nước Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan hệ
vợ chồng, và những điều kiện nào được phép xóa bỏ quan hệ hôn nhân Do có quan điểm khácnhau về quy định ly hôn và giải quyết ly hôn, cho nên căn cứ ly hôn được quy định trong phápluật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa có nội dung khác về bản chất so với căn cứ ly hôn do Nhànước phong kiến, tư bản đặt ra Pháp luật của nhà nước phong kiến, tư sản quy định có thể cấm
ly hôn, không quy định căn cứ ly hôn mà chỉ công nhận quyền vợ chồng được sống tách biệt
5 https://luatdaiha.com/han-che-quyen-yeu-cau-ly-hon-trong-phap-luat-viet-nam-13092915.html
6 Dương Thị Thùy Linh (2019), Căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 và thực tiễn áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp hôn nhân,Luận văn thạc sĩ,Đại học Quốc gia Hà Nội ,tr.11.
Trang 11nhau bằng chế định ly thân; bằng hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hônnhân; theo độ tuổi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng, đó là các điều kiện có tính chất hìnhthức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản chất ly hôn đã tan vỡ.Ngược lại, pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đángcủa vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn.
Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệhôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó hoàn toàn có lợi cho vợ, chồng, con cái và các thành viên
trong gia đình Các-Mác đã viết: "Sự ly hôn chS là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân
này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại cLa nó chS là cái vỏ bề ngoài và là sự giả d Āi Đư漃ng
nhiên, không phải sự t^y tiện cLa nhà lập pháp, c_ng không phải sự t^y tiện cLa những cá nhân, mà chS bản ch Āt cLa sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân này đã chết hoặc
chưa chết Bởi vì việc xác nhận sự kiện chết là t^y thuộc vào thực ch Āt cLa vĀn đề chứ không
phải vào nguyện vọng cLa những bên hữu quan Nhà lập pháp chS có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được ph攃Āp tan vơ, nghJa là trong đó, về thực chĀt hôn nhân tự nó đã bị
phá v ơ rồi, việc Tòa án cho ph攃Āp phá bỏ hôn nhân chS có thể là việc ghi biên bản sự tan vơ bên
trong cLa nó” 7
Pháp luật Việt Nam là pháp luật xã hội chủ nghĩa nên khái niệm căn cứ ly hôn có thể hiểu
là: những tình tiết hay các điều kiện pháp lý do pháp luật quy định, chỉ khi có những tình tiết,hay điều kiện đó, thì Tòa án mới quyết định cho vợ chồng ly hôn Hoặc căn cứ ly hôn là nhữngyếu tố để xác định đúng tình trạng tan vỡ thực sự về tình cảm, đời sống vợ chồng, mục đíchcủa hôn nhân từ đó Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn
Theo tác giả, có thể định nghĩa “ Căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý được luật định dựa trên cơ
sở hôn nhân tan vỡ, dựa vào đó để Tòa án giải quyết các vụ việc ly hôn”.8
7 C.Mác-Ph.䄃ngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Hà Nội, NXB Sự thật, 1978, tr 119-121
8 Dương Thị Thùy Linh (2019), Căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 và thực tiễn áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp hôn nhân,Luận văn thạc sĩ,Đại học Quốc gia Hà Nội ,tr.13.
Trang 12Theo quan điểm cLa nhóm, căn cứ ly hôn có thể định nghĩa như sau: “ Căn cứ ly hôn là tập
hợp những điều kiện pháp lý, mà bắt buộc phải có nó phát sinh, thì bên nam hoặc nữ mới cóthể tiến hành ly hôn tại Tòa Tòa án dựa theo những điều kiện này để giải quyết ly hôn cho haingười, và đảm bảo đủ quyền lợi của mỗi người khi ly hôn Nếu không có nó, thì việc chấm dứthôn nhân sẽ không được diễn ra.”
