Căn cứ hủy...7 2.1.1 Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu...7 2.1.2 Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, phán quyết trọng tài có nội du
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 Tổng quan về hủy phán quyết trọng tài 1
1.1 Khái niệm, bản chất, ý nghĩa của việc hủy phán quyết trọng tài 1
1.2 Pháp luật điều chỉnh của hủy phán quyết trọng tài 2
1.3 Nội dung của pháp luật về hủy phán quyết trọng tài 6
CHƯƠNG 2 Căn cứ, trình tự, thủ tục và hệ quả hủy phán quyết trọng tài 7
2.1 Căn cứ hủy 7
2.1.1 Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu 7
2.1.2 Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài 11
2.1.3 Thành phần Hội đồng Trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái quy định của pháp luật 14
2.1.4 Chứng cứ do các bên cung cấp mà hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để phán quyết là giả mạo, trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài 17
2.1.4 Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam 19
2.2 Trình tự, thủ tục yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 22
2.2.1 Trình tự, thủ tục yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 22
2.2.2 Trình tự, thủ tục liên quan đến thẩm quyền của Tòa Án trong việc hủy phán quyết trọng tài 23
2.3 Hệ quả pháp lý của hủy phán quyết trọng tài 24
2.3.1 Khi phán quyết trọng tài bị huỷ, những ưu điểm vượt trội của trọng tài sẽ không hiện hữu 24
2.3.2 Những bất cập của pháp luật và giải pháp 25
KẾT LUẬN
Trang 2CHƯƠNG 1. Tổng quan về hủy phán quyết trọng tài.
1.1 Khái niệm, bản chất, ý nghĩa của việc hủy phán quyết trọng tài
Khái niệm
Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật trọng tài thương mại(LTTTM) năm 2010 có quy định: “Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọngtài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài.” Được hiểurằng trong quá trình tố tụng trọng tài, hội đồng trọng tại có quyền ban hành những quyếtđịnh như quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các quyết định về tố tụng,quyết định về chấm dứt tố tụng trọng tài…Các quyết định trên là quyết định trọng tài vàđược thi hành Trong đó quyết định hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụtranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài được gọi là phán quyết trọng tài Nhìn chung ta
có thể đưa ra một khái niệm khát quát cho phán quyết trọng tài là quyết định phán quyếtcủa hội đồng trọng tài thương mại giải quyết tất cả nội dung tranh chấp giữa các bên thamgia tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài, bắt buộc các bên phải chấp hành và thựchiện (chung thẩm) Phán quyết trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp vàchấm dứt tố tụng trọng tài, khi phán quyết trọng tài đưa ra toàn bộ vụ tranh chấp sẽ đượcgiải quyết và thủ tục trọng tài cũng đồng thời chấm dứt Phán quyết trọng tài là kết quảcuối cùng của quá trình tố tụng trọng tài, kết thúc quá trình tố tụng Phán quyết trọng tài
là chung thẩm và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên Chung thẩm là một trong cácnguyên tắc cơ bản của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Điều này giúp cho phán quyếttrọng tài sẽ không bị các bên tranh chấp kháng cáo với bất kỳ tòa án hoặc tổ chức nào vàphán quyết sẽ không bị cơ quan nào kháng nghị Việc phán quyết của trọng tài là chungthẩm tạo điều kiện cho việc giải quyết các tranh chấp diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm thờigian tiền bạc của cải cho các bên đương sự, để một phán quyết thể hiện được tính chungthẩm thì quyết định của trọng tài phải vô cùng khách quan và tuân theo các quy định củapháp luật
Theo quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam phán quyết trọng tài có thể chia làmhai loại là phán quyết trọng tài trong nước (trọng tài Việt Nam) và phán quyết trọng tàinước ngoài Phán quyết trọng tài nước ngoài là phán quyết do trọng tài nước ngoài tuyên
ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam mục đích để giải quyết cáctranh chấp do các bên lựa chọn Việc đó đồng nghĩa với Pháp luật Việt Nam sẽ có những
cơ chế điều chỉnh khác nhau đối với phán quyết trọng tài nước ngoài và phán quyết trọngtài Việt Nam Đối với phán quyết trọng tài nước ngoài ta có Bộ luật dân sự và Công ướcNew York, ở đây tòa án có quyền công nhận hoặc không công nhận phán quyết trọng tài.Còn với phán quyết trọng tài trong Luật thương mại có quy định về thi hành phán quyết
mà không có thủ tục công nhận và cho thi hành nhưng phán quyết có thể bị tuyên hủy tạitòa
Trang 3Hủy phán quyết trọng tài theo từ điển tiếng việt “hủy” là làm cho không có tồn tạihoặc không có giá trị nữa Như vây hủy phán quyết trọng tài là việc tòa án có thẩm quyềnquyết định phán quyết đó sẽ không có giá trị toàn bộ hoặc một phần Nếu phán quyếttrọng tại bị tuyên hủy bởi toàn án có thẩm quyền thì nó sẽ không còn hiệu lực và dẫn đếnviệc không thể thi hành không chỉ bởi tòa án nơi tiến hành trọng tài mà cả tòa án quốc gia
ở nơi khác
Căn cứ vào các điều quy định tại chương XI LTTTM 2010, hủy phán quyết trọng tài