1.2.2 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn trong pháp luật
1.2.2.1 Cơ sở của Luật Hôn nhân và gia đình quy định về căn cứ ly hôn
Dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự do, tự nguyện hôn nhân bao gồm quyền tự do kếthôn và tự do ly hôn, các quy định của pháp luật về luật Hôn Nhân và gia đình về căn cứ ly hôn
là hết sức cần thiết Hiện nay xã hội chúng ta đã tiến bộ, bình đẳng, hôn nhân cũng phải tiến bộtheo sự phát triển cũa xã hội, chứ không còn như thời phong kiến “Cha mẹ đặt đâu, con ngồiđấy”, hay cũng không còn nhiều những phong tục như bắt vợ ( trừ một số nơi dân tộc thiểu sốvẫn còn phong tục này ) Con người có quyền tự do đi đến hôn nhân, nhưng cả hai phải tựnguyện, quan hệ vợ chồng bình đẳng nhau trong việc gia đình, nuôi con, tôn trọng nhau trongmọi việc Và khi có biến cố xảy ra mà một trong hai không còn thể đi tiếp được thì cả hai đều
có quyền ly hôn Nên cơ sở của Luật Hôn nhân và gia đình phải đảm bảo quyền tự do hônnhân, bao gồm quyền tự do kết hôn, và tự do ly hôn
Hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 55 và Điều 56) đã quy định căn cứ
ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đãtan vỡ Có cơ sở khoa học và thực tiễn được kiểm nghiệm trong nhiều năm, từ khi Nhà nước taban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Quan điểm của nhà nước ta là tôn trọng quyền
tự do ly hôn và giải quyết ly hôn dựa vào thực chất của quan hệ hôn nhân có tồn tại hay không,hay sự tồn tại chỉ là hình thức bề ngoài Do vậy, việc quy định căn cứ ly hôn là rất cần thiết vàquan trọng Nó thể hiện quan điểm của nhà nước ta về vấn đề này Việc quy định căn cứ ly hôn
rõ ràng là cơ sở quan trọng để Tòa án, Thẩm phán giải quyết việc ly hôn đúng đắn, thấu tìnhđạt lý.9
9 Dương Thị Thùy Linh (2019), Căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 và thực tiễn áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp hôn nhân,Luận văn thạc sĩ,Đại học Quốc gia Hà Nội ,tr.13.
Trang 131.2.2.2 Ý nghĩa của chế định này trong thực tế
Quy định căn cứ ly hôn trong pháp luật là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng được thể hiệntrong một số nội dung sau: 10
Thứ nh Āt, quy định căn cứ ly hôn đảm bảo lợi ích cho nhà nước, của xã hội trong việc
điều chỉnh quan hệ gia đình, trong đó có quan hệ vợ chồng Xã hội muốn vững mạnh thì từng
tế bào của xã hội ( là gia đình ) phải ổn định Nhà nước chỉ chấp nhận cho phép chấm dứt quan
hệ hôn nhân giữa vợ và chồng khi việc ly hôn không trái với lợi ích gia đình Ví dụ: Trongpháp luật ở thời phong kiến, lợi ích của gia đình được chú trọng đứng trên lợi ích của vợchồng, do đó khi có căn cứ làm ảnh hưởng tới lợi ích của gia đình, thì vợ chồng được ly hôn
Thứ hai, căn cứ ly hôn đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa các bên đương sự, giải thoát
xung đột, bế tắc trong đời sống hôn nhân Ví dụ: Trong trường hợp người vợ đang có thai, đangsinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì người chồng không có quyền yêu cầu lyhôn
Thứ ba, quy định căn cứ ly hôn giúp cho vợ chồng nhận thức, điều chỉnh hành vi của
mình để có thể tự dàn xếp, thỏa thuận để quan hệ vợ chồng tốt đẹp hơn trước khi đưa ra quyếtđịnh ly hôn Thông qua đó, là biện pháp hữu hiệu trong việc củng cố quan hệ gia đình, bảo vệlợi ích chính đáng của các đương sự và trên hết là bảo vệ cuộc hôn nhân đã được xác lập
Thứ tư, căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết việc
ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu Tòa án chỉ giải quyết ly hôn khi việc ly hôn là cần thiết,phù hợp với thực tế của quan hệ vợ chồng và đảm bảo sự thống nhất trong việc xét xử
Thứ năm, căn cứ ly hôn nhằm bình ổn quan hệ hôn nhân, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển
của xã hội, củng cố chế độ một vợ một chồng, tự nguyện, tiến bộ, góp phần khẳng định nguyêntắc bình đẳng giữa vợ và chồng Căn cứ ly hôn là cơ sở đảm bảo sự nhất quán, thống nhất trongviệc xây dựng những chế định, những quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình Khi gia đình
ổn định thì cũng góp phần làm xã hội ổn định Các quy định của căn cứ ly hôn chặt chẽ thì sẽ
10 Nguyễn Thị Thơm (2015), Căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014,Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội ,tr.17.
Trang 14góp phần làm giảm tình trạng ly hôn Thể hiện sự bình đẳng ở việc pháp luật không “thiên vị”chủ thể nào.