là một chế định của LTTTM trong đó khi một trong các bên có đơn yêu cầu hủy phánquyết thì tòa sẽ xem xét việc hủy phán quyết đó nếu cung cấp đầy đủ và chính xác cáccăn cứ cho rằng trọng tài thương mại đã ra các phán quyết thuộc trường hợp bị hủy theoyêu cầu của pháp luật Việc hủy phán quyết trọng tài không phải là quá trình xét xử lại vụkiện mà tòa án chỉ xem xét lại các trường hợp hủy phán quyết theo quy định pháp luật để
ra quyết định và ngược lại tòa sẽ không đưa ra hủy phán quyết đối với trường hợp bằngchứng chứng cứ lý do không rơi vào những quy định pháp luật ấy
uy tín và thương hiệu
1.2 Pháp luật điều chỉnh của hủy phán quyết trọng tài
Những căn cứ hủy phán quyết trọng tài được quy định tại Điều 68 LTTTM 2010nhưng đây là một căn cứ mà việc hiểu, giải thích như thế nào cho đúng với tinh thần, ý đồcủa nhà làm luật là khó khăn nhất Điều này được phản ánh rất rõ trong việc áp dụng khixét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thời gian qua và cũng gây nhiều băn khoăn, trăntrở trong giới trọng tài, các nhà nghiên cứu, nhà ngoại giao và tổ chức quốc tế vẫn luônquan tâm đến vấn đề này
Trang 4Vì vậy, việc tiếp cận ở các góc độ khác nhau cả về mặt lý luận, quy định của phápluật, các quy định quốc tế có liên quan như Công ước NewYork, bình luận án… là rấtcần thiết để có cách nhìn toàn diện, đầy đủ và chính xác nhất nhằm áp dụng quy định nàytrong thực tế giải quyết tranh chấp, trong xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài mộtcách đúng đắn là rất cần thiết, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên đương sự, lợi ích của bên thứ ba (lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước và xã hội…)vừa làm cho Luật TTTM ngày càng đi vào cuộc sống, hoạt động trọng tài Việt Namkhông ngừng phát triển, thương nhân có nhiều niềm tin, sự lựa chọn các phương thức giảiquyết khi có tranh chấp là mong muốn không chỉ của giới doanh nhân của các Trọng tàiviên, mà còn của mỗi chúng ta vì sự phát triển giàu mạnh của đất nước Với suy nghĩ nhưvậy, bài luận này sẽ làm rõ để chúng ta nên hiểu, giải thích quy định tại điểm đ khoản 2Điều 68 Luật TTTM như thế nào là hợp lý nhất, phù hợp với ý định của nhà làm luật Điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM quy định: “Phán quyết trọng tài trái với cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Có thể hiểu, đây là phán quyết vi phạm cácnguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện phápluật Việt Nam.
Trong thực tiễn xét xử, rất nhiều trường hợp Tòa án căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều
68 để hủy phán quyết trọng tài Rất nhiều nguyên tắc cơ bản hoặc nguyên tắc không cơbản được Tòa án viện dẫn trong quyết định khi hủy phán quyết trọng tài đều là cácnguyên tắc có nội dung hướng dẫn cách xử sự của các bên đương sự trong quá trình giaokết, thực hiện hợp đồng, chứ không phải là các nguyên tắc hướng dẫn cách xử sự của cơquan tài phán Mặt khác, hầu hết quyết định của Tòa án khi áp dụng điểm đ khoản 2 Điều
68 Luật TTTM đều xem xét, giải quyết lại nội dung vụ tranh chấp đã được trọng tài xét
xử Đây rõ ràng là sự vi phạm nghiêm trọng quy định tại khoản 4 Điều 71 Luật TTTM.Khoản 4 Điều 71 quy định: “Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vàocác quy định tại Điều 68 của Luật này và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định;không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết” Nghiêncứu khoản 2 Điều 68 sẽ thấy rõ, đối với các trường hợp thuộc điểm a, b, c, d khoản 2Điều 68 thì người có đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải xuất trình chứng cứchứng minh cho yêu cầu của mình, nếu không chứng minh được sẽ không được Tòa ánchấp nhận Đây là điểm khác biệt giữa tố tụng dân sự với Luật TTTM Vì sao có sự khácbiệt đó?
Một là, Tòa án khi xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không xét lại nội dung
vụ tranh chấp Tòa án chỉ xem xét dưới góc độ tố tụng (thẩm quyền, thủ tục tố tụng, thànhphần Hội đồng trọng tài…) Nếu đương sự cho rằng, phán quyết trọng tài vi phạm mộttrong các trường hợp được quy định từ điểm a đến điểm d khoản 2 Điều 68 thì phảichứng minh được sự vi phạm đó, không chứng minh được rõ ràng có sự vi phạm thìkhông chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Trang 5Hai là, việc tranh chấp là quan hệ riêng tư, lợi ích của các đương sự, của thương
nhân, đó là quan hệ tư, việc của cá nhân các bên trong quan hệ tranh chấp, chứ khôngphải là việc “công”, lợi ích “công” Do đó, các bên phải chứng minh, phải tự bảo vệ lợiích của mình, nhà nước (cụ thể là Tòa án) không làm thay
Ba là, các bên trong quan hệ tranh chấp thường là các thương nhân, là đối tượng vừa
có điều kiện kinh tế, sự hiểu biết hơn người dân bình thường, có đủ điều kiện để tự mìnhhoặc nhờ Luật sư giúp đương sự tự bảo vệ lợi ích tư của mình, chính các bên trong quan
hệ tranh chấp hiểu rõ sự việc hơn ai hết, biết phải làm gì để tự bảo vệ lợi ích của mình,nên Luật TTTM không quy định trọng tài hay Tòa án có nghĩa vụ điều tra, thu thập chứng
cứ, không có nghĩa vụ chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên trong quan hệtranh chấp thay đương sự
Bốn là, chúng ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, gia nhập sânchơi chung thì ngoài những điểm đặc thù, về cơ bản Luật TTTM phải phù hợp với sânchơi chung đó, không thể có lựa chọn khác Luật TTTM của các nước, Công ước, luậtmẫu… đều quy định trách nhiệm chứng minh thuộc về đương sự, Luật TTTM của chúng