Theo quan điểm cLa nhóm, thì ý nghJa cLa chế định như sau: Những quy định trong căn
cứ ly hôn, giúp cho vợ chồng khi có ý định ly hôn thì có thể tự điều chỉnh tự thỏa thuận vớinhau để có thể cứu vãn trước khi đi đến ly hôn Là cơ sở cho Tòa án dựa theo mà quyết địnhcoi chủ thể có ly hôn hợp pháp được không, phù hợp với tình hình hôn nhân thực tế của vợchồng mà đảm bảo sự thống nhất trong xét xử, đảm bảo quyền lợi, lợi ích chính đáng của cácbên đương sự Góp phần làm cho xã hội ổn định hơn, hay các căn cứ ly hôn được làm chặt chẽ,hợp lý, luôn thay đổi phù hợp với sự phát triển, thay đổi của xã hội thì cũng góp phần làm giảm
tỷ lệ ly hôn không chính đáng Gia đình ổn định , vợ chồng cùng nhau làm ăn, chăm lo con cáitốt, thì xã hội Việt Nam ta càng ngày càng vững mạnh, giàu đẹp Nhất là trong tình hình đấtnước ta đang phải đối đầu với tình trạng khó khăn là dịch COVID-19, do đó những tế bào của
xã hội ổn định, chung tay cũng góp phần giúp đất nước ta quyết thắng đại dịch
1.2.3 Một số nguyên nhân ly hôn ở nước ta hiện nay
1.2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn ở nước ta hiện nay
Có một thực tế đáng buồn là xã hội càng phát triển hiện đại thì càng có nhiều cặp vợ chồngtan vỡ hôn nhân Dưới đây là những lý do chính khiến cho các cặp vợ chồng không còn conđường nào khác ngoài “ly hôn”: Vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột, mâu thuẫn kéo dài
mà không giải quyết được ; Bạo lực gia đình kéo dài, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạngcủa chủ thể; Ngoại tình; Mâu thuẫn trong việc tranh chấp tài sản chung; Hiếm muộn; Ghentuông thái quá; Hay săm soi những lỗi lầm của nhau, săm soi đời tư của nhau, không có khônggian riêng cho mỗi người
1.2.3.2 Sự khác biệt của “nguyên nhân ly hôn” với “căn cứ ly hôn”.
Sự khác biệt giữa “nguyên nhân ly hôn” và “căn cứ ly hôn”: Nguyên nhân ly hôn là nhữngvấn đề không hòa hợp mà giữa vợ chồng được phát sinh ra trong quá trình sinh sống với nhau,
có những nguyên nhân chỉ mang tính cá nhân từ một phía ( nguyên nhân này có thể là hợp lýhoặc không hợp lý), phụ thuộc vào cách cư xử, thái độ, tính cách, công việc, gia đình, phong
Trang 15tục v v mà sinh ra Còn căn cứ ly hôn là những điều kiện được pháp luật quy định, Tòa án dựavào đó mà phán quyết coi cuộc hôn nhân đó có đủ điều kiện để ly hôn hay không, mà nhữngđiều kiện này được quy định một cách rõ ràng, khoa học, qua nhiều lần chỉnh sửa để phù hợpvới chế độ Nhà nước, xã hội, sự thống nhất của tầng lớp nhân dân.
Theo nhóm nghiên cứu, những nguyên nhân này, không nên xem là “căn cứ ly hôn” Nhữngnguyên nhân có thể hợp tình hợp lý, và giống những điều kiện trong “căn cứ ly hôn” mà nhànước quy định Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những nguyên nhân mang yếu tố cá nhân cảmxúc, những nguyên nhân vô lý từ một phía nên không thể dựa vào đó mà làm cơ sở ly hôn Và
“căn cứ ly hôn” hiện nay được trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, có sự phù hợp, phổ biến đốivới tầng lớp nhân dân để tạo nên cứ theo đó mà áp dụng Tạo sự thống nhất để Tòa án và Thẩmphán có thể dựa vào đó mà xử lý cho chính xác, đảm bảo quyền lợi cho vợ và chồng khi đi đếnquyết định ly hôn
1.3 Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
1.3.1 Căn cứ ly hôn trong trường hợp vợ, chồng thuận tình ly hôn
Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thuận tình ly hôn như sau:
“Trong trường hợp vợ chồng c^ng yêu cầu ly hôn, nếu x攃Āt thĀy hai bên thật sự tự nguyện ly
hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dư ơng, chăm sóc, giáo dục con
trên c 漃 sở bảo đảm quyền lợi chính đáng cLa vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly
hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng cLa vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.
Theo đó, để được xác định là thuận tình ly hôn, cần phải đảm bảo đầy đủ hai điều kiện sau
đây: “Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn; Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia
hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dư ơng, chăm sóc, giáo dục con, nợ
chung…Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng cLa vợ, con.”
Hai điều kiện để được xác định là thuận tình ly hôn trên là hoàn toàn đầy đủ, khách quan vàhoàn toàn phù hợp với mục đích ly hôn thuận tình của cả vợ và chồng
Trang 16Sự tự nguyện của vợ, chồng là điều kiện tất yếu khi thuận tình ly hôn và ý chí là yếu tốquan trọng nhất để xác định sự tự nguyện ấy
Thứ nh Āt, vợ chồng chỉ được coi là tự nguyện ly hôn nếu mỗi bên vợ, chồng đều không bị
tác động bởi bên kia hay bất kì bên nào khác khiến họ phải ly hôn trái với nguyện vọng củamình, không phải ly hôn giả tạo Ly hôn vốn là biện pháp cuối cùng cho những cuộc hôn nhânkhông thể hàn gắn, nhưng hiện nay ly hôn giả tạo đang trở thành biện pháp hữu hiệu một sốcặp vợ chồng để mưu cầu lợi ích vật chất cho gia đình mình như tẩu tán tài sản khi thanh toán
nợ, xuất ngoại, xuất khẩu lao động, thậm chí có cả trường hợp để được sinh con thứ ba Trườnghợp ly hôn giả tạo được Khoản 15 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như
sau: “Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trĀn tránh nghJa vụ tài sản, vi phạm chính sách,
pháp luật về dân s Ā hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chĀm dứt hôn
nhân” Vợ, chồng ly hôn nếu được Tòa án chấp nhận thì vẫn tiến hành giải quyết bình thường
và hậu quả là quan hệ về nhân thân và quan hệ tài sản của vợ, chồng sẽ chấm dứt Trong trườnghợp Tòa án xem xét thấy rằng việc ly hôn là giả tạo, nhằm thực hiện mục đích khác, tình trạng
vợ chồng chưa trầm trọng, chưa có căn cứ ly hôn thì sẽ không chấp nhận yêu cầu ly hôn đó.Theo quy định của pháp luật, ly hôn giả tạo là hành vi bị pháp luật cấm và sẽ bị xử phạt hànhchính theo quy định của pháp luật Khoản 2 Điều 48 của Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổiNghị định 110/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hànhchính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy
định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi ly hôn giả tạo như sau: “Phạt tiền từ
10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đ Āi với một trong các hành vi sau: Lợi dụng việc ly hôn
để tr Ān tránh nghJa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân sĀ hoặc để đạt được mục
đích khác mà không nhằm mục đích ch Ām dứt hôn nhân” Như vậy, ly hôn giả tạo có thể bị xử
lý vi phạm hành chính với mức phạt tiền là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, tùy vàomức độ nghiêm trọng của hành vi và hậu quả của hành vi đó Ly hôn giả tạo như con dao hailưỡi, dù giúp cho vợ chồng đạt được mục đích của mình, tuy nhiên khi đã tiến hành ly hôn thìpháp luật không thể bảo vệ quyền làm chồng hay làm vợ của những người đã ly hôn
Trang 17Thứ hai, vợ chồng cùng thể hiện ý chí là mong muốn ly hôn Đối với trường hợp thuận tình
ly hôn thì yếu tố “ý chí” là yếu tố quan trọng nhất để xác định sự tự nguyện của vợ chồng Haibên vợ chồng cùng thể hiện ý chí muốn ly hôn vào cùng một thời điểm và được thể hiện bằngđơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, đây là quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng.Đây chính là đặc trưng để phân biệt với trường hợp ly hôn theo yêu cầu một bên Sự thể hiện ýchí phải thống nhất với ý chí của hai bên vợ chồng Đó phải là sự tự do ý chí, không bên nào bị
lừa dối, cưỡng ép Khoản 9 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cư ơng 攃Āp
kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách cLa cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý mu Ān cLa họ” Nếu vợ và