ta cũng đã quy định như vậy
Do đó, đương sự muốn bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi viện dẫn một trong cáccăn cứ hủy phán quyết trọng tài được quy định từ điểm a đến điểm d khoản 2 Điều 68 thìcác đương sự phải chứng minh trước Tòa án, phán quyết trọng tài vi phạm một hay nhiềucác căn cứ đó Đối với yêu cầu hủy “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật Việt Nam” thì Luật TTTM quy định rất rõ: “…Tòa án có trách nhiệm chủđộng xác minh, thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọngtài” (điểm b khoản 3 Điều 68 Luật TTTM) Không phải do tùy hứng hay ngẫu nhiên màchỉ có điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM mới quy định khi áp dụng căn cứ này Tòa ánphải chủ động xác minh, thu thập chứng cứ
Nếu cho rằng đương sự trong vụ tranh chấp muốn bảo vệ quyền và lợi ích của mìnhtrong trường hợp này gặp khó khăn khi chứng minh phán quyết trọng tài vi phạm, nênmới quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 68 như vậy thì không chỉ vô lý mà còn tạo ra sựxung đột, mâu thuẫn với các quy định khác của Luật TTTM, không thể giải thích các quyđịnh của Luật TTTM một cách nhất quán Điều đó chứng tỏ “đối tượng” chính mà quyđịnh này hướng đến để bảo vệ là những giá trị chung có tính cơ bản, bao trùm về kinh tế,chính trị, xã hội, đạo đức, sự công bằng, nó có thể là lợi ích công, trật tự công, lợi íchquốc gia, dân tộc, lợi ích nhà nước, đạo đức xã hội… hoặc lợi ích của công dân, chủ thểkhác không liên quan tới quan hệ tranh chấp, nhưng phán quyết trọng tài đã xâm phạmlợi ích của họ Đó có thể được coi là sự vi phạm công lý hiển nhiên không ai có thể chấpnhận được Do đó, Tòa án phải chủ động thu thập chứng cứ chứng minh và bảo vệ cácđối tượng, các lợi ích đó Điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTPngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
Trang 6một số quy định của Luật Trọng tài thương mại đã ghi rõ: “…Tòa án chỉ hủy phán quyếttrọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặcnhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thựchiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạmnghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, ngườithứ ba…” Từ hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán có thể thấy trong trường hợp nội dungcủa phán quyết trọng tài chỉ phân xử trong phạm vi lợi ích của hai bên đương sự trongquan hệ tranh chấp và phán quyết đó không xâm phạm lợi ích của các chủ thể khác thìkhông được sử dụng các nguyên tắc điều chỉnh hành vi, xử sự của các bên trong quan hệhợp đồng để xem xét, giải quyết lại nội dung quan hệ tranh chấp.
Cần phải thống nhất rằng, luật đã quy định rõ, Tòa án không được xem xét lại nộidung vụ tranh chấp Đây là một nguyên tắc không được vi phạm khi áp dụng pháp luậttrọng tài, luật tố tụng dân sự khi xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Do đó, dù Hộiđồng xét đơn có nhận thấy Hội đồng trọng tài đã diễn giải sai sự kiện, sai tình tiết, sai nộidung tranh chấp hoặc áp dụng sai pháp luật nội dung… nhưng không phải do gian lận,không phải do không vô tư, khách quan thì, đó cũng không phải là căn cứ để hủy phánquyết trọng tài và càng không phải là cơ sở để áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 68 LuậtTTTM Trong thời gian qua, một số Hội đồng xét đơn cho rằng, phán quyết trọng tài sai
là áp dụng các nguyên tắc cơ bản theo kiểu suy diễn là phán quyết trọng tài trái với cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, hoặc không vô tư, khách quan, nhưng không
có chứng cứ rõ ràng, cụ thể mà vẫn hủy phán quyết trọng tài là sai lầm nghiêm trọng, mộtkiểu “lạm dụng” luật pháp
Áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài phải gắn với việc áp dụng quy định tạiĐiều 13, khoản 4 Điều 63, khoản 7 Điều 71 Luật TTTM Khi áp dụng các căn cứ hủyphán quyết trọng tài được quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM thì phải hiểu sâu sắcrằng, tố tụng trọng tài có rất nhiều điểm khác biệt với tố tụng dân sự tại Tòa án Nếukhông nắm vững tính đặc thù đó rất dễ xét xử lại vụ tranh chấp, hoặc Hội đồng trọng tài
có vi phạm Luật TTTM, vi phạm thỏa thuận trọng tài…nhưng thuộc trường hợp vi phạm
đó không còn là căn cứ để hủy, không được hủy phán quyết Ví dụ như việc đã mất quyềnphản đối được quy định tại Điều 13 Luật TTTM
Đối với tố tụng trọng tài, nếu trong quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọngtài có vi phạm quy định của Luật TTTM hoặc thỏa thuận trọng tài một hoặc các bên đềubiết, đều phát hiện vi phạm đó, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và khôngphản đối với Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài những vi phạm đó trong thời hạn doLuật TTTM quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài, hoặc tại Tòa án đối với những
vi phạm đã biết đó Trường hợp Luật TTTM không quy định thời hạn thì thời hạn đượcxác định theo thỏa thuận của các bên hoặc quy tắc tố tụng trọng tài Trường hợp các bên
Trang 7không thỏa thuận hoặc quy tắc tố tụng trọng tài không quy định thì việc phản đối phảiđược thực hiện trước thời điểm Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết.
Như vậy, dù quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài có vi phạm LuậtTTTM, vi phạm thỏa thuận trọng tài, nhưng một trong các bên phát hiện vi phạm màkhông phản đối trong thời hạn được quyền phản đối những vi phạm đó, phải được coi làcác bên đã chấp nhận trên thực tế về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài về các hoạt động,cách làm đó của trọng tài Một khi được coi là các bên đã chấp nhận hoạt động đó củatrọng tài thì không còn được coi hoạt động đó là vi phạm Nói khác đi, hoạt động đó củatrọng tài được coi là hợp pháp, có giá trị pháp lý Sở dĩ trong tố tụng, trong hoạt độngtrọng tài điều đó được thừa nhận khi đương sự không thực hiện quyền phản đối là vì tốtụng trọng tài hết sức mềm dẻo, linh hoạt Trong nhiều trường hợp, tố tụng trọng tài là dođương sự lựa chọn, hoặc do các bên thỏa thuận Mối quan hệ giữa Hội đồng trọng tài vàcác bên trong tranh chấp (quyền và nghĩa vụ của Hội đồng trọng tài và các bên, trong một
vụ việc cụ thể có thể là mối quan hệ hợp đồng Do đó, các bên có thể tự do thỏa thuậnbằng văn bản (thỏa thuận trọng tài, quy tắc trọng tài hay thỏa thuận riêng của các bên…)hoặc bằng hành vi cụ thể (biết nhưng im lặng và không phản đối) đối với tất cả các quyền
và nghĩa vụ đó trong giới hạn pháp luật áp dụng cho phép
Trong tố tụng trọng tài, phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngàyban hành, không có trình tự xét xử phúc thẩm và không có trình tự giám đốc thẩm.Nhưng theo quy định tại khoản 4 Điều 63 Luật TTTM thì: “Trường hợp các bên không cóthỏa thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên cóthể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trìnhbày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báongay cho bên kia biết Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì raphán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu” Thậm chí,khi đương sự đã có đơn yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài, Tòa án đã thụ lý đơn,nhưng theo quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM thì: “Theo yêu cầu của một bên vàxét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyếtđơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiệncho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồngtrọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài Hội đồng trọng tài phải thôngbáo cho Tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng Trường hợp Hội đồng trọng tàikhông tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phánquyết trọng tài”
1.3 Nội dung của pháp luật về hủy phán quyết trọng tài
Có thể hiểu pháp luật về hủy phán quyết trọng tài là tổng thể các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tòa án xem xét hủy phán quyếttrọng tài Đó là các quan hệ như quan hệ giữa bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với
Trang 8tòa án có thẩm quyền, quan hệ giữa các bên trong vụ tranh chấp có yêu cầu hủy phánquyết trọng tài, quan hệ giữa tòa án với viện kiểm sát nhân dân cùng cấp Việc đưa rakhái niệm pháp luật về hủy phán quyết trọng tài là nhằm phân định ranh giới giữa cácnhóm quan hệ xã hội, qua đó lựa chọn áp dụng các quy phạm pháp luật phù hợp, đạt đượchiệu quả điều chỉnh cao.
Pháp luật về hủy phán quyết trọng tài thông thường bao gồm các nội dung cơ bản sauđây: Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, căn cứ hủy phán quyết trọng tài, thời hạnyêu cầu hủy phán quyết trọng tài, thủ tục hủy phán quyết trọng tài, hậu quả của việc hủyphán quyết trọng tài, về thỏa thuận trọng tài (TTTT) vô hiệu, về quyền yêu cầu hủy phánquyết trọng tài của các bên ,về quyền và nghĩa vụ của bên yêu cầu hủy phán quyết trọngtài, về tòa án có thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài và những quy định về quyền vànghĩa vụ của tòa án trọng việc hủy phán quyết trọng tài…Như vậy, nội dung của phápluật về hủy phán quyết trọng tài bao gồm nhiều vấn đề với nhiều quy định cụ thể và đadạng
https://tapchitoaan.vn/mot-so-van-de-ve-xem-xet-huy-phan-quyet-trong-tai
https://luanvan.co/luan-van/tom-tat-luan-an-huy-phan-quyet-trong-tai-67768/
CHƯƠNG 2 Căn cứ, trình tự, thủ tục và hệ quả hủy phán quyết trọng tài.
2.1 Căn cứ hủy.
2.1.1 Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu là một trong cáccăn cứ hủy phán quyết trọng tài tại khoản 2 điều 68 Luật trọng tài thương mại và đượcquy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/HĐTP ( NQ 01/2014) vềHướng dẫn thi hành một số quy định luật trọng tài thương mại có nêu như sau: Không cóthoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu là thỏa thuận trọng tài thuộc mộttrong các trường hợp quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật TTTM và hướng dẫn tại cácđiều 2, 3 và 4 Nghị quyết này.”
* Không có thỏa thuận trọng tài
Khoản 2 điều 3 LTTTM nêu rõ: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên
về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” Địnhnghĩa trên cho thấy tính quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Cácnước trên thế giới đều ghi nhận vấn đề này rất rõ ràng cụ thể trong các văn bản pháp luật
Và dựa vào đó, ta có thể hiểu được, khái niệm thỏa thuận trọng tài thương mại chính là sựthỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên tham gia ký kết thống nhất đưa một số hoặc tất
cả những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh từ các hoạt động kinh doanh thương mại đượcpháp luật cho phép giải quyết bằng phương thức trọng tài
Trang 9Điều 381 BLDS 2015 có nêu: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xáclập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Căn cứ này kết hợp với định nghĩa
về khái niệm thỏa thuận trọng tài tại khoản 2 Điều 3 LTTTM 2010 cho thấy bản chất củathỏa thuận trọng tài chính là hợp đồng, là một giao dịch dân sự Vậy nên nó có vai tròràng buộc các bên phải tiến hành giải quyết tranh chấp tại trọng tài đúng như thỏa thuận
đã được xác lập Điều này khiến nó giống với mục đích của các biện pháp bảo đảm nghĩa
vụ khi giao kết hợp đồng
Điều 6 LTTM 2010 quy định như sau: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã cóthoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừtrường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiệnđược” Như vậy, để Tòa án thụ lý thì cần phải thuộc các trường hợp thỏa thuận trọng tài
vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
- Có thể kết luận như sau:
+ Thỏa thuận trọng tài là điều kiện đầu tiên và quan trọng của tố tụng trọng tài
+ Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện, bình đẳng giữa cácbên
+ Là bằng chứng xác định thẩm quyền, thông qua thỏa thuận trọng tài, các bên từ chốithẩm quyền xét xử của tòa án và từ chối giải quyết tranh chấp bằng các hình thức khác Vậy nên, thỏa thuận trọng tài là một yếu tố quan trọng trong quá trình tố tụng liênquan đến trọng tài thương mại, có vai trò quyết định trong việc sử dụng trọng tài như mộtphương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Không có thỏa thuận trọng tài thì sẽkhông có giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
* Thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Điều 18 LTTM nêu cụ thể các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu:
+ Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quyđịnh tại Điều 2 của Luật này
+ Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.+ Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của
Trang 10+ Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Như vậy, để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực thì thỏa thuận đó phải thỏa mãn 4 điềukiện về thẩm quyền, chủ thể, hình thức và nội dung đáp ứng yêu cầu của luật điều chỉnh
- Về thẩm quyền: khoản 1 Điều 3 NQ 01/ 2014 có quy định “Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài” được LTTTM 2010 quy định
tại khoản 1 Điều 18 là trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập để giải quyết tranhchấp không thuộc lĩnh vực được quy định tại Điều 2 Luật TTTM 2010
Điều 2 LTTTM 2010 quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọngtài gồm có tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp phátsinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, tranh chấp khác giữacác bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
Vậy các trường hợp tranh chấp mà không được quy định như trên thì không thuộcthẩm quyền giải quyết của Trọng tài
- Về chủ thể: khoản 2 điều 3 NQ 01/2014/NQ-HĐTP “Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-01-2014-NQ-HDTP-huong-dan-Luat-Trong-tai-thuong-mai-234283.aspx quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật TTTM là người xác lập thỏa thuậntrọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được
ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được
ủy quyền” Do đó người xác lập thỏa thuận trọng tài phải là người đại diện theo pháp luậthoặc là người được ủy quyền hợp pháp Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ cũng tại Điều này:
“Trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quátrình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩmquyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏathuận trọng tài không vô hiệu
- Về hình thức: là bằng chứng cho thấy sự thống nhất về ý chí của 2 bên thỏa thuận trọngtài Là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo thỏa thuận trọng tài không bị vôhiệu vậy nên phải bắt buộc tuân thủ theo đúng pháp luật quy định Tại khoản 4 Điều 3
NQ 01/2014/NQ-HĐTP có quy định “Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM quy định tại khoản 4 Điều 18 Luật TTTM là trường
hợp thỏa thuận trọng tài không được xác lập bằng một trong các hình thức quy địnhtại Điều 16 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết này.”
Viện dẫn Điều 16 LTTTM 2010 về hình thức thoả thuận trọng tài như sau:
1 Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợpđồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng
Trang 112 Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuậnsau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện
tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lạibằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tàinhư hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoảthuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận
Tại điều 7 NQ 01/2014 có quy định hướng dẫn về điều 16 LTTTM:
1 Trường hợp có nhiều thỏa thuận trọng tài được xác lập đối với cùng một nội dung tranhchấp thì thỏa thuận trọng tài được xác lập hợp pháp sau cùng theo thời gian có giá trị ápdụng
2 Trường hợp thỏa thuận trọng tài có nội dung không rõ ràng, có thể hiểu theo nhiềunghĩa khác nhau thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự để giải thích
3 Khi có sự chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, hợp đồng mà trong giaodịch, hợp đồng đó các bên có xác lập thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì thỏa thuận trọngtài trong giao dịch, hợp đồng vẫn có hiệu lực đối với bên được chuyển giao và bên nhậnchuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
4 Việc gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp để giải quyết trong cùng một vụ kiệnđược thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Các bên thỏa thuận đồng ý gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giải quyết trongcùng một vụ kiện;
b) Quy tắc tố tụng trọng tài cho phép gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giảiquyết trong cùng một vụ kiện
Nội dung đáp ứng yêu cầu của luật điều chỉnh: Vì không phải tất cả mọi tranh chấpđều có thể giải quyết bằng trọng tài nên dù thỏa mãn các điều kiện về chủ thể và hìnhthức nhưng không nằm trong thẩm quyền tranh chấp thì vẫn bị coi là vô hiệu Kể cả khicác bên đều tự nguyện thì thỏa thuận này cũng bị coi là vô hiệu nếu những loại tranh chấpnày không được pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài hay không đáp ứng yêu cầu
Trang 12Ví dụ: Nội dung của của 1 thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng,
quyền được thừa kế, quyền lợi, lợi ích khác của cha mẹ con và thành viên khác trong giađình Thỏa thuận này sẽ bị vô hiệu nếu thỏa thuận đó nằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡnghoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dungcủa di chúc hoặc vi phạm các quyền, lợi ích khác của cha mẹ con và các thành viên kháctrong gia đình được pháp luật quy định
Căn cứ tại khoản 6 Điều 3 NQ 01/2014: “Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật quy định tại khoản 6 Điều 18 Luật TTTM là thỏa thuận thuộc trường hợp
quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự” và Điều 128 của BLDS 2015: “Người có nănglực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức vàlàm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó
là vô hiệu”
2.1.2 Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.