chồng không thể thống nhất ý chí với nhau trong trường hợp thuận tình ly hôn thì vấn đề lyhôn sẽ không được Tòa án chấp nhận cho giải quyết ly hôn
Vợ chồng phải thỏa thuận được về tài sản và con cái, đây là điều kiện cần thiết để đượcchấp nhận thuận tình ly hôn, những vấn đề mà vợ chồng cần thỏa thuận như:
Thứ nh Āt, quyền nuôi con và mức cấp dưỡng: nếu như các cặp vợ chồng có con chung thì
khi thuận tình ly hôn cần phải thỏa thuận được ai sẽ là người nuôi con và mức cấp dưỡng màngười còn lại phải chi trả hàng tháng là bao nhiêu
Thứ hai, chia tài sản chung Trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn, việc thỏa thuận
những vấn đề liên quan về tài sản và con cái sẽ xảy ra hai trường hợp: “Trường hợp thứ nhĀt:
hai bên đã thỏa thuận được việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dư ơng, chăm sóc, giáo dục
con và sự thỏa thuận này đảm bảo quyền lợi chính đáng cLa vợ và con Điều này sẽ giúp cho thời gian ly hôn được nhanh chóng, thuận lợi; Trường hợp thứ hai: d^ vợ chồng thuận tình ly hôn, nhưng hai bên không thỏa thuận được việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dư ơng,
chăm sóc, giáo dục con hoặc có thỏa thuận nhưng việc thỏa thuận không đảm bảo được quyền lợi chính đáng cLa vợ và con Trong trường hợp hai, tòa án không thể ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn được, quan hệ vợ chồng bản ch Āt đã tan vơ, là trường hợp chuyển hóa từ thL
tục giải quyết việc dân sự sang vụ án dân sự do trong quá trình xu Āt hiện tranh chĀp cần giải
quyết.”
Trang 18Việc đảm bảo được lợi ích chính đáng của người vợ và con cái là rất quan trọng khi thuậntình ly hôn
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đềgiải phóng phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta luôn dành cho phụ nữ một sự quan tâm đặc biệt.Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946), Nhà nước đã ghi nhận quyền bìnhđẳng của phụ nữ và nam giới Quyền bình đẳng đó còn được thể hiện và được bảo vệ cả trongtrường hợp đặc biệt đó là khi vợ chồng ly hôn
Người phụ nữ giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình Nam giớisau một ngày công tác bận rộn, mệt nhọc có lúc vui nhưng cũng có những lúc thật sự căngthẳng Khi về nhà, họ cần được nghỉ ngơi, cần được hưởng không khí ấm cúng của gia đinh,cần nhìn thấy những đứa con sạch sẽ, ngoan ngoan, họ cũng cần nhưng bữa cơm ngon, cầnthấy nhà cửa ngăn nắp, gọn gàng và nhất là người vợ dịu dàng, ân cần chăm sóc cho cha mẹchồng cũng như xử sự tế nhị với gia đình bên chồng sẽ làm cho tan biến đi những lo toan, vất
vả Rõ ràng, tất cả những công việc trên phụ thuộc vào tính cách của người phụ nữ Để điềuhòa được các mối quan hệ gia đình, nó đòi hỏi những đức tính đảm đang, dịu dàng, biết thôngcảm, chịu khó và sự tinh tế ở người phụ nữ Hơn nữa, người phụ nữ còn được ban một thiênchức vô cùng quan trọng và cao quý, đó là làm mẹ
Thế nhưng khi nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI thì khắp mọi nơi trên Trái Đất phụ nữvẫn phải chịu đựng những bất công, bị ngược đãi, bị đanh đập vẫn tồn tại và phổ biến Sự thiênlệch về giới tính không còn đơn thuần là vấn đề về thai độ, nó được thể hiện trong hầu hết cáclĩnh vực của đời sống xã hội Khi vợ chồng ly hôn, ngoài việc tình nghĩa mặn nồng bao nămvun đắp không còn thì ngay cả vấn đề tài sản, sự thiệt thòi vẫn nghiêng về người phụ nữ Córất nhiều lý do dẫn đến sự thiệt thòi đó như quá tin tưởng chồng, hạn chế về hiểu biết phápluật, trình độ văn hóa thấp…
Bên cạnh đó không chỉ có phụ nữ mà cả trẻ em trong trường hợp đặc biệt trên cũng đượcbảo vệ, trở thành một vấn đề đáng lưu ý và được quan tâm Công ước quốc tế về quyền trẻ em
đã khẳng định: “Để phát triển đầy đL và hài hòa nhân cách cLa mình, trẻ em cần được trưởng
thành trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thư 漃ng và thông cảm C_ng như cần có sự bảo vệ