Điểm b khoản 2 điều 68 LTTTM 2010, là một trong các căn cứ hủy phán quyết trọng tài
* Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài ( HĐTT):
- Phạm vi và đối tượng: Căn cứ tại điều 3 Luật thương mại 2005: “Hoạt động thương mại
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Suy ra, tranhchấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực thi quyền và nghĩa
vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại giữa các chủ thể là cánhân, tổ chức kinh tế có đăng ký kinh doanh Theo quy định của LTTTM 2010 thì trọngtài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại,tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại vàcác tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.Như vậy, trọng tài có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt độngthương mại Tương tự, theo quy định tại điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án cóquyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cánhân và tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau vì mục đích lợi nhuận Vì thế, phạm vi
và đối tượng thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và Tòa án tương đồng với nhau
- Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài được quy định thành một hệ thống nằm rải rác ởnhiều chương, điều, khoản khác nhau, nhưng có thể chia ra làm các loại thẩm quyền sauđây:
+ Thẩm quyền do các bên trao cho Hội đồng Hội đồng trọng tài chỉ tồn tại khi có ýchí các bên tranh chấp tự nguyện lựa chọn Khác với Tòa án, các tranh chấp được giải
Trang 13quyết do các bên đưa ra Do thế, những thẩm quyền đầu tiên HĐTT có được bắt nguồn từcác bên trao cho HĐTT dưới 2 hình thức trực tiếp và gián tiếp Các thẩm quyền này đượcthể hiện qua cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác” trong các điều luật Theo đó, ý chícủa các bên đương nhiên chuyển thành thẩm quyền của HĐTT Đó là các trường hợp liênquan đến ngôn ngữ có yếu tố nước ngoài ( khoản 2 điều 10 ), địa điểm tranh chấp ( Điều11), gửi thông báo và trình tự gửi thông báo ( điều 12) luật áp dụng giải quyết tranh chấp
có yếu tố nước ngoài ( điều 14) và các điều 46, 47, 48 đều được quy định trong LTTTM
2010
+ Thẩm quyền do Pháp luật quy định Những thẩm quyền mà pháp luật trao choHĐTT tự quyết định là xuất phát từ nhận thức được thừa nhận rộng rãi rằng HĐTT đượcthành lập và tồn tại là do ý chí của các bên nhưng khi đã tồn tại thì Hội đồng buộc phảiđứng ở vị trí vững vàng về chuyên môn nhằm chứng tỏ khả năng cân bằng giữa ý chí củacác bên và yêu cầu của trật tự công cộng Quyết định hay phán quyết của HĐTT là củariêng Hội đồng chứ không thể là của các bên Căn cứ tại khoản 1, 3 điều 14; khoản 2,Điều 35 về Luật áp dụng đối với các trường hợp tranh chấp không có yếu tố nước ngoài.Trong trường hợp đó, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp sẽ là pháp luật Việt Nam.Trong tố tụng trọng tài, có thể hiểu những thẩm quyền của Tòa án phát sinh từ yêu cầucủa HĐTT chính là thẩm quyền của HĐTT chứ không đơn thuần là thẩm quyền của Tòa
án
+ Thẩm quyền do chính Hội đồng quyết định cho mình Một trong những loại thẩmquyền đặc biệt của HĐTT là thẩm quyền tự xem xét về năng lực pháp lý của mình trongnhững vụ việc cụ thể Bản chất của trọng tài là một thiết chế tài phán, do vậy đòi hỏi cáctrọng tài viên phải thực hiện chức năng của mình một cách trung lập, vô tư Trọng tàikhông phải là người của các bên, do đó phải có sự tự xét đoán tự do, không ràng buộc
Do đó, tại LTTTM 2010 đã quy định chế định khước từ trọng tài cho 2 trường hợp: khước
từ trọng tài viên ( từ phía các bên) và tự khước từ của HĐTT hay còn gọi là khước từthẩm quyền Khước từ thẩm quyền có 2 loại: khước từ một phần và khước từ toàn phần.Căn cứ tại điều 44 LTTTM 2010 có nêu: Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp,HĐTT phải xem xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài: thỏa thuận có thuộc trường hợpkhông thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình Truờng hợp vụviệc không thuộc thẩm quyền của mình hoặc xác định rõ là thỏa thuận trọng tài không thểthực hiện được thì HĐTT quyết định đình chỉ việc tranh chấp và thông báo ngay cho cácbên biết Dù cho quyết định này của HĐTT có thể bị Tòa án bác bỏ theo yêu cầu các bên( điều 45), thì HĐTT vẫn có thẩm quyền tự xem xét thẩm quyền của mình
Tại điểm b khoản 2 điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP có hướng dẫn như sau:
“Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định Luật TTTM là trường hợp các bên có thỏa thuận
về thành phần Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài nhưng Hội đồng trọng tài thực
Trang 14hiện không đúng thỏa thuận của các bên hoặc Hội đồng trọng tài thực hiện không đúngquy định Luật TTTM về nội dung này mà Tòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêmtrọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắcphục theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM”
Khoản 7 điều 71 LTTTM có nêu: “Theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp,Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủyphán quyết trọng tài”, “Trường hợp Hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót
tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”
Trong văn bản hướng dẫn thi hành LTTTM 2010, cụ thể tại khoản 2 điều 15 Nghịquyết 01/2014 quy định rằng: “Nếu xét thấy phán quyết trọng tài thuộc một trong cáctrường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM và Hội đồng trọng tài không khắcphục hoặc không thể khắc phục được theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều
71 Luật TTTM, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào điểm tương ứng tại khoản 2Điều 68 Luật TTTM để ra quyết định huỷ phán quyết trọng tài Nếu xét thấy phán quyếttrọng tài không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 LuậtTTTM, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định không huỷ phán quyết trọng tài” Như vậy, căn cứ để hủy phán quyết trọng tài do tranh chấp không thuộc thẩm quyềncủa Hội đồng trọng tài, phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền củaHội đồng trọng tài là đúng đắn và dựa trên cơ sở pháp lý các điều khoản đã nêu
* Về phán quyết của trọng tài
Căn cứ tại khoản 10 Điều 3 LTTTM 2010: “Phán quyết trọng tài là quyết định củaHội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọngtài”
Nguyên tắc ra phán quyết trọng tại được nêu tại điều 60 LTTTM 2010:
1 Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số
2 Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ýkiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài
Nguyên tắc đa số được quy định rõ tại khoản 1 Điều 60 LTTTM 2010 Theo đó khiban hành phán quyết trọng tài, các thành viên HĐTT sẽ biểu quyết và phán quyết sẽ đượclập dựa trên đa số phiếu Phán quyết đa số sẽ là phán quyết có hiệu lực ràng buộc đối vớicác Bên tranh chấp Điều 60 còn dự liệu trong trường hợp biểu quyết không đạt được đa
số với việc quy định tại khoản 2 rằng phán quyết sẽ được lập theo ý kiến của Chủ tịchHội đồng Trọng tài Như vậy, nguyên tắc “biểu quyết” đa số theo Điều 60 LTTTM còn cóthể hiểu thêm rằng mỗi trọng tài viên được các bên chỉ định sẽ có 1 “phiếu”, và chủ tịchHội đồng sẽ có hơn “1 phiếu” trong quá trình biểu quyết
Trang 15Căn cứ cụ thể để áp dụng nguyên tắc đa số trong tố tụng trọng tài tại Việt Nam đượcdựa trên Điều 60 của Luật trọng tài thương mại và quá trình tố tụng trọng tài tại VIAC làĐiều 29 Quy tắc của VIAC Cần phải lưu ý nguyên tắc đa số là một quy định mang tínhthủ tục, đặc biệt khi quan điểm đa số chưa chắc đã chính xác hơn ý kiển thiểu số về mặtnội dung vụ tranh chấp Một cơ sở pháp lý khác dẫn đến việc cần áp dụng nguyên tắc đa
số chính là nghĩa vụ giải quyết tranh chấp của của Hội đồng Trọng tài và nghĩa vụ banhành phán quyết kịp thời trong thời hạn luật định 30 ngày kể từ ngày kết thúc phiên họpcuối cùng ( khoản 3 điều 61 LTTTM 2010) Cụ thể hơn, nguyên tắc đa số sẽ đảm bảo mộtphán quyết sẽ luôn được ban hành và ban hành đúng thời hạn dù HĐTT có bất đồng quanđiểm Nội dung của phán quyết trọng tài được quy định trong điều 61 LTTTM 2010 vềnội dung, hình thức và hiệu lực của phán quyết trọng tài
Tài liệu tham khảo
Trương Thị Thu Hà ( 2018), Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Phương Linh ( 2017), Thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay
Tống Thị Lan Hương ( 2011), Pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
Đoàn Trung Kiên và Nguyễn Thị Vân Anh ( 2020), Tạp chí Nghề luật số 06/2020 Về giải pháp hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam
LS Nguyễn Mạnh Dũng và Lê Quang Hưng, Nguyên tắc lập phán quyết, quyết định trọng tài
Đào Trí Úc ( 2010), Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và vai trò của Tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài
2.1.3 Thành phần Hội đồng Trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái quy định của pháp luật
do các bên thành lập
Điều 39 Luật Trọng tài thương mại 2010 có quy định về thành phần Hội đồng trọngtài:
Trang 161 Thành phần Hội đồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều Trọng tài viên theo sựthỏa thuận của các bên.
2 Trường hợp các bên không có thoả thuận về số lượng Trọng tài viên thì Hội đồng trọngtài bao gồm ba Trọng tài viên"
Như vậy,
- Các bên được tự do thỏa thuận về số lượng trọng tài viên cũng như thủ tục chỉ
định các trọng tài viên đó
- Nếu các bên không thỏa thuận về số lượng trọng tài viên, Hội đồng trọng tài sẽ
bao gồm 3 trọng tài viên
*THỦ TỤC TỐ TỤNG TRỌNG TÀI KHÔNG PHÙ HỢP VỚI THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN HOẶC TRÁI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
- Căn cứ hủy phán quyết trọng tài Khi có căn cứ cho rằng phán quyết Trọng tàithuộc một trong các trường hợp có thể bị hủy bỏ thì theo đơn yêu cầu của một bên, Tòa
án xem xét việc hủy bỏ phán quyết Trọng tài Điểm b Khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tàithương mại 2010 qui định về căn cứ hủy phán quyết trọng tài “Thành phần Hội đồngtrọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái vớicác quy định của Luật này”
- Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa
thuận của các bên hoặc trái với các quy định Luật Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 14 Nghịquyết 01/2014/ NQ-HĐTP quy định “Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụngtrọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định LuậtTTTM” là trường hợp các bên có thỏa thuận về thành phần Hội đồng trọng tài, quy tắc tốtụng trọng tài nhưng Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng thỏa thuận của các bênhoặc Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng quy định Luật TTTM về nội dung này màTòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọngtài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án quy định tạikhoản 7 Điều 71 Luật TTTM
Ví dụ 1: Trường hợp một bên không được thông báo về đơn khởi kiện quy định tại Điều
32 Luật TTTM kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài, Luật TTTM dẫn tớiviệc không đảm bảo được quyền được thành lập Hội đồng trọng tài là trường hợp viphạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 LuậtTTTM
Ví dụ 2: Các bên thỏa thuận tranh chấp được giải quyết bởi Hội đồng trọng tài gồm ba
trọng tài viên và áp dụng luật nội dung của Việt Nam để giải quyết vụ tranh chấp nhưngthực tế việc giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi Hội đồng Trọng tài gồm một Trọngtài viên duy nhất, pháp luật áp dụng là pháp luật nội dung của Singapore mặc dù một bên
Trang 17có phản đối nhưng không được Hội đồng trọng tài chấp nhận thì đây là trường hợp viphạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 LuậtTTTM.”
Nghĩa vụ chứng minh.
Tòa án khi xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không xét lại nội dung vụ tranhchấp Tòa án chỉ xem xét dưới góc độ tố tụng (thẩm quyền, thủ tục tố tụng, thành phầnHội đồng trọng tài…) Nếu đương sự cho rằng, phán quyết trọng tài vi phạm một trongcác trường hợp được quy định từ Điểm a đến Điểm d khoản 2 Điều 68 Luật trọng tàithương mại 2010 thì phải chứng minh được sự vi phạm đó Nghĩa vụ chứng minh các yêucầu hủy phán quyết trọng tài thuộc trường hợp “Thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợpvới thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của pháp Luật” là nghĩa vụ của bênyêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Căn cứ điểm b khoản 3 điều 68 Luật trọng tài thương mại 2010 về căn cứ hủy phán quyếttrọng tài, “Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại các điểm a, b, c và d khoản
2 Điều này có nghĩa vụ chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trongcác trường hợp đó”
Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là quyền của các bên tranh chấp (gồm 2chủ thể là nguyên đơn và bị đơn) Các bên tranh chấp được quy định tại khoản 3 Điều 3Luật trọng tài thương mại 2010 “Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức ViệtNam hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn.”
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài thì các bên tranhchấp có quyền gửi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Về sự kiện bất khả kháng sẽ khôngđược tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Đơn yêu cầu hủy phán quyếttrọng tài phải có đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọngtài là có căn cứ và hợp pháp Theo quy định tại Điều 69 Luật trọng tài thương mại 2010:
“1 Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có
đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trongnhững trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửiToà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài Đơn yêu cầu hủy phán quyếttrọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyếttrọng tài là có căn cứ và hợp pháp
2 Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khảkháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.”
Hệ quả pháp lý của việc hủy phán quyết trọng tài
Trang 18Kết quả của thủ tục hủy phán quyết trọng tài là Tòa án sẽ ban hành quyết định huỷhoặc không huỷ phán quyết trọng tài Quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng và
có hiệu lực thi hành Đối với quyết định hủy phán quyết trọng tài thì các bên có thể thỏathuận lại để đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Trọng tài hoặc một bên có quyền khởikiện tại Tòa án Đối với quyết định không hủy phán quyết trọng tài thì phán quyết trọngtài được thi hành, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện trong thời hạn nhất định
Nguồn
Nghị quyết 01/2014/ NQ-HĐTP
Luật Trọng tài thương mại 2010
Đình Khôi, Tòa án huỷ phán quyết của trọng tài thương mại có được hay không? Quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài như thế nào? https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/toa-an-huy-phan-quyet-cua-trong-tai-thuong-mai-co-duoc-hay-khong-quyen-yeu-cau-huy-phan-quyet-trong-772197-6317.html
2.1.4 : Chứng cứ do các bên cung cấp mà hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để phán quyết là giả mạo, trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài.
Theo điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, Tòa án chỉ xem xétviệc xác định chứng cứ giả mạo nếu có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó và chứng
cứ đó phải có liên quan đến việc ra phán quyết, có ảnh hưởng đến tính khách quan, côngbằng của phán quyết Tòa án phải căn cứ vào quy định Luật trọng tài thương mại, quy tắc
tố tụng trọng tải, thỏa thuận của bác bên và quy tắc xem xét, đánh giá chứng cứ mà Hộiđồng trọng tài áp dụng khi giải quyết vụ việc để xác định chứng cứ giả mạo
Trường hợp các chủ thể tham gia tố tụng là người trực tiếp thực hiện hành vi viphạm nhưng Hội đồng trọng tài với trách nhiệm kiểm soát quá trình tố tụng để không xảy
ra vi phạm mà vi phạm vẫn xảy ra thì đây cũng được xem là lỗi của Hội đồng trọng tài.Tuy nhiên, đối với việc sử dụng chứng cứ giả mạo lại khác Ở đây, có thể xảy ra haitrường hợp:
+ Trường hợp 1: Với những chứng cứ được cung cấp, Hội đồng trọng tài có cơ sở và
điều kiện để kết luận chứng cứ đó là giả mạo nhưng vẫn sử dụng chứng cứ này để đưa raphán quyết thì đó là lỗi cố ý của Hội đồng trọng tài Tức là Hội đồng trọng tài đã “khôngkhách quan, công bằng” nên đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để từ đó xem xéthủy phán quyết trọng tài theo căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM
Trang 19năm 2010.
+ Trường hợp 2: Với những chứng cứ được cung cấp, Hội đồng trọng tài “không
biết” và “không thể biết” chứng cứ đó là giả mạo nên về mặt ý chí, Hội đồng trọng tài tinrằng đó là thật và dựa vào những chứng cứ này để ra giải quyết vụ tranh chấp
Căn cứ hủy phán quyết trọng tài liên quan đến chứng cứ do các bên cung cấp màHội đồng Trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết trọng tài Chứng cứ trong tố tụngtrọng tài được hiểu là những gì có thật được các chủ thể trong vụ tranh chấp và cá nhân,
cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Trọng tài hoặc do Trọng tài thu thập được theo trình
tự, thủ tục do pháp luật trọng tài quy định mà Trọng tài dùng để xác định yêu cầu hay sựphản đối của các chủ thể là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiếtkhác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ tranh chấp Như vậy, chứng cứ có ý nghĩarất lớn trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án, nhất là với mô hình tố tụng dựachủ yếu vào “hồ sơ vụ án” như Việt Nam hiện nay Chính vì vai trò quan trọng nói trêncủa chứng cứ mà điểm d khoản 2 Điều 68 Luật TTTM năm 2010 đã quy định nếu “chứng
cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo”thì đây sẽ là căn cứ để Tòa án hủy phán quyết trọng tài Quy định này được hướng dẫn cụthể tại điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP
Có quan điểm cho rằng: “Việc trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chấtkhác của một bên tranh chấp dường như ít có khả năng làm xoay chuyển được tính côngbằng của phán quyết trọng tài Bởi lẽ, đối với một Hội đồng trọng tài gồm ba người, thì
họ chỉ có thể “mua chuộc” được một người, như vậy cũng chẳng có ảnh hưởng gì đếnphán quyết của Hội đồng trọng tài” Tuy nhiên, thiết nghĩ, quan điểm trên không thật sựthuyết phục bởi nếu một bên đã mua chuộc được một Trọng tài viên thì họ cũng có thểmua chuộc những Trọng tài viên còn lại
- Theo quy định điểm d khoản 2 Điều 68 Luật TTTM năm 2010 thì căn cứ hủy
phán quyết trọng tài này yêu cầu phải đáp ứng đủ 3 điều kiện
+ Điều kiện 1: Đối tượng mà Trọng tài viên nhận từ các bên chỉ là “tiền”, “tàisản” và “lợi ích vật chất khác” Theo quy định tại Điều 163 BLDS 2005 thì tài sảnbao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Như vậy, khi nói đến tàisản là đã bao hàm cả “tiền” và có thể là cả “lợi ích vật chất khác” Do đó, việcdùng thuật ngữ của Luật TTTM năm 2010 tại đây nên có sự sửa đổi để tạo sựtương đồng với luật gốc là Bộ luật Dân sự
+ Điều kiện 2: Chủ thể mang đến các lợi ích trên cho Trọng tài viên là “một bêntranh chấp”